1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Mẫu thượng ngàn” và “đội gạo lên chùa” của nguyễn xuân khánh từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái

87 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, một số bài nghiên cứu khác như “Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học của tác giả Nguyễn T

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ THỊ HIÊN

“MẪU THƯỢNG NGÀN” VÀ “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH TỪ GÓC NHÌN

NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ THỊ HIÊN

“MẪU THƯỢNG NGÀN” VÀ “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH TỪ GÓC NHÌN

NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS CAO KIM LAN

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Cao Kim Lan Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định

Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2020

HỌC VIÊN

Tạ Thị Hiên

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2020

Tác giả luận văn

Tạ Thị Hiên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 7

1.1 Khái lược về nữ quyền luận sinh thái 7

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh 12

Chương 2: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ TỰ NHIÊN TRONG “MẪU THƯỢNG NGÀN” VÀ “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 18

2.1 Hình tượng người phụ nữ Việt và tiếng nói của tự nhiên trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa 18

2.2 Thế giới tự nhiên và những chất vấn sinh thái trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh 32

2.3 Đạo Mẫu, Phật giáo và sự chi phối với vấn đề giới và tự nhiên 39

Chương 3: MỘT SỐ BÌNH DIỆN TỰ SỰ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI TRONG “MẪU THƯỢNG NGÀN” VÀ “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” 50

3.1 Người kể chuyện 50

3.2 Biểu tượng 62

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Bước sang thế kỉ XXI, khi khoa học kĩ thuật – công nghệ và văn minh nhân loại đã đạt những thành tựu vượt bậc, con người trở thành “bá chủ” trên hành tinh Trái đất, thì cũng chính là lúc nhân loại phải đối mặt với một vấn nạn bức thiết: Sự hủy hoại môi trường sinh thái ngày càng tàn khốc Kinh tế thế giới ngày càng phát triển kéo theo nó là các nhà máy, khu công nghiệp, xưởng sản xuất ngày càng nhiều, đồng nghĩa với việc mỗi ngày thải ra ngoài môi trường hàng triệu tấn khói bụi và chất thải độc hại Môi trường toàn cầu đang mang trong nó bao nguy cơ tiềm ẩn của hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt Những hiện tượng cực đoan ngày càng nặng nề và đáng lo ngại, mà nguyên nhân sâu xa là do thiên nhiên đang bị khai thác và xâm hại một cách nghiêm trọng Xã hội tiến bộ, các đô thị, thành phố lớn với các tòa cao ốc dần thay thế cho các cánh rừng, làng mạc khiến cho nhu cầu tiêu thụ nhu yếu phẩm, thực phẩm tăng lên, con người tìm mọi cách để khai thác tự nhiên từ đất, nước và cả trong không gian Thiên nhiên - món quà hữu hạn mà Thượng đế ban tặng cho con người, đang dần cạn kiệt, môi trường sống đang dần bị huỷ hoại Loài người đã nhận thức được rằng, tất cả sự thịnh vượng và hạnh phúc trên hành tinh sẽ biến mất nếu như hệ thống tự nhiên không còn tồn tại Vì thế, hiện nay sinh thái đã trở thành vấn đề nóng trên toàn cầu, một vấn đề được quan tâm bởi nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có cả văn học

Thực tế, hiện nay trong nghiên cứu văn chương có nhiều lí thuyết khác nhau và mỗi lí thuyết đều cung cấp một phương pháp tiếp cận nhất định hướng tới việc khám phá vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật nói riêng và những vấn đề của xã hội nói chung Tuy nhiên, trong xu thế liên ngành, mỗi phương pháp tiếp cận đều ẩn chứa trong đó nhiều hệ tư tưởng khác nhau, có thể tương tác và bổ sung cho nhau ở nhiều cấp độ khác nhau Phê bình sinh thái và nữ quyền luận cũng vậy Tồn tại như một nhánh của phê bình sinh thái, nữ quyền luận sinh thái thực chất là hợp lưu của nữ quyền luận và phê bình sinh thái Ở đó các nhà sinh thái học đã nhìn thấy nhiều điểm tương đồng giữa phụ nữ và tự nhiên, nhìn thấy khả năng cân bằng sinh thái trong vấn đề giới và nhiều vấn đề khác xâm lấn và tương tác lẫn nhau giữa hai vấn đề này Nó mở ra một cách nhìn hoàn toàn mới về vấn đề giới cũng như các vấn đề liên quan đến môi trường

và sinh thái học Vì thế, đọc tác phẩm văn chương từ nữ quyền luận sinh thái sẽ là một hướng nghiên cứu hứa hẹn có những kiến giải mới đối với những hiện tượng văn chương tưởng đã được khai thác đến cạn kiệt

Trang 7

1.2 Nguyễn Xuân Khánh – một nhà văn có một sức sáng tác bền bỉ, khỏe khoắn, giàu sức sáng tạo với nhiều băn khoăn, trăn trở về thân phận con người nói chung và về người phụ nữ nói riêng Có thể nói, ông là một hiện tượng khá đặc biệt khi xuất hiện trên văn đàn, khi được biết đến ở cái tuổi “xưa nay hiếm” Bằng lối viết mang đậm chất truyền thống, kết hợp tài năng và vốn hiểu biết uyên bác của mình, ông

đã khiến những người đọc phải ngưỡng phục Khi phiêu lưu cùng tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, bằng ma lực đặc biệt, ông đã đưa người đọc vào thế giới cổ kính mang đậm những nét văn hoá cổ truyền, nhưng cũng đồng thời hướng người đọc tìm

và khám phá vào những con đường mới trong không gian ấy Bối cảnh lịch sử, không gian văn hoá, nhân vật, sự kiện dường như là một chỉnh thể đầy sống động, nói chuyện

“xưa cũ” nhưng lại có sức gợi đến những vấn đề đương thời mang tính thời sự Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đã được tiếp cận từ nhiều góc độ và phạm vi khác nhau, tuy nhiên khảo sát và tìm hiểu chúng từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái thì chưa có công trình nào Vì thế, đây sẽ là khoảng trống và cũng là cơ hội để đề tài có thể tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ một điểm nhìn mới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Về phê bình nữ quyền sinh thái

Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (ecofeminism) là một phong trào chính trị - xã

hội ở phương tây ra đời từ thập niên 70 của thế kỉ XX và nở rộ mạnh mẽ từ khoảng những năm 90 Đây là sự kết hợp của dòng chảy nghiên cứu chủ nghĩa nữ quyền và sinh thái học Đặc biệt chủ nghĩa nữ quyền nhấn mạnh vào mối liên hệ giữa phụ nữ với các phạm trù sinh thái, đó là cặp quan hệ thống trị và bị trị song song giữa nam giới với nữ giới; giữa con người với tự nhiên Nền tảng cơ bản và mối quan tâm chủ yếu của lý thuyết này là sự tương đồng giữa phụ nữ với thiên nhiên, kết quả của nền văn hoá phụ quyền hình thành từ thời nguyên thuỷ và phát triển đến đỉnh cao trong chủ nghĩa nhị nguyên nhận thức và chủ nghĩa công cụ cấp tiến vào những cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong lịch sử nhân loại Khuynh hướng nghiên cứu mới này đã thu hút được nhiều sự quan tâm của giới phê bình thế giới trong đó có cả ở Việt Nam

Năm 1974, nữ học giả Fracoise Eaubonne người Pháp lần đầu đưa ra thuật ngữ

“nữ quyền sinh thái” trong cuốn Chủ nghĩa nữ quyền hay cái chết với mục đích nhấn

mạnh khả năng của nữ giới trong việc giải quyết các vấn đề sinh thái toàn cầu Thêm

nữa, Carolyn Merchant trong Cái chết của tự nhiên: Phụ nữ, sinh thái học và cách

mạng khoa học đã miêu tả lại quá trình tiến hoá từ sự coi trọng đến sự thống trị tự

Trang 8

nhiên và phụ nữ như sau: Quan niệm tự nhiên như là một thể tự nhiên vốn có từ xa xưa, mà trung tâm mà đặt tự nhiên, đặc biệt là trái đất ngang hàng với hình tượng

người mẹ Trong khi đó, Cheryll Glotlty thì lại cho rằng, “chủ nghĩa nữ quyền sinh

thái là một diễn ngôn lý thuyết Tiền đề của nó là nối kết sự áp bức phụ nữ và sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền” Ở Việt Nam, nữ quyền luận sinh thái và việc

nghiên cứu phê bình văn học xuất phát từ quan điểm cũng như phương pháp tiếp cận này đã được đề cập ít nhiều Chẳng hạn, có thể kể đến một số công trình dịch của các

tác giả nước ngoài in trong cuốn Lý thuyết và ứng dụng trong các nghiên cứu văn học (do Trần Hải Yến tổ chức bản thảo và biên tập); Phê bình sinh thái là gì (Hoàng Tố Mai tổ chức biên soạn và dịch thuật); cuốn Kỉ yếu Hội thảo Phê bình sinh thái: Tiếng

nói bản địa, tiếng nói toàn cầu (Nguyễn Đăng Điệp chủ biên, 2017) Bên cạnh đó, một

số bài nghiên cứu khác như “Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học của tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy- trên tạp chí Sông Hương 2017; “Tìm về với mẹ thiên nhiên:

Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái” của tác

giả Phạm Ngọc Lan trên Văn hoá Nghệ An; “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái hướng tới giải phóng đạo đức” tác giả Viên Linh Hồng trên Diễn đàn văn nghệ Việt Nam….vv

Có thể nhận thấy, khuynh hướng nghiên cứu văn học này đang dịch chuyển và có những thay đổi mạnh mẽ, tác động đến hầu hết các các quốc gia trên thế giới Ở đây, song song với những tiêu chí của một nhà phê bình sinh thái thuần túy, các nhà phê bình nữ quyền luận sinh thái tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến môi trường và sinh thái toàn cầu, song công việc này gắn chặt với bản chất nữ tính và các vấn đề nữ quyền, vấn đề giới và con người văn hóa

2.2 Về các công trình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

Nguyễn Xuân Khánh và những tác phẩm của ông khi xuất hiện đã thu hút đông đảo dư luận, của bạn đọc và giới truyền thông và đặc biệt là từ giới nghiên cứu phê bình văn học Ở mỗi khía cạnh và mức độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đều khẳng định giá trị cũng như những nét độc đáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

Trong bài nghiên cứu Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết “Mẫu Thượng

Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh, Trịnh Thị Lan cho rằng “hiện tượng độc đáo hợp quy luật phát triển của tư duy tiểu thuyết hiện đại …nó mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa là tâm hồn” Tác giả bài nghiên cứu muốn khẳng định, ở nhà văn

Nguyễn Xuân Khánh toát lên một cái nhìn đầy tính nhân văn, tức nhà văn đã nhìn ra

Trang 9

vẻ đẹp trần gian nơi con người mà bấy lâu nó còn ẩn chìm trong bề sâu của nền văn hóa Việt tràn đầy sức sống

Đỗ Hải Ninh lại khai thác vấn đề này khá cụ thể qua bài nghiên cứu Quan niệm

về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Bài nghiên cứu khai thác vấn đề

trong mối tương quan giữa hai tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh là Hồ Quý Ly và

Mẫu Thượng Ngàn Bài viết “Tinh thần Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa

của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh” của tập thể ba tác giả Phùng Nga, Lưu Vân và Đoàn Đức Hải thì chỉ ra sự quan tâm tới Phật giáo của Nguyễn Xuân Khánh

Trong những công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra nhiều lý giải thú

ra còn một số tiểu luận, luận văn chuyên sâu như: Suy nghĩ từ những tiểu thuyết

mang chủ đề lịch sử (Phạm Xuân Thạch, 2006) Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh

(Đinh Công Vĩ, 2006), Đọc Hồ Quý Ly (Phạm Xuân Nguyên, 2006); bài phỏng vấn

“Mẫu thượng ngàn – nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh” (2006); “Một

cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt”(2006) của nhà văn Nguyên Ngọc…vv Tiểu

thuyết Nguyễn Xuân Khánh cũng trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận văn, luận

án tiến sĩ Chẳng hạn, luận án tiến sĩ Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa qua

trường hợp tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh (2017) của Phùng Phương Nga; Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết lịch sử qua “Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh và

“Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác của Nguyễn Thị Liên ở Đại học khoa học

xã hội và nhân văn; năm 2010 luận văn thạc sĩ Những đóng góp của Nguyễn Xuân

khánh vào tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại (qua hai tác phẩm “Hồ Quý Ly” và “Mẫu thượng ngàn”) của Thống Thị Thanh trường Đại học khoa học xã

hội và nhân văn; năm 2011 với luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân

Khánh của Ngô Thị Thuyết Nhung ở Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; năm

2012 với luận văn thạc sĩ Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân

Khánh ở Đại học Vinh; Năm 2015 với luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tâm thức Phật giáo của Nguyễn Danh Thực ở Đại

học Quốc gia Hà Nội; năm 2016 với luận văn thạc sĩ Motif và biểu tượng trong “Hồ

Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh của Lê Thị Huế ở Đại học Khoa học xã hội và nhân

văn… Hầu hết các công trình này đã có những phát hiện và đánh giá về tài năng của Nguyễn Xuân Khánh từ những góc nhìn khác nhau tạo nên cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn khi nhắc đến tiểu thuyết của ông

Trang 10

Có thể thấy, tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đã trở thành đối tượng quan tâm của nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái thì chưa có luận văn, luận án hoặc bài viết nào đề cập đến Vì vậy, ở

luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung vào đề tài: “Mẫu Thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái với mong muốn

có những khám phá nhất định góp phần vào việc khẳng định tài năng cũng như đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh khi nhìn vào diện mạo văn học ở Việt Nam hiện đại

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài hướng trọng tâm tìm hiểu những đặc điểm về tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài này sẽ tập trung vào khảo sát hai tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh:

- Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu thượng ngàn, NXB Phụ nữ

- Nguyễn Xuân Khánh (2012), Đội gạo lên chùa, NXB Phụ nữ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

