Ngay từ những sáng tác đầu tay như: Tướng về hưu, Không có vua, Kiếm sắc, Những ngọn gió Hua Tát, Chút thoáng Xuân Hương… nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã khiến giới dư luận trong và ngoài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HÀ NỘI, 2015
Trang 3Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thành
Hưng Với học vấn uyên thâm, niềm đam mê nghiên cứu khoa học, thầy đã
hướng dẫn tôi tìm hiểu đề tài, nghiên cứu các thành tựu sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, định hướng xây dựng những luận điểm khoa học khách quan, chính xác và nhiệt tình, trách nhiệm trong quá trình hoàn thiện luận văn của tôi
Tuy thời gian học tập và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 không nhiều, nhưng tôi đã học tập và trưởng thành rất nhiều trong nhận thức, nghiên cứu khoa học của mình Kết quả của quá trình đào tạo Thạc sĩ sẽ giúp tôi vững vàng hơn trong nghề nghiệp mà tôi đã gắn bó và cống hiến trọn đời mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
HàNội, ngày 05 tháng 07 năm 2015
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tất cả các ý tưởng, đề tài và nội dung chính của luận văn đều do sự nghiên cứu trung thực, nghiêm túc của tôi
Khi thực hiện đề tài, tôi có sử dụng các tư liệu tham khảo liên quan tới vấn đề nghiên cứu, nhưng tất cả chỉ là những gợi ý khoa học cần thiết để tôi phát triển ý tưởng của mình Tất cả tư liệu được dụng, tôi đều có trích dẫn nguồn gốc một cách rõ ràng
Công trình nghiên cứu này của tôi cũng chưa được công bố trên bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào
Tôi xin cam đoan những điều trên là sự thật Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Trần Thị Hà
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc luận văn 7
6 Đóng góp của luận văn 7
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KỊCH NGUYỄN HUY THIỆP CHO SÂN KHẤU KỊCH VIỆT NAM 9
1.1 Vài nét khái quát về lịch sử phát triển nền kịch Việt Nam 9
1.2 Đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp cho nền kịch Việt Nam 21
1.2.1 Nguyễn Huy Thiệp – Tài năng lao động nghệ thuật 21
1.2.2 Đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp 23
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT KỊCH 24
2.1 Vài nét về nhân vật kịch 24
2.2 Nhân vật trong kịch Nguyễn Huy Thiệp 26
2.2.1 Nhân vật của cuộc sống đời thường 27
2.2.2 Nhân vật lưỡng diện 32
2.2.3 Nhân vật huyền thoại lịch sử 36
CHƯƠNG 3: KẾT CẤU VÀ XUNG ĐỘT 41
3.1 Thời gian và không gian trong tổ chức kết cấu vở kịch 41
3.1.1 Các lớp thời gian 42
3.1.2 Các không gian, địa điểm xảy ra xung đột 46
3.2 Các kiểu xung đột 51
3.2.1 Xung đột trên bình diện đạo đức 54
3.2.2 Xung đột trên bình diện nhận thức 59
Trang 63.3.Yếu tố kì ảo như một thủ pháp kết cấu nhằm tăng cường kịch tính và giải
quyết các xung đột kịch ……… 64
CHƯƠNG 4: NGÔN NGỮ KỊCH 67
4.1 Vài nét khái quát về ngôn ngữ kịch 67
4.2 Ngôn ngữ dẫn truyện của tác giả kịch bản 69
4.3 Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật 73
4.4 Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật 78
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên hành trình cách tân mạnh mẽ của văn học dân tộc nửa sau thập kỉ 80 của
thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện của một hiện tượng văn
học lạ, độc đáo, gây nhiều tranh cãi: “Hiện tượng của Nguyễn Huy Thiệp”
Các sáng tác của ông ngay sau khi ra đời đã nhanh chóng trở thành tâm điểm đáng chú ý của giới nghiên cứu phê bình và những người yêu văn chương
Đọc những sáng tác của ông có thể nhìn thấy “một cõi người ta” xù xì, gân
guốc, góc cạnh, lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng
và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu sắc của nhà văn về con
người Ngay từ những sáng tác đầu tay như: Tướng về hưu, Không có vua,
Kiếm sắc, Những ngọn gió Hua Tát, Chút thoáng Xuân Hương… nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp đã khiến giới dư luận trong và ngoài nước tốn không biết bao nhiêu giấy mực, người khen, kẻ chê, người say đắm, kẻ hững hờ… Nhà
phê bình Phạm Xuân Nguyên còn chủ sự cả một tập “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” trong đó có rất nhiều ý kiến phê bình của nhiều tên tuổi có uy tín như
Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Greg Lockhart, Lại Nguyên Ân… Trong
cuốn sách này tác giả Phạm Xuân Nguyên từng khẳng định: “Xưa nay tôi chưa thấy có một nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây được dư luận, càng viết
dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người ta đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn văn phòng cũng như chốn vỉa hè, đâu đâu cũng kháo chuyện Văn đàn thời kì đổi mới đã thêm phần khởi sắc, náo động càng thêm náo động bởi những cuộc tranh luận, cả tranh cãi xung quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [36, tr.7]
Hay tác giả Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài viết của mình cũng khẳng định
Nguyễn Huy Thiệp là “người trời”: “ Tôi cũng mong muỗn Nguyễn Huy Thiệp cần phải chết đi! Bởi lẽ từ khi ông xuất hiện, văn đàn không có nhân
Trang 8vật nào đáng kể nữa! Tôi cho rằng Thiệp là người trời Sự có mặt của ông trong làng văn chương hiện nay là một biến thiên của trời đất, vũ trụ, nó là duyên nghiệp không phải muốn là được Bởi ông viết cái gì cũng hay, cũng quyến rũ Cái hay của một bậc thức giả thâm thúy, thâm nho và thay mặt thượng đế để đánh thức một phía tối nào đó trong tâm hồn chúng ta Ông đã rắc sáng vào vết thương, vào sự tối tăm của mê lộ, một hành trình của kiếp người u u minh minh, giữa trần gian và địa ngục Ông lặn sâu vào những vỉa kinh hoàng nhất của đời sống để tạc vào câu chữ”
Bàn về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy mặc dù gia tài văn học của ông chưa thật đồ sộ nhưng những trang văn của ông lại có giá trị lớn lao Huân chương Văn học nghệ thuật của Pháp trao tặng năm 2007 là một phần thưởng vinh dự cho nhà văn, đồng thời đã khẳng định giá trị của những văn phẩm mà ông đã trình làng Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đa số các nhà văn, nhà phê bình đồng quan điểm về “ma lực” trong ngòi bút này Mai
Ngữ đã từng nhận xét: “Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã gây bất ngờ, sửng sốt cho người đọc, khiến mọi người phải suy nghĩ nghiêm túc về thực trạng xã hội hiện nay, về sức mạnh và khả năng của văn học” Hay Bùi Việt Thắng khẳng định: “Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều như một
“khối thuốc nổ” làm tan vỡ nếp nghĩ bình thường của độc giả” Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh thì cho rằng: “Những truyện của Nguyễn Huy Thiệp có một sức hấp dẫn khó cưỡng lại được Anh có nhiều nghề lôi cuốn người đọc “ bợm” lắm” [36, tr.458]
Cho đến thời điểm hiện tại, đề tài về Nguyễn Huy Thiệp và những sáng tác của nhà văn có phần tạm lắng Tuy nhiên không thể phủ nhận giá trị to lớn mà các tác phẩm của ông đóng góp cho nền văn học Việt Nam nói chung và nền văn học thời kì đổi mới nói riêng Có thể nói khi nhắc đến những hiện tượng văn học tiêu biểu sau chiến tranh, bất cứ một tác giả nào cũng phải đề cập ít nhiều đến Nguyễn Huy Thiệp cũng như một biểu hiện xuất sắc và độc đáo của
Trang 9dòng văn học đương đại Trong bài: “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” trên Website: vietvan.vn, Đỗ Đức Hiểu đã từng khẳng định: Trong hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng Anh tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối thế
kỉ XX này và nâng nó lên một tầm cao mới
Tiến sĩ Greg Lockhart, trường Đại Học Sydney cuả Autralia đã viết về
Nguyễn Huy Thiệp trục tiếp bằng tiếng Việt: “Theo tôi, đây là một tác giả có tài năng ngang tầm với những nhà văn xuất sắc quốc tế Vì thế tôi nghĩ rằng tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một đóng góp cho văn học thế giới hiện đại Đây là những lí do để dịch Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh” [36, tr.115]
Không chỉ hướng ngòi bút của mình vào thể loại truyện ngắn mà Nguyễn Huy Thiệp còn thử nghiệm ngòi bút của mình ở cả thể loại tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch bản văn học Nếu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến một đời sống thực sự sôi động, hấp dẫn cho văn học vào những năm
