1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ bảy âm tiết trong thơ mới (1932 1945) từ góc nhìn thi luật

616 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 616
Dung lượng 7,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, với mục đích l àm nổi bật vai trò, chức năng, đặc trưng ngữ âm âm tiết, thanh điệu, trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu,… của thơ trong việc tạo dựng nên cấu trúc, tổ chức âm tha

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TSKH Lý Toàn Thắng PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1 PGS TS Hoàng Quốc

2 TS Trần Thanh Nguyện PHẢN BIỆN :

1 PGS TS Hoàng Quốc

2 TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh

3 TS Trần Hoàng

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cán bộ hướng dẫn Ngoại trừ những đoạn tham khảo, trích dẫn đã được nêu rõ trong luận án, chúng tôi không sao chép nội dung từ những ấn phẩm khác Các ngữ liệu, số liệu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào ngoài các bài báo được đăng tải trên các tạp

chí chuyên ngành và kỉ yếu hội thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình từ thầy cô, cán bộ nhà trường, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Bộ môn Ngôn ngữ, cán bộ nhà trường, Phòng Sau đại học và Phòng Quản lí khoa học của Trường Đại học KHXH&NV đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Trường Đại học Quảng Nam và Lãnh đạo Khoa Ngữ văn & Công tác xã hội đã tạo điều kiện về thời gian để tôi nghiên cứu đề tài Cảm ơn anh chị em đồng nghiệp, đặc biệt chị Thanh Thảo, chị Phương Trâm, anh Tấn Phước, em Kim Thoa và em Anh Thư đã khuyến khích, động viên, hỗ trợ tôi trong công việc để tôi tập trung hoàn thành luận án

T ôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến GS TSKH Lý Toàn Thắng, người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận án Tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã động viên, giúp đỡ tôi để tôi tự tin thực hiện đề tài Tôi xin cảm ơn

TS Trần Hoàng đã chia sẻ cho tôi những tài liệu quý giá liên quan đến luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến anh Trần Anh Tuấn, em Ung Thị Hoàng Hiếu và em Trịnh Phú Thiện đã giúp chúng tôi thu thập và xử lí dữ liệu liên quan đến luận án Cảm ơn những người bạn thân thương, đặc biệt là bạn Phan Thanh Bảo Trân và chị Nguyễn Thị Tịnh luôn luôn bên cạnh tôi mỗi khi tôi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện luận án

Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, cảm ơn chồng tôi, ba

mẹ hai bên, anh chị em và con trai đã luôn bên cạnh tôi, tạo động lực to lớn để tôi theo đuổi công việc học tập và thực hiện thành công luận án

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN ii

M ỤC LỤC iii

DANH M ỤC VIẾT TẮT iv

DẪN NHẬP 1

1 Lí do ch ọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

4 Mục đích nghiên cứu 18

5 Đóng góp của luận án 20

6 Phương pháp nghiên cứu 19

7 B ố cục của luận án 20

Chương 1 23

GI ỚI THUYẾT VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 23

1.1 Thi h ọc, thi luật học 23

1.1.1 Thi h ọc 23

1.1.2 Thi lu ật học 24

1.2 Thi điệu, thi tiết, thi đoạn 26

1.2.1 Thi điệu 27

1.2.2 Thi ti ết 36

1.2.3 Thi đoạn 51

1.3 Thơ truyền thống và Thơ Mới 1932 - 1945 68

1.3.1 Thơ truyền thống 68

1.3.2 Thơ Mới 1932 -1945 72

Chương 2 76

THI ĐIỆU THƠ 7 ÂM TIẾT TRONG THƠ MỚI (1932 - 1945) 76

2.1 Cấu trúc nhịp điệu của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 76

2.1.1 Các lo ại nhịp có 2 nhịp/dòng thơ 80

2.1.2 Các loại nhịp có 3 nhịp/dòng thơ 81

2.1.3 Các loại nhịp có 4 nhịp/dòng 82

2.1.4 Các loại nhịp có 5 nhịp/dòng 83

Trang 6

2.1.5 Các lo ại nhịp có 6 nhịp/dòng 83

2.1.6 Các loại nhịp có 7 nhịp/dòng 83

2.2 Đặc điểm nhịp điệu của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 84

2.2.1 Nh ịp điệu truyền thống chiếm số lượng lớn (nhịp 4/3 và nhịp 3/4) 84

2.2.2 Có s ự phong phú, đa dạng và sáng tạo trong nhịp điệu dòng thơ 86

2.2.3 Nh ịp điệu được kết hợp nhuần nhuyễn trong dòng thơ, đoạn thơ 88

2.2.4 Nh ịp điệu là một yếu tố mang tính biểu trưng ngữ nghĩa 93

2.2.5 Nh ịp điệu có quan hệ mật thiết với số dòng trong đoạn thơ và bài thơ 98

2.2.6 Nh ịp điệu thường được đánh dấu bằng dấu câu 99

Chương 3 105

THI TI ẾT THƠ 7 ÂM TIẾT TRONG THƠ MỚI (1932 - 1945) 106

3.1 C ấu trúc tiết điệu, chân thơ và bước thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 106

3.1.1 C ấu trúc tiết điệu của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 106

3.1.2 C ấu trúc chân thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 115

3.1.3 Cấu trúc bước thơ của dòng thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 124

3.2 Đặc điểm cấu trúc tiết điệu, chân thơ và bước thơ của dòng thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 127

3.2.1 Đặc điểm cấu trúc tiết điệu dòng thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 127

3.2.2 Đặc điểm cấu trúc chân thơ của dòng thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 144

3.2.3 Đặc điểm cấu trúc bước thơ dòng thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 151

Chương 4 154

THI ĐOẠN THƠ 7 ÂM TIẾT TRONG THƠ MỚI (1932 - 1945) 155

4.1 C ấu trúc bài thơ, đoạn thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 155

4.1.1 C ấu trúc bài thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 156

4.1.2 C ấu trúc đoạn thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 161

4.2 Đặc điểm bài thơ, đoạn thơ của thơ 7 âm tiết trong Thơ Mới 169

4.2.1 Đa dạng, sáng tạo về số kiểu cấu trúc đoạn thơ, bài thơ 169

4.2.2 Dung lượng đoạn thơ, bài thơ được mở rộng 172

4.2.3 Đoạn thơ có 4 dòng và 8 dòng và bài thơ có số đoạn thơ có 4 dòng và 8 dòng chiếm s ố lượng lớn 173

4.2.4 S ố dòng trên đoạn thơ, số đoạn thơ trên bài thơ thường là số chẵn 174

4.2.5 K ết cấu đoạn thơ, bài thơ được xây dựng một cách có chủ ý 176

Trang 7

K ẾT LUẬN 180 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 187

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TÊN TÁC GIẢ

3 VHC : Vũ Hoàng Chương 17 H.MT: H Minh Tuyền

10 NNP : Nguyễn Nhược Pháp 24 NG: Nguyễn Giang

11 THT : Trần Huyền Trân 25 NXS: Nguyễn Xuân Sanh

14 TT: Thâm Tâm

* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TÊN TÁC PHẨM

1 BHPN: Bài hành phương Nam 23 LTM: Lời tuyệt mệnh

2 BSĐK: Bên sông đưa khách 24 MCT: Một chút tình

3 CNBT: Có những bài thơ 25 MNT: Một nửa trăng

4 CMCĐH: Cùng một cô đào hát 26 MH : Mơ hoa

5 DCTĐ: Dấu chân trên đường 27 MM: Muộn màng

7 HSHTG: Hai sắc hoa tigôn 29 ON: Oan nghiệt

8 HGTL: Hát giang trường lệ 30 STTT: Sơn Tinh Thuỷ Tinh

10 HNHT: Hết ngày hết tháng 32 TĐ: Tình điên

12 HVR: Hoa với rượu 34 VHTN: Viếng hồn trinh nữ

13 KHBS: Khúc hát bên sông 35 VB: Vô biên

Trang 9

14 KTRL: Khi thu rụng lá 36 XR: Xuân rụng

15 GPCL: G iây phút chạnh lòng 37 VTTC: Viết tên trên cát

16 GBTG: Ghé bến trần gian 38 VHTN: Viếng hồn trinh nữ

17 GATHT: Gửi anh Trần Huyền Trân 39 TCVTT: Trò chuyện với Thơ Thơ

19 LTTCNMT: Lời than thở của nàng Mỹ thuật

20 LTVTGH: Lời thơ vào tập gửi hương

21 BNĐKCTGTĐDRĐTN: Bao nhiêu đau khổ của trần gian tôi để dành riêng để tặng nàng 22: NBNTSG: Những bóng người trên sân ga

* QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TRONG BẢNG BIỂU

* CHÚ THÍCH TRONG CÁCH VIẾT TẮT NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG

1 Chú thích chương 3: Mô hình điển thể - ĐT (tiết điệu đúng theo luật thơ); Mô hình biến thể - BT (tiết điệu không theo luật thơ ở vị trí 1, 3, 5); Mô hình phá thể - PT (tiết điệu không theo luật thơ ở vị trí 2, 4, 6, 7)

2 Chú thích chương 4: Viết tắt Đ (đoạn thơ) và D (dòng thơ) Cách đọc mô hình bài thơ không chia khổ (ví dụ: đọc 4D là bài thơ có 4 dòng thơ) Cách đọc mô hình bài thơ chia khổ (ví dụ: 2Đ(4D) là bài thơ có 2 đoạn thơ, mỗi đoạn 4 dòng hoặc 2Đ(4D) + 1Đ(3D) là bài thơ có 3 đoạn thơ, trong đó 2 đoạn đầu có 4 dòng và 1 đoạn thơ cuối có 1 dòng thơ) Trình tự sắp xếp các mô hình là số đoạn thơ tăng dần và số dòng thơ tăng dần

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

B ảng 1.1: Khuôn tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 45

B ảng 2.1: Số lượng nhà thơ, bài thơ, đoạn thơ của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 76

B ảng 2.2: Bảng thống kê nhịp điệu dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 77

B ảng 2.3: Đoạn thơ có nhịp 4/3 và dòng thơ có nhịp 4/3 của thơ bảy âm tiết trong Thơ M ới 84

B ảng 2.4: Số lượng khuôn nhịp của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 88

B ảng 3.1: Khuôn tiết điệu của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 106

B ảng 3.2: Khuôn A của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 107

B ảng 3.3: Khuôn B của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 109

B ảng 3.4: Khuôn C của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 112

B ảng 3.5: Khuôn D của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 113

B ảng 3.6: Chân thơ đơn tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 114

B ảng 3.7: Chân thơ song tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 115

B ảng 3.8: Chân thơ tam tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 115

B ảng 3.9: Chân thơ tứ tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 117

B ảng 3.10: Chân thơ ngũ tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 118

B ảng 3.11: Chân thơ lục tiết của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 119

B ảng 3.12: Mô hình chân thơ của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 120

B ảng 3.13: Kiểu loại bước thơ của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 123

B ảng 3.14: Khuôn tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới và Thơ Đường127 B ảng 3.15: Số lượng điển thể, biến thể, phá thể của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ M ới và Thơ Đường 127

B ảng 3.16: Cấu trúc, số lượng vị trí và mô hình điển thể, biến thể, phá thể của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới và Thơ Đường 128

B ảng 3.17: Số lượng đoạn thơ điển thể, biến thể và phá thể của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới và Thơ Đường 129

B ảng 3.18: Số lượng vị trí điển thể, biến thể, phá thể của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 130

B ảng 3.19: Vị trí biến thể, phá thể ở khuôn A, B, C, D của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 131

B ảng 3.20: Một số mô hình chiếm số lượng cao trong khuôn tiết điệu A của dòng thơ b ảy âm tiết trong Thơ Mới 131

Trang 11

B ảng 3.21: Một số mô hình chiếm số lượng cao trong khuôn tiết điệu B của dòng thơ

b ảy âm tiết trong Thơ Mới 132

B ảng 3.22: Một số mô hình chiếm số lượng cao trong khuôn tiết điệu C của dòng thơ b ảy âm tiết trong Thơ Mới 133

B ảng 3.23: Một số mô hình chiếm số lượng cao trong khuôn tiết điệu D của dòng thơ b ảy âm tiết trong Thơ Mới 133

B ảng 3.24: Khuôn tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 134

B ảng 3.25 Một số mô hình tiết điệu tiêu biểu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới theo tác gi ả 137