`Chỉ ra sự tương đồng giữa phụ nữ và tự nhiên trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Sự tương đồng này không chỉ giúp chúng ta nhận ra sợi dây kết nối giữa thế giới nhân loại và thế giới phi nhân, giữa vấn đề giới và tự nhiên, mà điều quan trọng, chính từ sự tương đồng và ngang hàng này sẽ minh chứng cho mối quan hệ ngang hàng, phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và tự nhiên Nó thay thế hoàn toàn cho mối quan hệ thống trị lấy con người làm trung tâm trước đây Và đây chính là cơ sở để xây dựng một hệ thống sinh thái bền vững và lành mạnh giữa con người với các thực thể khác trong tự nhiên

Từ đó, luận văn có cơ sở để khẳng định tài năng cũng như những đóng góp thực

sự của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong nền văn học hiện đại Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn “Mẫu Thượng ngàn” và” Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân

Khánh từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái sử dụng nhiều phương pháp để thực

hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, trong đó có thể kể đến những phương pháp nghiên cứu chính như sau:

Trang 11

Phương pháp nữ quyền luận: Đánh giá sự áp chế của nam với nữ giới, và sự

phản ứng từ giới nữ để từ đó thiết lập nên tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học

Phương pháp phê bình sinh thái: Nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa một cá

thể sinh vật với môi trường xung quanh, đặc biệt là tìm ra mối liên kết giữa giới nữ và

giới tự nhiên trong việc chống lại những thế lực áp chế, thống trị họ

Phương pháp so sánh : So sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm của Nguyễn Xuân

Khánh để khái quát thành các luận điểm và so sánh Nguyễn Xuân Khánh với một số nhà văn khác để thấy được nét chung và riêng

Phương pháp cấu trúc: Xem xét, đánh giá các bình diện trong cấu trúc tổng thể

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn bước đầu nghiên cứu các vấn đề của phụ nữ và sinh thái trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh một cách có hệ thống

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái lược về nữ quyền luận sinh thái và hành trình sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 2: Vấn đề phụ nữ và tự nhiên trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên

chùa của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 3: Một số bình diện tự sự nữ quyền luận sinh thái trong Mẫu thượng

ngàn và Đội gạo lên chùa

Trang 12

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NỮ QUYỀN LUẬN SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 1.1 Khái lược về nữ quyền luận sinh thái

1.1.1 Khái niệm và lịch sử phát triển của nữ quyền luận sinh thái

Chủ nghĩa nữ quyền luận sinh thái (ecofeminism) được biết đến như một phong

trào chính trị - xã hội được ra đời ở phương Tây từ những năm 1970 và được phát triển mạnh mẽ từ những năm 1980 đến nay Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tập trung nghiên cứu những trào lưu lý thuyết liên kết nữ quyền với những vấn đề sinh thái tự nhiên Khuynh hướng này tìm hiểu về mối liên hệ giữa người phụ nữ với những vấn đề về môi trường tự nhiên và đặt ra câu hỏi: liệu rằng giữa những đứa con của Mẹ thiên nhiên như đất, nước, cây cối, muôn thú với những vấn đề của chúng như hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường… có liên quan gì đến phụ nữ? Có thể nói rằng đây chính là hợp lưu giữa hai dòng chảy sinh thái học và chủ nghĩa nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền

sinh thái được biết đến với hai cách gọi: Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (The feminism

of ecology) và Sinh thái học chủ nghĩa nữ quyền (The ecology of feminism) Các đại

biểu tiêu biểu là Karen J.Warren(1947- ), Francoise d’Eabonne (1920-2005), Vandana Shiva (1952-), Karolyn Mercant (1936-? ) Trong quá trình hình thành và phát triển ý thức nữ quyền thì nữ quyền luận sinh thái (Ecofeminism) có thể xem là nhân tố chủ

yếu tạo nên bước ngoặt của phê bình nữ quyền Thuật ngữ Ecofeminism do nhà văn,

nhà triết học người Pháp Françoise d'Eaubonne đề cập đến lần đầu năm 1974, khi bà kêu gọi phụ nữ tổ chức một cuộc cách mạng sinh thái để cứu trái đất trong cuốn sách

Le Féminisme ou la Mort ( Chủ nghĩa nữ quyền hay là chết) Trong cuốn sách này, bà

đã lập luận và chỉ ra sự kết nối đặc biệt giữa phụ nữ và thiên nhiên, bởi lẽ phụ nữ và thiên nhiên đều có đặc điểm chung là họ phải chịu sự đàn áp, bóc lột, thống trị của một nền tảng xã hội gia trưởng phương Tây Từ đó bà đã kêu gọi phụ nữ tham gia vào công cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa con người với thiên nhiên; giữa nam giới và nữ giới Bởi lẽ hơn ai hết, phụ

nữ phù hợp và có khả năng thực hiện tốt nhất trách nhiệm này Qua đó Françoise d'Eaubonne khẳng định vị trí và tầm quan trọng cũng như khả năng của giới nữ trong vấn đề giải quyết những nguy cơ sinh thái mang tính chất toàn cầu Mối quan hệ của

nữ giới và sinh thái cũng được đề cập đến trong một số công trình như: Staying alive:

women, ecology, and development(1988) - (Duy trì sự sống: phụ nữ, sinh thái và phát

Trang 13

triển) của tác giả Shiva Vandana Trong tác phẩm của mình, Shiva Vandana khẳng

định rằng phụ nữ và môi trường có mối quan hệ đặc biệt thông qua các tương tác hàng ngày giữa họ, đặc biệt trong nền kinh tế tự cung tự cấp Bà cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm tự nhiên và bóc lột với nữ giới, từ đó đề ra giải pháp giải quyết các vấn đề đó chính bằng con đường sinh thái hài hoà, bền vững và đa dạng

Trong cuốn Ecofeminism: Sociology and environementalism-(Nữ quyền luận

sinh thái: Xã hội học và chủ nghĩa môi trường) của Kathryn Miles, tác giả cũng khẳng

định mối quan hệ mật thiết giữa nữ giới với thiên nhiên và vai trò sinh học đặc biệt của

họ Bà còn nhấn mạnh đến sự nhạy cảm của họ với sự thiêng liêng và xuống cấp của môi trường

Tác giả Carolyn Merchant trong công trình nghiên cứu The Death of Nature:

Women, Ecology, and Scientific revolution(1990) (Cái chết của tự nhiên: Phụ nữ, sinh thái học và cách mạng khoa học) đã phân tích sâu sắc vấn đề “cái chết của tự nhiên”

khi khoa học kỹ thuật phát triển đã làm nảy sinh “thuyết cơ giới” thay thế cho quan niệm tự nhiên của “thuyết hữu cơ”

Greta Gaard trong công trình nghiên cứu Ecofeminism: Women, animals,

nauture( Nữ quyền sinh thái: Phụ nữ, động vật, thiên nhiên) đã nói rằng: “Chủ nghĩa

nữ quyền sinh thái kêu gọi chấm dứt tất cả các áp bức, lập luận rằng không một nỗ lực giải phóng phụ nữ (hoặc bất kỳ nhóm bị áp bức khác) có thể thành công nếu không có một nỗ lực bình đẳng để giải phóng tự nhiên” [28, tr.766-780]

Cheryll Glotfelty trong Introduction: Literary Studies in an Age of Environmental

Crisis (Dẫn luận nghiên cứu văn học trong thời kỳ khủng hoảng môi trường) cũng

khẳng định chủ nghĩa nữ quyền luận sinh thái là một dấu mốc quan trọng trong sinh thái học: “chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một diễn ngôn lý thuyết tiền đề của nó là sự

nối kết sự áp bức phụ nữ và sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền”[44]

Theo S.B Ortner trong công trình nghiên cứu Is female to male as nature is to

culture? (Phải chăng quan hệ giữa nữ giới và nam giới cũng tương tự như quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá”) đã chỉ ra: “nguyên nhân tình trạng phổ quát của sự bất

bình đẳng, xem phụ nữ như một sinh vật hạng hai, Ortner lý giải rằng các tâm thức văn hoá nhân loại thường đồng nhất nữ giới với cái tự nhiên, đồng nhất nam giới với cái xã hội hoá, cái văn hoá và xem cái văn hoá, cái xã hội hoá, cái nhân sinh cao hơn, có giá trị hơn cái tự nhiên.” [33, tr.1316-1331]

Trang 14

Còn theo tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy: “phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền

hiểu theo nghĩa rộng là một diễn ngôn gắn với chính trị”, “phân tích những kết nối mang tính khái niệm giữa việc đối xử với phụ nữ và thế giới phi nhân” Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền sinh thái sử dụng phương pháp phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái để nghiên cứu mối quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới trong lĩnh vực văn học từ góc nhìn tự nhiên và nữ giới Nó nhấn mạnh mối quan hệ thống nhất giữa con người và tự nhiên, giải cấu trúc phương thức tư duy đối lập nhị nguyên giữa nam giới/nữ giới, văn hoá/tự nhiên, tinh thần/ thể xác, lý trí/ tình cảm…”[45,tr.51] Nhìn

các tác phẩm văn học dưới lăng kính phê bình nữ quyền luận sinh thái cho ta cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh song trùng đối với tự nhiên và phụ nữ, đào sâu giá trị sinh thái, đặc trung văn học và nội hàm thẩm mỹ mang trong nó

Tóm lại, không giống như các lý thuyết khác, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái không bắt nguồn từ công thức đơn lẻ nào là sự hợp nhất của tư tưởng nữ quyền luận và phê bình sinh thái, trong đó phương pháp tiếp cận của nó được bắt đầu với nữ quyền luận Trào lưu chính trị xã hội này đã góp phần lật đổ những giá trị truyền thống nhân loại

về vấn đề sự thống trị tự nhiên và nữ giới tồn tại từ trước đến nay

1.1.2 Nữ quyền luận sinh thái trong văn học Việt Nam hiện đại

Nữ quyền luận sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mới và đầy tính khả dụng Nguyễn Thị Tịnh Thy cho rằng phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái – kết tinh của cuộc hôn phối giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong phê bình văn học Đây là một sự kết hợp như là một sợi dây vô hình gắn bó chặt chẽ giữa thiên nhiên và giới nữ Trong thời đại ngày nay, vấn đề môi trường và vấn đề về

sự đấu tranh bảo vệ, đòi quyền bình đẳng cho nữ giới đang được đặt lên hàng đầu Sản phẩm kết hợp với phê bình nữ quyền luận sinh thái đã tạo nên những tác phẩm văn học

có giá trị nhân văn và ý nghĩa giáo dục sâu sắc, là hướng đi mới nhằm giáo dục nhận thức về bình đẳng giới và vấn đề bao tồn tự nhiên của con người Như vậy, phê bình

sinh thái có sứ mệnh đặc biệt, nó “tác động đến nhận thức, văn hóa của con người

hiện đại theo hướng kìm hãm những dục vọng cùng suy nghĩ và hành động phi lý của con người hiện đại trong quan hệ với tự nhiên” [39, tr 138] Văn học Việt Nam cũng

có những tác phẩm tiêu biểu, có sức ảnh không nhỏ trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên với vẻ đẹp đầy nội lực, mang đậm thiên tính nữ Trong truyện ngắn

Xuân nữ của Dạ Ngân, tác giả đã thể hiện vẻ đẹp căng tràn đầy sức sống của Xuân-

người phụ nữ tuổi quá tứ tuần Vẻ đẹp người đàn bà ấy lấn át đi mọi không khí ảm

Trang 15

đạm, chết chóc của chiến tranh và được hoà quyện, nâng đỡ cùng với vẻ đẹp hùng vĩ,

nguyên sơ, mượt mà của rừng núi đại ngàn:“Một gương mặt có cạnh hàm hơi vuông

nếu nhìn nghiêng… Du kích sống rải rác trong những căn chòi thấp phủ bằng những tàu lá chết, tất cả sự sống phải bị che đậy bằng cái chết của cả một biền lá để qua mắt

lũ máy bay các loại quần thảo suốt ngày” [51,tr 831-832]

Nếu như phụ nữ luôn hoà hợp với thiên nhiên, là sứ giả của tự nhiên, luôn bảo vệ, nuôi dưỡng thiên nhiên và ngược lại thì đàn ông luôn trong thế muốn “áp chế” cả hai

vẻ đẹp đó Beauvoir đã từng nhận định: “Đàn ông muốn tìm thấy ở sự chiếm đoạt phụ

nữ một cái gì khác, ngoài yêu cầu thỏa mãn một bản năng: phụ nữ là một đối tượng đặc thù, qua đó đàn ông nô dịch Thiên nhiên” [37, tr.194] Và rằng: “Trong lúc tạo ra các giá trị, hoạt động của đàn ông tạo nên bản thân cuộc sống với tư cách một giá trị;

nó chiến thắng các lực lượng hỗn độn của cuộc sống; nó chinh phục Thiên nhiên và người Phụ nữ”[37, tr.85] Người phụ nữ luôn mang trong mình thiên tính bảo vệ,

nâng đỡ tự nhiên Họ có thể lắng nghe, thấu hiểu và coi thiên nhiên như những người bạn tâm giao, họ yêu thiên nhiên, yêu nơi mình sinh ra và lớn lên - nơi quê hương cội

nguồn của mình Nhà văn Quế Hương đã từng chia sẻ: “Tôi viết bằng những mẩu thời

gian vun vặt nhặt được Viết ít thôi khi có cảm xúc bởi còn có thời gian để làm vợ, làm

mẹ, yêu thương cây cỏ, con chó đói, mèo hoang…” [28tr.766-780] Tính nhân văn

được thể hiện rõ nét qua sự kết nối giữa tự nhiên vô sinh cũng như hữu sinh mà chỉ có người phụ nữ với bản năng mới có được Các câu chuyện của cô như bức thông điệp cảnh tỉnh về sự thống trị tự nhiên đã tồn tại từ lâu, con người và những chủng loại khác có mặt trên Trái đất này đều là những sinh mệnh bình đẳng, có sự gắn kết và ảnh hưởng lẫn nhau không phân chia cấp độ cao thấp Đó là một tư tưởng cốt lõi trong nữ

quyền luận sinh thái Trong Tre nở hoa- Tú dành tình yêu cho những con vật “Tôi đi