80 của thế kỉ trước thì kịch bản văn học của ông lại không được độc giả chú ý đến nhiều Phải chăng thể loại truyện ngắn đã hút hết tinh hoa, tâm lực của ông trước đó hay sự nổi danh của các tác phẩm của các tác giả kịch gia khác
đã làm lu mờ đi giá trị tác phẩm của ông? Câu hỏi đó đặt ra nhưng không phải
dễ để tìm thấy câu trả lời Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề
tài nghiên cứu: “Kịch Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn thi pháp thể loại”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mỗi người cầm bút khi khẳng định mình thường không chỉ thể hiện tài năng ở một lĩnh vực mà luôn muốn trải nghiệm, làm mới mình ở nhiều lĩnh vực khác nhau Và trong chặng đường sáng tác của mình khi đã đạt đến đỉnh cao ở một thể loại họ lại tìm những mảnh đất mới ở những thể loại khác để thử sức và khẳng định năng lực sáng tạo của mình Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn cũng không nằm ngoài quy luật đó
Trang 10Có thể nói, trong văn học thời kì đổi mới Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút tiêu biểu nhất và có những đóng góp to lớn cho văn đàn văn học Việt Nam.Với nhiều cách tân táo bạo và một lập trường dân chủ hóa gần như triệt để, Nguyễn Huy Thiệp đã gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trở thành mảnh đất màu mỡ hứa hẹn nhiều khám phá, phát hiện độc đáo cho các nhà nghiên cứu văn học và độc giả yêu văn chương Không chỉ vậy, Nguyễn Huy Thiệp còn hướng ngòi bút của mình sang nhiều lĩnh vực khác như: thơ, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình, đặc biệt ông cũng dành nhiều tâm huyết của mình cho thể loại kịch… Cho tới nay đã có nhiều bài viết nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu riêng biệt về kịch của ông thì chưa nhiều Tuy không được nổi danh như truyện ngắn nhưng kịch cũng là một đề tài chiếm nhiều tâm huyết của ông
Sau khi thành công với thể loại truyện ngắn, năm 1994 Nguyễn Huy Thiệp
cho ra đời tập kịch Xuân Hồng đánh dấu sự chuyển hướng của ngòi bút
Nguyễn Huy Thiệp ở thể loại kịch
Thành công của tập kịch đầu tay đã tiếp sức cho cây bút của ông nhiều năng lượng sáng tạo Năm 2003 Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp ra đời đã khẳng định tài năng của Nguyễn Huy Thiệp trên thể loại kịch bản văn học
Năm 2008 Nguyễn Huy Thiệp viết Nhà Ôsin đến năm 2010 tên vở kịch được
chọn làm tên cho chủ đề tập kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp
Ngày 23 tháng 2 năm 2012 kịch bản chèo Vong Bướm chính thức ra mắt và
lần đầu tiên Nguyễn Huy Thiệp chịu xuất hiện trong các cuộc giới thiệu sách của mình
Trong lời giới thiệu kịch Xuân Hồng năm 1994, tác giả Thụy Khuê có nói:
“Văn phong Nguyễn Huy Thiệp hình thức ngắn gọn, sâu sắc, phức âm, nội dung thâm trầm, độc địa, xoáy đến tận cùng những mâu thuẫn, phân cực của con người trầm luôn trong môi trường tạo tác Truyện Nguyễn Huy Thiệp gần
Trang 11với kịch, với tinh thần thoại kịch ( kịch Brechht , Sartre) Trong nghĩa sử dụng ngôn ngữ như chất liệu sáng tác, do đó từ truyện sang kịch chỉ là sự chuyển thể tất nhiên trong hành trình của Nguyễn Huy Thiệp Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp đào sâu ý thức về kịch muôn thủơ thoái bộ để nhận diện mình một cách khách quan hơn, đồng thời mở đường cho phong cách kịch hiện đại chưa thực sự xuất hiện trong truyền thống văn học và nghệ thuật của chúng ta: Đặt vấn đề với con người về con người qua ngôn ngữ đối thoại, trong cái xung đột sâu xa cực độ và cực điểm của chính mình, phát sinh
từ môi trường tạo tác Đó là bi kịch thảm thương và khốc liệt nhất trong mỗi chúng ta và chỉ có nghệ thuật kịch trường mới và có thể phô diễn trước công chúng một cách khách quan, minh mẫn và tàn nhẫn” [71, Internet]
Hay PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp – Viện trưởng Viện Văn học “xem “Vong
Bướm” là trò chơi nghệ thuật đầy ngẫu hứng nhưng công phu của Nguyễn
ta có thể đọc đi, đọc lại Một mặt khác tôi coi nó như một bài tập trongvăn chương mà thôi, rồi chuyển sang các thể loại khác Tôi viết kịch, tiểu luận và
cả tiểu thuyết, một phần nó tùy thuộc vào nội tâm của tôi và những vấn đề mà tôi đặt ra nữa Theo tôi ở xã hội Việt Nam để có thể phát triển một nền văn học toàn diện thì đòi hỏi tất cả các nhà văn đều phải cố gắng, không chỉ trong một thể loại mà ở tất cả các thể loại” [71, Internet]
Như vậy nói về kịch Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy tuy hiệu quả và
sự thành công ở thể loại này vẫn chưa được như sự mong đợi nhưng sự ra đời
Trang 12của tuyển tập kịch gồm 5 vở: Hoa sen nở ngày29/4, Nhà Ôsin, Còn lại tình yêu, Cái chết được che đậy, Đến bờ bên kia của Nguyễn Huy Thiệp là một thể
nghiệm mới mẻ trong sự nghiệp sáng tác của ông Trong phạm vi hiểu biết và tìm kiếm của bản thân, tôi chưa thấy có một công trình khoa học nào viết về kịch của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn thể loại, có chăng chỉ là những bài điểm sách, những bài phỏng vấn về tác giả Chính vì vậy chúng tôi
hy vọng rằng luận văn “Kịch Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn thi pháp thể loại” có thể là một thể nghiệm nghiên cứu đầu tiên có tính tập trung chuyên
sâu, góp phần lý giải một cách khoa học những thành công, hạn chế và vị thế của kịch bản văn học Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác của riêng ông và trong đời sống sân khấu Việt Nam hiện đại nói chung
3 Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Kịch Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn thi pháp thể loại”
tôi mong muốn khảo sát một cách đầy đủ và toàn diện về các sáng tác kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp trên phương diện thi pháp thể loại, nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan về những đặc điểm về kịch Nguyễn Huy Thiệp Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét về sự thành công cũng như những thất bại của nhà văn trong thể loại văn học này
3.2.Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đặc điểm trong các tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Thiệp trên phương diện thi pháp và thể loại
Phạm vi nghiên cứu là các kịch bản kịch nói Gia đình (Quỷ ở với người),
Xuân hồng và kịch bản chèo như Vong bướm, Truyền thuyết tìm vua,…nhưng chủ yếu luận văn tập trung khảo sát các vở trong Tuyển tập kịch
Nguyễn Huy Thiệp (Nhà xuất bản Trẻ 2012), gồm kịch bản các vở:
Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 Còn lại tình yêu
Trang 13Cái chết được che đậy
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu vào tìm hiểu về kịch của Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ thi pháp thể loại, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát, phương pháp thống
kê, phương pháp luận phân tích tác phẩm, phương pháp tiểu sử, phương pháp
xã hội học và các phương pháp liên ngành khác
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục và tài liệu thảm khảo,luận văn của tôi gồm ba phần: mở đầu, nội dung, kết luận
Trong phần nội dung tôi tập trung vào 4 chương chính:
Chương 1: Vị trí của kịch trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 2: Nhân vật kịch
Chương 3: Kết cấu và xung đột kịch
Chương 4: Ngôn ngữ kịch
6 Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích bước đầu giúp độc giả thấy được những đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp với sân khấu kịch Việt Nam, đồng thời thấy được đặc điểm kịch của Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn thi pháp thể loại
Thực hiện luận văn này, tôi muốn đóng góp một chút công sức cho công tác nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam đương đại về cây bút Nguyễn Huy Thiệp Hơn nữa từ trước tới nayviệc khảo sát kịch Nguyễn Huy Thiệp chưa nhiều và chưa có hệ thống Tính đến thời điểm luận văn này được tiến hành thì chưa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề tài này ra đời Do đó,
Trang 14chúng tôi đã dụng công nghiên cứu để có thể bổ sung thêm một số nhận định xác đáng và có giá trị bên cạnh những ý kiến đã có trước đây về vấn đề này
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA KỊCH TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 1.1 Vài nét khái quát về lịch sử phát triển của nền kịch Việt Nam
Sự ra đời của nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
XX do những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể của một đất nước thuộc địa nửa phong kiến quyết định Thực dân Pháp thúc đẩy quá trình thâm nhập và phổ biến rộng rãi những kiến thức mới, những tư tưởng chính trị, triết học và nghệ thuật mới cũng như những thành tựu khoa học - kỹ thuật ở Việt Nam