B ảng 3.26: Một số mô hình tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 138

B ảng 3.27 Chân thơ của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Đường 143

B ảng 3.28: Kiểu loại chân thơ của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 145

B ảng 3.29: Một số chân thơ tiêu biểu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 145

B ảng 3.30: Mô hình bước thơ của nhịp 4/3 của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 148

B ảng 3.31: Mô hình bước thơ tiêu biểu của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 150

B ảng 3.32: Bước thơ của dòng thơ bảy âm tiết trong Thơ Đường 151

B ảng 4.1: Cấu trúc bài thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 154

B ảng 4.2: Cấu trúc bài thơ tiêu biểu của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 155

B ảng 4.3: Phân loại bài thơ điển thể, biến thể, phá thể của thơ bảy âm tiết trong Thơ M ới 156

B ảng 4.4: Mô hình bài thơ bảy âm tiết có chia đoạn và số dòng trên đoạn là 4 hoặc 8 trong Thơ Mới 157

B ảng 4.5: Tần số xuất hiện của đoạn 4 dòng/bài trong thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 159

B ảng 4.6: Số dòng thơ/đoạn thơ của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 160

B ảng 4.7: Bài thơ có chứa đoạn thơ 2 dòng/đoạn của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 163

B ảng 4.8: Số dòng chẵn – lẻ/đoạn thơ của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 174

Trang 12

D ẪN NHẬP

1 Lí do ch ọn đề tài

Văn chương nói chung và thi ca nói riêng, cũng như một số đối tượng và vấn đề khác của văn học, cần phải được nghiên cứu liên ngành; ít nhất cũng là được soi chiếu dưới hai góc độ – văn học (lí luận và phê bình văn học) và ngôn ngữ học Việc phân tích thơ ca dưới lí thuyết lí luận phê bình và ngôn ngữ giúp bổ sung cho nhau và đã đạt được những thành tựu nhất định Thế nhưng trước những năm 60 của thế kỉ XX, không chỉ trong giới học thuật ở Việt Nam mà cả trên thế giới, đa phần nhìn nhận, nghiên cứu thơ ca từ cái nhìn một phía của văn học: nghĩa là vẫn tồn tại quan niệm thơ

ca trước hết là đối tượng nghiên cứu của thi pháp - một phân môn của lí luận văn học

Đến khi tác phẩm Ngữ học và Thi học của Roman Jakobson xuất hiện, thi pháp

mới được xác định có mối liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ học Roman Jakobson đã phác hoạ mối quan hệ giữa lí luận thi ca và ngôn ngữ học khi xác định thi học như một

bộ phận của ngữ học chuyên xử lí chức năng thơ trong quan hệ khác với các chức năng của ngôn ngữ Ông nghiên cứu sâu các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống Những luận điểm của Roman Jakobson gợi mở đường hướng cho các nhà nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lí thuyết về chức năng ngôn ngữ thơ Bài viết của Roman Jakobson tuy chưa phân tích những dữ liệu cụ thể nhưng lại có sức thuyết phục bởi tư tưởng khái quát mang tính định hướng nghiên cứu cho những người muốn đào sâu khai thác vào địa hạt của văn học, thơ ca từ góc độ ngôn ngữ - một góc độ dù đã được giới nghiên cứu nhắc đến, vận dụng và phân tích song vẫn chưa thực sự có nhiều thành tựu

Tuy nhiên dù đã chú ý về ngôn từ của tác phẩm văn chương, giới nghiên cứu đa phần chỉ quan tâm đến cách dùng từ ngữ, cách thiết lập câu và cách sử dụng các biện pháp tu từ, phương tiện tu từ trong tác phẩm… mà ít đề cập đến cơ cấu tổ chức ngữ âm

c ủa thơ – một đặc trưng cơ bản làm nên sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ ca Kết quả là xuất hiện không ít những nhận định chung về thi pháp cho cả

t hơ và cho cả văn xuôi Trước tình hình đó, giới học thuật cho rằng cần phải có một ngành

Trang 13

học để bàn riêng, bàn sâu chỉ về những gì đặc trưng cho ngôn ngữ của thơ (Poetry), chứ không bàn chung những chuyện này với cả bên văn (Prose) (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.17)

Đó là lí do thi học – một phân môn mới thuộc thi pháp nhưng vẫn nằm trong lãnh địa ngôn ngữ học – chuyên sâu vào mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ ra đời và tập trung vào những đặc trưng của ngôn ngữ thơ Nghĩa là phạm vi nghiên cứu nghệ thuật thơ ca được khuôn hẹp lại và màu sắc ngôn ngữ thơ được tô đậm – nhưng không phải ở mọi phương diện mà chỉ giới hạn cụ thể ở mặt tổ chức âm thanh (phương diện ngữ âm như vần điệu, nhịp điệu, tiết điệu (phối thanh bằng trắc), các kiểu loại âm tiết, dung lượng câu thơ, đoạn thơ, bài thơ của ngôn ngữ thơ Bên cạnh đó, với mục đích

l àm nổi bật vai trò, chức năng, đặc trưng ngữ âm (âm tiết, thanh điệu, trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu,…) của thơ trong việc tạo dựng nên cấu trúc, tổ chức âm thanh của một văn bản thơ, thi luật - một khái niệm liên quan mật thiết với thi học, luôn chú ý “khảo sát những kĩ thuật liên quan đến câu thơ, đến sự họp nhóm câu thơ thành đoạn thơ, đến nhịp điệu,…” - ra đời để tìm ra “các quy tắc, các kỹ thuật – hay nói chung là các luật lệ ngữ âm - mà nhà thơ phải tuân theo khi sáng tác ra đứa con ngôn từ nghệ thuật của mình.” (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.17) Như vậy, có thể thấy, thi học và thi luật có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời Cho nên, nghiên cứu thi học của một nền thi ca thực chất là đi tìm các nguyên lí, các yếu tố và quan hệ cấu thành hệ thống thi luật của nền thi ca đó

Thơ Mới là một bước ngoặt trong lịch sử thi ca dân tộc, là một dấu son rực rỡ trên thi đàn, là niềm tự hào của thơ ca Việt Nam Thơ Mới là một thành tựu của thơ ca Việt Nam với những cách tân mạnh mẽ, thoát khỏi thi luật Đường thi và là điểm khởi đầu của quá trình hiện đại hoá thi ca dân tộc Không chỉ về hình tượng thơ mà cả nhịp điệu, cách gieo vần, bố trí thanh điệu… của Thơ Mới đều chuyển biến theo khuynh hướng tự do hoá, hiện đại hoá Thơ Mới có nhiều thể loại thơ trong đó thơ bảy âm tiết là một thể thơ

tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới Theo số lượng thống kê trong Tuyển tập Thơ Mới

1932 – 1945, tác giả và tác phẩm thì thơ bảy âm tiết chiếm số lượng rất lớn gồm 456

bài / 1017 bài, chiếm 44%, cụ thể: thơ bảy âm tiết có 456 bài, thơ tám âm tiết có 259 bài, thơ lục bát có 136 bài, thơ tự do có 85 bài, thơ năm âm tiết có 67 bài, thơ song thất lục bát có 7 bài, thơ bốn âm tiết có 4 bài và thơ hai âm tiết có 3 bài Đối với Thơ Mới

bảy âm tiết, Hoài Thanh (2015) có một nhận xét xác đáng: “Thất ngôn và ngũ ngôn rất

Trang 14

thịnh ( ) thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do Đường luật giãn và nới ra, cho nên êm tai hơn.” (tr,49) Ý kiến của Hoài Thanh là một gợi ý cho những tìm kiếm về luật Thơ

Mới bảy âm tiết, khảo sát những sự kế thừa và cách tân của các nhà Thơ Mới ở mặt hình

thức biểu hiện của thơ, về ngôn ngữ thơ Xét về luật thơ, Thơ Mới bảy âm tiết đã thoát

khỏi thi luật Thơ Đường, tiếp thu thơ tự do của phương Tây và định hình cho mình một phong cách riêng cả về tư tưởng lẫn thể loại Thơ Mới bảy âm tiết là cái riêng của các nhà thơ Việt Nam trên nền tảng cái truyền thống Thơ Mới bảy âm tiết cũng chưa hẳn đã phá vỡ hoàn toàn thi luật và không phóng khoáng, tự do như thơ đương đại cho nên có thể tìm cái đặc trưng, điển dạng

Mặc dù Thơ Mới 1932 - 1945, tiêu biểu thơ bảy âm tiết là một tiếng vang trong mạch thơ ca Việt Nam với những sự mới lạ trên nhiều phương diện, đặc biệt là sự cách tân mạnh mẽ về hình thức, và sự đột phá đó thể hiện rõ ở các cấp độ bài thơ, đoạn thơ

và câu thơ, nhịp điệu nhưng không có nhiều công trình nghiên cứu một cách toàn diện về Thơ Mới, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ Chọn Thơ Mới bảy âm tiết làm đối tượng nghiên cứu, luận án hi vọng mang lại phát hiện mới về đặc điểm và giá trị của thơ bảy âm tiết giai đoạn Thơ Mới 1932 - 1945 trong chiều dài lịch sử thi ca

Từ những luận điểm trên, chúng tôi cho rằng, vấn đề tìm hiểu những đặc trưng ngữ âm của Thơ Mới dưới điểm nhìn của thi học, cụ thể là lí thuyết thi luật, là cần

thiết Đó cũng chính là lí do luận án nghiên cứu đề tài “Thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới (1930 – 1945) từ góc nhìn thi luật”

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam, nghiên cứu văn chương, cụ thể là thơ ca không còn là vấn đề mới

mẻ Có thể điểm qua các hướng nghiên cứu sau đây:

2.1 Một số khuynh hướng nghiên cứu thơ ca

2.1.1 Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca từ góc độ thi pháp trong mối liên quan đến ngôn ngữ

T ừ những năm 80, xuất hiện cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học: văn học được nhìn nhận từ góc độ thi pháp trong mối liên quan đến ngôn ngữ Đã có nhiều

công trình giá trị nghiên cứu về thơ như: Thơ và thẩm bình thơ của Nguyễn Nguyên Trứ (1991), Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính (1992), Ngôn ngữ với sáng tạo

và tiếp cận văn học của Nguyễn Lai (1996), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức (1997), Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán

Trang 15

(2012) Các công trình trên có chú ý đến ngôn ngữ khi nghiên cứu tác phẩm văn chương Tuy nhiên trong các công trình này, các tác giả không bàn nhiều về những đặc trưng làm nên “sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn mà chỉ tập trung phân tích về từ ngữ, ngữ pháp và các biện pháp tu từ, phương tiện tu từ… - những yếu tố cũng xuất hiện với mật độ và giá trị tương đương trong ngôn ngữ văn Như vậy, những

sự nghiên cứu đó vẫn chưa thật sự bàn sâu về phương diện hình thức, về các đặc điểm

ngữ âm của ngôn ngữ thơ, vẫn là cách nhìn có phần chung chung và chưa làm rõ được

ranh giới, sự khác biệt giữa ngôn ngữ của thơ và ngôn ngữ của văn.” (Lý Toàn Thắng,

2015, tr.55)

2.1 2 Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca trong mối liên quan chặt chẽ đến ngôn ngữ

Trong khuynh hướng này, nghiên cứu thơ ca đã được chú ý nhiều đến mặt ngôn

ngữ Đầu tiên là Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên & Hà

Minh Đức (1997)… Các tác giả đã bước đầu quan tâm đến đặc trưng và cấu trúc của các hình thức thơ ca trong từng thể loại cũng như quy luật phát triển về hình thức thơ

ca Những kết cấu của thơ mới như thanh điệu, nhịp điệu, vần thơ, thể thơ, trong đó sự cách tân về thể thơ của thơ mới so với thể thơ truyền thống được nhấn mạnh Công trình đề cập đến “thể bốn từ”, “thể năm từ”, “thể bảy từ”, “thể tám từ”, “thể lục bát”

của thơ mới Tiếp theo, trong bài viết Thử bàn thêm về thể thơ lục bát của tác giả

Nguyễn Tài Cẩn – Võ Bình (1996), những vấn đề liên quan đến thể thơ lục bát được phân tích cặn kẽ dưới góc độ ngôn ngữ Thông qua quá trình thống kê và phân tích ngữ liệu một cách tỉ mỉ, các tác giả đưa ra những nhận định có giá trị và gợi mở một hướng nghiên cứu thú vị

