1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh kịch vũ như tô của nguyễn huy tưởng và kịch rừng trúc của nguyễn đình thi từ góc nhìn thi pháp thể loại

106 1K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 585,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

so sánh kịch vũ như tô của nguyễn huy tưởng và kịch rừng trúc của nguyễn đình thi từ góc nhìn thi pháp thể loại

Trang 1

tay Vũ Như Tô được sáng tác vào năm 1941 Tác phẩm này được xem là vở

kịch đặc sắc nhất của ông và là vở kịch xuất sắc của Việt Nam Đây là một

vở kịch lịch sử có giá trị về nhiều mặt, một tác phẩm lớn, đa nghĩa, đã và sẽtiếp tục thu hút giới nghiên cứu tìm hiểu nhằm phát hiện ra những giá trị tưtưởng và nghệ thuật của tác phẩm

Cùng thời với Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi được biết đếnnhư một nghệ sĩ đa tài mà sự nghiệp của ông đạt được những thành côngtrên rất nhiều thể loại Ông cũng có những đóng góp quan trọng về nghệthuật kịch Tác phẩm của Nguyễn Đình Thi mang đặc trưng của kịch “tâm

lý - trữ tình” Trong đó phải kể đến Rừng trúc - tác phẩm được coi là lớn

nhất trong gia tài kịch của Nguyễn Đình Thi, đánh dấu bước chuyển mìnhcủa nền kịch nói Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX Có một điều đặc biệt là:

giống như vở kịch Vũ Như Tô trải qua nhiều trắc trở mới đến được với đông đảo công chúng, số phận của vở Rừng trúc cũng gập gềnh không kém Vũ Như Tô gần như bị lãng quên suốt một thời gian dài, mãi đến

những năm 60 của thế kỉ XX mới được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu

còn Rừng trúc được sáng tác từ năm 1978 nhưng phải trải qua chặng đường

Trang 2

long đong suốt 21 năm mới được công diễn trên sân khấu (và đạt Huychương vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1999).

Vũ Như Tô và Rừng trúc đều là hai vở kịch lịch sử mang tầm tư

tưởng sâu sắc, gây được nhiều tiếng vang và thu hút sự chú ý của giớinghiên cứu gần đây Chúng tôi nhận thấy hai vở kịch này tuy sáng tác cách

nhau hơn 30 năm nhưng có điểm gần gũi trong cảm hứng khai thác đề tài lịch sử để khơi gợi ra những bài học giàu ý nghĩa đối với hiện tại Sự khác

biệt dễ nhận thấy nhất giữa Rừng trúc và Vũ Như Tô là những lựa chọn

riêng về mặt thi pháp thể loại Đây là những gợi ý bước đầu để người viết

xác định đề tài nghiên cứu so sánh kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc

So sánh là một thao tác của tư duy, một phương pháp nhận thức màqua việc đối chiếu các đối tượng để tìm ra những tương đồng và khác biệtgiữa chúng Người viết cho rằng khi so sánh hai vở kịch này từ góc nhìn thipháp thể loại, khoá luận sẽ tìm thấy những điểm tương đồng mang tính kếthừa cơ sở truyền thống kịch Việt Nam trước đó và phát hiện ra sự khác

biệt về thi pháp thể loại giữa kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc Điều này phần

nào chứng tỏ nỗ lực cách tân, đổi mới không ngừng của nền văn học kịchViệt Nam từ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám đến những năm đầu

sau khi đất nước được giải phóng Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng

được xem là một vở bi kịch xuất sắc đưa nền nghệ thuật kịch còn khá nontrẻ ở Việt Nam lúc bấy giờ lên đỉnh cao của thể loại Tìm đến thử sức vớisân khấu muộn hơn so với Nguyễn Huy Tưởng nhưng Nguyễn Đình Thi

cũng đã có những khám phá mới mẻ và rất đáng ghi nhận Rừng trúc là một

vở kịch tiêu biểu đánh dấu đóng góp của ông đối với sự phát triển của thểloại, đó là tác phẩm đi đầu cho khuynh hướng kịch “tâm lý - trữ tình” pháttriển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ ở những năm 80 của thế kỷ XX