Xu hướng chính trị trong sự phát triển của xã hội Việt Nam là sự khát khao thoát khỏi tình trạng biệt lập kéo dài (kể cả trong lĩnh vực văn hóa) và trở thành bộ phận của một cộng đồng thống nhất của thế giới.Quá trình này bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX và mạnh lên vào đầu thế kỷ XX, được đánh dấu bởi cao trào yêu nước, và mặt khác là phong trào vì văn hóa mới mà sau này biến thành công cuộc hiện đại hóa văn hóa
Nền văn hóa và nghệ thuật mới trong nước Việt Nam thuộc địa đã nảy sinh và phát triển tích cực nhờ có nhu cầu của giai cấp tư sản, giới trí thức thanh niên, học sinh và sinh viên, những thợ thủ công tức là những tầng lớp xã hội và giai cấp hình thành trong những thành phố vào thời ấy
Trước thế kỉ XX, nghệ thuật sân khấu Việt Nam tồn tại được với hai thể loại sân khấu âm nhạc truyền thống là tuồng và chèo Tuy nhiên vào thời kì đó đã bắt đầu quá trình cải cách để thích ứng với điều kiện xã hội nửa phong kiến và thuộc địa Chính thời kì này ở Việt Nam đã xuất hiện những thể loại sân khấu mới là cải lương và kịch nói Sự ra đời của sân khấu kịch nói xuất phát từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán giả Việt Nam của các nghệ sĩ.Trong bối cảnh nền văn hóa cũ không còn được chấp nhận, tính chất biệt lập lịch sử của truyền thống Việt Nam bị phá vỡ thì sự hội nhập với nền văn hóa thế giới đã tạo ra cơ sở để thay thế những thể loại văn học, để xây
Trang 16dựng một nền văn hóa phục hưng, độc lập mà bộ phận quan trọng của nó là kịch nói
Kịch nói là loại hình sân khấu trình bày bằng hành động và đối thoại của các nhân vật để phản ánh những xung đột trong đời sống xã hội.Kịch nói ra đời đạt đến trình độ nghệ thuật cao từ thời cổ đại phương Tây Đến thế kỉ XX kịch nói bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam Đó là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa,sự ảnh hưởng có lúc cưỡng bức, có lúc tự giác của văn hóa phương Tây, trực tiếp là văn hóa Pháp đối với văn hóa Việt Nam Với kịch nói, văn học nghệ thuật nước ta có thêm một thể loại mới làm cho nó phong phú hơn, hội nhập một cách tích cực hơn vào tiến hình hiện đại hóa của thế giới Có thể nói, sự ra đời của kịch nói cùng với một số thể loại văn học mới ở thành thị vào những thập niên đầu thế kỉ nàytrước hết là kết quả của sự tác động lịch sử
và văn hóa từ bên ngoài vào, sau đó là kết quả của một quá trình phát triển nội tại, nảy sinh trong những điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa nội tại Đặc điểm này được thể hiện ở những phương diện khác nhau của quá trình hình thành và phát triển của kịch
Như trên đã nói, dưới tác động của những nhân tố lịch sử mới, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã hình thành rõ nét sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị Ứng với hai khu vực đó là hai lớp người có những nhu cầu tinh thần hoàn toàn khác nhau Kịch nói sinh ra ở thành thị, do các trí thức Tây học và tiểu tư sản tiến hành để đáp ứng nhu cầu tình thần, tâm lý, thị hiếu của tầng lớp tiểu tư sản thị dân Còn ở nông thôn, vào thời điểm này, người dân vẫn chỉ biết có tuồng,chèo Kịch nói đối với họ vẫn là một sinh hoạt xa lạ.Với nông thôn Việt Nam, lũy tre làng không chỉ là địa giới của một đơn vị hành chính có kết cấu bền vững mà còn là bức tường thành văn hóa lưu giữ trong đó những nề nếp, tập tục, những sinh hoạt dân gian đặc sắc được lưu truyền từ thế hệ nọ sang thế hệ kia Người nông dân cũng ít có dịp thực hiện các cuộc giao lưu ra khỏi lũy tre làng, ra khỏi địa hạt quen thuộc của mình
Trang 17Họ không biết đến kịch nói, không tiếp nhận kịch nói và cũng không đủ các điều kiện để tiếp nhận nó Ngược lại, kịch nói cũng không thỏa mãn nhu cầu tình cảm, không thể hiện được những vẫn đề về tâm lý, đạo đức và thói quen thưởng thức của người nông dân vùng nông thôn Khi chưa có kịch nói,người nông dân ở vùng nông thôn cũng như các trí thức, quan lại phong kiến ở cung đình và các tầng lớp kẻ chợ chỉ biết có tuồng, chèo, cùng xem một loại hình nghệ thuật như nhau Đến thời kì này, xã hội đã tạo ra thế đối lập giữa văn minh đô thị và văn mình vùng nông thôn Kịch nói trở thành nhu cầu riêng, món ăn riêng, thỏa mãn “gu” thưởng thức riêng của người thành thị Một lớp công chúng mới, nam mặc comple, nữ mặc áo tân thời đến nhà hát xem kịch bên cạnh những bà đầm, những me Tây, những sân khấu tráng lệ, ánh đèn rực
rỡ Trong khi đó vùng nông thôn vào những tháng ngày nông nhàn, những
buổi tiệc tùng đình đám, nỗi đam mê vẫn là những pho Tuồng đồ như : Sơn
hậu, Tam nữ đồ vương, Phụng Nghi Đình…, những vở Tuồng đồ như Nghêu, Sò, Ốc, Hến; Trương Đồ Nhục…, những tích chèo thâu đêm suốt
sáng như Quan âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ… Khán
giả trung thành vẫn là những người răng đen hạt huyền, áo nâu chân đất,
những trai tráng lực điền, những nàng “môi cắn chỉ” và cả những người “ăn
no rồi lại nằm khoèo, nghe tiếng trống chèo bế bụng đi xem”.Trong khi đó,
kịch nói đã từng bước từ thú chơi tài tử của những trí thức tân học dần trở thành một bộ môn kịch nghệ thuật thu hút cả những nghệ sĩ, những nhà văn
có tên tuổi, chiếm lĩnh số đông khán giả thành thị, tạo thiết cả một phong trào làm thay đổi hẳn tập quán thưởng thức, mang đến cho đời sống đô thị sinh hoạt văn hóa nghệ thuật mới Trong tương quan này, kịch nói nhân danh cái mới, đại diện cho những lực lượng mới Sự ra đời của nó là một bước đi của
đô thị so với vùng nông thôn trong tiến trình Âu hóa cũng như trong tiến trình hiện đại hóa
Trang 18Từ đầu thế kỉ XX trở về trước, vua chúa, quý tộc chủ yếu xem tuồng (tuồng thầy), còn các tầng lớp bình dân chủ yếu xem chèo và xem tuồng đồ Tính chất căn bản của các loại hình nghệ thuật là tính khuyên giáovề đạo đức Mỗi
vở chèo, vở tuồng là một bài học trung hiếu, tiết hạnh, một tấm gương hỉ xả theo các chuẩn mực đạo đức phong kiến.Từ những năm đầu thế kỉ XX trở đi,
cơ cấu xã hội đã có những đảo lộn căn bản Đời sống đô thị và kinh thế hàng hóa đã kéo theo sự hình thành tâm lý xã hội tiêu thụ hiện đại Những hệ giá trị mới, chuẩn mực đạo đưc thẩm mỹ mới được xác lập Việc răn dạy đạo đức phong kiến, việc nêu gương tiết hạnh theo lý tưởng nhà Nho không còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần và lớp công chúng mới, nhất là công chúng đô thị Mặt khác, tính quy phạm, điển hình, điển phạm, tính ước lệ, bài bản của tuồng, chèo đã trở nên xơ cứng trước nhịp độ phát triển linh hoạt của đời sống
và nhu cầu tinh thần đa dạng của con người Trước thử thách mới, tuồng, chèo không thể giữ nguyên hình hài, diện mạo cũ Để tồn tại và thích ứng với
xã hội đang trên đà Âu hóa, một nghệ thuật trang trọng, mực thước, mang đậm tính cung đình như tuồng cũng phải nỗ lực để tự nó thay đổi Vào những thập niên đầu thế kỉ, ở các đô thị lớn như Sài Gòn, Hà Nội đã xuất hiện loại
“Tuồng tân thời”,“Tuồng xuân nữ” lấy đề tài hiện đại, khai thác những tình
huống éo le của cuộc sống với mục đích thỏa mãn thị hiếu của người thành thị Nhưng trong cuộc cạnh tranh với các loại hình khác và cạnh tranh với
chính tuồng cổ, “Tuồng tân thời” và “Tuồng xuân nữ” đã không tìm được
chỗ đứng cho mình Các tác giả tuồng lại một lần nữa chuyển hướng cách tân tuồng cổ, đổi mới trang phục, đạo cụ, hình thức sân khấu, hướng đề tài vào tình yêu, hiệp khách, đưa cả những chuyện võ hiệp kì tình lên sân khấu Năng động hơn, từ nhưng năm hai mươi trở đi, người ta lại phóng tác, mô phỏng các vở bi kịch cổ điển Pháp để đưa lên sân khấu tuồng Thời kì này người ta
thường hay nhắc đến các vở tuồng như: Tây Nam đắc bằng(1916), và Tượng
kì khí xa của Hoàng Cao Khải; Đông A Song phụng(1916) của Hoàng Tăng
Trang 19Bí Đó là những vở tuồng viết theo lối tuồng cổ nhưng khác ở chỗ đã có sự phân chia thành từng cảnh và sân khấu được bài trí theo kiểu sân khấu Pháp Song, ngay cả điều đó vẫn không mở cho tuồng một triển vọng khả quan trước những thay đổi xô bồ của hiện thực
Trên lĩnh vực chèo cũng diễn ra tình trạng tương tự Suốt nhiều năm trong lịch sử, âm nhạc, và các làn điệu, trình thức, điệu thức của chèo từng hấp dẫn bao nhiêu thế hệ công chúng Vậy mà vào thời kì này, chèo dường như cũng trễ nải, phờ phạc trước làn sóng Âu hóa và trước sức tấn công vô cùng mạnh
mẽ của các loại hình nghệ thuật khác.Từ năm 1907 trở đi “Chèo văn minh”