đâu chó mèo theo đó Chúng nhận ra tôi” và được chúng bảo vệ trước kẻ thù Trong

khi đó, những người đàn ông lại coi con vật là đối tượng phục tùng, vụ lợi vì “nghề

buôn chó sống bán chó chết” được “một vốn bốn lời”[53] Như thế, ta có thể dễ dàng

nhận ra giữa những người phụ nữ và tự nhiên luôn có sự đồng điệu trong cách ứng

xử:“số phận người đàn bà là phục tùng, là bị chiếm hữu, bị khai thác như giới Tự

nhiên mà mình là hiện thân của sự phì nhiêu huyền diệu bị khai thác” [37,tr.98] Theo

Beauvoir, vai trò của người mẹ rất quan trọng bởi phụ nữ cũng là một “giống loài” của

tự nhiên, có chức năng y như Mẹ thiên nhiên với thiên chức không thể thay thế:

“Người mẹ là cái rễ cắm sâu trong lòng vũ trụ, và hút nhựa của vũ trụ, là cái giếng

Trang 16

phun ra dòng nước sống vốn là một dòng sữa nuôi dưỡng, một dòng suối nóng, một lớp bùn làm bằng đất và nước, giàu những sức lực sinh sản” [37,tr.187] Bởi vậy

“người ta vẫn thừa nhận rằng phụ nữ có một vai trò quan trọng, che chở và nuôi dưỡng mầm giống Bởi vậy, mọi người phải tôn kính đất, người mẹ” [37, tr.96]

Trong phương diện sự kết hợp giữa vai trò của tự nhiên với sinh mệnh của phụ

nữ, Nguyễn Thị Tịnh Thy cho rằng:“Trong văn hoá truyền thống, nhân loại luôn ví

người mẹ với trái đất” [44] Nếu người mẹ tảo tần, vất vả, “hao mòn” sức khỏe bởi

những đứa con, thì thiên nhiên cũng đang dần suy kiệt khốc liệt bởi bàn tay tàn phá của con người Dù vậy, người mẹ và thiên nhiên vẫn luôn dang rộng bàn tay đầy bao dung, vị tha cho những lỗi lầm về sự vô tâm, hờ hững và cả những sự ích kỷ cá nhân

của con người: “Thậm chí tôi đã khai thác sức lực của bà một cách vô tư và tự nhiên

như dòng nước vẫn vô tư và tự nhiên chảy trong dòng suối kia để đến một nơi nào đó? Tôi đã quen được mế chiều chuộng Tôi đã dựa vào bà quá lâu” [47, tr.112] Dường

như phụ nữ luôn tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc khi sống hài hoà và bảo vệ tự nhiên bởi trong nó là cả một sự tương đồng, cảm thông và thấu hiểu Trong truyện

ngắn Gốc gội xù xì của Hà Thị Cẩm Anh, chúng ta nhận thấy mối ràng buộc giữa tự nhiên và nữ giới: “Tôi chăm sóc cho cả khu rừng mà tôi đang phải sống nhờ Rừng

chính là ngôi làng của tôi Cây cối là hàng xóm láng giềng, là bạn bè là cậu mợ, cô dì chú bác là người già đáng kính của tôi … Chúng tôi đã thật sự không thể tách rời nhau ra được nữa Chúng tôi bao dung nhau, che chở cho nhau để cùng nhau mà tồn tại” [47, tr.358]

Thiên nhiên chính là mối liên hệ gần gũi nhất để người phụ nữ thể hiện tất cả những vẻ đẹp hoang sơ đầy thiên tính nữ Thiên nhiên luôn lắng nghe và thấu hiểu; luôn chở che, bảo vệ những người phụ nữ một cách trân trọng và đầy yêu thương Thay vào đó, phụ nữ cũng thấy sự đồng cảm và thương yêu, cùng chung niềm đau, mất mát và cả những niềm hân hoan, hạnh phúc với mẹ tự nhiên Nữ quyền luận sinh thái

đã thể hiện vai trò quan trọng không thể thay thế của người phụ nữ bởi “người phụ nữ

thâu tóm Thiên nhiên với tư cách người Mẹ, người Vợ và Khái niệm” [37, tr.185] Đó

cũng chính là lời kêu gọi con người cùng chung sức bảo vệ và gìn giữ môi trường

sống: “con người hãy biết ứng xử thân thiện, hài hòa với thiên nhiên thì Mẹ thiên

nhiên sẽ luôn mở rộng tấm lòng bao dung chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn con người” [47, tr.24]; Là lời cảnh tỉnh con người: “Tự nhiên luôn có những logic huyền bí của nó, nếu con người có cư xử ngỗ ngược thì sẽ bị trừng phạt thê thảm”

Trang 17

[32] Tự nhiên và giới nữ là những thực thể bình đẳng, có sinh mệnh riêng nên nếu như nam giới hành xử với họ như “giới thứ hai” thì ắt sẽ phải nhận sự phản ứng của

họ Nữ quyền luận sinh thái chính là tiếng nói của việc “đưa ra những luận điểm phản

tỉnh để thúc đẩy sự công bằng không chỉ với tự nhiên mà với cả những số phận gần

gũi, bảo vệ, che chở cho tự nhiên, kêu gọi một sự công bằng xã hội” [32]

Lấy nền tảng từ phê bình văn học nữ quyền, nữ quyền luận sinh thái là xu hướng tất yếu của văn học Nữ quyền luận sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại có ý nghĩa to lớn trong cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới và việc gìn giữ các giá trị tốt đẹp của tự nhiên Giải phóng giá trị tinh thần, đạo đức,tiếng nói bình đẳng giữa giới tự nhiên và con người, giữa nam giới và nữ giới Phê bình văn học kết hợp với nữ quyền luận sinh thái đã tạo nên những tác phẩm truyện ngắn trong văn học Việt Nam những dấu ấn về giá trị nhân văn và ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giá trị thực tiễn cao, là hướng đi mới nhằm giáo dục nhận thức về việc gìn giữ, tôn tạo tự nhiên và bình đẳng giới

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp

Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 có bút danh là Đào Nguyễn Để có nghiệp lớn

ở dốc bên kia cuộc đời với một sự nghiệp văn chương gây lên tiếng vang lớn ở văn đàn trong nước, ông đã phải đánh đổi bằng cả máu và nước mắt Nguyễn Xuân Khánh có một cuộc đời sóng gió và đầy rẫy những biến động Ông lớn lên trong nỗi đau khi vừa lên 7 đã phải chứng kiến cái chết của cha khi mẹ mới 30 tuổi Quanh ông là cả thế giới toàn phụ nữ, ông sống cùng ba người mẹ (bố ông có ba vợ),với bác gái và người dì Sớm thấu hiểu những nỗi đau vô hình của họ: là sự cô đơn của người bác gái không lấy chồng ở vậy nuôi cháu; là nỗi buồn thấu tâm can của người dì có chồng mất sớm

và đó cũng là nỗi đau của chính người mẹ Tuổi thơ Nguyễn Xuân Khánh chìm vào thế giới trong những trang sách và những buổi theo mẹ đi hầu đồng nơi cửa Phật Ngắm

mẹ lên đồng cùng những bước nhảy mê đắm mà man dại nơi linh thiêng, ông đã lặng

lẽ gặm nhấm một cách mặn chát nhất, rợn ngợp nhất và cũng hoàn chỉnh nhất về nỗi

cô liêu của những người phụ nữ, hiểu thấu những khát vọng buồn bã và sâu thẳm của những người đàn bà xinh đẹp mà bất hạnh Những cảm nhận sâu sắc từ trái tim đã làm cho tác phẩm của ông đến gần hơn với đạo Mẫu, với cõi thiền Nó bao chứa một sự tĩnh tại triền miên, một thăng bằng vững chãi trong suốt cuộc đời mình Với ông, viết văn là một cuộc vật lộn khổ ải, một sự giãy giụa như không thể khác để vượt lên chính

mình Sau này truyện ngắn Một đêm của ông đã giành được giải nhì một cách đầy tình

Trang 18

cờ trong cuộc thi truyện ngắn đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, điều này đã kéo ông đến gần hơn với nghiệp bút sách văn chương Từ đó, ông gắn bó với văn học như duyên nghiệp mà tình cờ số phận với những ngã rẽ bất ngờ đã đặt nó vào lòng tay Khoảng năm 1960, ông làm biên tập ở Tạp chí Văn Nghệ Quân đội cùng thời với Thanh Tịnh, Vũ Cao, Nguyễn Khải, Võ Minh Châu, Xuân Thiều, Xuân Sách Năm

1965, ông được chuyển về làm phóng viên của Báo Thiếu niên Tiền phong Đến năm

1969, ông về hưu non, sáng tác ít đi vì thời buổi đó ông phải lao vào vòng xoáy mưu sinh với gánh nặng cơm áo gạo tiền nuôi mẹ già, con nhỏ Để trang trải cho cuộc sống, ông vật lộn với đủ nghề từ những nghề “cao sang” như dịch thuật, rồi làm thợ may, cho đến những nghề lao động chân tay nặng nhọc, ông cũng nuôi lợn, nhận gác nhà kho thuê, thậm chí có những khi ông phải bán máu để đổi lại vài hào bạc tất cả vì miếng cơm manh áo cho gia đình nghèo với bảy miệng ăn

Văn chương đối với Nguyễn Xuân Khánh là “một khu đền đài linh thiêng”, mà khi

đã lỡ bước chân vào đó thì khó mà quay trở lại Nên dù bao năm vật lộn với cuộc sống mưu sinh nhưng với tình yêu và nhiệt huyết, ông vẫn chờ đợi, vẫn hoài thai cho những đứa con tinh thần Bởi ông biết, cơ duyên của mình nằm trọn ở đó Giờ đây cái tên Nguyễn Xuân Khánh đã lại được trả về nguyên vẹn dưới tác phẩm của chính ông sau bao nhiêu năm không được thừa nhận Lúc này người đọc đã lại chào đón, lại chấp nhận và dành sự ưu ái và trân trọng những tác phẩm ông viết, với những thông điệp mà ông gửi gắm Từ đó, người ta cũng dần ngộ ra chân lý về cuộc sống, đó là một chuỗi vận động và biến thiên, nó sẵn sàng sàng lọc và loại bỏ tất cả những cái trì trệ, cái ấu trĩ, bảo thủ và lạc hậu Cái đích sẽ tới bao giờ cũng là nơi tươi đẹp hơn, sáng sủa hơn cũng như những cố gắng của Nguyễn Xuân Khánh đã được đền đáp một cách xứng

đáng Ở trong Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa, người đọc có thể dễ dàng nhận

ra thông điệp về tình yêu mà ông nhắn nhủ Dường như, tác phẩm của ông khiến người đọc bị cuốn vào dòng máu nóng tràn đầy năng lượng và nhiệt huyết, ta thấy yêu hơn dân tộc mình, đất nước mình, gắn bó sâu sắc hơn với nền văn hóa Việt thuần khiết, và đặt mỗi người trước một trách nhiệm lớn lao là hãy giữ gìn văn hóa Việt trong thời đại ngày nay

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông để lại nhiều tác tác phẩm với nhiều thể loại

phong phú Nguyễn Xuân Khánh sáng tác từ những năm năm mươi Làng nghèo

(1958), nhưng tác phẩm đầu tay của ông không được in ấn và đón nhận Vắng bóng trên văn đàn suốt 20 năm (1969 – 1989), đến năm 1990, Nguyễn Xuân Khánh mới cho

Trang 19

ra đời cuốn tiểu thuyết Miền hoang tưởng; nhưng khi sách vừa in, tác giả bị phê phán kịch liệt Ông viết tiếp cuốn tiểu thuyết Trư cuồng năm 2005 Biết bao nhiêu tâm huyết

ở đó, nhưng đáng buồn là cuốn tiểu thuyết của ông không được xuất bản, đến nay vẫn chỉ có bản thảo trôi nổi trên internet Nhưng đời không phụ người có tâm, bộ ba cuốn

tiểu thuyết Hồ Quý Ly năm 2000; Mẫu Thượng ngàn năm 2006, Đội gạo lên chùa năm 2011 ra đời đã được độc giả chào nồng nhiệt Nó trở thành một hiện tượng văn

học Khi đó, các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư dành hết lời khen ngợi Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội lần lượt tổ chức trao

giải thưởng cho các tác phẩm này của ông Hồ Quý Ly giành được 4 giải: – Giải

thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 – 2000) của Hội Nhà văn Việt Nam, – Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, 2001, – Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động,

2001, – Giải thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2002 Mẫu

thượng ngàn giành được 2 giải: – Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, 2006, – Giải thưởng văn hoá Doanh nhân, 2007 Đội gạo lên chùa xuất bản đầu năm 2011, đầu

năm 2012 đã được trao ngay Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam

Cùng sự nghiệp sáng tác, các tác phẩm dịch thuật nổi tiếng của ông như: Những

quả vàng (tiểu thuyết của Nathalie Sarraute, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1996); Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun, Trung tâm Văn

hóa - Văn minh Pháp và Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1998); Bảy ngày trên khinh khí

cầu (Jules Verne, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1998); Hoàng hậu Sicile (tiểu

thuyết của Pamela Schoenewaldt, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1999); Tâm lý học

đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2006); Sự hình thành biểu tượng ở trẻ nhỏ (Jean Piaget) cũng gây được nhiều tiếng vang lớn

1.2.2 Quan niệm về thế giới nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh

Lý luận văn học truyền thống thường xem tác phẩm là tấm gương phản chiếu hiện thực, và giá trị của tác phẩm văn học là phải nói đúng sự thật đang diễn ra hoặc đã từng xảy ra trong đời sống Nhà văn là “người thư ký trung thành của thời đại” Cuộc sống là một quá trình vận động không ngừng nghỉ và nghệ thuật cũng không nằm ngoài quy luật đó Lý luận văn học ở nước ta giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX, nhiệm vụ tất yếu của văn học vẫn có nhiệm vụ tất yếu là phản ánh chân thật lịch sử Theo Lê Ngọc Trà những quan niệm này xuất phát từ tư tưởng văn nghệ Diên An (Trung Quốc), nhưng thật ra nó có cội nguồn từ trong “phản ánh luận” của lý luận mác xít mà người hoàn thiện là Lenin