Bên cạnh đó, tiếp cận đề tài theo hướng so sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn

thi pháp thể loại sẽ giúp người viết có cái nhìn sâu rộng, toàn diện về hai

Trang 3

vở kịch lịch sử này trong hệ thống chỉnh thể các đặc trưng riêng của thểloại kịch Khi nghiên cứu đề tài này, người viết dự định sẽ tìm ra nhữngđiểm tương đồng, những điểm khác biệt, những yếu tố phá thể trong thipháp thể loại ở hai vở kịch và qua đó làm sáng tỏ dấu ấn phong cách riêngcủa từng tác giả Kịch của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi vừamang hơi thở thời đại vừa mang giá trị lịch sử Cả Nguyễn Huy Tưởng vàNguyễn Đình Thi cùng khai thác đề tài lịch sử nhưng lại soi chiếu lịch sử ởnhững góc độ khác nhau để gửi gắm tư tưởng và những bài học sâu sắcmang tính thời đại Chính sự khác biệt ở góc độ soi chiếu lịch sử đã gópphần thể hiện phong cách nổi bật của từng tác giả.

Từ những lí do trên, người viết quyết định lựa chọn đề tài: “So

sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của

Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại”.

2 Lịch sử vấn đề

Do khoá luận của chúng tôi nghiên cứu đề tài “So sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình

Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại” nên người viết sẽ bám sát vấn đề này

để khảo sát tư liệu, từ phạm vi rộng đến hẹp

Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thi pháp kịch, chúng tôi thấy vấn đềnày đã được đề cập đến từ rất sớm qua một số công trình đáng chú ý như:

từ thời cổ đại, cuốn Thi học của Aristote đã đưa ra những nguyên tắc chung

về sáng tạo nghệ thuật, trong đó có bi kịch; sang đến thế kỉ XVII, Boalo

viết cuốn Nghệ thuật kịch chỉ ra những đổi mới so với thi pháp Aristote.

Qua thời gian, lí thuyết về thi pháp học cũng có nhiều thay đổi Thi pháp

hiện đại ra đời Ở Việt Nam, phải kể đến Đỗ Đức Hiểu với cuốn Thi pháp hiện đại đã có đóng góp giới thiệu thi pháp học một cách khá toàn diện qua

việc xem xét theo phạm vi thể loại

Trang 4

Từ những kết quả trên, chúng tôi tiếp tục khảo sát mảng tài liệunghiên cứu về phong cách kịch Nguyễn Huy Tưởng, phong cách kịchNguyễn Đình Thi rồi tìm hiểu phạm vi hẹp hơn là các tài liệu nghiên cứu

về vở Vũ Như Tô và Rừng Trúc để xem đã có nhà nghiên cứu nào tiếp cận

chúng ở góc nhìn thi pháp thể loại hay chưa?

2.1 Lịch sử nghiên cứu phong cách kịch Nguyễn Huy Tưởng và

nghiên cứu kịch Vũ Như Tô

2.1.1 Nghiên cứu phong cách kịch Nguyễn Huy Tưởng

Các tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Tưởng được các nhà nghiên cứuđặc biệt chú ý bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX Cùng với thời gian,giới nghiên cứu khám phá thêm nhiều đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuậttrong kịch Nguyễn Huy Tưởng Thi pháp kịch của ông đã được phần nàolàm rõ qua các bài nghiên cứu đáng chú ý sau:

Hà Minh Đức trong bài viết “Kịch Nguyễn Huy Tưởng” (được tập

hợp trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng Về tác gia và tác phẩm) đã đưa ra nhận

xét khái quát về phong cách của kịch tác gia này với những đặc điểm nổibật là giàu chất sử thi, có khả năng khái quát rộng rãi, giàu chất trữ tình,vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu, vừa giàu chất hiện thực, vừa ước mơbay bổng

Tiếp đến, Phan Cự Đệ cũng với bài viết mang tên “Kịch Nguyễn

Huy Tưởng” đăng trên Tạp chí Văn học số 3 năm 1964 đã khẳng định một

số nét phong cách của kịch tác gia này Đó là Nguyễn Huy Tưởng “thườngdựng những mâu thuẫn kịch từ những mâu thuẫn khách quan của xã hội”,

“có xu hướng quy mô và có khả năng khái quát rộng rãi”, “thường đi sâuvào những suy nghĩ nội tâm của nhân vật”[5,29], từ đó đặt ra những vấn đề

có chiều sâu về tư tưởng, những vấn đề làm cho người đọc phải suy nghĩ,nhân vật thường được lí tưởng hoá và phóng đại, đậm chất lãng mạn…