được khởi xướng bằng một số cải cách về lớp lang, phông cảnh và phục trang sân khấu Năm 1914, Hội Sán Nhiên thành lập Sán Nhiên đài Lần đầu tiên, từ sàn diễn sân đình, chèo được đưa lên sân khấu Cấu trúc vở diễn được chỉnh
lý, sắp xếp lại Yếu tố thời gian và không gian vốn ước lệ trong chèo cổ đã
được xác định rõ hơn Nhưng rút cục, những thay đổi theo hướng “văn minh”
đó vẫn chưa giành được sự mến mộ của công chúng thị dân, của các bà, các
cô, các cậu đang háo hức quay cuồng trong nhịp sống, nhịp yêu đương mới Nhất là từ những năm hai mươi trở đi, khi nghệ thuật cải lương ở các tỉnh
miền Nam du nhập ra Bắc thì “Chèo văn minh” lại càng thưa thớt, vắng
khách.Trước nguy cơ đó, nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị (1883-1954) lại cải tiến
chèo và lấy tên là “Chèo cải lương Với loại chèo này, ông và các đồng sự
chủ trương chỉ giữ lại những đặc trưng cơ bản nhất của chèo cổ, tước bỏ những yếu tố lai tạp từ tuồng, bổ sung, dung nạp những hình thức diễn xướng
và các làn điệu dân ca chủ yếu trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, khai thác triệt
để yếu tố hài trong chèo cổ, phát triển lên thành những màn diễn độc lập Những động tác cách điệu, ước lệ trong vũ đạo chèo truyền thống cũng như trang phục, đạo cụ… đã được thay thế bằng những động tác chân thực, những
lối ăn mặc theo kiểu tân thời Dàn nhạc “Chèo cải lương” cũng được tăng
cường một số nhạc cụ mới Vở diễn bắt đầu có màn, có cảnh, nội dung hướng
Trang 20vào những vấn đề của cuộc sống đương đại So với “Chèo vănminh” và
“Chèo cổ”,“Chèo cải lương” đã tạo cho môn nghệ thuật truyền thống này một sắc diện mới.Tuy nhiên, với “Chèo cải lương”, cụ Nguyễn Đình Nghị
một phần chưa tận dụng và phát huy hết cái hay, cái đẹp của chèo cổ, một phần chưa thỏa mãn được những đòi hỏi mới của thực tế xã hội cũng như của lớp công chúng thị dân, trí thức tiểu tư sản, thanh niên học sinh đô thị Vì thế
nó không tránh khỏi bị làn sóng Âu hóa cho điêu đứng
Trong lúc hai loại hình nghệ thuật truyền thống đang phải chật vật để thích ứng dần với thế hệ công chúng mới thì ở phía Nam ra đời nghệ thuật cải lương Cái nôi của nó là các địa phương vùng lục tỉnh Có thể nói đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp nảy sinh vào buổi giao thời, trong đó có sự lai tạp giữa lối nói hát dân gian vùng miền Đông Nam Bộ với lối diễn tuồng tích truyền thống, kịch phương Tây và Hý khúc Trung Hoa Dần dà cải lương theo chân các tài tử vào các thành phố rồi lan ra cả nước, được những người buôn bán nhỏ đặc biệt yêu thích Ở phía Bắc, kịch nói ra đời, cùng với tiểu thuyết
và thơ Mới, kịch đã góp phần tạo nên một diện mạo mới cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại Hơn hẳn các loại hình nghệ thuật truyền thống, kịch có khả năng đáp ứng nhu cầu mỹ cảm không chỉ của tầng lớp trí thức Tây học mà còn của đại đa số công chúng đô thị, từ người bình dân đến các tầng lớp công chức ăn lương, nhất là học sinh, sinh viên Với những lợi thế của mình, kịch thể hiện được những vấn đề gay cấn, bức bối, những xung đột đạo đức, tâm lý đầy kịch tính trên bình diện gia đình và xã hội
Trong khi giải quyết những xung đột của đời sống tâm lý xã hội, kịch cho thấy mặt trái của quá trình Âu hóa, của lối sống tư sản, vừa cho thấy những cản trở của tâm lý, đạo đức cũ trên con đường tiến hóa Về mặt ngôn ngữ, kịch nói sử dụng chữ Quốc ngữ, văn chương trong sáng, giản dị, gần với khẩu ngữ thông dụng hàng ngày Vì vậy,nó được công chúng mới tiếp nhận như
một “mốt” nghệ thuật thời thượng
Trang 21Dẫn đến sự ra đời của kịch, ngoài nhu cầu khách quan trên đây còn phải kể đến hoạt động báo chí và hoạt động dịch thuật của các trí thức Tây học Cùng với việc Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh dịch, đăng các vở hài kịch và bi
kịch của Molie, Cooc – nây, Marrivo như: Người bệnh tưởng, Trưởng giả
học làmsang, Người biển lận, Lôi xích, Hòa Lạc, Chàng ngốc hóa khôn vì tình…trên các báo : Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí… người pháp
đã hoàn thành việc xây dựng ở các thành phố lớn các nhà hát kiểu Tây phục
vụ cho việc diễn Kịch Có thể nói, hoạt động báo chí và nhà hát những thập niên đầu thế kỉ là bà đỡ mát tay cho sự sinh thành của kịch nói, là tiền đề vật chất nuôi dưỡng nó
Sau sự hiện diện của các vở kịch trên Đông Dương tạp chí, ngày 25/4/1920, tại sân khấu Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, Hội khai trí Tiến Đức đã lần đầu tiên mở màn cho một vở kịch nói trình diễn trước khán giả Hà Nội bằng vở
kịch Người bệnh tưởng của Molie Mặc dù là một vở kịch dịch và phần đông
khán giả là người Pháp, nhưng sự kiện này đã thôi thúc những người tâm huyết với kịch nói như : Đoàn Ân,Trần Tuấn Khải, Nguyễn Hữu Kim, Vũ
Đình Long, Hồ Trọng Hiếu…sáng tác những vở “thời kịch” mô phỏng “theo
lối kịch thái Tây để bổ ích cho nhân tâm phong tục nước nhà” Ông Vũ Đình
Long băn khoăn: “Tại sao người mình lại ăn mặc quần áo Pháp thế kỉ XXII, diễn kịchPháp cho người mình xem?” Từ băn khoăn đó, họ tập hợp nhau lại
thành một hội Uẩn Hoa(1921) do ông Nguyễn Hữu Kim làm hội trưởng Các
vở: Mảnhgương đời, Bình địa ba đào của Đoàn Ân(đều được sáng tác vào
năm 1920) là nhưng bước tập dượt, những bước “khởi đầu nan” trên con
đường hình thành kịch nói Cho dù hình thức chủ yếu là mô phỏng kịch Tây nhưng nội dung đã bắt đầu bám rễ vào thực tại đời sống đô thị ở buổi giao
thời Tiếp đó vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long trên báo Hữu Thanh vào tháng 8/1921 và Tòa án lương tâm cùng với Bạn và Vợ của Nguyễn Hữu
Kim sau này là những sáng tác kịch nói đầu tiên đánh dấu nỗ lực hiện đại hóa
Trang 22và cải cách xã hội Việt Nam Tuy vậy, về nội dung phần lớn các vở kịch này vẫn nằm trong khuôn mẫu văn hóa và luân lý, đạo lý cổ truyền Về hình thức câu văn còn ít nhiều biền ngẫu và cân đối nhịp nhàng
Có thể nói trong giai đoạn 1921 – 1930, kịch nói và văn học kịch đã hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của sân khấu Pháp và chưa tách hẳn ra khỏi sân khấu âm nhạc dân tộc Nhiều nhà soạn kịch thường hay sáng tác đồng thời cho kịch nói cũng như sân khấu âm nhạc,đó là Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim và những tác giả khác.Phạm vi hoạt động của các nhóm kịch nói vào thời kỳ này rất hạn chế Phong trào kịch nói chủ yếu tập trung ở hai thành phố chính của miền Bắc Việt Nam là Hà Nội và Hải Phòng, sau đó có thể kể tới những tỉnh lỵ như Thanh Hoá, Nam Định… Còn ở miền Nam, trên thực tế kịch nói không phát triển nhiều.Vào thời kỳ đó, công chúng thích xem nhiều
nhất những vở kịch của các tác giả như: Vũ Đình Long (Tây sương tấn Kịch,
Toà án lương tâm), Nguyễn Hữu Kim (Bạn và vợ, Một người thừa, Toàán
âm phủ), Vi Huyền Đắc (Uyên ương, Hoàng Mộng Điệp, Hai tối hôn nhân), Nam Xương (Chàng ngốc,Ông Tây An Nam), Tương Huyền (Nặng nghĩa tớ thầy)… Vào cuối những năm 1920, phong trào kịch nói phát triển ồ
ạt, nhiều nhóm và ban kịch (kể cả không chuyên nghiệp) đã được thành lập
Từ 1930 – 1945 kịch nói phát triển trong điều kiện hình thành bối cảnh văn hoá, gắn với cải cách kịch nói và sự trưởng thành của văn học kịch dân tộc ở Việt Nam Chính phong trào sân khấu trong nước đã thúc đẩy sự phát triển của nền văn học kịch Quá trình này tiếp diễn trong vòng 15 năm, và trên thực
tế sự hình thành của nền văn học kịch Việt Nam nói chung trùng hợp với những khuynh hướng phát triển của nền văn học mới và đương đại trong nước trong khi đó phải nhấn mạnh rằng không phải những tác phẩm kiệt tác của sân khấu cổ điển phương Tây, mà chính là những vở kịch bình thường về
đề tài xã hội của các tác giả Việt Nam đã tạo nên một bước ngoặt và cải cách
Trang 23thực sự trong lĩnh vực sân khấu dân tộc Vào thời điểm ấy, trong nền văn hoá dân tộc Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng như sau:
- Một hệ thống hiện đại của thể loại văn và thơ bắt đầu hình thành trong nền văn học
- Một khuynh hướng mô tả hiện thực cuộc đời của những người thực tế, đã phổ biến rộng rãi
- Thái độ quan tâm đến cuộc sống của những tầng lớp xã hội bị áp bức, đã tăng lên
- Việc sử dụng ngôn ngữ đương đại đã trở thành một yêu cầu thiết yếu nhằm dân chủ hoá nền văn học