Trang 20

Bước sang thế kỷ XXI, quan niệm của giới nghiên cứu văn học, mà đặc biệt là của chính những nhà văn về vấn đề văn học phản ánh hiện thực và tái hiện chân thực lịch

sử đã có sự thay đổi nhanh chóng, và khá toàn diện Trương Đăng Dung nhận định:

“Tiêu chí để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật không phụ thuộc vào sự so sánh, đối chiếu tác phẩm với hiện thực khách quan để xem hiện thực đã “ngang tầm” với hiện thực bên ngoài chưa, mà chủ yếu là tác phẩm có giúp ta nhận thức về hiện thực, có tạo

ta được tư tưởng gì mới mẻ để ta cải tạo hiện thực hay không?” [12 ,tr.150] Trong

những bài nghiên cứu của các nhà lý luận, phê bình đã không còn thấy xuất hiện nhiều những câu nói mang tính chất như “kim chỉ nam” của Lenin, Tolstoi hay Balzac nữa,

thay vào đó là câu nói nổi tiếng của A.Dumas: “Lịch sử là gì? Đó chỉ là cái đinh để tôi

treo các bức họa của tôi thôi” Hiểu đơn giản là họ xem những sự kiện, nhân vật lịch

sử và sự thật lịch sử chỉ là cái cớ cho nhà văn sáng tạo nên tác phẩm của mình

Nguyễn Xuân Khánh sinh ra ở Cổ Nhuế là một vùng đất cổ với nhiều di tích tâm linh như đình thôn Viên (thờ thành hoàng Đông Chinh Vương), đền Bà Chúa, đình thờ công chúa Tả Minh Hiến (con thứ tư của vua Lý), chùa Sùng Quang (có xuất hiện lại

trong Mẫu thượng ngàn) Ông từng chia sẻ “Mẫu Thượng Ngàn là câu chuyện của

làng quê tôi….Có những cuốn tiểu thuyết mà muốn viết thì mình phải trải nghiệm Và

đó hoàn toàn là mảng sống thật Nhưng cũng có những cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, nhưng cũng lại rất thật, y như đời sống Làm một nghề để cho tinh đã khó rồi, nữa là nghề tạo ra văn hóa - nghề viết văn Viết văn có nghĩa là tổng hợp, nhìn từ đời sống mà rút những cái tinh túy từ đời sống ra thì mình phải có đào luyện và cẩn thận”[17] Với Ông đã dùng chính vốn sống cùng sự trải nghiệm về về văn hóa,

phong tục tập quán, văn học cổ kim trong ngoài nước để viết Những đứa con tinh thần của ông được công chúng đón nhận vì ngoài cái tôi bản ngã rất riêng còn là những phong vị, truyền thống dân tộc thấm đẫm trong mỗi trang sách Người đọc đón nhận vì dường như họ thấy mình ẩn khuất đâu đó trong từng trang sách ấy Chẳng phải ngẫu

nhiên mà Mẫu Thượng Ngàn; Đội gạo lên chùa lại mang trong mình nhiều tầng văn

hoá đến thế Nguyễn Xuân Khánh đã phải dày công tìm hiểu về những nền tảng của văn hóa làng của người Việt; về Nho giáo, đạo Mẫu, Phật giáo; hay đến tín ngưỡng

đạo Mẫu là riêng của Đông Nam Á trong đó có Việt Nam

Nguyễn Xuân Khánh viết không để cầu danh, cũng chẳng cầu vinh Ông viết như một nhu cầu tự thân, viết để “di dưỡng tâm hồn” Với ông, văn chương trước khi là vũ khí, là tiếng nói tố cáo, thì đó phải là nơi người viết có cảm xúc và người đọc có rung

Trang 21

động Xuất hiện vào đầu những năm 90, văn đàn nói Nguyễn Xuân Khánh là “người mới” cũng đúng, mà có người nói ông “cũ” cũng không sai Lúc bấy giờ, người đọc đang dần quen với lối viết dòng ý thức, cấu trúc phân mảnh, đa tuyến, đa thanh, tự sự nhiều điểm nhìn Họ cũng đang quen dần với lối đọc phản biện, hoài nghi, chất vấn, những vận động đa chiều trong chiều sâu tâm lý nhân vật, của những cái tôi bản thể

mà đôi khi phải “vắt óc” mới có thể cảm nhận được Đương khi ấy, Nguyễn Xuân Khánh đột ngột xuất hiện, ngỡ ngàng với bộ ba tiểu thuyết có độ dài đều ngót nghét cả nghìn trang - chẳng phải dễ đọc, nhưng điều lạ là khi bộ ba cuốn tiểu thuyết của ông ra

đời ai cũng hồ hởi đón nhận, hồ hởi nghiên cứu Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội

gạo lên chùa nhanh chóng trở thành hiện tượng best seller (sách bán chạy nhất) và

Best criticize (phê bình tốt nhất) Có người đã hóm hỉnh ví von rằng sự hào hứng của Nguyễn Xuân Khánh mang lại như người ta thèm cảm giác ngọt bùi, nóng sốt, bình dị của “cơm” khi đang quen cảm giác ngọt ngào, lỏng lảnh từ “phở” Nhưng chính cái lạ kia lại đến từ bề sâu của những trải nghiệm văn hoá mà ông dành cả cuộc đời, tâm huyết để nghiền ngẫm, suy tư và trân quý nó

Nói Nguyễn Xuân Khánh lạ thôi còn chưa đủ, ông còn mới Cái mới của ông lại xuất phát từ chính những thứ có từ ngàn đời - là lịch sử, là văn hoá bản địa Ông say

mê với truyền thống văn hoá dân tộc, ông đã tìm tòi và xâu chuỗi nó một cách có ý thức tất cả lịch sử, phong tục, tập quán, văn hóa, thiên nhiên trở thành nhân vật chính, chủ đề chính, giá trị chính chứ không phải là phông nền hay sự điểm xuyết

Trang 22

so với chủ nghĩa nữ quyền và phê bình sinh thái

Khảo sát hai cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa dưới góc

nhìn nữ quyền luận sinh thái, luận văn này hi vọng sẽ mở ra những tầng nghĩa mới về mối quan hệ của tự nhiên và nữ giới, về mối tương đồng giữa vẻ đẹp mẫu tính với sức sống tiềm tàng trong họ Giữa tự nhiên và giới nữ luôn tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ trong quá trình phản kháng lại chế độ nam quyền gia trưởng với những áp bức cả vật chất lẫn tinh thần Với cái nhìn bình đẳng, nhân ái về giới tự nhiên hữu sinh cũng như

vô sinh, Nguyễn Xuân Khánh phần nào góp phần giải quyết những khủng hoảng của cuộc sống con người thời hiện đại từ việc sống gần gũi, hoà hợp với tự nhiên để được yêu thương, sẻ chia và bảo vệ môi trường sống Đồng thời xác lập những giá trị mới phù hợp với xu thế toàn cầu và làm phong phú thêm thực tiễn lý luận văn học

Trang 23

Chương 2 VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VÀ TỰ NHIÊN TRONG “MẪU THƯỢNG NGÀN” VÀ

“ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

2.1 Hình tượng người phụ nữ Việt và tiếng nói của tự nhiên trong Mẫu Thượng

ngàn và Đội gạo lên chùa

Trong khuôn khổ xã hội nam quyền với tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, giới nữ luôn bị trói buộc trong phạm vi gia đình và hoàn toàn bị lệ thuộc vào nam giới Chính những định kiến về giới đã hình thành nên tính gia trưởng của đàn ông khiến cho họ mặc nhiên tự tăng thêm uy quyền của mình ngoài xã hội và uy lực trong gia đình khi đối xử với phụ nữ Nam giới nghiễm nhiên coi người phụ nữ là tài sản như mọi vật chất khác trên trái đất này, kể cả thiên nhiên cũng đều thuộc quyền sở hữu của họ Vì thế, ta thấy ngự trị trên đỉnh Olempo là thần Zues- người đàn ông Phương Tây mang sức mạnh tối thượng; thì ở phương Đông cũng không ngoại lệ, đó là hình ảnh của Ngọc Hoàng mặc áo bào vàng với quyền năng tối cao Trong thế giới tinh thần, những cuộc thù tạc, đàm đạo văn chương chỉ diễn ra giữa những người đàn ông với nhau, nó không có chỗ cho “nữ nhi thường tình”, thậm chí hình bóng những người phụ nữ cũng xuất hiện với tần số không nhiều trong những tác phẩm văn học Đặc biệt, văn hoá Khổng giáo Phương Đông không chỉ ở Trung Quốc hay Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia Đông

Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaisia hay Singapore…quy định rất rõ nét những khắc chế đối với đàn bà Vai trò thống trị của đàn ông được sự ủng hộ của thiết chế xã hội

đã trở thành một nét tâm lí phổ biến kéo dài từ thời này qua thời khác

Tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của người Việt

Trong cuốn Nho giáo xưa và nay ,Vũ Khiêu nhận định: “Ở Việt Nam, những mối quan

hệ giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, bè bạn, anh em trong một thời gian hàng nghìn năm đều rập khuôn theo Nho giáo” Đến thời điểm hiện tại, một trong những giá trị

vẫn còn tồn tại và có ảnh hưởng sâu sắc nhất của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam đó

là quan niệm về đạo đức gia đình Quan niệm “Tam tòng, Tứ đức” của Nho giáo khiến cho vị thế, vai trò của người phụ nữ luôn bị hạ thấp Chính tư tưởng này dẫn đến bất

bình đẳng giới Trong khi người phụ nữ luôn có gánh nặng của “Tam tòng”, người phụ

nữ bị đóng khuôn vào tư tưởng: khi còn ở nhà với cha mẹ nhà thì nhất thiết phải nghe lời cha; xuất giá đi lấy chồng phải nghe lời chồng; chồng chết phải nghe lời con Như vậy, ở bất cứ nơi đâu người phụ nữ đều bị lệ thuộc Không chỉ vậy, người phụ nữ cũng

Trang 24

phải chịu những yêu cầu khắt khe Trong công việc, họ phải thật khéo léo với những đường cày thẳng tắp, lúa cấy thẳng hàng nhưng việc bếp núc nột trợ, sắp xếp vun vén gia đình cũng phải thật chu toàn Rồi, lời ăn tiếng nói trong ứng xử hàng ngày, với mọi thứ

bậc và mọi mối quan hệ gia đình, xã hội cũng phải cẩn trọng để làm vừa lòng người khác

Người phụ nữ luôn được đặt vào thế nhún nhường trước nam giới Khái niệm

nữ quyền (Feminism, women’s right) ra đời gắn liền với những hoạt động chính trị và

xã hội, sinh ra từ ý thức về sự bình đẳng trên phương diện giới Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng

của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới Đây là một khái niệm tiến bộ đòi

quyền bình đẳng cho người phụ nữ Đã đến lúc phụ nữ phải cất lên tiếng nói đấu tranh cho quyền bình đẳng giới của mình Ý thức nữ quyền đã bước vào văn chương với nhiều hoạt động mạnh mẽ Các nhà văn nữ gửi gắm vào những đứa con tinh thần không những nhằm bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình mà còn để đấu tranh đòi

bình đẳng về giới, đòi quyền sống cơ bản của người phụ nữ Trong bài viết “Không chỉ

là yếm thắm bỏ bùa” Nguyễn Khắc Phê đã nhận định: “Đội gạo lên chùa là một cuốn sách có sức nặng, rất nặng- cả về nghĩa đen và nghĩa bóng và qua số phận hàng chục nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ, tác giả miêu tả những biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đụng chạm đến rất nhiều vấn đề văn hóa - xã hội, triết lý nhân sinh … Trong “Đội gạo lên chùa”, tác giả còn dành nhiều tâm huyết để miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ và vẻ đẹp của trí tuệ, của con người có văn hóa ” [34] Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh

dành sự ưu ái đặc biệt cho các nhân vật nữ, mà qua mỗi nhân vật đó, ông đều thể hiện một vẻ đẹp cá tính và mang sứ mệnh chuyển tải thông điệp riêng tạo thành sự đa dạng, phong phú trong hệ thống nhân vật

2.1.1 Phụ nữ Việt trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa: Biểu tượng của

nữ quyền luận

2.1.1.1 Vài nét về chủ nghĩa nữ quyền trong văn học Việt Nam

Hòa chung dòng chảy văn học trên thế giới, văn học Việt Nam cũng sản sinh ra dòng văn học mang tư tưởng nữ quyền Dòng văn học này có sự phát triển từ những tác phẩm văn học cổ, ta có thể bắt gặp trong dòng văn học dân gian, văn học trung đại

Sự xác lập ý thức nữ quyền trong nền văn học nước nhà được thể hiện qua dòng văn hóa Mẫu hệ - nền tảng của ý thức nữ quyền trong dòng chảy văn học Đạo Mẫu lan tỏa

Trang 25

và ngày càng được mở rộng cùng với bước chân và tấm lòng hướng đạo của những người phụ nữ Việt Đạo Mẫu là nơi chắp cánh cho ước vọng, khát khao của người phụ

nữ, đồng hành cùng với họ trên con đường hướng đến những khát vọng may mắn, bình an Gắn liền với cội nguồn văn hóa Mẫu, ý thức nữ quyền đã dần được người phụ

nữ Việt Nam xác lập

Tuy nhiên, nếu như đạo Mẫu tồn tại trong cộng đồng như một tác nhân nuôi dưỡng đời sống tâm linh của con người Việt thì Nho giáo lại hiện diện đậm nét và tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người trần thế ở hiện tại Người phụ nữ sống trong xã hội chịu sự áp chế của Nho giáo, họ vẫn luôn được khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ thường, gìn giữ phẩm hạnh Có lẽ, vì thế, hình bóng của những người phụ nữ trong những bài ca dao vẫn là những con người tảo tần, cam chịu, vất vả