Bích Thu và Tôn Thảo Miên trong bài “Nguyễn Huy Tưởng - khát

vọng một đời văn” (in trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng Về tác gia và tác

Trang 5

phẩm) đã đưa ra nhận xét về phong cách kịch của Nguyễn Huy Tưởng:

“Điểm dễ nhận thấy trong kịch của ông là chất sử thi dựa trên cơ sở khaithác những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, những xung đột quyết liệt liênquan đến vận mệnh của cả dân tộc… vấn đề ông đặt ra trong kịch thường

có tầm khái quát rộng rãi và nhân vật cũng giàu chất sống nội tâm Ngòibút sử thi kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc điểm cơ bản trongkịch Nguyễn Huy Tưởng” [46 ,28]

2.1.2 Nghiên cứu vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng

Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Như Tô được xem là

vở kịch thành công nhất của ông Tác phẩm này là đề tài hấp dẫn của cácnhà nghiên cứu trong những năm gần đây

Trong những bài nghiên cứu về vở kịch này, có bài viết “Bi kịch Vũ Như Tô” của Đỗ Đức Hiểu đăng trên Tạp chí Văn học số 10 năm 1997 đã

tiếp cận tác phẩm này ở góc độ thi pháp học, phân tích về đối thoại - hành

động, không gian - thời gian trong vở kịch Vũ Như Tô Bài viết đã phần nào gợi ý cho chúng tôi so sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại.

Ngoài ra, Phạm Vĩnh Cư trong bài “Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô” đăng trên Tạp chí Văn học số 7 năm 2000 đã đưa đến một hướng tiếp cận

mới về vở kịch này từ góc độ đặc trưng thể loại qua một số bình diện cơbản của bi kịch: xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch, tội lỗi bi kịch và hiệuứng bi kịch

2.2 Lịch sử nghiên cứu phong cách kịch Nguyễn Đình Thi và

nghiên cứu kịch Rừng trúc

2.2.1 Nghiên cứu phong cách kịch Nguyễn Đình Thi

Số lượng các bài nghiên cứu - phê bình về kịch Nguyễn Đình Thiđến nay vẫn còn dừng lại ở con số khá khiêm tốn Điều này càng cho thấy ýnghĩa khoa học của những bài báo và công trình nghiên cứu góp phần nhậndiện thi pháp kịch của Nguyễn Đình Thi như:

Trang 6

Trong cuốn Nguyễn Đình Thi tác giả - tác phẩm của Nhà xuất bản

Văn hoá thông tin có tập hợp bài viết “Thế giới kịch Nguyễn Đình Thi” củaTất Thắng Ở bài viết này, Tất Thắng đã đưa ra nhận xét khái quát về thếgiới kịch của Nguyễn Đình Thi: “thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là mộtthế giới văn hoá nơi mà dấu vết văn hoá cổ kim và đông tây, dân gian vàbác học… được hội tụ nhân bản và tinh thần nhân đạo nó có sức kì diệuđưa con người và cảnh đời từ hiện thực trở thành huyền thoại” [22,370]

Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2004, Lê Thị Chính với

bài “Một số hình thái xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi” đã khái quátmột đặc điểm của Nguyễn Đình Thi trong khai thác xung đột là “nhà vănkhông hướng tới khai thác những xung đột mang tính chất bạo biệt (nhưxung đột địch - ta, xung đột giai cấp…) mà hướng tới xung đột thật - giả,xung đột lịch sử, xung đột giữa việc nước và việc người, xung đột giữaquyền lực và quyền sống tự do, tự nhiên của con người…” [3,86]

Ngoài ra, trong luận án tiến sĩ Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch, Lê

Thị Chính trên cơ sở tiếp thu các ý kiến của các nhà nghiên cứu trước, đãtiếp cận một cách cụ thể, hệ thống về kịch của Nguyễn Đình Thi dựa theođặc trưng thể loại

Gần đây nhất, năm 2009, phải kể đến luận văn thạc sĩ Phong cách kịch Nguyễn Đình Thi của Bùi Thị Thanh Nhàn đã mang đến một cái nhìn

đầy đủ hơn về những đóng góp của Nguyễn Đình Thi trong lĩnh vực sânkhấu và nhận diện khái quát phong cách kịch Nguyễn Đình Thi: “kịchNguyễn Đình Thi có chất trữ tình, lãng mạn của thơ, có âm điệu trầm hùngcủa nhạc, có phong cách sử thi của tiểu thuyết và phảng phất triếtluận”[28,94]