Các công trình Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt (2000), Phong cách học tiếng Việt hiện đại (2001), Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học (2002) của Hữu Đạt cũng là những nghiên cứu có giá trị tạo nền tảng

cho việc nghiên cứu về văn học nói chung, thơ ca nói riêng từ phương diện phong cách học, nghĩa là nghiên cứu các biện pháp tu từ, phương tiện tu từ, phong cách ngôn

ngữ trong sự biểu đạt nội dung tác phẩm

Cùng hướng nghiên cứu trên, Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh (1987) đã

dùng thao tác, nguyên lí c ủa ngôn ngữ học để tìm hiểu thơ Tác giả ứng dụng lí thuyết

về ngữ học hiện đại để phân tích hình thức và nội dung của thơ ca Có thể nói đây là

Trang 16

một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn ngữ (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi) Ngoài ra, công trình Cấu trúc thơ của Thuỵ Khuê (1997) cũng cung cấp cái nhìn nhất định về

cấu trúc hình thức thơ ca Ngoài ra, Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt (1998) đã có

những nghiên cứu về đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt trên cơ sở vận dụng khá nhuần nhuyễn các lí thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn… Mai Ngọc Chừ (2005), trong Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học đặc biệt chú ý đến hình

thức thể hiện của thơ ca (cụ thể là vấn đề vần) Tác giả đã công phu, tỉ mỉ khai thác triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: khái niệm vần, chức năng của vần, mối quan hệ giữa vần với các yếu tố khác cũng như nghiên cứu đơn vị hiệp vần, vai trò và quy luật phân

bố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần thơ, vấn đề phân loại vần, vị trí và

sự hoạt động của các loại vần trong các thể thơ, đoạn thơ, vần xét về mặt hòa âm Đây

là một trong những công trình khẳng định được vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt, dù mới chỉ đi sâu vào cấp độ vần thơ (có đặt vần thơ trong mối liên hệ với các hiện tượng khác như nhịp điệu, ngữ điệu…, trong mối liên hệ với các câu thơ, đoạn thơ, thậm chí bài thơ)

2.1.3 Khuynh hướng nghiên cứu thơ ca dưới góc nhìn của lí thuyết thi học

N ghiên cứu thơ chuyển mình sang một hướng mới khi được soi chiếu dưới góc nhìn của lí thuyết thi học Đầu thế kỉ XXI, lí thuyết thi học mới được các nhà Việt thi học đưa vào phân tích thơ ca tiếng Việt Theo khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu bàn sâu vào vấn đề thi học, xem thi học là một ngành khoa học với chức năng tiếp cận, phân tích thơ ca từ góc độ ngôn ngữ học Một số tác giả còn tìm hiểu lí thuyết thi luật,

về câu thơ, đoạn thơ, dòng thơ, tiết điệu Lý Toàn Thắng có nhiều bài nghiên cứu thơ

ca trên cơ sở lí thuyết thi học Quan điểm “nhìn” thơ, “nghe” thơ bằng hai con mắt, hai

lỗ tai - một của văn học và một của ngôn ngữ học được tác giả hiện thực hóa bằng việc công bố hàng loạt công trình nghiên cứu về thanh điệu, nhịp điệu, vần điệu của thơ ca,…: “Thơ mới bảy chữ của Xuân Diệu: đoạn thơ và luật thơ” (1999), “Lục bát truyện Kiều: câu Lục và luật phối thanh” (1999), “Bằng trắc Thơ Bảy chữ Xuân Diệu” (2002), “Đọc lại Tống Biệt Hành của Thâm Tâm” (2006), “Thử đo đếm Thơ” (2006),

“ Âm điệu trong thơ Hàn Mạc Tử” (2007),… Theo tác giả, thơ ca cần được nghiên cứu chí ít là ở hai góc nhìn – của thi pháp học và của thi học Ngoài ra, Lý Toàn Thắng

Trang 17

cũng đã công bố công trình nghiên cứu về cơ sở lí thuyết thi học Thi luật lục bát

truyện Kiều (2015) Trong công trình này, lí thuyết thi luật cũng như những đặc trưng

và cách phân loại của thi luật được hệ thống hóa một cách đầy đủ Những phát hiện mới mẻ và những kết luận có giá trị từ quá trình nghiên cứu của tác giả đã chứng minh cách tiếp cận thơ ca từ góc nhìn ngôn ngữ học - cụ thể là thi học - là khả thi

Cùng khuynh hướng nghiên cứu thơ ca từ lí thuyết thi học, không thể không kể đến nhóm tác giả Nguyễn Quang Hồng & Phan Diễm Phương (2015) với công trình

Âm tiết tiếng Việt và Ngôn từ thi ca (Chuyên luận Thi học) Trong công trình này, các

tác giả đi sâu vào phân tích các thể loại thơ ca như tục ngữ, thể thơ lục bát, song thất lục bát, thơ Đường luật trong thi ca tiếng Việt, thể hát nói Đặc biệt tác giả còn bàn đến thể thơ tám tiếng Không chỉ vậy, công trình còn trình bày sâu về lí thuyết vần điệu, nhịp điệu, tiết tấu, âm điệu và mối quan hệ giữa chúng Có thể nói, đây là công trình

có giá trị về nghiên cứu thi luật thơ tiếng Việt

Cũng cần kể đến luận án “Nghiên cứu sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX (trên tư liệu tập thơ của một số tác giả)” của Nguyễn Thị Phương Thuỳ (2007) Tác giả nghiên cứu sự tự do hoá trong thơ và hiện đại hoá trong thơ ở cấp độ bài thơ, đoạn thơ và câu thơ Tác giả tiếp cận thơ từ điểm nhìn của thi học thông qua quá trình nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) thuộc các thể loại khác nhau như thơ 5 chữ, 6 chữ, bảy âm tiết, 8 chữ, lục bát, song thất lục bát, tự do…

Trong các tác giả trên, chúng tôi chọn quan điểm của một số tác giả như Lý Toàn Thắng, Nguyễn Quang Hồng & Phan Diễm Phương, Nguyễn Thị Phương Thuỳ làm cơ

sở lí luận cho quá trình nghiên cứu của luận án

2.2 Lịch sử nghiên cứu thi điệu, thi tiết, thi đoạn

Ngoài những công trình tiêu biểu trên, dưới đây, chúng tôi lần lượt trình bày cụ thể hơn về lịch sử nghiên cứu thi điệu, thi tiết và thi đoạn

2.2.1 V ấn đề nghiên cứu thi điệu

Xuất phát từ lí thuyết của thi học, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã có nhiều

công trình nghiên cứu có giá trị về đặc trưng ngữ âm của thơ ca, tiêu biểu như: Poetic

Rhythm: An introduction ( Đại cương về nhịp điệu thơ) (1996), The Rhythms of English Poetry ( Nhịp điệu của thơ tiếng Anh) (2003) của Derek Attridge; Meter and Meaning:

Trang 18

An introduction to Rhythm in Poetry (Tiết điệu và Ý nghĩa – đại cương về nhịp điệu trong thơ) của Thomas Carper và Derek Attridge (2015)…

Công trình Poetic Rhythm: An introduction giới thiệu về nhịp điệu (rhythm) và

tiết điệu (meter) của thơ Theo tác giả Derek Attridge (1996) “Nhịp điệu thơ” (poetic

rhythm) được xây dựng trên kiến thức (knowledge) và kinh nghiệm (experience)” và

“Nhịp điệu thơ” giúp người đọc có trải nghiệm và thích thú với nhịp điệu của nó trong tất cả các sức mạnh của mình, sự tinh tế và đa dạng, và sẽ phục vụ như là một công cụ

vô giá cho những người muốn viết hoặc thảo luận về thơ tiếng Anh ở mức độ cơ bản cũng như mức độ phức tạp.) (tr.51)

Trong Meter and Meaning : An introduction to Rhythm in Poetry, Thomas Carper

và Derek Attridge (2015) đã chỉ ra “cách để khám phá nhịp điệu của thơ tiếng Anh” và

đề nghị một phương pháp mới hoàn toàn để đọc thơ” Công trình này “giúp người đọc đánh giá cao việc sử dụng nhịp điệu trong thơ của tất cả các loại nhịp và hiểu mối quan hệ quan trọng giữa tiết điệu và ý nghĩa.” (tr.57)

Ở Việt Nam, về nhịp điệu thơ, một vài tác giả có quan tâm và đưa ra một vài nhận xét về nhịp của thơ Chẳng hạn, đề cập đến nhịp điệu Thơ Mới, tác giả Phan Cự

Đệ (1993) cho rằng: “Một trong những thành tựu khá quan trọng của “Thơ Mới” là sự vận dụng nhạc điệu để diễn tả tình cảm Nhạc điệu của “Thơ Mới” là nhạc điệu quen thuộc của dân tộc Nhưng các nhà “Thơ Mới” đã biết tiếp thu những thành tựu về nhạc điệu trong thơ Pháp và Thơ Đường.” (tr.117)

Về nghiên cứu nhịp điệu câu thơ bảy âm tiết của Thơ Mới 1932 - 1945, cần phải

kể đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Nhịp điệu câu thơ bảy âm tiết của tác giả

Nguyễn Hoài Nguyên (2007) Trong công trình này, tác giả đã khảo sát, thống kê tần

số xuất hiện của các loại nhịp trong thơ bảy âm tiết của Thơ Mới và đưa ra một vài nhận xét về các loại nhịp đó Tuy nhiên đối tượng khảo sát không nhiều và tác giả chưa đề cập đến vấn đề lí thuyết thi điệu nên công trình vẫn chưa có cái nhìn bao quát Ngoài ra, bài viết "Một số điểm sáng tạo về nhạc điệu trong Thơ Mới" của La Nguyệt Anh (2012) khai thác sâu vào những yếu tố tạo nên điểm sáng tạo trong nhạc điệu của Thơ Mới bảy âm tiết như nhịp điệu, lối hoà thanh và vần Bên cạnh đó, công trình luận văn thạc sĩ "Nhịp điệu trong Thơ Mới (khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên)" của Hồ Hạnh Ngọc (2011) cũng đã cung cấp một hệ

Trang 19

thống lí thuyết khá đầy đủ về nhịp, căn cứ phân loại nhịp Tác giả cũng đã nêu lên đặc điểm nhịp điệu trong thơ bảy âm tiết của các tác giả được khảo sát Những kết luận

có giá trị từ bài nghiên cứu chứng minh cách tiếp cận thơ ca từ góc độ ngôn ngữ có hiệu quả nhất định

Không chỉ vậy, về nhịp điệu, còn có những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như “Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu Thơ Mới bảy chữ” của Nguyễn Thị Phương Thùy (2004) Theo thống kê của tác giả Nguyễn Thị Phương Thùy thì chỉ trong thơ bảy âm tiết của Xuân Diệu đã có đến 13 cách ngắt nhịp Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu: “Nhịp điệu thơ hôm nay” của Mã Giang Lân (2007), “Đặc sắc về ngôn

ngữ và nhịp điệu trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” của Châu

Minh Hùng (2009)… Những bài nghiên cứu trên tiếp cận thi ca từ góc độ ngôn ngữ và rút ra nh ững kết luận có giá trị về mặt ngữ âm của thơ

2.2.2 Về nghiên cứu thi tiết

Thi tiết (Metrics/ Meter) là phương pháp “nghiên cứu các âm tiết (ngắn - dài, có trọng âm - không trọng âm, v.v.) và cách tổ hợp các âm tiết này (trong dòng thơ, câu

thơ, bài thơ), tức là nghiên cứu cấu trúc tiết điệu của thơ (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.13)

Đây là cách tiếp cận, phân tích và nghiên cứu thơ rất cơ bản và phổ biến ở Anh, Nga, Pháp bởi nền tảng ngôn ngữ của thi luật thơ này là ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết và

có trọng âm Do đó khi phân tích thơ, các nhà thi học rất chú trọng vào việc xem xét

sự sắp xếp, phân bố các âm tiết có mang trọng âm và không mạng trọng âm trong dòng thơ, nói cách khác là quan tâm đến cách tổ chức các chân thơ thành bước thơ Chính vì vậy việc phân tích thơ ca dựa vào chân thơ, bước thơ là việc cần thiết

Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi phân tích bài thơ, hầu như ít ai đề cập đến vấn đề đoạn

thơ (strophe forms), đặc biệt là vấn đề chân thơ (poetic foot), bước thơ (poetic feet) và

cấu trúc tiết điệu (pattern meter) Sự khác biệt về mặt loại hình dẫn đến sự tiếp cận

khác nhau trong nghiên cứu thi tiết Nếu như các nhà thi học ở các nước phương Tây có

sự phân biệt rất rõ giữa thi tiết (meter) và thi điệu (rhythm) - bởi không thể nghiên

cứu thi điệu nếu không bước vào cấu trúc tiết điệu của dòng thơ, câu thơ - có tiết điệu (meter) rồi từ đó mới có nhịp điệu (rhythm) - thì các nhà thi học ở Việt Nam hầu như chỉ quan tâ m đến thi điệu (rhythm), xem thi điệu và thi tiết là một và thậm chí không hề quan tâm đến khái niệm tiết điệu, chân thơ, bước thơ Điều này một phần là do âm tiết

Trang 20

tiếng Việt là âm tiết có thanh điệu nên người ta chỉ quan tâm đến việc đối lập về âm điệu

“bằng - trắc” hay âm vực “cao - thấp” mà chưa quan tâm đến sự đối lập của việc “có - không có” trọng âm - cái làm nên cơ sở ngữ âm cho các chân thơ

Ngôn ngữ học thế giới đã có nhiều công trình có giá trị về vấn đề thi tiết Tuy nhiên ngôn ngữ học Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến vấn đề nghiên cứu lí thuyết thi tiết

Thuật ngữ “tiết điệu” đã được nói đến từ thời Hy Lạp cổ đại trong cuốn “Nghệ thuật thơ ca” của nhà hiền triết Aristole Trên thế giới, xuất hiện rất nhiều công trình bàn về câu chuyện thi tiết, về mối quan hệ giữa nhịp điệu và tiết điệu, về các kiểu chân

t hơ, bước thơ và mối quan hệ giữa nó với các thể loại thơ cũng như của phong cách của nhà thơ

Đầu tiên là Rhythm and Meter: Phonetics and Phonology của Paul Kipasky &

Gilbert Youmans (1989) Công trình này giới thiệu chung về nhịp điệu (rhythm), tiết điệu (meter) và mối quan hệ giữa nhịp điệu và tiết điệu cũng như đưa ra sự so sánh cấu trúc nhịp điệu, tiết điệu trong âm nhạc và ngôn ngữ Các tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu các hình thức của tiết điệu dòng thơ (metrical forms), lí thuyết phân cấp của tiết điệu (Hierarchical Theory of Meter), tiết điệu của thơ Hy Lạp cổ điển (Aspects of

Classical Greek Meter) Đặc biệt, các tác giả còn phân tích kiểu chân thơ iambic và

trochic cũng như mối quan hệ giữa tiết điệu (meter) và phong cách (style) sáng tác của nhà thơ

Tiếp theo, trong Meter, Rhythm and Verse Form, Philip Hopsbaum (1996) đã

dành một chương trình bày cụ thể lí thuyết tiết điệu và nhịp điệu (meter and rhythm) Ngoài ra, các loại chân thơ tam tiết, tứ tiết cũng được phân tích cụ thể Đây là cơ sở quan trọng để luận án tiếp cận và phân tích thi ca dưới góc độ thi tiết

Cũng cần phải kể đến Meter in English: A Critical Engagement của David Baker

(1996) Trong công trình này, tác giả nghiên cứu tiết điệu, các loại chân thơ, bước thơ trong thơ tiếng Anh Theo tác giả “Âm tiết (syllabics) không phải là tiết điệu (meter) trong tiếng Anh” mà “Tiết điệu (meter) là sự cảm nhận tự nhiên, và tiết điệu trong tiếng Anh (bao gồm cả tiết điệu định lượng) là sự đo đếm đặc trưng dễ nhận thấy trong tiếng Anh - ngôn ngữ thơ và trong tiếng Anh, đó là giọng điệu (accent)” Có thể hiểu tiết điệu là sự thể hiện giọng điệu bằng sự hoà phối âm thanh của câu thơ, bài thơ

Trang 21

C ông trình nghiên cứu Meter and Meaning: An Introduction to Rhythm in Poetry

của Thomas Carper & Derek Attridge (2013) tập trung thảo luận về tiết điệu (meter), tập trung làm rõ về mối quan hệ sống còn giữa tiết điệu (meter) và ý nghĩa (meaning)

Từ đó đã đưa ra cách thức, mô hình tiết điệu và đề xuất cách tiếp cận hoàn toàn mới để đọc các văn bản thơ tiếng Anh thông qua mối quan hệ ý nghĩa giữa tiết điệu và ý nghĩa bài thơ Đây là một công trình có giá trị đối với ai muốn tìm hiểu và thưởng thức thơ

ca tiếng Anh Trong công trình này, các tác giả đề cập đến khái niệm thi tiết, khái niệm chân thơ, khái niệm bước thơ cũng như đưa ra các kiểu loại chân thơ và các bước thơ

cơ bản Công trình còn “giúp người đọc đánh giá cao việc sử dụng nhịp điệu trong thơ của tất cả các loại nhịp và hiểu mối quan hệ quan trọng giữa tiết điệu và ý nghĩa.” (tr34) Ngoài ra, có rất nhiều bài viết bàn vào vấn đề tiết điệu, chân thơ, bước thơ trong thơ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga

Trên đây là bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu tiết điệu của ngôn ngữ học thế giới Còn đối với giới Việt ngữ học, rất ít công trình bàn về cấu trúc tiết điệu của thơ Tuy nhiên, về “niêm luật”, về cách phối thanh bằng - trắc và nhịp điệu thì được nghiên cứu rất nhiều Về lí thuyết thi tiết và việc nghiên cứu tiết điệu của dòng thơ, hiện nay,

ở Việt Nam, có thể kể đến Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều của Lý Toàn Thắng

(2015) Tác giả trình bày một cách hệ thống về lí thuyết thi luật nói chung và thi tiết nói riêng Về lí thuyết thi tiết, tác giả nêu khái niệm, cách phân loại của các chân thơ, bước thơ để giúp người nhiên cứu có một cái nhìn tổng quan, hệ thống về thi tiết trong dòng thơ Việt Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng mô hình lí thuyết thi tiết vào nghiên cứu tiết điệu trong 3254 dòng thơ lục bát của Truyện Kiều và đưa ra những kết luận có giá trị Công trình này cung cấp nền tảng lí thuyết cũng như phương pháp tiếp cận để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án

2.2.3 V ấn đề nghiên cứu thi đoạn

C ho đến nay, vấn đề "thi tiết", “thi đoạn” (strophe forms) (nghiên cứu cách tổ chức đoạn thơ từ những dòng thơ trong một bài thơ) là một vấn đề khá mới mẻ Nói đúng hơn là có rất ít sự quan tâm về cách phân chia đoạn thơ trong một bài thơ trong khi vấn đề phân chia đoạn văn trong thể loại văn xuôi được quan tâm rất nhiều Mặc

dù h iện nay, một số tác giả đã bước đầu nghiên cứu lí thuyết thi đoạn, cả về phương

Trang 22

diện lí thuyết lẫn ứng dụng nhưng cũng chỉ là những nghiên cứu sơ khởi và chưa đưa

ra hệ thuyết lí thuyết đầy đủ

Trên thế giới, công trình The structure of Classical Hebrew Poetry (Cấu trúc của

thơ Do Thái cổ điển) của Marjo Christina Annett Korpel & Johannes Cornelis de Moor

(2018) đề cập nhiều đến vấn đề thi đoạn của bài thơ Trong công trình này, các tác giả không chỉ nghiên cứu về sự phân định của dấu câu (Delimitation of Cola), sự phân định dòng thơ (Delimitation of Verse – line), sự phân định bài ca (Delimitation of Canticles), sự phân định cấu trúc vĩ mô (Delimitation of Macrostructure) mà còn đề cập đến sự phân định đoạn thơ (Demititation of Strophe) của thơ Isaiah 40 – 45 Sau khi khảo sát về đoạn thơ cổ điển Isiah 40 – 45, Majo và Johanns rút ra kết luận chung (General Conclusions) về sự phân định đoạn thơ (Delimitation of Strophe), về độ dài của đoạn thơ (Length of Strophe), về mô hình cấu trúc trong đoạn thơ (Structural Patterns in Strophe)…

Về sự phân định đoạn thơ, tác giả cho rằng “…thỉnh thoảng có sự đánh dấu kết

thúc của đoạn thơ bằng một khoảng trống nhỏ” và “…những không gian nhỏ có ý nghĩa để chỉ ra đoạn thơ kết thúc.” (tr.643) Theo tác giả, sự mở đầu hoặc kết thúc đoạn

thơ còn được đánh dấu bởi “emphasic grammatical structure” (cấu trúc ngữ pháp nhấn

mạnh) Có thể thấy điều này trong lập luận của Majo và Johanns: “Tuy nhiên, các dấu

hiệu phân định chính không phải là công cụ duy nhất chúng tôi sử dụng Sự bắt đầu và kết thúc của đoạn thơ khi xuất hiện được đánh dấu bằng những cấu trúc ngữ pháp nhấn mạnh nào đó, có ý nghĩa là để thu hút sự chú ý của khán giả.” (tr.643)

Về độ dài đoạn thơ, theo tác giả, “Theo sự phù hợp với Luật của sự Mở rộng và Thu

hẹp, đoạn thơ nhỏ nhất gồm có chỉ một dòng Chúng tôi tìm thấy 83 ví dụ về điều này trong cuốn “Lời tiên tri” của Isaiah 40 - 50 (chiếm 24% của tổng số đoạn thơ) Không có đoạn thơ nào trong cuốn Isaiah Đệ nhị/ phần hai gồm hơn hai dòng thơ Đoạn thơ dài nhất bao gồm một tam cú (bộ ba dòng thơ) theo sau bởi một tứ cú (bộ bốn dòng thơ).”

(tr.645)

Bài viết Some more or less technical observation on Greek rhythm (Quan sát ít

nhiều về kĩ thuật nhịp điệu thơ Hy Lạp) cũng đã bàn về thuật ngữ “strophe” (đoạn thơ)

Trang 23

trong sự đối sánh với thuật ngữ “antistrophe”1 (hồi khúc) và “epode” (thơ êpót – thơ trữ

tình câu dài câu ngắn) Bài nghiên cứu đã “trình bày một cuộc thảo luận ngắn về chúng,

đặc biệt từ khi một vài sử dụng của một mô hình đoạn thơ và những hồi khúc tương ứng được thực hiện trong các phần hợp xướng của tất cả các vở kịch Hy Lạp” Theo tác giả,

“ Đoạn thơ” (strophe) và “Hồi khúc” (antistrophe) là những cách của sự đề cập đến mô hình tiết điệu hay nhịp điệu của một văn bản vốn là dùng để hát.2 Về cơ bản, hồi khúc chồng lên (picks up) mô hình của đoạn thơ, ít nhiều giống như giai điệu và nhịp điệu của “câu” đầu tiên trong một bài hát hiện đại được hồi lại trong “câu” thứ hai, và sau

đó trong “câu” thứ ba… Trong thực tế, người ta có thể in những từ của hồi khúc trong bài Olympian 1 của nhà thơ Pindar ngay trực tiếp bên dưới những từ của các phần tương ứng của đoạn thơ

T ác giả cho rằng “Như đã nêu, ý nghĩa của “đoạn thơ và “hồi khúc” là, giống

như trong một bài hát hiện đại, chủ yếu là một vấn đề của đệm nhạc đi kèm” Có thể

thấy, trong công trình này, tác giả cũng đã đề cập đến thuật ngữ “strophe” và nhìn nhận về ý nghĩa của nó trong sự tương ứng với thuật ngữ “hồi khúc” Tuy nhiên đây chỉ là nghiên cứu về đoạn thơ (strophe) trong thể loại nhạc kịch chứ không phải trong thể loại thơ Đó là chưa nói đến cách hiểu của “strophe” trong nhạc kịch khác với cách hiểu của “strophe” trong thể loại thơ (tr.22)