Họ chỉ dám cất tiếng than thân trách phận và gửi gắm nỗi niềm riêng vào những câu

ca, lời hát chứ chưa biết cách cải hóa số phận Một thời gian dài trong văn học, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn ông Tuy nhiên, nền văn học cũng bắt đầu xuất hiện những tài nữ như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương Những tên tuổi đó đã tạo ra bước đột phá trong văn học, khẳng định những tiếng nói của người phụ nữ trong văn học Việt Nam Phong cách thơ của của họ gây ấn tượng và tạo nên nét độc đáo bởi sự phản kháng, chống lại chế độ xã hội trọng nam

khinh nữ, chống lại chế độ đa thê, một cách quyết liệt, đặc biệt với Hồ Xuân Hương 2.1.1.2 Tiếng nói của phụ nữ trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa

Trong văn học Việt Nam truyền thống, các tác giả hầu hết đều là nam giới, họ mặc nhiên được hàng rào lễ giáo phong kiến vững chắc bảo vệ những giá trị nam quyền Vì thế cuộc sống phản ánh trong văn chương thời kì đó luôn được nhìn qua con mắt phái nam Còn ở văn học hiện đại, cái nhìn nữ quyền làm cho cách nhìn về những

vấn đề văn hóa, xã hội trong tác phẩm đã có sự thay đổi Tuy là một nhà văn nam

nhưng Nguyễn Xuân Khánh đã đặt mình vào vị trí, cái nhìn của nữ giới để cảm nhận cuộc sống Qua góc nhìn mới về văn hóa Việt, tác phẩm của ông được xem là dung chứa một nền văn hóa mang đậm yếu tố nữ tính Tất cả đời sống của con người từ những lễ nghi, phong tục và huyền thoại dân gian đều có bóng dáng của người phụ nữ

Trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh đã khai

thác những mảng hiện thực gần như vắng bóng trong văn học Việt Nam đương đại Hơn thế nữa, cái độc đáo còn thể hiện trong “cái nhìn thế giới” của người viết khi tái hiện những mảng đề tài này chính là cái nhìn của nữ giới với mối liên hệ với tự nhiên

Trang 26

Ngoài hai chủ đề về lịch sử và văn hóa, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa còn kể

về những câu chuyện của những người đàn bà trong khung cảnh làng quê đậm chất thuần Việt Đề tài tình yêu là mảnh đất màu mỡ để nhà văn tái hiện những cuộc tình với bao nỗi nhớ nhung, khắc khoải nhớ mong Điều đặc biệt là ông đã đặt những câu chuyện tình ấy, những con người ấy trong phạm trù số phận, những nhân vật nữ xuất hiện trong những cuộc tình đều có tình yêu mãnh liệt, nhưng không hề suồng sã; nó vô cùng ý nhị mà tinh tế chứa đựng sự bao dung, tấm lòng vị tha Tình yêu gắn với ý thức

nữ quyền ấy thấm đẫm chất phồn thực, tất cả dường như hòa quyện tạo nên những cuộc tình vừa mộng mơ hư ảo, vừa cao thượng nhưng cũng rất bi ai Nguyễn Xuân Khánh đã cất lên tiếng nói cho người phụ nữ thông qua việc thấu hiểu cho những bi kịch của họ Hình tượng của thiên nhiên và phụ nữ lúc này được đặt ở vị trí trung tâm trong những trang viết của nhà văn Người ta lo lắng, thắc thỏm cho số phận người phụ

nữ, nhưng trong những câu chuyện đó, ta thấy bóng dáng mẹ thiên bao bọc, xoa dịu đi những nỗi đau cho người phụ nữ Bởi giữa họ có mối tương liên đặc biệt, họ đều khát khao cuộc sống bình yên thực sự, bình yên trong tâm hồn và trong cả những khát khao hạnh phúc thường nhật

Nguyễn Xuân Khánh đã dành một sự ưu ái đặc biệt cho các nhân vật nữ, trong

một bài phỏng vấn, chính ông tâm sự: “Những người đàn bà trong tiểu thuyết của tôi

chính là những người đàn bà ở làng tôi thuở xưa- làng Kẻ Noi, Cổ Nhuế Họ đẹp lắm Tính tình thuần chất nông dân Những người đàn bà nghèo chẳng được ai nâng đỡ

Họ chịu đau khổ với số phận của mình … Nhưng chưa bao giờ họ đầu hàng số phận”[54] Người phụ nữ trong Mẫu Thượng ngàn đều mang một vẻ đẹp lạ thường, vẻ

đẹp ấy được toát lên từ sức sống văn hóa dân tộc Luồng văn hóa xuyên suốt trong tác phầm chính là Đạo Mẫu Mỗi số phận người đàn bà trong tiểu thuyết của ông đều mang những ẩn ức riêng; mỗi cuộc đời là một câu chuyện nhiều đa đoan trắc trở Tiếng nói đòi quyền sống của người phụ nữ được thể hiện qua những bi kịch của những người phải gánh chịu, là những quy định khắt khe của tư tưởng hà khắc, của lễ giáo phong kiến kìm kẹp cả tự do về cả thể xác lẫn tâm hồn Đó là những luật lệ về tam tòng, tứ đức, là những quy định khắt khe về tình yêu và hôn nhân với nữ giới

Bà Tổ Cô (tên thật là Vũ Thị Ngát) là một trong những hình ảnh tiêu biểu cho

xu hướng này Bà là một người đàn bà đẹp và nổi tiếng đức độ“Thuở con gái bà đẹp

lắm, thắt đáy lưng ong, khuôn mặt trái xoan, mi thanh mục tú… Tất cả con người như một đóa hoa tươi Bà đứng chỗ nào là chỗ ấy như sáng sủa lên, như rực rỡ lên”[23,

Trang 27

tr.253] Dù nổi tiếng xinh đẹp và tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ yêu mến nhưng cuộc đời bà cũng lắm truân chuyên Trong hôn nhân, bà không có quyền tự do lựa chọn người bạn đời cho mình bởi đàn bà con gái trong nhà đều phụ thuộc vào sự sắp xếp

của người cha Bà trở thành vợ lẽ ông Trưởng Khiêm - là tri phủ có“bà vợ bệnh mới

mất”[23, tr.254] Con tạo xoay vần, từ một bà Phủ, bà Ngát bỗng biến thành miếng

mồi của bọn sói lang khi phía triều đình thất thế trước sự tấn công ồ ạt của thực dân Pháp Ông Phủ Khiêm mất, tâm can bà biết bao dằn vặt khi phải đi bước nữa để bảo vệ

giọt máu còn sót lại: “Ôi thôi, thiếp đã phụ chàng rồi Đáng lẽ ra thiếp phải chết đi

mới đền đáp được tình nghĩa vợ chồng Song còn con chúng ta thì sao Còn giọt máu cuối cùng của họ Phùng thì sao?” [23, tr.283] Nỗi đau đớn giằng xé tâm can, tuôn

qua dòng nước mắt, bà đã khóc suốt một ngày một đêm trước ban thờ chồng, sau đó

người ta không bao giờ thấy bà khóc nữa Nỗi đau ấy nén lại, nó ấp ủ trong lòng, hình thành những vết thương sâu kín, nhức nhối Sự trở về với Mẫu ở khoảng cuối cuộc đời phải chăng là một minh chứng cho tấm lòng chung thủy, sắt son mà thời gian không làm nó suy giảm

Một số phận bi thương khác mà Nguyễn Xuân Khánh cũng dành nhiều sự ưu ái,

đó là Mùi con gái của cụ đồ Tiết Mặc dù Mùi xinh đẹp, tháo vát, vốn lại xuất thân trong một gia đình gia giáo nhưng số phận lại không cho cô một cuộc đời êm đẹp Mùi

có đến ba đời chồng, song đều không mang đến cho cô hạnh phúc Lần thứ nhất, cuộc hôn nhân được đặt lên bàn cân, được đong đếm rõ ràng dù cô chẳng mấy ưa cậu ấm

Tẻo, “khi cụ đồ Tiết quyết định cô đành phải nhắm mắt đưa chân”[23, tr.234], “Mùi

không ưng nhưng chỉ biết khóc thầm”[23, tr.235] Bất hạnh bắt đầu ập đến từ khi Tẻo

chết, cô mang tiếng hiếp chết chồng, rồi bị dân làng dèm pha, xa lánh, ghẻ lạnh Số phận một lần nữa lại khéo trêu đùa, khi anh Tân – người chồng thứ hai cũng không ăn đời ở kiếp được lâu dài với cô, trong một lần đi buôn trâu, anh mắc sốt rét mà qua đời Việc cô chấp nhận lấy Philipe - người chồng thứ ba - một ông Tây vấp phải sự phản đối dữ dội của cụ đồ Mùi phải từ bỏ gia đình, mặc dù điều đó không nằm trong dự

định của cô “Không ai có thể ngờ cô Mùi lại tự ý bằng lòng…Câu hỏi ấy vẫn là một

câu đố chẳng ai tìm ra lời giải”[23, tr.349] Những giả thiết, những lời đồn đoán bủa

vây cô Mùi khốn khổ Người đồn Mùi tham giàu; người khác lại nói Mùi hi sinh cho gia đình vì cô là người con có hiếu Không đưa ra lời khẳng định cụ thể, nhưng ta đều ngầm thấy khả năng thứ hai rất hợp tình, hợp lý Dẫu Philipe luôn nói rằng, nếu Mùi

không đồng ý làm vợ thì hắn sẽ “tự nguyện rút lui, không theo đuổi nữa và cũng sẽ

Trang 28

không gây phiền hà gì cho gia đình”[23, tr.347] Bản chất của nam giới là sự thống trị,

là sự phục tùng mà đặc biệt, Philipe lại là kẻ có tiền, có quyền có thế của kẻ thống trị thì làm sao hắn có thể chấp nhận thua cuộc một cách êm xuôi như vậy Nếu Mùi từ chối, thì cuộc “đi săn” này của Philipe không chỉ đơn thuần là thua cuộc mà đó còn là danh dự Lẽ nào, ở cái thế của một kẻ thống trị, của một chủ đồn điền giàu có lại đành

bỏ cuộc trước sự cứng đầu cứng cổ của người đàn bà tá điền- kẻ bị trị? Mấy ai thấu hiểu nỗi lòng cô Mùi, bởi nếu thực sự cô là người tham sang phụ khó thì ắt hẳn cô đã hạnh phúc lắm bên cái cơ ngơi đầy đủ, khang trang ấy Nhưng không, cô sống như một

cỗ máy, cô hoàn toàn vô cảm Mấy ai nhận ra rằng, trong sự vô cảm ấy chứa đựng cả một tâm hồn luôn bị giày vò, bị giằng xé một cách đau đớn Có thể Philippe yêu thương Mùi bằng tấm lòng chân thật, nhưng sự gia trưởng, sự thống trị, tư tưởng làm chủ thì Philipe không bao giờ mất Hắn đã thống trị thể xác và tâm hồn của Mùi, và thậm tệ hơn, tư tưởng ấy còn được hắn mang lên giường ngủ Mùi chỉ còn là một vật

sở hữu Sự cam chịu của Mùi đã hàm chứa biết bao đau đớn, tuyệt vọng

“Chiếc lồng son” mà Philippe tạo ra để “nhốt con chim bồ câu phương Đông”

[23, tr.354] không thể kìm kẹp được Mùi bởi trong tâm khảm cô ẩn chứa trong một nguồn sức mạnh diệu Philippe chiếm bằng được Mùi bằng mọi thủ đoạn với khát vọng chinh phục và làm chủ tất cả Hắn muốn làm chủ con người cũng như như làm chủ mảnh đất mà hắn cai trị Chính hắn cũng không ngờ rằng, một kẻ thống trị kiêu hãnh như hắn lại chính là người bị khuất phục bởi Mùi Philipe dường như bị Mùi làm say mê, hắn đang bị thuần hóa bởi phong cách Á Đông bản địa Chính vì thế, cái nóng

xứ Đông Dương là nỗi ám ảnh của những người da trắng đến từ xứ lạnh như hắn

“nhưng Philippe không sợ” [23, tr.355]; vả chăng hắn đã bị thuần hóa Chẳng cần

bằng con đường chiếm đoạt thô bạo, người đàn bà ấy đã âm thầm mà tinh tế khuất phục được ý thức tự cường của người đàn ông, tiêm nhiễm vào văn hóa phương Tây thứ tình ái rất phương Đông và đậm đà bản sắc dân tộc Sức mạnh chinh phục nam tính (người Pháp - văn hóa phương Tây) đã bị sự kháng cự mềm mại nữ tính đánh bại Nhà thực dân Philippe đã hoàn toàn bị chinh phục và chết trong một khát vọng hoan lạc và chiếm đoạt người phụ nữ - mà theo tác giả, Mùi chính là hiện thân của vẻ đẹp

nữ tính và sự huyền bí của văn hóa bản địa - hiện thân của Mẫu Lại có những lời đồn đoán xung quanh cái chết đột ngột của Philippe, người ta đồ rằng Mùi đã dùng sức mạnh huyền bí của mình để trả thù một cách ngọt ngào có chủ đích Cô hoàn toàn ý

thức được mình là người “có tướng sát phu”, cô ngầm kháng cự bằng sức mạnh: “Cô

Trang 29

tin ở cái sức mạnh đàn bà huyền bí của mình Chính kẻ thù của cô ham mê cái sức mạnh huyền bí ấy, và nhờ đó cô trả được thù” [23, tr.366] Chính Philippe đã phải thốt

lên: “Cả những người đàn bà của xứ sở họ cũng trả thù bằng cách vắt kiệt thể xác ta”

[23, tr 328] Ngày Philippe tận hưởng hết những gì tinh khiết mà hắn khao khát; tận hưởng sự hòa hợp trọn vẹn với người đàn bà bản xứ thì cũng là lúc Philippe phải từ giã cuộc đời