Cuộc sống văn học phát triển sôi nổi trong nước (phái Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới), nghệ thuật tạo hình (trước hết là hội hoạ) cũng có những thành tựu đáng kể, âm nhạc phương Tây (thông qua đĩa hát, phim ảnh) dần dần vào Việt Nam Và trong bầu không khí xã hội và nghệ thuật ấy, thị hiếu và sở thích nghệ thuật của công chúng Việt Nam đã hình thành
Nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thời kỳ mới để tiếp tục tồn tại, sân khấu Việt Nam buộc phải thay đổi cả hình thức lẫn nội dung Bước đầu theo hướng
đó là những tác phẩm văn học mới của các nhà văn Việt Nam, trước hết là
nhà văn lãng mạn Những tiểu thuyết như Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Nửa
chừngxuân của Khái Hưng được phóng tác thành kịch để diễn trên sân khấu
Công chúng Việt Nam hồ hởi đón nhận vở kịch đó
Đồng thời nên nhấn mạnh ảnh hưởng lớn của nhà hát Pháp đối với nhà soạn kịch Việt Nam vào thời kỳ ấy Trước hết phải đề cập đến những ý tưởng của Jean-Jacques Bernard và Sacha Guitry về kết cấu vở kịch và cách thể hiện cốt truyện Những ví dụ tiêu biểu của sự tiếp thu và nhận thức những ý tưởng nói
Trang 24trên là những vở kịch của hai nhà soạn kịch Vi Huyền Đắc (Nghệ sĩ hồn) và Đoàn Phú Tứ (Mơ hoa, Cuối mùa)
Những xu hướng cách tân trong sân khấu kịch nói trước hết thể hiện trong
hoạt động sáng tác của nhóm Tinh hoa và những vở kịch của nhà soạn kịch
Đoàn Phú Tứ
Vào thời điểm ấy ở Việt Nam xuất hiện kịch thơ Đây là một hiện tượng mới trong sân khấu dân tộc Người khởi xướng thể loại mới này là nhà thơ Huy Thông Ông coi lịch sử và nhân vật lịch sử là nguồn cảm hứng để sáng tác
Huy Thông là tác giả những tác phẩm nổi tiếng như Anh Nga ,Tiếng địch
sông Ô, Tần Hồng Châu, Kinh Kha, Lòng hối hận
Hai nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp và Hàn Mặc Tử cũng sáng tác kịch thơ Trong những năm đại chiến thứ II, các tác giả Việt Nam đã soạn nhiều vở
kịch về đề tài lịch sử: Phan Khắc Khoang (Trần Can, Lý Chiêu Hoàng), Vũ Hoàng Chương (Vân Muội, Trương Chi), Vi Huyền Đắc (Kinh Kha), Thao Thao (Quán biên thuỳ, Duy tân), Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô)…
Dần dần, ngoài những nhà soạn kịch chuyên nghiệp, nhiều nhà văn, nhà thơ, tác giả trẻ tuổi (sinh viên, trí thức) cũng bị cuốn vào quá trình sáng tác kịch nói
Sân khấu kịch nói từng bước một biến thành một bộ phận của quá trình văn học chung ở Việt Nam, còn bản thân kịch nói đã trải qua những giai đoạn nhất định trong sự phát triển tư tưởng và nghệ thuật của nó
Nếu trong những năm 1920 kịch nói đề cập đến những vấn đề có tính chất xã hội lớn (bảo vệ đạo lý cũ, thoát ly lễ giáo phong kiến, phê phán xã hội đương đại), thì giai đoạn tiếp theo trong quá trình phát triển của mình (những năm
1930 – 1945), kịch nói về đại thể trùng hợp với hoàn cảnh văn học chung trong nước, tức là bao gồm đồng thời ba khuynh hướng: lãng mạn, hiện thực
Trang 25phê phán, yêu nước – cách mạng Trong khi đó, một số tác giả cùng một lúc thuộc về các khuynh hướng khác nhau
Có thể phân định ba khuynh hướng đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kịch nói ở Việt Nam trước năm 1945:
Khuynh hướng tâm lý khai thác chủ yếu xung đột giữa lương tri và dục vọng,
lấy một gia đình đương đại làm ví dụ Khuynh hướng này gốm các tác giả tiêu
biểu như sau: Vũ Đình Long (Chén thuốc độc, Toà án lương tâm), Nguyễn Hữu Kim (Bạn và vợ, Cái đời bỏ đi, Thủ phạm là tôi, Giới đất mới), Từ Sơn
(Tình hối), Trung Tín (Toa toa, moa moa), Tương Huyền (Nặng nghĩa tớ thầy, Ớt không cay), Lê Đình Mậu (Gái tân thời), Vi Huyền Đắc (Uyên ương, Hoàngmộng điệp, Hai tối hôn nhân), Lê Công Đắc (Tiểu thư đi bộ)…
Khuynh hướng lãng mạn đã phát triển được dưới ảnh hưởng của văn hoá
phương Tây, hình thành dưới tác động trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn Pháp,
và thể hiện những quan điểm tư tưởng và thị hiếu nghệ thuật của công chúng trí thức trong giới tiểu tư sản ở các thành phố Việt Nam Nhà soạn Kịch lãng mạn khai thác chủ yếu xung đột giữa thực tại cuộc sống và ước mơ, mộng tưởng Đặc điểm chung của các nhà soạn Kịch lãng mạn là thái độ bất mãn với hiện thực Một số tác giả tìm kiếm cái đẹp trong nghệ thuật, coi nghệ thuật là mục đích tự thân; những tác giả khác thì thể hiện thái độ bi quan và tâm trạng buồn rầu đối với cuộc sống Những tác giả tiêu biểu của khuynh
hướng này là Vi Huyền Đắc (Nghệ sĩ hồn), Đoàn Phú Tứ (Ngã ba), Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô)
Khuynh hướng kịch hiện thực đã phát triển thành công trong những năm
1930- 1945 Những nhà soạn Kịch của khuynh hướng này khai thác chủ yếu xung đột về quyền lợi xã hội giữa các giai cấp Những tác giả tiêu biểu là Vũ
Trọng Phụng (Lễ tết, Cái chết bí mật của một người trúng số độc đắc), Vi Huyền Đắc (Kim tiền)…
Trang 26Trong kháng chiến chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam, kịch nói đã trở thành vũ khí xung kích trên các trận tuyến đấu tranh tư tưởng và cổ vũ lòng yêu nước, động viên tuyên truyền công nông binh, vì những mục tiêu cách mạng trực tiếp Kịch nảy sinh khi có nhu cầu chiến lược mới hay cho một biến cố riêng rẽ đến độ có bao nhiêu biến cố, nghị quyết lớn
là có bấy nhiêu loại kịch Nền kịch cách mạng Việt nam ghi nhận những đóng góp lớn lao, bền bỉ của các nhà soạn kịch như Lộng chương, Bửu Tiến, Lưu Quang Thuận, Học Phi, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Huyền Trân, Hà Văn Cầu, Đào Hồng Cẩm…
Nhìn chung, sự ra đời của kịch nói và văn học kịch hiện đại ở Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ XX là kết quả tiếp xúc, giao lưu văn hoá phương Đông và phương Tây Nguyên nhân chính dẫn tới sự ra đời của kịch nói hiện đại ở Việt Nam là việc phương Đông mở cửa cho phương Tây và hiện đại hoá của toàn bộ xã hội Việt Nam Cùng với tiểu thuyết hiện đại và phong trào thơ mới, văn học kịch góp phần quan trọng trong việc biến đổi tính cách và bộ mặt của văn học dân tộc Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XX, làm cho văn học phong phú hơn, thúc đẩy văn học nước nhà hội nhập vào quá trình phát triển của văn học thế giới
Không chỉvậy trong quá trình phát triển trước năm 1945, kịch nói hiện đại không hề bài xích và bãi bỏ sân khấu kịch truyền thống Việt Nam là tuồng và chèo Phạm vi phổ biến của kịch nói là miền Bắc với những thành phố lớn, trong khi đó cải lương thịnh vượng ở miền Nam do nếp sống, tâm lý và truyền thống âm nhạc của người dân bản xứ
Kịch những năm đổi mới đã thực sự đổi mới bằng một cao trào sân khấu Lưu Quang Vũ Bốn mươi tuổi nhà thơ Lưu Quang Vũ đã là tác giả của gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng Rất nhiều các tác
Trang 27phẩm của ông đã làm sôi động sân khấu Việt nam thời kỳ đó như: Hồn
Trương Ba da hàng thịt, Lời thề thứ 9, Bệnh sĩ, Khoảnh khắc và vô tận, Ông không phải bố tôi, Tôi và chúng ta, Tin ở hoa hồng, Nàng Sita,
Nhưng từ sau Lưu Quang Vũ, sân khấu kịch Việt Nam bắt đầu rơi vào thời kỳ thưa thớt tài năng.Sự khủng hoảng thiếu kịch bản xảy ra ở hầu hết các loại hình sân khấu.Dù có cố gắng đến mấy, những đóng góp có tính tay trái của các nhà nghiên cứu như Trần Đình Ngôn, Phạm Quang Long… cho kho kịch bản Việt Nam vẫn xóa đi được cảm giác đói khát của khán giả sân khấu Trong tình hình đó Những thể nghiệm đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp, như
các vở Suối nhỏ êm dịu ( báo Văn nghệ, 2001), Mổ nhà văn ( bút danh Thiếu Thiện Ngân ), đặc biệt là Vong bướm viết gần đây (2012 ), đã gieo niềm hy
vọng không nhỏ về một thời kỳ phục hưng nghệ thuật sân khấu
1.2 Đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp cho nền kịch Việt Nam
1.2.1 Nguyễn Huy Thiệp – tài năng lao động nghệ thuật
Nguyễn Huy Thiệp ( 29/4/1950) quê ở Thanh Trì – Hà Nội Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp các nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Tây Nguyên qua vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc
Năm 1960 gia đình ông chuyển về định cư ở xóm Cò, làng Học – Hà Nội Năm 1970 ông tốt nghiệp khoa Sử, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980 Năm 1980 ông chuyển công tác tại BộGiáo Dục
và Đào Tạo, sau đó ông chuyển về làm việc tại công ty Kỹ thuật trắc địa bản
đồ Cục bản đồ cho tới khi về hưu
So với các nhà văn cùng tuổi, Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn có tác phẩm trình làng hơi muộn trên văn đàn Việt Nam, tuy vậy ông lại là một cây bút đa năng Nguyễn Huy Thiệp là tài năng trên nhiều lĩnh vực Ông không chỉ sáng tác truyện ngắn mà còn sáng tác cả kịch bản văn học, tiểu thuyết, tiểu luận, phê bình với nhiều góc nhìn mới và táo bạo Tuy nhiên, truyện ngắn là thể