Cũng cần kể đến công trình Reading the Old Testament của Barry L Bandstra

(2008) về các đặc trưng cơ bản (basic features) của Kinh Thánh Bài viết nghiên cứu

về các cấp độ của bài thơ (Poem-level) trong Kinh Thánh (Biblical Poetry) Công trình này “ giới thiệu những cấp độ chính mơi mà đặc trưng của thơ được tổ chức, cũng như những công cụ và kĩ thuật có sẵn cho các nhà thơ ở mỗi cấp độ” Để tiến hành cuộc

thảo luận, ông chia bài thơ thành các cấp độ như Line-level (Cấp độ dòng thơ),

Couplet-level (cấp độ cặp đôi câu thơ), Stanza-level (Cấp độ đoạn thơ) và bước vào

phân tích chúng về những đặc trưng hình thức (Formal Features) Tác giả quan tâm đến vấn đề điệp âm (alliteration) ở cấp độ dòng thơ (Line-level) Còn ở cấp độ cặp đôi dòng thơ (Couplet-level) ông quan tâm đến các dạng song hành (parallelism) của couplet trong đoạn thơ (stanza)

1 Anti-strophe là m ột phép tu từ, lặp lại/hồi lại từ ngữ ở cuối cụm từ hay câu thơ Ví dụ “I swear to tell the truth, the whole truth and nothing but the truth”

Trang 24

Trên đây là những công trình nghiên cứu về đoạn thơ của ngôn ngữ học thế giới trong phạm vi tiếp cận của chúng tôi Còn đối với giới Việt ngữ học, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về giới thuyết thi đoạn (strophe forms) của thơ ca nói chung và thi đoạn Thơ Mới nói riêng

Đầu tiên, cần kể đến Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại của tác giả Bùi Văn

Nguyên và Hà Minh Đức (2003) Đây là công trình đầu tiên đã đề cập đến hình thức thơ ca và vấn đề đoạn thơ của các thể năm âm tiết, thể bảy âm tiết và tám âm tiết Theo tác giả, trong thể năm chữ, “nhiều bài thơ thường ngắt ra từng bốn câu một (từng khổ thơ bốn câu có dáng dấp như một bài ngũ ngôn tứ tuyệt) Nhưng khổ thơ đó vẫn gắn liền với hơi thở của toàn bài.” (tr.291)

Đối với đoạn thơ bảy âm tiết, tác giả nhận định “Thể thất ngôn được nâng lên qua những sự cách tân về khổ thơ, vần điệu.” (tr.292) và “Những bài thơ thất ngôn dài ngắn không hạn định về số câu song thường tập hợp lại thành những khổ, mỗi khổ gồm 4 câu Mỗi khổ thơ gần như là một bài thất ngôn tứ tuyệt…” (tr.292-293) Không dừng lại ở việc miêu tả đoạn thơ, tác giả đã bước đầu quan tâm mô hình cấu trúc đoạn thơ và rút ra kết luận “Hình thức bài thơ 4 khổ là hiện tượng khá phổ biến trong Thơ Mới thất ngôn.” (tr.293) “Bên cạnh những bài thất ngôn 4 khổ, cũng có những bài thất ngôn 3 khổ.” (tr.294) Tuy chỉ là những miêu tả ước chừng chưa có sự khảo sát cụ thể nhưng cũng có thể thấy, nhà nghiên cứu đã quan tâm đến câu chuyện kiểu loại đoạn thơ và tần số xuất hiện của đoạn thơ trong một bài

Cũng đã quan tâm đến hình thức thơ mới, tác giả Phan Cự Đệ (1966) khi bàn về

thể thơ đã nhận xét: “Thơ Mới thực chất không phải là lối thơ tự do Lúc đầu nó phá

ra một cách phóng túng, nhưng dần nó trở nên nhuần nhị và dừng hẳn ở một số thể thơ quen thuộc Số chữ trong câu có thể từ hai chữ (Sương rơi) đến mười chữ, nhưng dùng nhiều nhất là lối thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ Số câu trong bài không nhất định, thường thường mỗi bài chia làm nhiều khổ, mỗi khổ bốn câu” (tr.265-266) Ở

công trình này, tác giả tuy không bàn sâu vào mặt ngôn ngữ của thơ ca nhưng nhìn chung đã chú ý hơn về mặt hình thức của thơ ca

Cùng xu hướng trên, Văn Tâm (1993) trong “Giới thuyết Thơ Mới” khẳng định

“Khảo sát về thể loại thơ, ai cũng rõ là cần chú ý đến các yếu tố: số âm tiết trong câu,

số câu trong bài, cách hiệp vần, tiết tấu…” (tr.196) Rất tiếc, tác giả lại chỉ phân tích

Trang 25

số âm tiết”, “hiệp vần, tiết tấu” trong thơ mà bỏ quên “số câu” trong bài Nhưng dù

sao đây cũng là một gợi ý thú vị cho những ai muốn tìm hiểu thi luật thơ ca

Trong luận án tiến sĩ Thơ Mới 1932 – 1945 nhìn từ sự vận động thể loại, tác giả

Hoàng Sĩ Nguyên (2007) cũng đã quan tâm đến vấn đề sự cách tân của câu thơ, đoạn thơ và thể thơ Tác giả cũng đã tìm hiểu độ dài của câu Thơ Mới và ít nhiều đề cập đến vấn đề dòng thơ, đoạn thơ khi đưa ra nhận định: “Một bài thơ có thể có nhiều khổ Mỗi khổ có số câu có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau” (tr.90) Hoặc khi nghiên cứu

về thơ 8 chữ của Xuân Diệu và Chế Lan Viên, tác giả kết luận “Đặc điểm nổi bật nhất trong thể thơ 8 chữ của Xuân Diệu là tổ chức theo lối tự do Hầu như ở thể thơ này, nhà thơ không chia khổ như ở thể bảy âm tiết, bài thơ dài thoải mái theo hơi cảm xúc.” (tr.110) còn “Khác với thể thơ 8 chữ trong thơ Xuân Diệu, thể 8 chữ trong “Điêu tàn” của Chế Lan Viên chỉ có hai bài không chia khổ, 30 bài khác đều chia khổ Nhưng cách chia khổ lại hoàn toàn linh hoạt, không phải chỉ có bốn câu làm thành một khổ như bài thơ tứ tuyệt” (tr.111) Tuy nhiên, hướng tiếp cận vấn đề của công trình là từ lí thuyết thi pháp của văn học chưa phải từ góc độ thi học của ngôn ngữ học

Có nét khác biệt với những công trình trên, “Sự phát triển dung lượng dòng thơ Việt Nam” của Đỗ Anh Vũ (2008) nghiên cứu dung lượng của dòng thơ Việt Nam từ

cổ trung đại đến hiện đại theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học Tác giả cũng phân biệt khái niệm “câu thơ” và “dòng thơ” Mặc dù không phải nghiên cứu trực tiếp về vấn đề đoạn thơ nhưng đây cũng là một hướng tiếp cận khá mới mẻ

Bên cạnh đó, trong chuyên khảo Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều (2015), Lý

Toàn Thắng đề cập đến hình thức (form) thể thơ sonnet3 Cụ thể là thể thơ sonnet ở dạng

cổ điển trong tiếng Ý: “Bài thơ gồm 14 dòng; Mỗi bài có 4 khổ thơ: 2 khổ theo kiểu 4 dòng/1 khổ (quatrain) và 2 khổ theo kiểu 3 dòng/1 khổ (tercet).” (tr.17) Không chỉ vậy, tác giả còn đi sâu mô tả hình thức đoạn thơ, số lượng dòng thơ trong mối quan hệ với

vần điệu: với sonnet 14 dòng thì: 2 đoạn kiểu quantrain có mô hình vần là ABBA

ABBA; 2 đoạn kiểu tercet có mô hình vần là CDE CDE hoặc CDC DCD hay CDE DCE… Từ cơ sở đó, tác giả tìm hiểu thi luật thơ của Bà Huyện Thanh Quan Tuy nhiên

vì thơ Bà Huyện Thanh Quan chỉ có một đoạn thơ nên tác giả không bàn nhiều về vấn

3 T ừ “sonnets” gốc tự tiếng Latin sonare, sang tiếng Ý là sonetto (tiếng Pháp sonet là mượn từ tiếng Ý) Được

b ắt nguồn từ chữ son có nghĩa là một loại bài hát hay bài thơ, từ sonet nghĩa ban đầu là một “bài hát nhỏ” (petite

Trang 26

đề này mà chỉ mô tả “Bài thơ có 8 câu; Mỗi dòng/câu có bảy âm tiết (chữ)…” Mặc dù chưa nghiên cứu đoạn thơ một cách trực tiếp nhưng công trình này cũng đã quan tâm tới vấn đề miêu tả đoạn thơ của từng thể loại (tr.273)

Ngoài ra, trong Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Bùi Công Hùng (2002) phân tích thơ ca từ

góc nhìn ngôn ngữ học Cụ thể tác giả tìm hiểu các vấn đề: Sự thống nhất của các hệ thống, các yếu tố trong bài thơ, tập thơ; Các phương pháp nghiên cứu thơ và câu thơ; Các thành phần của câu thơ (từ ngữ, nhịp điệu, vần, ngữ điệu); Câu thơ trong bài thơ (câu thơ, đoạn thơ, bài thơ) Có thể nói Bùi Công Hùng là một trong những tác giả bước đầu quan tâm đến vấn đề đoạn thơ và một vài nội dung lí thuyết tương đối rõ ràng về đoạn thơ

Nguyễn Thị Phương Thuỳ (2007) đã tập trung khảo sát, phân loại và mô hình hoá các kiểu đoạn thơ trong một bài thơ của thể thơ 5 chữ, thơ tự do, thơ lục bát trong đó tâm điểm là thơ bảy âm tiết, 8 chữ trong cái nhìn tương quan so sánh giữa một số tác giả (Xuân Diệu, Tố Hữu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên ) và giữa các giai đoạn với nhau (thơ giai đoạn 1900-1945 và thơ giai đoạn 1945-2000) Những kết quả khảo sát giá trị của tác giả chứng tỏ cách tiếp cận thơ ca từ cấu trúc đoạn thơ, bài thơ là một hướng tiếp cận có ý nghĩa nhất định trong quá trình tìm hiểu nội dung bài thơ và phong cách tác giả

Ngoài ra, Nguyễn Nguyên Trứ (1991) trong Thơ và Thẩm bình thơ và Nguyễn Quang Hồng & Phan Diễm Phương (2015) trong Âm tiết tiếng Việt và Ngôn từ thi ca

cũng đã bàn rất sâu về hình thức thể loại của các thể thơ từ số dòng, số câu, nhịp điệu thơ và đặc biệt đã đề cập nhiều đến dung lượng đoạn thơ và bài thơ

Như vậy, về thi điệu, đã có một số công trình nghiên cứu về nhịp điệu dòng thơ bảy âm tiết Còn về thi tiết và thi đoạn hầu như rất ít công trình đề cập đến một cách hệ thống Tóm lại, tất cả những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá về thi luật để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về thi điệu, thi tiết và thi đoạn của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới 1932 - 1945 Liên quan đến thơ, thi vận (nghiên cứu về vần thơ) cũng là yếu tố liên quan đến thi luật, tuy nhiên trong luận án chúng tôi

Trang 27

không đưa vần vào đối tượng nghiên cứu vì hiện nay đã có công trình nghiên cứu rất công phu về vần thơ

Hiện nay có rất nhiều bản in không thống nhất về hình thức biểu hiện của đoạn

thơ Công trình Tuyển tập Thơ Mới 1932 – 1945, tác giả và tác phẩm, NXB Hội Nhà

văn, năm 2001 cũng không có sự thống nhất cao với các công trình in ấn khác Ở đây, chúng tôi theo cách phân chia đoạn thơ của công trình này

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát là 8.889 dòng thơ thuộc 1.992 đoạn của 456

bài thơ bảy âm tiết trong Tuyển tập Thơ Mới 1932 – 1945, tác giả và tác phẩm, NXB

Hội Nhà văn, năm 2001 Cụ thể là thơ bảy âm tiết của các tác giả: (1) Nguyễn Bính, (2) Xuân Diệu, (3) Vũ Hoàng Chương, (4) Hàn Mặc Tử, (5) Bích Khê, (6) Thế Lữ, (7)

Tế Hanh, (8) Đoàn Văn Cừ, (9) Lưu Trọng Lư, (10) Nguyễn Nhược Pháp, (11) Trần Huyền Trân, (12) Huy Cận, (13) Hồ Dzếnh, (14) Phạm Huy Thông và (15) và một số tác giả khác (Đinh Hùng, Chế Lan Viên, Phạm Văn Hạnh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Vân Đài ) Chúng tôi chia thành nhóm một số tác giả vì số lượng thơ của mỗi nhà thơ thường rất ít (3 hoặc 4 bài) Vì là một nhóm tác giả nên khi so sánh chúng tôi không sử dụng kết quả thống kê của nhóm tác giả này