Sức mạnh ấy còn là những bứt phá khỏi lề lối suy nghĩ cổ hủ của xã hội Điều đó được thể hiện rất rõ qua nhân vật cô Hoa- con gái của của mõ Pháo và ông hộ Hiếu Hoa là người con gái đẹp người, đẹp nết nhưng sinh ra với thân phận “mõ” Trước nay, Hoa vẫn biết kiếp làm mõ là hèn, là khổ, là bị cả xã hội coi thường, rẻ rúng nhưng

cô chỉ lờ mờ cảm thấy sợ cơ cực mà chưa biết phải làm gì để thoát khỏi nó Chỉ đến khi gặp Huy, cô mới thông tỏ mọi điều Thì ra phận mõ không chỉ đơn thuần là nghèo đói, cơ cực mà chấp nhận kiếp mõ tức là chấp nhận thân phận nô nệ, suốt đời chịu sự ghẻ lạnh, chà đạp dưới những gông xiềng Cuộc sống khắc nghiệt chỉ trực chờ vùi sâu

cô xuống tận đất đen, nếu cô còn cam chịu, không tự đứng lên thì cô sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn không lối thoát ấy Cha con lão Xe dùng mưu hèn kế bẩn để “cướp” danh “mõ”, cuộc nói chuyện đáng lẽ ra cô không nên biết đã đẩy Hoa vào bước đường cùng Nếu cô không bứt ra khỏi đó, ắt cô sẽ càng lún sâu vào vùng tăm tối Những tanh tưởi, xấu xa kia đổ ập lên con người nhỏ bé, đầy rẫy những bất hạnh, trực chờ quật ngã cô, kéo cô chìm sâu vào vũng bùn lầy Nhưng không, Hoa đã vùng vẫy và tự tìm lối thoát cho riêng mình Con đường phía trước với Hoa chẳng thể lường trước bao điều bất trắc, nhưng nó là điều cần thiết để cô thoát khỏi kiếp làm mõ, thoát khỏi hố đen thăm thẳm cuộc đời

Từ bà Tổ Cô đến Mùi rồi đến Hoa chính là cả một quá trình của nhận thức của người phụ nữ Cùng thấy được những khó khăn, những đè nén, áp bức của thực tại song ở mỗi nhân vật lại có một cách phản ứng khác nhau Ở bà Tổ Cô chỉ là tìm cách sống sao cho phù hợp, nó còn mang nhiều tính thỏa hiệp Đến Mùi, sự cam chịu, thỏa hiệp vẫn còn song đã có sự quẫy đạp chống trả Tuy không biểu lộ một cách trực tiếp, nhưng chính những sự đấu tranh nhẹ nhàng diễn ra hàng ngày, hàng giờ đã khuất phục được người đàn ông ngoại bang Đến giai đoạn của Hoa, sự phản kháng ấy đã trở thành sự bức phá, vùng vẫy tìm cho ra lối thoát Lối thoát không chỉ về thể xác mà cả tinh thần, chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của người phụ nữ trước thời cuộc Chính những

Trang 30

số phận nhỏ bé ấy đã góp phần làm nên diện mạo đất nước và cũng chính họ là những con người quyết định đường đi, nước bước của xã hội trong tương lai

Trong Mẫu Thượng ngàn, nhân vật bà Ba Váy là một điển hình cho số phận long

đong, lận đận nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Người đọc ấn tượng bởi dáng hình mũm mĩm, vẻ đẹp căng tràn của sức xuân ngồn ngộn, của da thịt

mỡ màng Tình yêu đầu đời nhen nhóm với anh Phác, chẳng biết có ngoa không khi

người dân Cổ Đình vẫn thì thầm:“Cái Váy phải lòng thằng Phác từ lúc lên mười” [23,

tr.57], chỉ biết rằng mấy chục năm xa cách cũng không làm vơi đi những nhớ thương thuở ban đầu Tình yêu ấy có lẽ vẫn ấp ủ đợi chờ đến ngày đơm hoa nếu như không có món nợ là hai chục thúng thóc Những thúng thóc ấy là gánh nặng đeo bám và nhấn chìm bà Ba trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc, biến cuộc đời thơ mộng thành một cuộc sống bất hạnh cả vật chất lẫn tinh thần Trong gia đình đa thê nhà ông Lý, bà ba Váy là người phụ nữ thấp cổ bé họng nhất nên cũng phải chịu nhiều nỗi khổ nhất trong

ba bà vợ Ông Lý đến với bà chốc lát rồi lại vội vã đi, từ việc lớn đến việc nhỏ trong nhà bà không có quyền quyết đinh Có tiếng vợ ba nhà ông Lý nhưng thực chất bà không khác tôi tớ là mấy Ông Lý là chủ, trước là chủ nợ, sau là chủ cả cuộc đời của

bà Mọi hành động, lời nói nhất nhất đều phải nghe theo lời của hắn Hắn sẵn sàng

thượng cẳng chân hạ cẳng tay với bà khi không vừa ý, “hắn xông tới, túm lấy tóc

vợ…mắt lý Cỏn đổ ngầu, long song sọc Đôi mắt làm người vợ sợ chết khiếp”[23,

tr.126], giọng hằm hè như con thú “Cấm được kêu! Câm họng lại!”[23, tr.126] Người

đà bà không có quyền giải thích hay biện minh, mà chỉ âm thầm chịu đựng trước cơn

thịnh nộ “nước mắt giàn giụa…bà Ba nghiến răng chịu đựng…tóc xổ tung Hai tay ôm

mặt, bà khóc thút thít”[23, tr.126] Hành động khiếm nhã, bạo lực của lý Cỏn dĩ nhiên

không chỉ diễn ra một, hai lần mà nó lặp đi lặp lại thường xuyên như một thói quen Lại nói về cuộc sống vợ chồng, cũng như Mùi khi làm vợ Philippe, bà Váy trên danh nghĩa là vợ, nhưng thực chất bà chẳng hơn một người phục vụ để thỏa mãn những thèm muốn của lão Lý đầy uy quyền Không quan tâm đến cảm xúc của vợ, ông ta hành động theo ý của riêng mình và coi bà là một vật sở hữu, một vùng đất riêng không ai có quyền xâm phạm Thân xác bị đọa đày, tình yêu bị dồn nén, tinh thần bị quản thúc, bà Váy sống chỉ như một con người bản năng, đói ăn, khát uống bởi những cảm xúc, những nhu cầu nơi bà đã chai sạn

Nhưng thẳm sâu trong tiềm thức, bà vẫn khát khao được sống với bản thể, với ý thức cá nhân của mình Ngay như việc nhỏ nhặt nhất là cách lựa chọn trang phục, ông

Trang 31

Cỏn “bắt đĩ Váy phải mặc quần, nhưng ông cứ ra khỏi nhà là đĩ váy cởi quần ra ngay

rồi mặc váy vào”[23, tr.134]; hay đặt tên cho những đứa con cũng vậy, trong khi ông

muốn những cái tên đẹp đẽ thì bà “không gọi tên con theo ý ông, mà cứ khăng khăng

gọi chúng nó theo kiểu của bà”[23, tr.135] Bà cũng dám nói ra những tâm tư thầm kín

nhất trong cuộc hôn phối với người chồng - chủ nợ “Tôi chẳng yêu thương mà lấy

ông”[23, tr.494]; bà chán ghét cảnh chồng chung vợ chạ “Tôi thật tan nát cõi lòng khi nghe bà Hai kể câu chuyện tranh chồng ấy”[23, tr 491] Cuộc sống của bà có lẽ chỉ

còn sót lại niềm vui nhỏ lẻ bên những đứa con thông minh, xinh xắn Ngày gặp lại và nhận ra Trịnh Huyền (tức anh Phác)- người tình, bà chẳng nguôi ngoai Bà đã dấn thân vào cuộc tình vụng trộm mặc cho bao nguy hiểm luôn gần kề, nguy hiểm cho bà và cho cả Trịnh Huyền nữa Xét về phương diện đạo đức thì hành động của bà Váy dĩ nhiên không được xã hội chấp nhận Nhưng nếu ta đi sâu phân tích hoàn cảnh và tâm hồn bà thì mới có thể thấy cái khát khao hạnh phúc của người đàn bà ấy là chính đáng

Xã hội mặc nhiên dành sự thiên vị cho những nhu cầu “phàm tục” của người đàn ông

và coi như một điều tất yếu, còn đối với phụ nữ thì họ lại mỉa mai, chì chiết Xét cho cùng, làm người ai cũng có dục tính, ai cũng mong muốn được hưởng cuộc sống tự do lựa chọn người tình

Sự bất bình đẳng giới không chỉ xuất hiện ở xã hội phương Đông đậm chất nam quyền mà nó còn hiện hữu ngay cả ở nơi mà người ta coi là tiến bộ - văn hóa phương Tây - nữ giới còn phải gánh chịu những bi kịch tình dục mà nam giới nghiễm nhiên áp đặt Tự cho mình thuộc giới thượng đẳng, có sứ mệnh khai hóa văn minh cho mọi dân

tộc dã man, nhưng chính đội quân “thần thánh” (theo lời của Philippe) còn dã man

hơn cả những người chúng coi là “dã man” Bởi bộ chỉ huy quân đội Pháp nghĩ ra một

cách “lập một đội quân nữ chuyên làm công việc giải tỏa sinh lực cho đội quân nam

thần thánh”[23, tr.321] - đó là việc tuyển chọn những người đàn bà nghèo khổ nhưng

khỏe mạnh, da trắng có, da vàng có, da đen cũng có để làm thứ “công cụ” giải trí cho binh sĩ Có thể thấy, bản tính chiếm đoạt và chiếm hữu luôn xuất hiện ở những người

đàn ông Trong Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa, có nhiều nhân vật nữ bị hiếp

dâm, bị coi là trò tiêu khiển cho phái mạnh Đó là cô Thắm- một người đàn bà có tài,

có sắc và lương thiện Bất hạnh đổ ập xuống đời cô khi cô vô tình lọt vào tai mắt của bọn quan lại vô lương, chúng cưỡng đoạt cô thô bạo rồi lại lạnh lùng rũ bỏ cô với bào thai trong bụng Từ một người con gái đẹp người đẹp nết với bao trai làng theo đuổi, giờ đây cô phải sống trong đắng cay, tủi nhục khi mới tròn mười tám - cái tuổi xuân

Trang 32

sắc, đẹp nhất cuộc đời Trịnh Huyền xuất hiện như một vị cứu tinh trong ngày lễ phát tang tiễn đưa vong linh bà trưởng Kiên về nơi an nghỉ và cũng là cứu cánh duy nhất cho cuộc đời lỡ dở của cô Nhưng hạnh phúc ngắn chẳng tày gang khi cái bất hạnh mãi đeo bám, cô mất khi sinh đứa con chung với Huyền, cô ra đi để lại niềm đau và dư âm cay đắng cho những người ở lại Tạo hóa trớ trêu với mẹ con cô Thắm, hết lượt mẹ rồi đến con, trước sau đều lâm vào nạn kiếp

Trở về quê hương sau bao năm lang bạt, cha con Huyền - Nhụ (đứa con ngoài giá thứ của cô Thắm) tá túc dưới cái tên và thân phận khác Những tưởng đổi tên, thì phận đời sẽ có chút đổi thay, nhưng số kiếp hẩm hiu vẫn bám lấy hai con người khốn khổ

ấy Cũng chính nơi đây, tấn bi kịch cuộc đời của Nhụ lại bắt đầu Cái tuổi mười ba,

mười bốn, cái tuổi “chum chum núm cau”, Nhụ rơi vào tầm ngắm của tên chủ đồn

điền Julien ranh mãnh Lời tiên đoán của ông Hộ Hiếu dự báo về cuộc đời của Nhụ

“cháu phúc hậu lắm, nhưng vất vả”[23, tr.227] đã linh ứng Số phận ấy là tổng hòa

các yếu tố “có thể” xảy ra được khai thác từ nghĩa bóng của từ “vất vả” Điều với Nhụ trở thành vợ chồng nhưng những bí mật sâu kín nhất vẫn được họ gìn giữ Ngày trải ổ những tưởng sẽ là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời Nhụ, nhưng thật cay đắng, đó lại là ngày khủng khiếp nhất mà cả đời cô muốn quên đi Lợi dụng lúc Nhụ ngồi đợi Điều dưới gốc đa để cả hai cùng vào khu vườn hạnh phúc, thì Julien đã cưỡng bức Nhụ Nỗi đau về thể xác và tinh thần ấy không sao tả xiết Bấy nhiêu tai họa đã là quá

lớn, quá sức chịu đựng cho một người phụ nữ bé nhỏ, bất hạnh Nhưng “phúc bất

trùng lai, họa vô đơn chí”, sau một thời gian ra đi, Nhụ trở lại vùng Cổ Đình thì được

tin người cha Trịnh Huyền bị sát hại Người thân yêu nhất không còn, người chồng phải trốn lang bạt biệt xứ, Nhụ đau đớn, vật vã, trở nên điên loạn

Có thể thấy bi kịch của bà trưởng Kiên chỉ gặp lúc lâm chung; bi kịch của cô Thắm cũng sớm kết thúc cùng cuộc đời ngắn ngủi thì Nhụ là nhân vật phải chịu nỗi đau đớn dai dẳng nhất Bản thân cái tài, cái sắc đã đủ mang đến bi kịch cho người phụ

nữ, nay Nhụ phải chịu thêm bao khổ nhục bởi sự tiếp tay của các thế lực thống trị Không ai có thể nói trước được điều gì nếu như các thế lực ấy vẫn không buông tha cho những người phụ nữ bất hạnh như mẹ con Nhụ Tưởng chừng Nhụ sẽ bị cuộc đời với những tai họa kia vùi dập, nhưng sức sống tiềm tàng của cô đã trỗi dậy Cái bóng trắng - chính niềm tin và sự cứu rỗi của Mẫu đã đưa đường dẫn lối cô tránh khỏi cái

chết trong đêm mưa gió bão bùng Sức mạnh siêu nhiên ấy đã “tắm rửa sạch sẽ cho

chị từ trong ra ngoài”[23, tr.745] và trả lại cho Nhụ sự “tinh khôi mới mẻ”[23, tr.745]

Trang 33

Nhụ như được tái sinh Và lần này, sự tái sinh ấy cũng là lời đáp trả cứng rắn vào những cay đắng bất hạnh trong cuộc đời Đứa con gái của Nhụ - kết quả cuộc truy hoan của Julien đã chối bỏ hoàn toàn nguồn gốc, con bé không mang bất cứ một dấu

vết nào của giống người trắng Vẻ đẹp của con bé “xinh xắn lạ thường Mới ra đời tóc