Trang 28loại thănh công nhất của ông Nguyễn Huy Thiệp đột ngột xuất hiện với chùm
truyện Những ngọn gió Hua Tât được đăng trín bâo văn nghệ (1987) Tiếp
đó truyện ngắn Tướng về hưu đê gđy chấn dư luận xê Dần dần từng
bước,bằng tăi năng của mình Nguyễn Huy Thiệp đê chọc thủng được bức
măn vốn dửng dưng, thờ ơ của độc giả Nhắc tới ông, người ta nhớ về Tướng
về hưu gđy xôn xao trong thời gian dăi, bởi một câch viết rạch ròi,lạnh lùng
đến trần trụi, nhớ Muối của rừng tưởng như không đđu tẻ nhạt mă lại hóa đượm nhiều ý vị thđm trầm, kín đâo vă sđu sắc, nhớ Một thoâng Xuđn
Hương với phong câch lịch lêm, mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hă, nhớ Con gâi thủy thần lẫn lộn hư thực huyền ảo vă phiíu diíu…Với mỗi một truyện
ngắn, nguyễn Huy Thiệp như đang lăm một cuộc phiíu lưu cho ngòi bút mă cũng lă tự phâc ra chđn dung văn học của mình Có người nhận xĩt truyện ngắn của Nguyễn Huy thiệp mang những dấu ấn đậm nĩt của chủ nghĩa hậu hiện đại Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như một cuộc vật lộnvới chính bản thđn mình Rất khó tìm thấy nơi tđm hồn có thể nghỉ ngơi trong những trang viết của ông Nó quâ kiệm lời, quâ thđm trầm vă cũng đúng một câch tăn nhẫn
Ông còn lă người rất có khiếu lăm thơ vă kinh doanh Tuy chưa có tập thơ năo được xuất bản nhưng độc giả có thể tìm thấy khâ nhiều thơ trong truyện ngắn của ông
Nguyễn Huy thiệp còn khẳng định tăi năng của mình trín lĩnh vực sâng tâc kịch bản văn học Nhiều vở kịch đê được chọn để diễn trín sđn khấu như vở NhăÔsin, Đến bờ bín kia…
Có thể nói, nếu có một thứ “cđy bút văng” để dănh tặng cho câc cđy bút xuất sắc hăng năm trong những năm 80 của thế kỉ XX, thì người xứng đâng được nhận giải trong văn xuôi nước ta có lẽ lă Nguyễn Huy Thiệp
Trang 291.2.2 Đóng góp kịch Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một bông hoa nở muộn trên văn đàn Việt Nam Tuy nhiên những đóng góp của ông lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao Nếu ở thể loại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã làm dậy sóng trên văn đàn Việt Nam, thì ở thể loại sáng tác kịch bản văn học tuy không gây được tiếng vang như truyện ngắn nhưng kịch của ông đã đem đến một cái nhìn mới về cuộc đời,về nhân sinh
Kịch của ông rất gần gũi với đời thường, mang đến giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh những vấn đề nhức nhối của đời sống xã hội hiện đại
Viết kịch cũng là cách Nguyễn Huy Thiệp thể hiện bản thân và đóng góp tiếng nói nghệ thuật của mình làm thức tỉnh lương tâm, cảnh tỉnh xã hội, để khẳng định những giá trị tốt đẹp của truyền thống
Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp giúp người đọc và cả những người yêu thích loại hình sân khấu này được tìm hiểu thêm về truyện đời và làm nền kịch nói nước nhà thêm phong phú và đặc sắc hơn
Trang 30CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT KỊCH 2.1 Vài nét về nhân vật kịch
“Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học”, “Văn học không thể thiếu nhân vật bởi đó là hình thức cơ bản
để qua đó văn học miêu tả thế giới” [29, tr.277] Do đặc trưng về thể loại,
nhân vật kịch lại càng trở nên quan trọng Nhân vật kịch là những con người được miêu tả trong tác phẩm kịch Tất cả mọi nội dung, diễn biến của câu chuyện, hành động, xung đột và tư tưởng, quan niệm của tác giả đều phản ánh, thể hiện qua nhân vật
Một vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có nhân vật đi lại nói năng, hành động Nếu nhân vật trong thơ được hiện lên ở những trạng thái cảm xúc khác nhau, nhân vật trong truyện có những điều kiện được khắc họa toàn vẹn với đầy đủ những chi tiết tỉ mỉ, cụ thể nhất, thì nhân vật trong kịch do sự chế nhất định của thời gian, và không gian sân khấu nên thường hiện ra trong tác
phẩm đúng vào thời điểm “bước ngoặt số phận” và dù ở bất cứ dạng thức
nào, nó cũng luôn tự khẳng định bản chất, tính cách của mình bằng hành động Trong kịch bản văn học, ngoài nhân vật còn có những lời chỉ dẫn về cảnh vật, con người thường được in nghiêng, được tác giả viết nhằm gợi ý cho sự dàn dựng của nhà đạo diễn Điểm khác biệt cơ bản giữa tác phẩm kịch với các phẩm tự sự và kí là kịch không có người kể chuyện
Macxim Gorki cho rằng : “Kịch là thể loại khó nhất trong văn học, khó là vì
vở kịch đòi hỏi những nhân vật trong vở kịch phải thể hiện được tính cách bằng lời nói và hành động, không có lời mách bảo, gợi ý của tác giả Các nhânvật kịch được hình thành do lời lẽ của họ và tuyệt đối chỉ có lời lẽ ấy mà thôi, nghĩa là tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không phải ngôn ngữ miêu tả”
Trong nhân vật kịch, yếu tố quan trọng nhất là hành động kịch Mối quan hệ giữa hành động và nhân vật trong những tác phẩm luôn luôn là tiền đề, là trục
Trang 31chính để xây dựng những tính cách của nhân vật Hành động được đặt trong tương quan và bộc lộ qua những xung đột Nhân vật lại là phương tiện tất yếu
và quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng tác phẩm Do đó tính cách nhân vật phải thật tiêu biểu (nó không có nghĩa là đơn giản một chiều) Tính cách nhân vật kịch tuy không đa dạng như nhân vật tiểu thuyết nhưng nó có được đường nét, màu sắc nổi bật hơn và dễ xác định về mặt bản chất
Ngôn ngữ nhân vật chiếm vai trò quan trọng trong việc thể hiện nhân vật Một nguyên tắc xây dựng ngôn từ nghệ thuật của kịch bản văn học là mọi vấn đề xung quanh hình tượng đều nằm trong ngôn ngữ nhân vật.Ngôn ngữ nhân vật
là hình thức tồn tại hầu như nhất định của ngôn ngữ kịch(không tính đến những lời chú thích, minh họa về mặt sân khấu, trang phục, sự xuất hiện của diễn viên khi diễn trên sân khấu) Nhân vật kịch là người được khắc họa bằng đối thoại và độc thoại Nhân vật kịch phải có tính cách dựa vào lời thoại và hành động sân khấu của bản thân nó mà không phải qua mô tả của tác giả như trong văn xuôi
Tác phẩm kịch viết ra chủ yếu là để biểu diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm tự sự và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều mặt Do đó, tính cách nhân vật trong kịch tập trung nổi bật và xác định nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ và xúc động cho khán giả Hiển nhiên sự nổi bật và tập trung đó không có nghĩa đơn giản một chiều, xoay quanh một nét tính cách khác, mà
có sự liên đới, vừa biến thái làm cho gương mặt nhân vật thêm sinh động và
đa dạng
Nhân vật kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm Do đặc trưng
là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó con người phải hành động,
vì vậy con người không thể không dắn đo, suy nghĩ,cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt Dĩ nhiên đặc trưng này cũng được thể hiện trong các loại hình văn học khác nhưng rõ ràng thể hiện tập trung và phổ biến nhất trong kịch Chính từ
Trang 32đặc điểm này, nhiều tác giả đã dùng biện pháp lưỡng hóa nhân vật nhằm thể hiện đấu tranh nội tâm của nhân vật đó
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu các đặc điểm cơ bản ta có thể thấy trong kịch, nhân vật đóng vai trò quan trọng Nhân vật kịch là nơi trực tiếp duy nhất khắc họa hình tượng, thể hiện bản thân, các đấu tranh xung đột nội tâm, vừa
là nơi truyền tải những thông điệp, tư tưởng của tác giả đến với công chúng Việc tìm hiểu về nhân vật trong sáng tác của một kịch tác giả văn học là một hướng nghiên cứu toàn diện nhằm tiếp cận những quan niệm, tư tưởng, tài năng nghệ thuật của tác giả cũng như của toàn bộ tác phẩm
2.2 Nhân vật trong kịch Nguyễn Huy Thiệp
Con người luôn là đối tượng trung tâm trong sáng tác của những người nghệ
sĩ Với Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, trong sáng tác của mình, ông luôn coi con người là đối tượng, là chất liệu để nhận thức thực tại, là chuẩn mực để soi chiếu, đánh giá hiện thực Cũng bởi lẽ đó mà khi tìm hiểu về nhân vật kịch của Nguyễn Huy Thiệp, người ta cảm nhận được niềm suy tư, trăn trở của người nghệ sĩ về cuộc đời khi lật xới, mổ xẻ từng thân phận con người trong tác phẩm của ông Trong kịch bản văn học của mình, Nguyễn Huy Thiệp vừa quan tâm đến việc phản ánh hiện thực cuộc sống mà đặc biệt chú ý đến vấn đề muôn thuở của cuộc sống con người: thiện – ác, thật – giả, chính – tà… Ông thể hiện sự quan tâm đó thông qua thế giới nhân vật phong phú trong tác phẩm của mình Có thể nói xây dựng nhân vật là một thành công lớn của Nguyễn Huy Thiệp Khảo sát các tác phẩm kịch của ông, có thể nhìn thấy tác giả đã thiết tạo được thế giới nhân vật phong phú, đa dạng nhiều chiều
Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công trong việc lựa chọn nhân vật kịch để đưa vào tác phẩm của mình Thế giới nhân vật xuất hiện trong kịch Nguyễn Huy Thiệp không phải do sự tùy hứng của tác giả mà đó là nơi tác giả thổi hồn, gửi gắm suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của riêng mình về cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người trong thế giới thực tại Vì vậy các nhân
Trang 33vật trong kịch của ông vừa có tính cách nổi bật, diễn biến tâm lý phức tạp, vừa là phương tiện chuyển tải những nỗi niềm, sự day dứt của tác giả về đạo nhân sinh
2.2.1 Nhân vật của cuộc sống đời thường
Đọc kịch Nguyễn Huy Thiệp, độc giả dễ dàng bắt gặp những con người, những gương mặt quen thuộc của cuộc sống thường nhật Những con người
đó không phải chơi vơi, cũng không phải ai xa lạ mà là những người điển hình của cuộc sống hàng ngày Trên đường phố, dưới bến đò, trong gia đình… đâu đâu cũng có bóng dáng quen thuộc trong nhân vật kịch của Nguyễn Huy Thiệp: thầy giáo, tên cướp, nhà sư, một ông Đại tá về hưu, một
bà ôsin giúp việc… Có lẽ vậy mà nhân vật trong kịch của Nguyễn Huy Thiệp gần gũi hơn, tươi mới hơn với độc giả
Vở kịch “Nhà Ôsin” lấy bối cảnh không quá độc đáo xoay quanh câu chuyện
của một gia đình giàu có của ôngĐại tá về hưu tự nhận mình là biểu tượng của ngôi nhà, giữa đám ôsin ô hợp, nhốn nháo nhưng ông vẫn thích sống bằng
trái tim hồng… Cả vở kịch phần lớn là những dốc lòng về đời tư của các
nhân vật Thủy trần, PhúĐiên, Bà Tơ, Oanh Nhớn, Oanh Bé, Meluza Chỉ riêng cuộc đời của ông Đại tá là kín bưng cho đến phút chót Tất cả đan cài
vào nhau để tạo thành “tấn trò đời” Từ đó Nguyễn Huy Thiệp đưa người đọc
vào một thế giới nhân vật với những gương mặt quen thuộc trong đời sống hàng ngày Bảy nhân vật trong vở kịch là bảy con đường, bảy cung cách ứng
xử khác, và cũng là bảy nhân vật rất điển hình mà ta có thể dễ dàng bắt gặp ở khắp mọi nơi và trong bản thân mỗi con người: Một ông Đại tá về hưu tính tình hóm hỉnh, trải đời, rộng lượng, ông không phải là người được học hành nhiều nhưng ông lại có sự thông thái, hiền triết, toàn thân ông toát ra tinh thần hài hước từ lời nói, nụ cười, ánh mắt, đến cả cách ăn mặt và đã để lại ấn tượng cảm thông cho người xem; một Oanh Bé trong trẻo, đẹp đẽ mong manh tựa như thiên thần, vô tư trong đời sống, trong tình dục,trong cuộc đời và để
Trang 34lại ấn tượng bâng khuâng cho người xem; một Oanh Nhớn mạnh mẽ, nóng nảy, ghê gớm, bước từ thân phận ôsin sang làm chủ nhà; một Thủy Trần vô
vị, nhạt nhẽo, mặc cảm, có rất nhiều điều lộn xộn trong tính cách và loại người như cô sẽ phải chịu đựng những tác động của thói đời nhiều nhất; một
bà Tơ vô duyên nhưng tận tụy, với nỗi đau không thể nhận con và chấp nhận làm Ôsin cho chính con trai mình; một Phú Điên từ kẻ cắp trở nên giàu có nhờ vào làm ăn rất bản năng, không hoa mỹ, không thất vọng và lấc cấc nữa, nhưng đấy là vẻ đẹp của tuổi trẻ; một Meluza mới lớn, hứa hẹn là một động lực điển hình hảo hạng, trong sáng và nguy hiểm, non nớt và hi sinh Như bao người trong cuộc sống hàng ngày, những nhân vật này cũng phải chịu nhiều
bi kịch đau đớn Một Thủy Trần nhiều tham vọng nhưng bi kịch mà cô gặp phải là thực tế trắng tay, là một con người không nghề nghiệp, không tiền, không bạn bè Một bà Tơ chỉ vì phút hoan lạc của thời trẻ đã sinh ra một Phú Điên rồi đành bỏ con trước cổng quán bia để cho bọn bợm nhậu nuôi dưỡng
Bi kịch của bà là đứa con mình dứt ruột đẻ ra không chịu nhận mẹ bởi mẹ
nghèo, bởi anh ta giờ là “tỷ phú, ra đường không sợ ai hết”, làm sao lại có bà
mẹ làm ôsin Lời kêu than của bà chính là nỗi đau khổ, bất lực của một người
mẹ Đau đớn không biết chia sẻ cùng ai, bà chỉ biết kêu than cùng trời đất:
Bà Tơ: Trời ơi! Sao lại thế hả con? Trời cao đất dày ơi! Lạy trời phán xét soi! Trên đời này không có công lý là sao? Sao lại bất công như thế ? Không
có sai đúng, phải trái gì sao? [62, tr.277]
Nhưng đứa con nào có chịu nhận bà làm mẹ:
Phú điên: Được rồi! Bà hiểu như thế thì cũng được rồi! Ở trong Rú Rào tôi
là tỷ phú, tôi có hai trăm công nhân nông nghiệp, tôi đi ra đường chẳng sợ thằng nào Bà Tơ, tôi sẽ rộng lượng làm phúc cho bà… Nếu như bà muốn tôi thì tôi sẽ cho bà làm ôsin cho tôi, bà sẽ là người công nhân nông nghiệp, là người đầy tớ thứ hai trăm linh một của tôi! Bà sẽ vào trong Rú Rào để ở, còn
Trang 35riêng với tôi, tôi bảo cho bà biết rằng nếu bà vẫn có ý định để làm mẹ tôi thì tôi sẽ tống cổ bà cút đi ngay tức khăc! [62, tr.278]
Cuối cùng hạnh phúc cuối đời của bà là đành ngậm ngùi làm ôsin cho con đẻ của mình để có cơ hội gần con:
Bà Tơ (Chắp tay vái lạy rối rít): Lạy cậu, Lạy cậu… Nhím Xù ơi, Cún Con ơi…Tôi xin lạy cậu, tôi cám ơn cậu nghìn lần, vạn lần, tôi sẽ làm Ôsin cho cậu…được rồi, tôi sẽ làm con ở, tôi sẽ xin làm con hầu, miễn làm sao tôi được nhìn thấy cậu hàng ngày là được, thế là thỏa ý tôi rồi… Nếu được như thế thì chết tôi cũng thỏa lòng [62, tr.278]
Bà Tơ : Cô ơi, tôi hạnh phúc quá, Tôi được nhận làm Ôsin cho con trai tôi, thế là tôi chết cũng thỏa rồi (…) Tôi sung sướng quá.” [62, tr.279]
Bi kịch của bà Tơ là thế còn ông Đại tá - người chủ ngôi nhà, người từng một thời lừng lẫy nơi chiến trường, cũng đâu có hạnh phúc hơn, ông bị chính con cháu mình đuổi ra khỏi nhà để cướp gia tài:
Oanh Nhớn: Thưa bố, thưa Đại tá … Trong thời gian ngắn nhất xin bố rời khỏi ngôi nhà này để con bàn giao cho công ty nước ngoài theo đúng thỏa thuận hợp đồng” [62, tr.283]
Và Meluza - ôsin thân thiết của đại tá cũng không muốn đi theo ông khi mà
ông đã tay trắng “Bỏ cả giang sơn theo người đẹp, ai ngờ người đẹp thíchgiang sơn” [63, tr.286] Đó là bi kịch của những nhân vật trong vở kịch
âu cũng là bi kịch của đời người, của thế thái nhân tình trong xã hội mà thời nào cũng có
Vở kịch Đến bờ bên kia đưa người đọc đến với một thế giới thu hẹp với đầy
đủ các thành phần trong xã hội mà chúng ta vẫn bắt gặp thường xuyên hàng ngày Người trên đò là một tập hợp đầy đủ các thành phần nam phụ lão ấu, quân tử, tiểu nhân với đủ các nghề nghiệp trong xã hội: một nhà thơ vui vẻ,
cởi mở, “ luôn nhìn về phía trước”, một nhà sư luôn miệng niệm Phật, một
nhà giáo, một thiếu phụ xinh đẹp xa quê lâu ngày trở về thăm quê hương, một
Trang 36tướng cướp đầu trâu mặt ngựa, hai tên buôn đồ cổ, một đôi nam nữ ca ngợi bản năng, một em bé và một chị lái đò bằng lòng với cuộc sống lao động bình
dị ngày ngày đưa khách qua sông: “Cháu thì chẳng phải lo gì!Cứ biết ngày nào hay ngày ấy! Đàn bà chúng cháu chỉ cần cái trước mắt thôi bác ạ! Lo chỉ thẩy mệt! Cháu chẳng cần giàu, chẳng cần danh giá làm gì! Cháu chỉ cần có
đủ ăn thôi” [62, tr.11].Có thể nói chuyến đò đó là sự mã hóa chúng sinh hữu
tình trôi theo bánh xe sinh tử luân hồi Có khác chăng so với chúng sinh trong kinh luân Phật giáo thì đó là chúng sinh có lưỡi lê, có bọn buôn đồ cổ, có nhà thơ đại vong ngữ, có tên cướp bị người đời khinh miệt…Nói tóm lại đó là
chúng sinh thời mở cửa, thời kinh tế thị trường
Tuy nhiên ở vở kịch này, Nguyễn Huy Thiệp không đi vào tìm hiểu sâu
những bi kịch của từng nhân vật như ở vở kịch Nhà Ôsin, mà ở đây Nguyễn
Huy Thiệp tập trung khai thác những mâu thuẫn, xung đột xảy ra giữa các nhân vật để từ đó lột tả bản chất của từng nhân vật kịch.Trên chuyến đò sinh
tử ấy,người sang đò có một nhà sư, một nhà giáo, một nhà thơ, một tên cướp, hai tên buôn đồ cổ, hai mẹ con, một cặp tình nhân và chị lái đò Đò vừa rời bến, một tên cướp đột nhiên xuất hiện và xin đi theo Khi đến gần bờ, chú bé
đi cùng mẹ vô tình đút tay vào chiếc bình cổ của hai tên buôn và không rút ra được Mọi người góp ý kiến để tìm cách rút tay cậu bé ra Lo sợ mất chiếc bình quý, hai tên buôn uy hiếp mẹ con cậu bé, trước tình hình đó tên cướp rút côn ra đập vỡ chiếc bình giải cứu cho cậu bé Cổ vật quý bị mất, tên buôn đồ
cổ rút súng ngắn ra bắn tên tướng cướp, nam thanh niên đỡ hộ viên đạn và chết Tên buôn đồ cổ nhận ra chính mình đã giết con trai, nhưng đã quá muộn Chuyến đò cập bến, nhà sư đòi chị lái đò cho quay lại bờ bên kia nhưng không được Rất bình thường, rất nhẹ nhàng với những cảnh thường ngày, nhưng vở kịch ghi vào lòng người đọc cảm xúc mạnh mẽ về tình người, về mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội khi mà mọi người đều chạy theo đồng tiền, theo lợi nhuận mà quên mất đi tình người, tình thân