Tuy nhiên, các bài nghiên cứu về kịch Nguyễn Đình Thi còn rất ít,phần lớn chỉ là những nhận xét khái quát

Trong cuốn Lịch sử Văn học Việt Nam, tập III, Chu Văn Sơn đã có

cái nhìn khá sắc sảo về nhiều phương diện trong kịch Nguyễn Đình Thi

Trang 7

Ông khẳng định kịch Nguyễn Đình Thi có chất văn đậm đặc: “Về căn bảnkịch của Nguyễn Đình Thi không phải là những tác phẩm sân khấu của mộtnhà biên kịch mà vẫn là tác phẩm văn học theo phương thức kịch của mộtnhà văn… Phần lớn các vở kịch của Nguyễn Đình Thi đều ít nhiều mangmàu sắc bi kịch, tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng và đậm chất triết lý”[30,544].

Nguyễn Văn Thành chú ý đến sự tìm tòi, sáng tạo của Nguyễn ĐìnhThi trong thể loại kịch Theo ông, các kịch bản của Nguyễn Đình Thi “kịchbản nào cũng được viết với một bút pháp tân kỳ, táo bạo, thật sự là nỗ lựccách tân cung cách biên kịch nhằm mở rộng dung lượng, sức chứa cũngnhư tăng cường chất văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lýcủa kịch” [29,237]

2.2.2 Nghiên cứu vở kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi

Rừng trúc là một trong những vở kịch thể hiện rõ nét phong cách của

Nguyễn Đình Thi nhưng chỉ đến khi vở kịch được công diễn trên sân khấu

và giành được Huy chương vàng tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm

1999 thì các nhà nghiên cứu và công chúng mới bắt đầu tìm hiểu, nghiêncứu và phê bình về vở kịch này

Phan Trọng Thưởng với bài “Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử” đăng trên Tạp chí Văn học

số 11 năm 1999 đã nhận thấy tài năng của Nguyễn Đình Thi qua vở kịchnày là “khả năng khai thác vào các sự kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm

ra trong đó những bài học mới về đạo đức, nhân sinh, khả năng lí giảinhững vấn đề lớn đặt ra cho mọi thời đại”[49,17]

Nhìn chung những bài viết nghiên cứu về vở Rừng trúc còn rất ít và

chưa có nhà nghiên cứu nào tiếp cận vở kịch này một cách toàn diện từ gócnhìn thi pháp thể loại

Như vậy điểm qua các bài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có

bài viết nào so sánh kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc Cách tiếp cận hai vở

Trang 8

kịch này từ góc nhìn thi pháp thể loại để so sánh là hoàn toàn hợp lý và mới

mẻ Điều này khẳng định đóng góp mới của chúng tôi khi quyết định

nghiên cứu đề tài: “So sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc độ thi pháp thể loại”.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khi thực hiện nghiên cứu đề tài “So sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc

nhìn thi pháp thể loại”, người viết tập trung nghiên cứu và so sánh hai tác

phẩm kịch: Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Rừng trúc của Nguyễn

Đình Thi

Ngoài ra, trong khoá luận này, người viết cũng có sự liên hệ với cácsáng tác khác về đề tài lịch sử (thuộc cả thể loại kịch và tiểu thuyết) củaNguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi để làm rõ khuynh hướng khaithác đề tài lịch sử Trên cơ sở đó, chúng tôi tiếp tục chứng minh sự khácbiệt thể loại giữa tiểu thuyết và kịch khi khai thác đề tài lịch sử để thấy rõ

ưu thế riêng của thể loại kịch trong việc thể hiện đề tài “đặc biệt” này

4 Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài này của chúng tôi là so sánh để tìm ra

điểm tương đồng và khác biệt trong thi pháp kịch ở vở Vũ Như Tô và Rừng trúc để qua đó thấy rõ nỗ lực đổi mới, cách tân của kịch nói Việt Nam

trong tiến trình phát triển và nhận diện phong cách nghệ thuật đặc sắc riêngcủa từng tác giả

Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh kịch Vũ Như

Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc

nhìn thi pháp thể loại vì vậy chúng tôi khẳng định đề tài này có đóng gópmới cho việc tìm hiểu, khám phá thêm những giá trị của hai vở kịch lịch sử

Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ

Trang 9

góc nhìn thi pháp kịch; đồng thời qua đó góp phần thấy được những nét nổibật trong phong cách kịch của từng tác giả và sự đổi mới, không ngừng thểnghiệm, phát triển của kịch nói Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Támđến những năm đầu sau khi đất nước thống nhất.