đã rậm rì và đen láy…con mắt to Đôi long mày dài Cái mũi xinh xinh thanh tú”[23,

tr.748] Cô bé trở thành nguồn sống, nguồn động lực tiếp sức cho Nhụ trên con đường đòi lại quyền làm người

Trong Đội gạo lên chùa, người phụ nữ là điển hình của chịu thương chịu khó,

sống vì gia đình, quê hương, dòng tộc nhưng họ cũng phải gánh chịu rất nhiều những cay đắng, tủi hờn trong cuộc sống Ta cũng bắt gặp những bi kịch về bạo lực tình dục với những nhân vật nữ trong tác phẩm này Khi bọn lính Pháp càn quét ngôi làng nhỏ

bé, chúng vin vào cái cớ tìm Việt Minh để rồi chúng vây bắt tất cả những người đàn

bà, con gái ra ngoài đình để hãm hiếp Cảnh đó được bắt đầu với màn khám vú Chúng

đặt ra cái định nghĩa rất vô lý: “Đứa nào chưa có vú hay vú quả mướp thì thả ra Tất

cả những đứa vú mẩy đều giữ lại Họ đều là tráng niên, đều là Việt Minh”[24, tr.36]

Những người phụ nữ yếu ớt không có sức chống cự, họ biết “sắp xảy ra vụ cưỡng hiếp

cả làng Mỗi thằng lính túm một người đàn bà…lôi xềnh xệch họ đi Tiếng kêu la vang trời”[24, tr.36] Chính quyền thực dân, những con người đại diện cho văn minh lại tiếp

tay cho tội ác tày trời ấy

Khởi nguồn của cuộc hành trình lưu lạc của chị em Nguyệt, An là cảnh thảm sát đẫm máu miếu hoang giữa cánh đồng; nơi người cha của họ và anh du kích bị tròng dây thừng vào cổ giải đến nơi tử huyệt Miếu cổ đã biến thành một biển máu, những

xác người vô tội bị chết không toàn thây tạo cho người đọc một ám ảnh đến rợn người

Nguyệt bị bọn Tây đen lôi đi hiếp, may nhờ có ông lý xin cho mới thoát được Song cũng không phải tự nhiên mà ông lý giải thoát cho cô, ông lý xin cũng vì cái lợi của ông Từ lâu, lão lý già đã muốn biến cô Nguyệt xinh đẹp thành vợ năm của hắn Lão ta

cứ xưng xưng nói, nói năng bỗ bã, hắn còn đe dọa nếu cô không chịu, lão ta lại tính cách mang cô dâng cho mấy thằng lính Tây đen Lão đứng trước mặt cô mà tuyên bố

như việc đã rồi: “Tôi định sau bốn chín ngày hai cụ, tôi sẽ mời hàng xóm Cô phải

biết, cô là bà năm xinh đẹp của tôi, tôi sẽ gây dựng cho cô riêng hẳn một cơ ngơi Nhà ngói cây mít hẳn hoi Các bà kia đã đủ cả ruộng nương con cái rồi, tôi chẳng còn phải

lo đến nữa Tôi sẽ đến ở với bà, chỉ ở với bà mà thôi Tôi hứa với bà đấy Tôi đã tính toán cả rồi” [24, tr.19] Cô gái đáng thương vừa mất cha, mất mẹ phải bỏ cả nhà cửa,

Trang 34

quê hương bản xứ đi trốn khỏi làng tức là cô đã quyết tâm chạy trốn khỏi cái ác, khỏi bàn tay của chế độ nam quyền

Bi kịch của những người phụ nữ ở trên đều xuất phát từ nguyên nhân của tư tưởng trọng nam khinh nữ, những người đàn ông coi phụ nữ như một thứ mạt hạng, một vật

sở hữu mà có thể tùy ý định đoạt Cùng sinh ra là kiếp người song những người đàn bà không được tôn trọng từ nghề nghiệp tới thân xác Nhắc tới bi kịch của họ, Nguyễn Xuân Khánh hướng tới quyền bình đẳng, tôn trọng nữ giới tối thiểu từ thể xác Việc hãm hiếp người hay dùng bạo lực đối xử với họ là tội ác, trong xã hội hiện đại, người phụ nữ sẽ được pháp luật, xã hội bảo vệ trước sự xâm hại từ nam giới; còn trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, người phụ nữ tìm sự giải thoát bằng cách hướng tới với đạo Mẫu, đạo Phật Mỗi con người là một bi kịch, một số phận riêng Nhưng ở họ đều có một điểm chung là đều nhận được sự chở che của Mẫu, họ đến với Mẫu bằng tất cả tấm lòng, bằng niềm tin và hy vọng Kết thúc tác phẩm là hình ảnh đứa con gái đầu lòng – kết quả của lần cưỡng hiếp của Julien trong đêm hội Kẻ Đình – đang được đón nhận và mở ra một cuộc sống mới trong sự bao dung, che chở của Mẫu

2.1.2 Phụ nữ: người thiết lập mối quan hệ giao đãi, hòa hợp với thiên nhiên

Mỗi người phụ nữ trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được gắn kết, liên quan trực tiếp đến số phận của một người đàn ông nào đó Họ trở thành hậu phương, là bến đỗ bình yên, là chỗ dựa về mặt tinh thần và mặt thể chất cho những người đàn ông trong cuộc đời mình Nhưng, tuyệt nhiên những người đàn bà ấy chẳng có ai được hưởng hạnh phúc trọn vẹn Tất cả những tủi nhục, cay đắng mà những người phụ nữ phải nếm trải đều lấy Mẹ thiên nhiên làm chỗ dựa bởi Mẹ thiên nhiên luôn dang vòng tay bao dung của mình che chở lấy cho dù họ thuộc về giai cấp, tôn giáo, dân tộc nào

đi chăng nữa Tất cả được sinh ra, tái tạo, bồi đắp, cứu rỗi, gột rửa, phục sinh dưới tình thương của Mẫu, của thiên tính nữ vĩnh hằng

Nguyễn Xuân Khánh đã khắc họa tiếng nói của người phụ nữ thông qua những

bi kịch của họ Điều đặc biệt, hình tượng của những người phụ nữ luôn gắn liền với từng biến động của tự nhiên, sự chở che của “Mẫu Thượng ngàn” Thiên nhiên và phụ

nữ lúc này được đặt ở vị trí trung tâm trong những trang viết của nhà văn Tác giả lo lắng, thắc thỏm cho số phận người phụ nữ Và khi đó, hơn ai hết, mẹ thiên nhiên là người dang rộng cánh tay để bao bọc, xoa dịu đi những nỗi đau cho người phụ nữ bởi giữa họ có mối tương liên đặc biệt Họ đều khát khao cuộc sống bình yên thực sự, bình yên trong tâm hồn và trong cả những khát khao hạnh phúc thường nhật Nó không chỉ

Trang 35

là những bi kịch đang hiện hữu trong hiện tại mà còn ngay trong câu chuyện truyền thuyết về ông Đùng bà Đà- là tiếng nói đòi quyền tự do, bình đẳng trong tình yêu và hôn nhân của phụ nữ Truyện kể lại rằng, trước khi người cha từ giã cõi trần, lường

trước hậu họa, ông đã gọi hai anh em đến dặn dò “Sau này, lỡ có chuyện gì xảy ra, thì

hãy dắt nhau đi thật xa khỏi làng Phải vào tít trong rừng sâu mà ở”[23, tr.614] Thế

mới thấy, khi con người ta không còn nơi nào để tựa nương, khi cả đồng loại cũng quay lưng thì nơi an toàn nhất là khu rừng – Mẹ thiên nhiên sẽ chở che cho họ Vạn

vật như người bạn tâm giao của bà Đà “ở trong rừng thì cỏ cây, hoa lá, chim muông,

suối nước…tất cả như vào hùa với họ, họ tha hồ làm cái điều mà họ đều ưa thích Hình như cả cây rừng, con suối cũng thích chuyện ấy Bởi rừng rì rào thì thầm khuyến khích”[23, tr.614] Bởi bà biết lắng nghe tiếng nói của tự nhiên, đồng cảm với tự nhiên

và coi tự nhiên như người bạn thân thiết nên thiên nhiên đã trở thành người bạn tâm giao, là người đáng tin cậy để sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống Ở bên người bạn ấy, những bất trắc và nỗi cô đơn được vơi đi phần nào Mối liên kết ấy chính nhờ thiên tính và bản năng của riêng người phụ nữ mới có được

Như ở trên đã đề cập, lý thuyết nữ quyền luận sinh thái phê phán chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam giới trung tâm Chủ nghĩa nữ quyền luận sinh thái phản đối việc xem tự nhiên và nữ giới ở vị trí bên lề, ngược lại, đề

cao sự bình đẳng của các sinh vật Nên trong Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa,

ta có thể dễ dàng nhận thấy nhân vật nữ luôn mang trong mình thiên tính bảo vệ và nâng đỡ tự nhiên Nữ quyền luận sinh thái cho rằng các sinh mệnh trên trái đất là một mạng lưới kết nối với nhau, không có sự phân chia cao thấp Tự nhiên và giới nữ có một sợi dây vô hình liên kết thông qua các tương tác của họ hàng ngày, phụ nữ luôn chăm sóc và nâng đỡ thiên nhiên và ngược lại Sự kết nối giao hòa của hai thực thể trên trước hết chính là niềm mê đắm với tự nhiên của nữ giới Trong sự giao hòa với

cỏ cây, đất trời người đàn bà mới được trở về với bản thể của mình và có được sự thư thái, an yên….khi ngắm thiên nhiên, con người ta trở nên thanh thản, trở về thiên nhiên là trở về với nguồn cội, chính nơi đây là nơi nuôi dưỡng thiên tính tốt đẹp của

con người Trong ngôi nhà nhỏ xinh xắn được bao quanh bởi “hàng rào cúc tần, trên

đầu có dây tơ hồng vàng mọng…bên cạnh chiếc cổng tre có hai hàng râm bụt…đỏ chót gọi bướm vàng về chập chờn nhảy múa” [23, tr.232] của Mùi, cô được sống

những tháng ngày yên ả, hạnh phúc Thiên nhiên và nữ giới có mối liên hệ đặc biệt thông qua sự tương tác trong đời sống hàng ngày, nên người phụ nữ luôn có xu hướng

Trang 36

bảo vệ, nâng đỡ giới tự nhiên Nhụ luôn đong một ấm da lươn nước, bỏ vào đó dăm ba bông nhài mang đi uống khi đi chăn bò Cái ống nước ấy tuy nhỏ nhắn, nhẹ nhàng nhưng Nhụ luôn treo ở cổ con bò loang Chẳng phải tự nhiên mà cô bé làm vậy, Điều

thốt lên ngỡ ngàng vì lần đầu tiên anh biết đến “sự tỉ mỉ, chu đáo, ân cần của một

người đàn bà”[23, tr.62] Sở dĩ, Nhụ không đeo ống nước vào cổ Sừng Hươu, sừng

Khoằm bởi “Sừng Hươu đang trong thời kì cho con bú, còn Sừng Khoằm lại đang có

mamg; vì vậy không nên làm chúng mệt”[23, tr.62] Sự tinh tế, tỉ mỉ đầy tình yêu

thương của người phụ nữ với tự nhiên có mối tương giao như thế, họ luôn mang trong mình thiên tính bảo vệ, nâng đỡ tự nhiên Ta thấy Nhụ yêu đàn ong và đám vật nuôi

trong nhà, coi chúng là bạn: “Mấy con gà trống trong chuồng trông thấy Nhụ cứ cục

cục như van xin cô ra Nhụ quay lại cười: Hôm nay lấy mật Bị nhốt hiểu không”[23,

tr.48-49] Ngược lại, thiên nhiên cũng chính là người mở rộng vòng tay nhân ái để cưu mang người phụ nữ Không ruộng đất, không nhà cửa, lại không có người đàn ông trụ cột, mẹ con cô Ngơ, bà Móm chỉ sống lần hồi bằng việc đi làm thuê làm mướn Mà làm mướn thì cũng có mùa, những tháng năm đằng đẵng một năm ròng, nhờ vào

những con cua, con ốc của mẹ thiên nhiên, hai mẹ con lần hồi sống qua cơn đói “Nhà

không có ruộng Mẹ con sống lần hồi bằng mò cua bắt ốc Ngày mùa đi làm thuê Lúa gặt xong rồi đi mót thóc”[23, tr.152] Thiên nhiên cung cấp nguồn sống cho hai người

đàn bà đáng thương, và sau này, khu rừng bên kia sông trở thành nơi cư ngụ cho cô Ngơ với anh Mường khi bị dân làng xua đuổi Chỉ có thiên nhiên mới đủ bao dung, ôm

ấp những kiếp người bất hạnh ấy

Dưới ánh trăng dịu mát, những người đàn bà tần tảo, lam lũ như được ánh trăng

gột rửa, điểm tô Họ trở nên đẹp hơn bao giờ hết “ánh trăng huyền ảo, nhễ nhại làm

cho mọi vật trở nên lung linh hơn Nhất là những cô gái dậy thì Gặp ánh trăng, có thể nói các cô đẹp thêm gấp mấy lần Ánh trăng tưới vào, tóc sẽ đen mượt hơn, đôi mắt sẽ lung liếng hơn”[23, tr.600] Ánh trăng cũng như người bạn, xoa dịu nỗi đau của tâm

hồn đầy thương tổn của mõ Pháo“Đêm nay, trăng giàn giụa trong ngôi chùa đổ Ánh

trăng làm mắt chị ba Pháo long lanh Ánh trăng làm thân hình của chị biến thành ngọc thành ngà”[23, tr.222] Thiên nhiên còn là cội nguồn, khơi dậy tâm thức, là nơi