Về khái niệm thơ bảy âm tiết, có nhiều công trình nghiên cứu gọi tên như "thơ bảy chữ", "thơ bảy tiếng" Chúng tôi quan niệm vì nghiên cứu về thi luật, về mặt phát

âm của thơ nên luận án dùng khái niệm "thơ bảy âm tiết"

Trong thi điệu, thi tiết và thi đoạn, tùy từng vấn đề mà chúng tôi chọn phạm vi nghiên cứu khác nhau

Về thi điệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài là cách tổ chức nhịp điệu (nhịp thơ và cách ngắt nhịp dòng thơ) của những dòng thơ bảy âm tiết Trong thi học, có sự phân biệt giữa nhịp (rhythm) và điểm ngừng (pause) Nhịp là cách ngắt hơi ngắn giữa những

âm tiết trong dòng thơ để tạo nên nhịp điệu và ý nghĩa Còn điểm ngừng là ngắt nhịp dài hơn để đánh dấu ranh giới giữa các dòng thơ với nhau Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi chỉ quan tâm đến vấn đề nhịp (rhythm) chứ không quan tâm đến điểm ngừng (pause)

V ề thi tiết, luận án nghiên cứu tiết điệu, chân thơ, bước thơ và mô hình tiết điệu của thơ bảy âm tiết Cũng cần nói thêm, khi nghiên cứu, chúng tôi quan niệm mỗi đoạn thơ

Trang 28

trong bài thơ bảy âm tiết có tư cách như một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt vì theo khảo sát của chúng tôi, mỗi đoạn thơ bảy âm tiết gồm 4 dòng trong Thơ Mới đều có thể xếp vào luật vần bằng và luật vần trắc Ở đây cấu trúc tiết điệu của mỗi dòng thơ được phân tích dựa trên luật vần bằng và luật vần trắc của thất ngôn tứ tuyệt Đường thi

Về thi đoạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài là cách tổ chức những dòng thơ thành đoạn thơ, cách tổ chức đoạn thơ thành bài thơ của thể thơ bảy âm tiết

Trong lí thuyết thi đoạn, thuật ngữ “strophe” hiện tồn tại hai cách dịch là “đoạn thơ” và “khổ thơ” Về bản chất, thuật ngữ “đoạn thơ” và “khổ thơ” trong tiếng Việt là như nhau Luận án sử dụng khái niệm “đoạn thơ” để đảm bảo tính khoa học Tuy nhiên, cần lưu ý là, khi luận án trích dẫn khái niệm hay nhận định của một số tác giả

về vấn đề đoạn thơ thì vẫn đảm bảo tính nguyên bản trong cách sử dụng khái niệm

“ khổ thơ” của tác giả đó

Về việc xác định đoạn thơ, đối tượng của chúng tôi bao gồm cả một số trường hợp tổng số chữ trên một dòng không đảm bảo đúng luật của thể thơ bảy âm tiết Bởi xét thấy sự phá thể đó chứa đựng dụng ý của tác giả và nhìn trong tổng thể thì vẫn đảm bảo luật thơ Bên cạnh đó, đối với trường hợp có dòng chấm “………” giữa các dòng thơ, để có sự nhất quán trong việc xác định đối tượng nghiên cứu, người viết quan niệm đó là dấu hiệu đánh dấu sự ngăn cách đoạn thơ4 Chẳng hạn:

Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu,

Em cười em nói suốt canh thâu, Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi, Tình đến muôn năm chửa bạc đầu…

Ngày tháng trôi xuôi với ái ân…

Bên cầu lá rụng đã bao lần!

………

………

Tình ái hay đâu mộng cuối giời…

Nhầm nhau giây lát hận muôn đời

Kẻ ra: non nước, người thành thị

Trang 29

Đôi ngả tình đi, người mỗi nơi

(LTL, Tình điên, 88)

Trong thi tiết, chúng tôi khái quát nên một số nội dung lí thuyết thi tiết thơ bảy

âm tiết và mô tả cấu trúc tiết điệu, chân thơ, bước thơ của thơ bảy âm tiết Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát 130 bài thơ thất ngôn Đường luật Việt Nam của một số tác giả tiêu biểu (Trần Nhân Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm ) để có cái nhìn so sánh đối với thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới Số lượng 130 tác phẩm là con số thống kê toàn bộ thơ thất ngôn

Đường luật được khảo sát trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích, NXB Văn

học, năm 2007

Không chỉ vậy, khi miêu tả chân thơ, bước thơ bảy âm tiết tiếng Việt, chúng tôi

có so sánh đối chiếu với chân thơ, bước thơ trong thơ Anh Ở đây, những nhận định về chân thơ, bước thơ của thơ Anh được dẫn theo những lí thuyết khái quát về thơ Anh được trích trong các bài viết của các tác giả Direk và tác giả Lý Toàn Thắng

4 M ục đích nghiên cứu

Qua vi ệc khảo sát, mô tả, phân tích ngữ liệu thơ bảy âm tiết từ lí thuyết ngôn ngữ

h ọc, luận án hướng đến mục đích khái quát nên một số nội dung lí thuyết về nhịp điệu thơ, cấu trúc tiết điệu thơ, chân thơ, bước thơ và đoạn thơ của thơ bảy âm tiết Từ đó hướng đến việc cấu trúc hoá nhịp điệu, tiết điệu và đoạn thơ bảy âm tiết cũng như nêu lên đặc điểm của nhịp điệu, tiết điệu và đoạn thơ bảy âm tiết Tất cả đều hướng đến

vi ệc chứng minh cho cái mới, cho sự bứt phá của hình thức thơ bảy âm tiết và sức sáng

t ạo của các nhà thơ trong giai đoạn Thơ Mới

C ụ thể, nhiệm vụ của luận án là:

- Về thi điệu:

+ Đưa ra một số nội dung lí thuyết về thi điệu (khái niệm nhịp điệu, căn cứ xác định nhịp điệu);

+ Khảo sát, mô tả nhịp điệu của dòng thơ bảy âm tiết;

+ Đưa ra mô hình nhịp điệu của dòng thơ bảy âm tiết;

+ Khái quát nên đặc điểm của nhịp điệu thơ bảy âm tiết

- Về thi tiết:

+ Nêu ra một số nội dung lí thuyết về thi tiết (tiết điệu, chân thơ, bước thơ);

Trang 30

+ Khảo sát, mô tả cấu trúc tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết;

+ Đưa ra mô hình chân thơ, bước thơ của dòng thơ bảy âm tiết;

+ Khái quát nên cấu trúc tiết điệu, chân thơ của thơ bảy âm tiết;

+ Đưa ra một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm tiết điệu trong thơ của các nhà thơ khi sáng tác

- Về thi đoạn:

+ Đưa ra một số nội dung lí thuyết về thi đoạn (khái niệm bài thơ, đoạn thơ, câu thơ, dòng thơ và căn cứ xác định đoạn thơ);

+ Khảo sát, phân loại mô tả cấu trúc bài thơ, cấu trúc đoạn thơ bảy âm tiết;

+ Rút ra kết luận chung về cấu trúc bài thơ, đoạn thơ bảy âm tiết

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tượng nghiên cứu theo thao tác định lượng Trong luận án, chúng tôi thống kê, phân loại về nhịp thơ, chân thơ, bước thơ, đoạn thơ Sau đó tổng hợp số lượng và tính tỉ lệ Tiếp theo khái quát thành các mô hình và tiến hành so sánh, đánh giá các số liệu trong một nội dung cụ thể hơn

Luận án được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc quy nạp, trên cơ sở thu thập, thống kê, phân tích, xử lí, so sánh tư liệu để tìm ra mô hình nhịp điệu, bài thơ, đoạn thơ, chân thơ, bước thơ, tiết điệu Từ đó, bàn luận và đưa ra những kết luận đánh giá chung về vấn đề được nghiên cứu Luận án được thực hiện trên cơ sở một số phương pháp và thủ pháp sau:

5.1 Th ủ pháp thống kê

Luận án sử dụng thủ pháp này để tiến hành các công việc sau:

Thống kê về các kiểu nhịp câu thơ: xét về ngắt nhịp ở từng dòng trong từng đoạn thơ; đưa ra mô hình các kiểu nhịp khác nhau, tính số lượng và tỉ lệ phần trăm của các kiểu nhịp Sau khi thống kê, chúng tôi tiến hành phân loại nhịp điệu theo nhịp truyền thống, theo sự hoán đổi, theo sự cách tân hoặc theo các mô hình tiết điệu, chân thơ, bước thơ, đoạn thơ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân loại nhịp theo số lượng: dòng thơ có 2 nhịp, 3 nhịp, 4 nhịp, 5 nhịp hay 6 nhịp Cuối cùng khái quát hóa để chỉ ra sự

kế thừa và sáng tạo, cách tân về nhịp điệu trong thơ bảy âm tiết

Thống kê số lượng nhịp thơ, chân thơ, bước thơ, cấu trúc tiết điệu của dòng thơ bảy âm tiết Sau đó phân loại và mô hình hóa các kiểu loại

Trang 31

Thống kê số lượng, tỉ lệ phần trăm các trường hợp khuôn tiết điệu điển thể, biến thể, phá thể và khái quát lên thành các mô hình

Thống kê số lượng bài thơ (tính theo thể thơ hoặc theo đoạn trong bài và số dòng trong đoạn) và tỉ lệ phần trăm tương ứng rồi phân loại bài thơ, đoạn thơ (có các mô hình khác nhau) theo tác giả và theo thể loại thơ bảy âm tiết

Thống kê số lượng đoạn thơ trong mỗi tập thơ để tìm hiểu về các loại đoạn thơ

5 2 Phương pháp mô tả

Luận án mô tả các khả năng ngắt nhịp thơ (theo truyền thống hay cách tân, theo

số lượng nhịp); mô tả các loại chân thơ, bước thơ cũng như cấu trúc tiết điệu của dòng thơ; mô tả các loại đoạn thơ, các mô hình bài thơ của thơ bảy âm tiết

5.3 Th ủ pháp phân tích

Luận án phân tích số liệu để tìm hiểu giá trị của mỗi loại nhịp, mỗi loại tiết điệu, mỗi loại chân thơ, bước thơ và đoạn thơ của Thơ Mới Bên cạnh đó, luận án phân tích

phân tích những đặc trưng của thể loại thơ được biểu hiện ở bài thơ, đoạn thơ, dòng thơ, bước thơ và chân thơ

5.4 Th ủ pháp so sánh

Thủ pháp này được sử dụng trong quá trình so sánh các loại nhịp giữa Thơ Mới với Thơ Đường, thơ cổ phong, thể hát nói, giữa các loại nhịp của thơ bảy âm tiết; về các mô hình chân thơ, mô hình tiết điệu giữa các tác giả và giữa Thơ Mới bảy âm tiết với thơ Anh, giữa đoạn thơ của giai đoạn trước và giai đoạn 1932 – 1945 Phương pháp so sánh cũng được dùng để so sánh cách xây dựng thi điệu, thi tiết và thi đoạn giữa các tác giả trong phong trào Thơ Mới Tất cả nhằm làm nổi bật những nét mới, những yếu tố tự do hóa và hiện đại hóa trong thơ Từ đó khái quát về phong cách của một số nhà thơ

6 Đóng góp của luận án

Về mặt lí luận, luận án góp phần bổ sung cơ sở lí luận về thi học và thi luật thơ

ca Việt Nam, đặc biệt là về lí thuyết thi tiết, thi điệu và thi đoạn Luận án này hoàn thiện thêm về lí thuyết thi điệu (bổ sung căn cứ phân chia nhịp thơ, giá trị biểu đạt của một số nhịp thơ), lí thuyết thi tiết (chân thơ, bước thơ, tiết điệu và mô hình hóa cấu

Trang 32

trúc tiết điệu của thơ bảy âm tiết), lí thuyết thi đoạn (căn cứ phân chia đoạn thơ, giá trị biểu đạt của một số loại đoạn thơ)