Trang 37Đọc xongkịch Nguyễn Huy Thiệp trong lòng mỗi độc giả hẳn còn lại nỗi day dứt, trăn trở khôn nguôi về con người, về nhân tình thế thái Ngòi bút của nghệ sĩ bật lên những trang viết như cào cứa vào trái tim người đọc, khiến nó
rỉ máu Thông qua những trang kịch của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã phản ánh những mặt trái của xã hội hiện đại khi bước vào thời kì đổi mới, khi con người ta trở về với trạng thái bình thường nhất của cuộc sống Và ở đấy, ông
đã nhìn thấy, đã phơi bày trước mắt chúng ta một cách rất cụ thể, rõ ràng hiện thực về một xã hội mất ổn định, đang bị tha hóa trong đạo đức, nhân phẩm con người Một xã hội mà con người đối xử với nhau bằng tính toán thực dụng Những giá trị tình cảm tốt đẹp đều được cân đo, đong đếm bằng vật chất, bị vật chất chi phối, quyết định Trong điều kiện sống như vậy, con người rất khó giữ được lương tâm, nhân phẩm Những vấn đề, những hiện tượng mà Nguyễn Huy Thiệp đề cập tới trong vở kịch của mình không phải là
cá biệt, chỉ cần chịu khó để ý một chút ta sẽ thấy nó xuất hiện nhan nhản trong cuộc sống thị thành hiện nay
Nhân vật của cuộc sống đời thường thực sự là một tiêu điểm lấp lánh, là mối quan tâm hàng đầu thu hút tinh hoa, bút lực của tác giả Từ những chuyện thường ngày của thế thái nhân tình, ông khéo léo đưa vào trong tác phẩm của mình và làm nó trở thành những vấn đề mang tính thời sự, đáng quan tâm Hướng về con người đời thường, ông thường gửi gắm vào đó những nỗi suy
tư, trăn trở sâu kín của mình về tình đời, tình người, trong xã hội mà sức nặng của đồng tiền, của vật chất đang ngày càng leo thang, bỏ rơi đi tình người, tình ruột thịt Có thể nói những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, vì con người, yêu thương con người của tác giả Cũng giống như các nhân vật đời thường trong các truyện
ngắn Không có vua, Thương nhớ đồng quê, Chảy đi sông ơi… nhân vật đời
thường trong kịch Nguyễn Huy Thiệp đôi khi hiện ra như những nhân vật đáng thương, trần trụi trước cuộc đời, cô đơn dưới cái nhìn lạnh lẽo, dường
Trang 38như vô cảm của tác giả Tuy nhiên đó chỉ là cảm giác ban đầu, thoáng qua của độc giả Đằng sau cái vẻ nhìn đời nhìn người lạnh lùng của tác giả, người đọc vẫn nhận ra ở đó ấm áp một trái tim hồng khao khát tình yêu thương nhân ái
2.2.2 Nhân vật lưỡng diện
Mỗi người nghệ sĩ tùy theo quan niệm thẩm mỹ và mục đích mà sáng tạo nên các loại hình nhân vật khác nhau Nhân vật chỉ sống trong lòng công chúng khi thoát ra khỏi sự đơn điệu để bước vào cuộc đời,bởi vì họ chính là một phần của cuộc đời ấy Nhân vật hiện lên trong tác phẩm không lẻ loi, đơn độc,
mà đó là cõi người đa dạng, ở đó có người tốt, kẻ xấu, có người cao thượng
có kẻ thấp hèn Tuy nhiên bản thân những con người không hề đơn giản một chiều mà sâu kín, rối rắm, nhiều chiều kích Bên trong những bản thể nhỏ nhoi ấy bao giờ cũng tồn tại hai mặt đối lập: tốt – xấu, thiện – ác, cao quý – thấp hèn, hạnh phúc – khổ đau Con người có lúc là thần thánh nhưng cũng có lúc là quỷ dữ… Và mỗi nhân vật là một mặt của khối rubich với nhiều mảng màu tối sáng, đó cũng chính là sự đa diện trong tính cách của con người Nguyễn Huy Thiệp rất thành công trong việc xây dựng con người lưỡng diện Ông len lỏi vào những nẻo sâu kín nhất trong nội tâm nhân vật, nhìn thấy những biểu hiện dù là nhỏ nhất bên trong tâm hồn họ Với Nguyễn Huy Thiệp, con người là một thực thể đa diện, phức tạp chứ không phiến diện, giản đơn một chiều, luôn đòi hỏi sự tìm tòi, khám phá của người nghệ sĩ, trong bản thân mỗi con người chúng ta khó phân biệt được rạch ròi giữa mặt tốt và xấu, thiện và ác, …
Trong vở kịch Đến bờ bên kia Nguyễn Huy Thiệp đã mã hóa chúng sinh thời
hiện đại khi dựng lên một thế giới nhân vật đa dạng và phong phú, với đủ các loại thành phần xã hội, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp Trên chuyến đò sinh
tử ấy có những người được mệnh danh đại diện cho trí thức, cho học vấn như nhà thơ, nhà giáo, có người đại diện cho tấm lòng từ bi bác ái của nhà Phật,và
Trang 39cũng có người là tướng cướp Hiển nhiên những người trí thức, người đại diện cho tấm lòng thiện của nhà Phật là những người đại diện cho cái thiện, cái tốt, cái đẹp, còn những tên tướng cướp đầu trâu mặt ngựa là mặt xấu xa, là những mảng tối cần được loại bỏ trong xã hội Nhưng trong vở kịch Nguyễn Huy Thiệp đã giúp cho độc giả có cái nhìn mới về những con người này Ở
phần đầu của vở kịch nhà thơ xuất hiện là người vui vẻ, cởi mở, luôn nhìn về phía trước, là “nhà tiên tri thấu thị”, ông luôn đưa ra những lời khuyên cho cô
lái đò về bí quyết của hạnh phúc và tuổi xuân, đưa ra những lời đúc rút chí tình về đời thiếu nữ và hiểu được sự luẩn quẩn trong vòng danh lợi Ông nhà
giáo đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng vì “thương học trò”nên vẫn vất vả dạy học,
nhà sư luôn miệng niệm Phật, tên tướng cướp đầu trâu mặt ngựa luôn tay múa khúc côn Diễn biến của vở kịch đạt đến cao trào khi hai tên buôn đồ cổ mang chiếc bình quý ra khoe và cậu bé cho tay vào bình mà không rút ra được Ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã tạo cho nhân vật một hoàn cảnh cụ thể để nhân vật
có thể tự bộc lộ, thể hiện mình Con người có lúc là thần thánh, nhưng cũng
có lúc là quỷ dữ Ai dám bảo một người hiền lảnh lại không có lúc suy nghĩ
đê tiện? Ai dám bảo một người một người độc ác lại không có lúc lấp lánh trong tâm hồn ánh sáng của thiên lương? Trước tình huống đứa bé đút tay vào chiếc bình mà không thể nào rút ra được, các nhân vật dần dần phơi trần hết bản chất của mình Nhà sư chỉ biết niệm Phật, nhà giáo chỉ biết im lặng, nhà
thơ thì phũ phàng“đút tay vào lịch sử thì phức tạp, lôi thôi ghê lắm, sẽ bị kẹt đấy còn lâu! Chỉ có cách chặt tay đứa bé để cứu chiếc bình, sau đó đập vỡ chiếc bình để cứu tay đứa bé” [62, tr.38], còn bọn côn đồ thì “chĩa súng vào người mẹ đang ôm đứa bé lên cò súng, một thái độ hết sức tàn nhẫn” Những
con người này đã chối bỏ trách nhiệm con người trước cộng đồng, mà đó là điểm châu tuần về những quan niệm, đạo lý của tôn giáo Rõ ràng họ là tập hợp những kẻ vô đạo đức, hèn nhát, ích kỉ.Còn tên tướng cướp, không ai ưa
hắn Trông tướng mạo hắn dữ dằn, bất lương nhà giáo xếp loại ngay “hắn là
Trang 40tướng cướp đấy! Đầu trâumặt ngựa, khét tiếng ở vùng này đấy”[62, tr.22] Đã
là tướng cướp thì dứt khoát không làm được việc thiện Vậy mà hắn đã làm
Hắn cứu đứa bé “tướng cướp đẩy ngườinày ra múa khúc côn nhị khúc rồi bổ mạnh vào chiếc bình, chiếc bình gốm vỡ” [62, tr.43]trong khi những người
khác im lặng, hay hết cách Giữa lúc tệ nạn trấn lột, trộm cướp đang đe dọa
toàn xã hội mà Đến bờ bênkia (Sang sông) của Nguyễn Huy Thiệp lại có
những tên tướng cướp lương thiện thì không khỏi trở thành trạng sư cho cái
ác Ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã phá vỡ mô hình quen thuộc, ném vào giữa
thế gian một “tên tướng cướp lươngthiện” hoang dã chưa qua một lò đúc sẵn
nào Từ đó đã tạo nên một nét mới trong ngòi bút sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp
Nhân vật Lương (tên trộm) trong vở kịch Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 cũng
là một điển hình thú vị về nhân vật lưỡng diện trong kịch của Nguyễn Huy Thiệp Tên trộm đại diện cho mặt tối, cho sự xấu xa của xã hội Hắn lại càng
giống tên cướp hơn khi vào chùa dọa dẫm sư Huệ“lấy đi năm triệu đồng để sửachữa tam quan, và pho tượng Phật Thích Ca, nếu bán đi cũng được năm triệuđồng”: “Im ngay! Thằng sư trọc! Mày mà kêu lên là tao đâm chết… Hễ kêu lên là tao đâm chết”,“Tao muốn lấy pho tượng quý, bán được nhiều tiền…”[62, tr.13] Nhìn theo con mắt của người đời thì đó là hành động ăn
cướp trắng trợn, báng nhạo thần linh, bị người đời phỉ nhổ lên án Nhưng trong kịch của Nguyễn Huy Thiệp, ông lại cho tên trộm một hoàn cảnh, một
hoàn cảnh để người đời có thể cảm thông cho hành động táo tợn đó: “Mày đừng nghĩ xấu cho tao đấy nhé! Cũng vì hoàn cảnh khốn nạn của tao nên phải đi ăn trộm, nếu tao giàu sang rồi thì có ngày tao sẽ trả lại cho chùa…”[62, tr.16] Rõ ràng người đáng thương thấy rõ ở đây là tên trộm Số phận của hắn cũng thật là bất hạnh khi bật ra lời than: “Tao vất vả cảđời mà chẳng bao giờ có được lúc ngồi pha một ấm trà thơm tho thế này màuống”[62, tr.16] Còn sư Huệ trước sự đe dọa của tên trộm tuyệt nhiên