Trang 37

can cô gái trẻ, cô sợ hãi bóng tối, sợ hãi sự cô đơn Trong căn hầm bí mật, bóng tối nuốt chửng cô gái trẻ, Nguyệt như hoảng loạn, nhưng bản tình ca của những chú dế trở thành niềm an ủi lớn lao, nó như món quà mà Phật pháp vô biên gửi đến bên cô bầu

bạn “con dế gái ri ri, con dế hát ri ri… có thể nó là một sứ giả của Bồ tát gửi đến để

làm bạn với cô trong lúc cô đơn”[24, tr.346] Sau này, trong những đêm ở vùng kháng

chiến, Nguyệt ngồi hàng giờ lắng nghe, vui vầy cùng những chú đom đóm, chúng như

“những đứa trẻ tinh nghịch đang vui đừa ríu ra ríu rít”[24, tr.386] làm vơi đi nỗi nhớ

thương đang dậy sóng trong lòng

Thiên nhiên và nữ giới luôn có mối giao hòa, tương thông đặc biệt Họ bao vệ, chở che cho nhau Tất cả những việc làm của họ đều hướng đến việc giữ gìn và bảo vệ

vẻ đẹp của tạo hóa Vị thế của người phụ nữ trong xã hội vốn được xác lập từ thời kỳ mẫu hệ, song những biến chuyển về lịch sử, vai trò của người đàn ông dần được đề cao, vai trò của người phụ nữ bị tan rã khi xác lập chế độ phụ hệ Kể từ đó, trong cuộc chiến giành quyền giữa hai giới, đàn ông luôn luôn chiếm ưu thế hơn, bởi họ được chở che bởi hàng rào phong kiến với những tập tục, luật tục, tôn giáo Người phụ nữ dường như đã bị hoàn toàn lệ thuộc vào đàn ông, là tài sản sở hữu của chế độ nam quyền Chính vì thế người phụ nữ bấu víu vào thiên nhiên làm chỗ dựa bởi giữa họ có mối tương liên đặc biệt

2.2 Thế giới tự nhiên và những chất vấn sinh thái trong Mẫu Thượng ngàn và

Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

Trên cõi đời, luôn song song tồn tại hai mặt giữa cái Thiện và cái Ác Nó là hai phương diện hoàn toàn đối lập và xung đột với nhau Nguyễn Xuân Khánh lấy sự đấu tranh của cái thiện với cái ác làm nguồn cảm hứng chính Đại diện cho cái ác chính là chính quyền thực dân xâm lược, đè nén và áp bức con người đặc biệt là người phụ nữ

và thiên nhiên qua những ám ảnh sinh thái Còn mảnh đất màu mỡ của cái thiện chính

là nơi nhà chùa và chính quyền cách mạng Ở đó, cuộc chiến giữa chính – tà, thiện – ác diễn ra đầy cam go, quyết liệt

Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh không chỉ xây dựng những hình ảnh đẹp về con người mà còn tạo ấn tượng đậm nét bởi khung cảnh thiên nhiên đẹp thấm đẫm

phong vị, hồn cốt dân tộc Trong Mẫu thượng ngàn, thiên nhiên đã được miêu tả hết

sức nhuần nhị, trong sáng trong không gian văn hoá mộc mạc, dân dã nơi làng quê Nó như một người bạn, một người tri kỉ Ta có thể thấy thiên nhiên được xây dựng như một kiểu nhân vật biết sẻ chia, thấu hiểu Những người phụ nữ lắng nghe tiếng nói của

Trang 38

giới tự nhiên, đồng cảm với tự nhiên và coi thiên nhiên như người bạn tâm giao của mình Người phụ nữ cô độc, không tìm được sự đồng cảm từ đồng loại, họ tìm đế thiên nhiên như một cách để tạm quên đi thực tại, những bất trắc trong cuộc đời cũng như để vơi bớt nỗi cô đơn trong lòng Từ đó, nữ giới thiết lập mối quan hệ mật thiết với tự nhiên, mối liên hệ đặc biệt mà chỉ với thiên tính và bản năng của riêng người phụ nữ mới có được

Sự kết nối giao hòa của của hai thực thể trước hết chính là mối tương giao như những người tri kỉ Thiên nhiên như người chứng kiến biết bao thăng trầm bể dâu

trong cuộc đời Ở khu vườn của gia đình cụ Đồ Tiết “có dáng dấp một khu rừng” với

sự pha tạp của rất nhiều loại cây cỏ khác nhau nhưng vô cùng duyên dáng, khu vườn gắn liền với những kỉ niệm từ cây mít xù xì đầu nhà, những vạt tre bương tới cái ao nhỏ thả bè rau muống Và dường như, khu vườn là bậc tiền bối chứng kiến sự trưởng

thành của cô Nhụ “Bây giờ khu vườn đã hồi sinh hoàn toàn Nó lại càng thêm sức

sống khi hai bố con Huyền và Nhụ trở về”[23, tr.44] Thiên nhiên ấy là nơi gắn bó

máu thịt với cuộc sống đời thường và tâm tư tình cảm của con người Nhiều trường đoạn miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm là cả một thế giới tràn ngập sắc màu Thiên nhiên không phải là phông nền cho con người mà nó cũng là một thực thể có hồn, có sinh mệnh Có hồn do được lắng nghe và thấu hiểu bới trái tim đa cảm của nữ giới Lựa chọn khoảng thời gian cuối xuân đầu hạ, Nhụ đã vẽ lên trước mắt người đọc một nhân vật sống động với đầy đủ sắc màu với bạt ngàn các loại hoa thơm, quả mọng

“hoa núi ê hề, trong rừng có hàng trăm thứ hoa đua nở Những cây nhãn rừng, rồi dâu da rừng đơm hoa trắng xóa Những cây mai vàng khắp tán lá trổ hoa vàng ối làm sang cả một góc rừng những bông hoa loa kèn trắng nõn nà…Thiên đường hoa!”[23,

tr.48] Thiên nhiên trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn vô cùng biểu cảm và giàu sức

sống Tất cả đã nói lên phần nào vẻ đẹp cũng như bản sắc riêng của làng quê, đất nước Việt Nam

Thiên nhiên là một thực thể có sinh mệnh, có hồn, có đời sống riêng, chúng giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ riêng của chúng Mỗi sinh vật đều là một chủ thể của tự nhiên, là một sinh vật bình đẳng trong mối quan hệ với những sinh vật

khác“Muôn vàn con sâu bọ, có thứ cánh cứng cánh mềm; muôn vàn con ếch nhái: ếch

ộp, ễnh ương, chẫu chuộc, nhái xanh…thậm chí cả muôn vàn con giun đất, loài giun cũng có các cách phát ra tiếng nói riêng: chúng đào bới cựa quậy, xáo trộn, tạo ra những tiếng xào xạc lá cỏ”[23, tr.180] Chúng cũng sinh sôi nảy nở “hương đất,

Trang 39

hương cỏ, hương hoa ở đây đều kích thích sự giao phối và sinh nở Chả thế mà nơi đây mọi vật đều sinh sôi tràn lan, ê hề”[23, tr 328] Thế giới phi nhân (non-human

world) không phải là hoàn toàn câm lặng khi trăng sao vẫn thức, dòng sông vẫn chảy, gió vẫn thổi, mây vẫn bay, hàng vạn mầm chồi đang cựa mình chào đời, tiếng lá xào

xạc, tiếng hoa cười, mùi hương lan tỏa… “Đêm hiền dịu cho phép muôn loài được lên

tiếng, cho phép mọi sinh linh được bình đẳng cất lên tiếng nói của mình, để cuối cùng tạo nên bản đại hợp xướng phồn thực, âm thầm” [23, tr.181] Chúng ta vẫn nghĩ chỉ

con người mới có ngôn ngữ, phủ nhận tiếng nói của tự nhiên, nhưng thực chất, thiên nhiên cũng có cuộc sống và ngôn ngữ riêng của nó Chú chim cu cườm tưởng như vô tri kia nó cũng có suy nghĩ, có gia đình, có niềm kiêu hãnh riêng Khi nghe tiếng chim

mồi “thoáng nghe tiếng chim lạ ở lãnh thổ riêng của nó, nó lập tức cất tiếng đáp trả

lời…nơi nó chiếm cứ…là lãnh địa riêng của vợ chồng nó Con mái sẽ làm tổ, đẻ con tại đấy Nơi ấy là vùng cấm Cấm tiệt các con cu khác lảng vảng tới Nếu kẻ nào xâm phạm, con cu đực sẽ quyết một mất một còn”[23, tr.374] Tiếng gáy của nó thật hiên

ngang, bay khắp làng như một lời thách thức Con chó vàng trong chùa Sọ cũng có tình cảm với như con người, nó biết ngóng trông, biết mang ơn và chờ đợi sư cụ Vô

Úy trong lần bị bắt giam tra khảo “Từ lúc thầy tôi bị bắt nó cứ ra nằm ở tam quan để

ngóng Nó chờ thầy tôi”[24, tr.203] Chú hổ Côi - đại sư huynh Khoan Hòa của chú

tiểu An cũng có tính cách và số phận riêng của nó Mẹ nó bị những người thợ săn giết,

nó thành chú hổ mồ côi, được sư cụ Vô Úy nuôi nấng, được cảm hóa bởi ánh sáng của

Phật pháp “thầy tôi đọc kinh nó cũng biết nghe kinh Thầy tôi ngồi thiền nó cũng ra hè

lim dim đôi mắt…”, nó có tính nết “đúng như cái tên Khoan Hòa…Hiền hòa lắm…cứ

ít hôm sư huynh lại bỏ đi ít hôm nó có tài đoán ra tâm tính của con người”[24,

tr.377-378] Là động vật, nhưng dường như con hổ còn có tình, có nghĩa hơn cả những

kẻ dã tâm bạc ác Đám thợ săn thề thốt không bao giờ đụng chạm đến con hùm mồ côi, nhưng ác nghiệt thay, chúng không giết ở gần thì lại bày mưu hãm hại con hổ đáng thương trong rừng già Cạm bẫy giăng mắc mọi nơi, chú hổ bị mắc bẫy, thật xót

xa“con vật mắc bẫy đã cắn đứt chiếc chân rồi tập tễnh lủi vào rừng…chui vào hang,

quyết không chịu chết trong tay phường săn”[24, tr.383] Suy cho cùng, câu chuyện

đặt cho chúng ta một câu hỏi lớn, liệu con người có còn là con người, có hơn loài vật nếu mất đi hai chữ từ bi?

Từ tâm thức “nhân loại trung tâm luận”, nam giới luôn có tư tưởng chinh phục

và thống trị tự nhiên Cảm giác chinh phục và sở hữu đó đem lại cho họ niềm hân

Trang 40

hoan, hạnh phúc Chẳng thế mà từ xưa tới nay, nhân loại luôn tôn vinh, ca ngợi những chiến công của các anh hùng trong cuộc đối đầu với tự nhiên Con người, đặc biệt là ở người đàn ông, họ có thể bất chấp mọi hậu quả để chinh phục được tự nhiên là bởi họ tìm thấy trong đó một niềm khoái cảm của kẻ chiến thắng, một cảm giác tự tin khi được làm trung tâm, bá chủ… Những hoạt động câu cá, săn thú, bắt chim đã có từ ngàn xưa, khởi thủy nó chỉ mang ý nghĩa sinh tồn, con người chối từ xem tự nhiên là bạn, là cội nguồn sinh dưỡng, vì thế những người đàn ông coi sinh vật trong rừng chỉ

đơn thuần là nguồn thức ăn: họ săn chim “đánh chim ngói, có bận vớ được mẻ lưới

gần trăm con Nếu để nguyên, bầy chim đông quá có thể phá lưới bay đi…phải lăn mình hoặc để cho chim hoặc chết, hoặc yếu đi rồi bắt”[23, tr.373]; đào măng“đến mùa măng, nhà nào cũng tranh thủ vào rừng…được ít thì để ăn Được nhiều để đem bán, hoặc xắt mỏng phơi khô dành kiếm món tiền tiêu”[23, tr.381]; đánh cá “người dân cầm xiên đâm cá Những con cá bị mắc xiên giãy đành đạch”[23, tr.262]…nhưng

khi đời sống nâng cao, nhân loại xem việc thống trị tự nhiên từ cỏ cây đến các động vật như một trò tiêu khiển hơn là để phục vụ cuộc sống Tư tưởng nhân loại trung tâm luận luôn lôi cuốn con người vào các trò chơi chinh phục tự nhiên, bắt thiên nhiên phải phục tùng mình Trong thế tương quan này, thái độ của con người đối với tự nhiên là thái độ của chủ thể với khách thể, của kẻ thống trị với kẻ bị trị Cụ đồ Tiết thích nghe tiếng hót của những chú chim bị nhốt trong chiếc lồng hẹp, nó trở thú vui tiêu khiển

của cụ đồ “khi sớm dậy, cụ thường ngồi uống trà ở thềm nhà, ngây người hàng giờ

nghe nó hót”[23, tr.369] Để có được loài chim yêu thích, cụ đồ dặn Trịnh Huyền

“Phải đặt lưới ở chỗ tốt Phải bắt bằng được con chim gáy này…con chim này gáy hay vừa hay gáy”[23, tr.372] để làm vật phẩm vào ngày Hội

Sinh mạng của những con vật nhỏ bé chưa bao giờ được người đàn ông để ý

đến, những chú chim bị bắt “thông thường nuôi một tuần là chết”[23, tr.369] Hay hai nhát chém chí mạng của toán cướp cướp đi sinh mệnh của con chó “con becgie cao to

như con bê…rú lên rồi nằm sóng soài”[24, tr.312] được vung ra lạnh lùng, không chút

e dè Động thái này thể hiện một sự vô cảm của người đàn ông trước cái chết một loài vật Với họ, hiển nhiên chỉ là một con vật mất đi thì sẽ còn nhiều con khác thay thế Tàn sát tự nhiên trong niềm khoái cảm, dĩ nhiên, con người sẽ không nhận thức được nỗi đau, cái chết của sinh loài và con người cũng không lường trước những hậu họa

mà nó mang lại Ông thầy Tàu hứa trả cho Độ đôi khuyên tai vàng, thay vào đó anh phải mang đến cho ông ta con rắn hổ chúa để chế thuốc cường dương Anh Độ ngày

Ngày đăng: 24/12/2020, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w