Về mặt thực tiễn, những kết luận của luận án có ý nghĩa thực tiễn nhất định trong phê b ình, nghiên cứu và thưởng thức thơ ca Đối với các nhà phê bình, những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp các tác giả có cơ sở khoa học hơn trong việc xem xét, đánh giá Thơ Mới Việt Nam Đối với nhà nghiên cứu, luận án hi vọng cung cấp một số

mô hình v ề âm luật, thi điệu, thi đoạn giúp ích cho quá trình tiếp cận, phân tích thơ ca

Về phía người thưởng thức, những kết luận của luận án sẽ giúp người yêu thơ có thêm một điểm nhìn mới mẻ về Thơ Mới

- V ề thi điệu, thông qua quá trình xử lí dữ liệu, luận án có những phát hiện mới

về giá trị của việc nghiên cứu thi điệu Thơ Mới Cụ thể là khái quát về mô hình nhịp điệu của dòng Thơ Mới, rút ra thi luật Thơ Mới và nêu lên đặc điểm cũng như giá trị của thi điệu Thơ Mới Các kết quả của luận án cho thấy các nhà thơ giai đoạn này đã thể hiện bản lĩnh và cá tính trong việc đổi mới nhịp điệu dòng thơ thất ngôn truyền thống theo hướng tự do hoá, hiện đại hoá

- Về thi tiết, luận án khái quát hóa cấu trúc thi tiết, mô hình chân thơ và bước thơ của Thơ Mới bảy âm tiết và đưa ra một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm thi tiết của Thơ Mới bảy âm tiết

- Về thi đoạn, luận án cũng nêu lên một số phát hiện mới về giá trị của việc nghiên cứu thi đoạn thơ bảy âm tiết Cụ thể hơn là cung cấp một cái nhìn khái quát về

mô hình cấu trúc bài thơ, đoạn thơ của thơ bảy âm tiết, rút ra thi luật thơ bảy âm tiết và nêu lên đặc điểm cũng như giá trị của thi đoạn thơ bảy âm tiết giai đoạn Thơ Mới Luận án có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ thơ với lối tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (bài thơ, đoạn thơ, dòng thơ, chân thơ, bước thơ, tiết điệu, nhịp, thanh điệu)…

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng trong việc giảng dạy và nghiên cứu biên soạn giáo trình về ngôn ngữ thơ ở các bậc cao đẳng, đại học, sau đại học

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong bốn chương Bao gồm:

Trang 33

Chương 1: Giới thuyết về những vấn đề liên quan đến đề tài Chương 1 trình

bày về một số nội dung lí thuyết như: (1) Khái niệm thi học, phân biệt giữa thi học và thi pháp học; khái niệm thi luật và phân loại thi luật; (2) Khái niệm nhịp điệu, các tiêu chí nhận diện nhịp điệu và các kiểu cấu trúc nhịp điệu (3) Khái niệm, phân loại chân thơ, bước thơ, tiết điệu (4) Khái niệm thi đoạn, các tiêu chí tách đoạn và các kiểu cấu trúc đoạn thơ (5) Thi luật của một số thể thơ truyền thống và Thơ Mới

Chương 2: Thi điệu thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới (1932-1945) Trên cơ sở

các bảng thống kê, luận án tiến hành khảo sát nhịp điệu của Thơ Mới bảy âm tiết giai đoạn 1932 - 1945 Sau quá trình phân tích ngữ liệu, đánh giá kết quả số liệu về nhịp điệu, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát nhịp điệu bằng phương pháp định lượng và định tính Cuối cùng luận án nêu lên đặc điểm của nhịp điệu của Thơ Mới bảy âm tiết, giá trị biểu trưng của một số nhịp thơ và đưa ra một vài kết luận về thi điệu Thơ Mới

Chương 3: Thi tiết thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới (1932-1945) Chương

3 phân tích cấu trúc tiết điệu, chân thơ, bước thơ của dòng Thơ Mới bảy âm tiết giai đoạn 1932 - 1945 Đồng thời đưa ra các mô hình chân thơ, bước thơ cụ thể và khái quát nên đặc điểm thi luật của thi tiết dòng thơ bảy âm tiết giai đoạn Thơ Mới 1932

- 1945

Chương 4: Thi đoạn thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới (1932-1945) Chương 4

tập trung nghiên cứu cấu trúc bài thơ, cấu trúc đoạn thơ của thơ bảy âm tiết trong Thơ Mới Chương này khái quát nên một số nội dung lí thuyết thi đoạn sau quá trình xử lí ngữ liệu đoạn thơ Đồng thời, chương 4 nêu lên đặc điểm thi đoạn của thơ bảy âm tiết cũng như giá trị biểu trưng của một số kiểu đoạn thơ

Trang 34

Chương 1

1.1 Thi h ọc, thi luật học

1.1.1 Thi h ọc

1.1.1.1 Khái ni ệm thi học

Để hiểu rõ khái niệm thi học, trước tiên cần phân biệt khái niệm thi pháp học và thi h ọc

Thi pháp / thi pháp học (poetics) vốn thường được coi là phân môn của lí luận

văn học Thi pháp học được coi là khoa học nghiên cứu “hệ thống các phương thức,

phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học” (Từ điển thuật ngữ văn học - 1992), là “thuật ngữ của các nhà phê bình và nghiên cứu văn học, chỉ các phương tiện biểu đạt hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, có thể là các phương tiện tu từ, thể loại, kết cấu nghệ thuật, kết cấu nghệ thuật, hình tượng, phong cách làm nên đặc trưng nghệ thuật của tác giả, tác phẩm.” (Từ điển Tu từ - Phong cách - Thi pháp học, tr.10)

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp, nhìn chung chúng đều đề cập đến những khía cạnh sau đây:

(i) Sự sáng tạo thơ ca, các hình thức và nguyên lí của nó;

(ii) Cơ cấu/cấu trúc của các tác phẩm văn chương nói chung;

(iii) Hệ thống các phương tiện, thủ pháp biểu đạt (ngôn ngữ, âm thanh, chữ viết, biểu tượng ) được sử dụng trong nghệ thuật thơ ca

Hiện nay có hai quan niệm về thi pháp học Quan niệm thứ nhất, hiểu một cách thông thường, thi pháp học là khoa học nghiên cứu về cấu tạo của tác phẩm văn chương, về hệ thống các phương tiện biểu hiện của nó Theo cách này, phạm vi của thi pháp học bao gồm

cả văn học, mĩ học và thơ ca Quan niệm thứ hai, nếu tiếp cận chuyên sâu hơn thì thi pháp học là khoa học nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật hay ngôn ngữ thơ, chỉ dành riêng cho nghiên cứu các quy tắc thi ca

T hi học ban đầu được quan tâm đến vì đó là những quy tắc để dạy cách làm thơ

th ế nào cho đúng luật Các nhà thơ cũng cần học các nguyên lí của thi ca cổ điển (tiết điệu, nhịp điệu, thể loại, phong cách ) để có thể am hiểu và phân tích được thơ của

Trang 35

các bậc tiền bối, và vận dụng cụ thể vào trong các sáng tác thơ của cá nhân Công việc nghiên cứu nghệ thuật thơ ca, quy tắc làm thơ ngày càng khuôn hẹp và trở thành đối

tượng nghiên cứu khảo sát của phân môn mới thuộc vào thi pháp học - đó là thi học,

chuyên sâu vào mặt nghiên cứu cơ cấu/ tổ chức ngữ âm của thơ cũng như chức năng

th ẩm mĩ của thơ ca

Đến thế kỉ XIX, thi học mới trở thành một môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu thơ ca được sáng tác ra như thế nào với mục đích cuối cùng là xác lập vị trí của cấu trúc âm thanh trong cấu trúc chung của cả thi phẩm, cũng như xác lập mối liên hệ của cấu trúc đó với các cấu trúc ngôn ngữ và hình tượng Thi học ra đời đã khẳng định vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thi ca

Về khái niệm thi học, có thể hiểu thi học (Poetics) là một phân môn của thi pháp

học nghiên cứu các thuộc tính, đặc trưng của ngôn ngữ thơ và các nguyên lí phân tích ngôn ngữ thơ (Lý Toàn Thắng, 2013, tr.9)

1.1.1.2 Phân lo ại thi học

Theo Nguyễn Quang Hồng - Phan Diễm Phương (2015), nội dung của thi học gồm ba bộ phận như sau:

a Thi luật học (Versification/ Study of poem forms) ): Nghiên cứu các thể thức ngôn từ thi ca mà nòng cốt của nó là âm luật

b Thi loại học (Study of poetry types): Nghiên cứu thể loại ngôn từ thi ca, mà sự phân chia nó không chỉ liên quan tới hình thức mà cả với nội dung ngôn từ thi ca cùng

sự chuyển biến của chúng qua thời gian

c Thi thẩm học (Study of poetry perception): Nghiên cứu, lí giải, đánh giá, thẩm định hiệu quả thẩm mĩ của ngôn từ thi ca đạt được qua mọi biện pháp thể hiện chức năng thi ca trong ngôn từ, có liên quan tới toàn bộ nội dung và hình thức tác phẩm từ góc nhìn của nhà nghiên cứu và người đọc

1.1.2 Thi lu ật học

1.1.2.1 Khái niệm thi luật học

Thi học không thể tách rời với thi luật, thi luật là cái hồn cốt của thi học; nghiên cứu về thi học của một nền thi ca nào đó (như thơ ca Việt Nam chẳng hạn) thực chất là

đi tìm các nguyên lí, các yếu tố và quan hệ cấu thành cái hệ thống thi luật của nền thi

ca đó Thi học và thi luật khác nhau ở chỗ thi học chú tâm đến những quan niệm mĩ

Trang 36

học về thơ ca còn thi luật học thì khảo sát những kĩ thuật (techniques) liên quan đến câu thơ (vers), đến sự nhóm họp câu thơ thành đoạn thơ (strophe), đến nhịp điệu (rythme) , đến tiết điệu (meter) Có khá nhiều cách hiểu về thi luật học (Versification/Prosody) trên thế giới

Đối với các học giả Mỹ, thi luật học là nghệ thuật làm thơ (art of writing verses) hay lí thuyết về cấu trúc và đặc trưng của thơ, liên quan trước hết đến thi tiết (meter)

và thi điệu (rhythm); thậm chí có tác giả quan niệm thi luật chỉ nghiên cứu cấu trúc thi

tiết của thơ

Các nhà thi học Pháp lại cho rằng thi học khác thi luật học ở chỗ thi học chú tâm đến những quan niệm mĩ học về thơ ca còn thi luật học thì khảo sát những kĩ thuật liên quan đến sự kết hợp của các âm tiết, tiết điệu thành câu thơ, đến sự họp nhóm câu thơ thành đoạn thơ, sự kết hợp của đoạn thơ thành bài thơ cũng như quan tâm đến nhịp điệu, trọng âm, đến chỗ ngừng nghỉ, đến vần thơ…

Các học giả Nga thì có cái nhìn tổng quan và đa dạng hơn Theo họ, thi luật học nghiên cứu trước hết là các đặc điểm (ngữ âm) và cách thức tổ chức của ngôn ngữ thơ, đặt trong sự phân biệt với ngôn ngữ văn xuôi (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.3-21)

Từ những cách hiểu trên, theo chúng tôi: Thi luật học là một ngành khoa học

nghiên cứu, khảo sát những kĩ thuật liên quan đến sự kết hợp của các tiết điệu thành chân thơ, sự kết hợp của các chân thơ, bước thơ thành dòng thơ, đến sự họp nhóm các câu thơ thành đoạn thơ cũng như sự họp nhóm các đoạn thơ thành bài thơ Thi luật học còn nghiên cứu nhịp điệu, trọng âm, chỗ ngừng nghỉ và sự hiệp vần của bài thơ

Xét riêng về mặt ngữ âm, một trong những đặc trưng quan trọng nhất của tiếng

Việt là nó thuộc ngôn ngữ có thanh điệu và đơn âm tiết Xuất phát từ các đặc trưng

loại hình đơn lập của tiếng Việt, thi luật thơ Việt Nam (cũng như Thơ Đường) được

các học giả Tây Âu xếp vào loại âm tiết - âm điệu (thanh điệu) Cụ thể:

Thi luật thơ Việt không phải là loại trọng âm (accentual) như ngôn ngữ châu Âu

mà là thi luật thanh điệu (tonal), nghĩa là âm tiết nào cũng mang thanh điệu, không có

sự đối lập "có - không" thanh điệu giữa các âm tiết

Thi luật thơ Việt không phải đơn thuần là thi luật âm tiết như các ngôn ngữ châu

Âu, mà là thi luật "đơn âm tiết" (monosyllable), tức là câu thơ được đọc lên theo từng

tiếng một (đơn âm tiết) (Lý Toàn Thắng, 2015, tr.15-41)

Trang 37

1.1.2.2 Phân loại thi luật học

Thi lu ật học chuyên đi vào nghiên cứu những vấn đề của ngôn ngữ thi ca trên bình di ện ngữ âm, qua đó tìm hiểu mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa, xác định

nh ững giá trị mĩ cảm từ những biểu hiện ngữ âm trong tác phẩm thi ca (Nguyễn Quang H ồng - Phan Diễm Phương, 2015, tr 10) Thi học luật được chia thành những

ngành sau:

Thi âm học (Sound organisation): Ngành khoa học nghiên cứu cách thức tổ hợp

các âm (thanh), các âm tiết (trong dòng thơ, câu thơ, bài thơ); vần thơ cũng được nghiên cứu ở đây

Thi tiết học (Metrics): Ngành khoa học nghiên cứu các âm tiết (ngắn - dài, có

trọng âm - không trọng âm trong các ngôn ngữ châu Âu và các âm tiết có thanh điệu (bằng - trắc) trong tiếng Việt và cách tổ hợp các âm tiết này thành chân thơ, bước thơ

(trong dòng thơ, câu thơ, bài thơ) tức là nghiên cứu cấu trúc tiết điệu của thơ

Thi điệu học (Rythmics): Ngành khoa học nghiên cứu cấu trúc nhịp điệu thơ

(dòng thơ, câu thơ, bài thơ) Hay nói cách khác “thi điệu học” là phân môn nghiên cứu quy tắc về nhịp điệu cho câu thơ (đoạn thơ, bài thơ)

Thi đoạn học (Strophe forms): Ngành khoa học nghiên cứu cách thức tổ chức một

đoạn thơ (strophe) từ nhiều dòng thơ (verse/line) Thi đoạn học cũng có thể được hiểu là phân môn nghiên cứu về cách thức tổ chức một đoạn thơ từ nhiều dòng thơ, sự phân định đoạn thơ, độ dài của đoạn thơ, các kiểu đoạn thơ và giá trị biểu đạt của đoạn thơ

1.2 Thi điệu, thi tiết, thi đoạn

Thơ được tổ chức theo các cấp độ, có quan hệ tôn ti tầng bậc với nhau: bài thơ,

đoạn thơ, câu thơ, dòng thơ, bước thơ, chân thơ, tiết điệu Mỗi bài thơ có thể được làm

theo nhiều thể: thể 4 âm tiết, 5 âm tiết, bảy âm tiết, 8 âm tiết, tự do… Mỗi thể thơ có những quy tắc riêng về số chữ trong câu, đoạn, bài, về cách gieo vần, về luật đối, về luật niêm Đến bậc đoạn thơ thì đoạn cũng được phân chia thành nhiều loại: đoạn tứ tuyệt, đoạn bát cú, đoạn tự do Đến câu thơ, câu cũng được phân loại khác nhau tùy thuộc vào số chữ trong câu, nhịp điệu trong câu… Đến dòng thơ thì cũng phân thành dòng thơ hoàn chỉnh hay vắt dòng Ở mỗi dòng thơ bao gồm các bước thơ Bước thơ được cấu tạo từ chân thơ Chân thơ được tạo thành từ một hay nhiều tiết điệu Các đơn

vị này liên kết với nhau theo một cơ cấu nhất định để tạo nên chỉnh thể bài thơ

Trang 38

Nhìn từ góc độ thi học đại cương, một bài thơ cách luật thường có một cách thức

tổ chức hay cấu trúc nhất định, theo một tôn ti như sau:

(i) Bài thơ có thể (có hoặc không) gồm một số đoạn thơ

(ii) Đoạn thơ gồm một số câu thơ

(iii) Câu thơ thường gồm một số dòng thơ (nếu câu thơ chỉ có một dòng thì khi

đó câu thơ trùng với dòng thơ)

(iv) Dòng thơ thường gồm một số bước thơ

(v) Bước thơ thường do một (hay hơn một) kiểu chân thơ đảm trách

(vi) Mỗi chân thơ thường gồm một số loại âm tiết (tiếng/chữ) nhất định

Dưới đây là nội dung lí thuyết về thi điệu, thi đoạn và thi tiết trong liên quan đến những khái niệm cụ thể là bài thơ, đoạn thơ, câu thơ, dòng thơ, bước thơ, chân thơ và tiết điệu (âm tiết)

1.2.1 Thi điệu

Thi điệu là nhịp điệu của câu thơ Về lí thuyết thi điệu, có thể kể đến khái niệm nhịp điệu, phân loại nhịp điệu và căn cứ xác định nhịp thơ

1.2.1.1 Khái niệm nhịp điệu

Nhịp thơ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu âm hưởng cho câu thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca với văn xuôi Về vai trò của nhịp điệu trong thơ, Maiacôpxki khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không thể giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói

về từ lực hay điện Từ lực hay điện- đó là những dạng của năng lượng” (Dẫn theo Lý Toàn Thắng, 2015, tr.13)

Về khái niệm nhịp điệu (rhythm), đầu tiên phải kể đến quan niệm của nhà thi học Pháp Cohen: “Nhịp điệu thơ là sự tuần hoàn ước lượng, do thính giác chấp nhận” (Dẫn theo Lý Toàn Thắng, 2015, tr.167)

Theo Từ điển tiếng Việt (2007), “Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các

âm mạnh và nhẹ theo những trật tự, cách thức nhất định” (tr.789)

Theo tác giả Nguyễn Hoài Nguyên (2007), “hiểu một cách chung nhất, nhịp điệu

là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm thanh và nhạc sắp xếp theo những hình thức nhất định Còn nhịp điệu thơ được hiểu là sự lặp lại có tính chất chu kì về mặt phân đoạn trong tổ chức âm thanh của thơ.” (tr.4)

Trang 39

Truma Xepxki khẳng định: “Nhịp điệu của bài thơ được xây dựng trên bản chất chất liệu ngôn ngữ và nó động viên chính cái chất liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không được lặp đi lặp lại ngoài giới hạn của cái hình thức dân tộc trong lời nói.” (Dẫn theo Lý Toàn Thắng, 2015, tr.14)

Lê Lưu Oanh trong cho rằng: “Nhịp điệu là sự lặp lại có quy luật những thành tố, đơn vị đồng nhất và tương tự nhau sau những khoảng đều nhau trong không gian hoặc trong thời gian Nhịp điệu nghệ thuật là sự thống nhất và tác động qua lại giữa chuẩn mực và sai lệch, trật tự và không trật tự nhằm cảm thụ và tạo dựng hình thức, xây dựng nội dung hình tượng.” (Dẫn theo Nguyễn Thị Phương Thuỳ, 2007, tr.89)

Còn theo tác giả Lý Toàn Thắng (2015), “Nhịp điệu là một sự chuyển động âm

thanh mềm mại, biến hóa thường xuyên của các khúc đoạn được tạo nên nhờ những chỗ ngưng nghỉ có quy luật giữa dòng thơ hay cuối mỗi dòng thơ” “Nhịp điệu” khác với “vần thơ” và “tiết điệu” ở chỗ: vần thơ có sự “đồng vọng” còn nhịp thơ là sự chuyển động tịnh tiến về phía trước với những khúc đoạn tương đương; tiết điệu là những khuôn thước cứng nhắc “theo lề luật” trong cấu trúc nội bộ của một dòng thơ và được tạo ra nhờ sự luân phiên trọng âm hay thanh điệu của các âm tiết trong thơ còn nhịp điệu không phải là cái gì đó thường hằng (constant) mà có thể biến đổi Do đó tiết điệu là cái cốt lõi của nhịp điệu (tr.167)

1.2.1 2 Phân loại nhịp điệu

Dòng thơ bảy âm tiết có thể chia thành các loại sau: 2 nhịp/dòng thơ, 3 nhịp/ dòng thơ, 4 nhịp/ dòng thơ, 5 nhịp/dòng thơ, 6 nhịp/dòng thơ và thậm chí 7 nhịp/ dòng thơ Phần này chúng tôi sẽ trình bày chi tiết trong mục 2.1 của chương 2

1.2.1.3 Cơ sở nhận diện nhịp điệu của dòng thơ bảy âm tiết

Sự cảm thụ nhịp (preception of rhythm) ở mỗi người đôi khi không giống nhau Thi học gọi hiện tượng này là sự tạo sinh (production) nhịp điệu nơi người tiếp nhận

Chẳng hạn có thể có nhiều phương án ngắt nhịp trong câu thơ “Sau lưng thềm nắng lá

rơi đầy” của Nguyễn Đình Thi:

Sau lưng thềm nắng / lá rơi đầy (nhịp 4/3)

Sau lưng thềm / nắng lá rơi đầy (nhịp 3/4)

Sau lưng / thềm nắng / lá rơi đầy (nhịp 2/2/3)

Trang 40

Sau lưng thềm / nắng / lá rơi đầy (nhịp 3/1/3)

Sau lưng thềm/ nắng / lá / rơi đầy (nhịp 3/1/1/2)

Sự đa dạng trong cách tạo sinh nhịp điệu như trên tạo ra tính đa nghĩa cho dòng thơ trong sự cảm thụ của người đọc và gây ra cuộc thảo luận sôi nổi trên văn đàn

Để đảm bảo tính nhất quán và chính xác trong cách ngắt nhịp của dòng thơ trong

t ổng thể bài thơ, việc đưa ra các căn cứ nhận diện nhịp thơ là cần thiết Những căn cứ

nh ận diện nhịp điệu chúng tôi đưa ra dưới đây cũng là cơ sở để chúng tôi nhận diện và phân chia nh ịp điệu trong dòng thơ bảy âm tiết ở luận án Cũng cần nói thêm rằng, ngoài căn cứ khoa học, thì việc nhận diện nhịp điệu còn chịu sự chi phối của áp lực nhóm trong đoạn thơ và cảm xúc chủ quan của người cảm nhịp

Căn cứ vào 12 cơ sở ngắt nhịp câu thơ của Hoàng Kim Ngọc (2010) và qua quá

t rình xử lí ngữ liệu, chúng tôi đưa ra các cơ sở ngắt nhịp dòng thơ vào các nhóm:

a Căn cứ vào dấu hiệu ngữ pháp

a1 Căn cứ vào dấu câu

Thơ Đường và thơ lục bát không có dấu hiệu hình thức đánh dấu sự ngắt nhịp trên dòng thơ Ngược lại, xuất hiện nhiều dấu hiệu đánh dấu (marked) để nhận diện nhịp điệu trong dòng Thơ Mới và trực quan nhất là dấu câu Cách ngắt nhịp bằng dấu câu của dòng thơ trong Thơ Mới mang nhiều dáng vẻ mới lạ: khi kéo dài ở dấu ba chấm (…), khi thu gọn ở dấu chấm (.), khi như đối thoại, khi như bày tỏ cảm xúc ở dấu chấm than (!) Việc sử dụng các loại dấu câu khác nhau tạo ra sự không giống nhau trong khoảng thời gian ngừng ở mỗi nhịp Cũng là một nhịp ngắt nhưng khoảng ngừng ở mỗi loại dấu câu là không giống nhau và điều này cũng tạo nên sự biến thiên

đa dạng trong nhịp điệu, tiết tấu của dòng thơ Có các loại dấu câu để ngắt nhịp dòng thơ sau:

- Dấu chấm: Trên giàn thiên lý / Bóng xuân sang (HMT, Mùa xuân chín, 136)

- Dấu phẩy: Tôi hát, / anh nghe, / quên khó nhọc (TL, Tôi muốn đi, 33)

- Dấu chấm phẩy: Bóng chiều đi vụt;/ bỗng đêm nay (XD, Với bàn tay ấy, 476)

- Dấu chấm than: Là người mơ ước hão!/ Than ôi! (TL, Bên sông đưa khách, 28)

- Dấu hai chấm: Sờ xem:/ ngực nóng khúc đê mê (XD, Có những bài thơ, 469)

- Dấu gạch ngang: Người tiên biến mất - / Khách trông ra; (TL, VDTQ, 38)

- Dấu ba chấm: Chờ anh dưới gốc sim già nhá!

Ngày đăng: 03/07/2021, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w