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài khoa học này, cơ sở phương pháp luận căn bản nhất mà chúng tôi lấy làm “tinh thần chính” là thi pháp thể loại Bên cạnh

đó, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dunggồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Chương 2: So sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại

- Chương 3: Vấn đề thể hiện đề tài lịch sử qua kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc

Trang 10

1.1.1.1 Khái niệm “thi pháp”

Thuật ngữ “thi pháp” đã được quan niệm một cách hệ thống trong tưtưởng nhận thức của giới nghiên cứu văn học “Thi pháp” chính là một bộ

phận của lí luận văn học Tất Thắng trong cuốn Về thi pháp kịch đã nêu ra

cách hiểu về khái niệm “thi pháp” như sau: “Nếu lý luận văn học ôm trùm

cả một phạm vi lớn rộng những vấn đề của sáng tác và tiếp nhận văn học,của mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, giữa nhà văn và người đọc,giữa văn học và tác phẩm, tóm lại là những vấn đề văn học với tư cách làmột hình thái đặc biệt của ý thức xã hội… thì đến lượt mình, thi pháp chỉnghiên cứu những vấn đề nghệ thuật của thi ca” [42,7] Còn Trần Đình Sử

trong cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu thì cho rằng “thi pháp” là “nghiên cứu

hình thức nghệ thuật trong tính chỉnh thể, trong tính quan niệm” [31,17]

Ngày nay, khi khoa học về văn học chú ý nhiều đến khái niệm “thi

pháp” thì thi pháp học lại mở rộng đến cả các ngành nhánh thi pháp thể loại, thi pháp tác gia, thi pháp tác phẩm.

1.1.1.2 Thi pháp thể loại và thi pháp kịch

Tất Thắng cho biết đối tượng của thi pháp thể loại là “nghiên cứu

những vấn đề nghệ thuật của từng thể loại, đặc biệt là những đặc trưng thểloại” [42,8] như thi pháp tiểu thuyết, thi pháp thơ, thi pháp truyện… Từ đó,

Tất Thắng khẳng định “thi pháp kịch là thi pháp thể loại” [42,8] Như vậy, thi pháp kịch nghiên cứu những đặc trưng của thể loại kịch.

Trang 11

Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu, đồng thời là một trong baphương thức phản ánh của văn học Ở cấp độ loại thể, kịch là một thể loạigắn với một phương thức phản ánh tồn tại độc lập - phương thức kịch Chấtliệu để nhà viết kịch xây dựng nên tác phẩm kịch nói là ngôn ngữ văn học.Chính vì lẽ đó, kịch bản là một trong những thể loại có lịch sử lâu đời củavăn học với những đặc điểm thi pháp nổi bật Kịch bao gồm hai bộ phậnlớn: Kịch bản và trình diễn Kịch bản và trình diễn không thể tách rời nhau.

Là một thể loại nằm trong loại hình nghệ thuật kịch, kịch bản văn học chỉthực sự được khai thác trọn vẹn khi được biểu diễn trên sân khấu Như vậy,kịch vừa có cái riêng của văn học, lại có cả cái chung của sân khấu Phầnthuộc về văn học là phương diện kịch bản Phần thuộc về sân khấu là nghệthuật trình diễn Là một loại thể văn học có đầy đủ những đặc trưng và tínhchất riêng trong cấu trúc hình tượng, trong phương thức biểu hiện, trongngôn ngữ nghệ thuật, công chúng vẫn có thể thưởng thức tác phẩm bằngcách đọc kịch bản văn học Tuy nhiên, kịch bản không thể thay thế và bộc

lộ được trọn vẹn vẻ đẹp của một tác phẩm kịch như khi nó được trình diễntrên sân khấu

1.1.1.3 Các nội dung cơ bản trong thi pháp kịch

Chúng tôi xin nêu ra các thành tố cơ bản của thế giới kịch bao gồmxung đột, hành động, nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian - đâyđược coi là những nội dung cơ bản của thi pháp kịch:

1.1.1.3.1 Xung đột kịch

Xung đột là cơ sở của kịch Nhắc đến kịch là phải nhắc đến xungđột Xung đột có mặt ở hầu hết các thể loại nhưng với kịch, yếu tố xung độtmang theo một sắc thái thẩm mĩ khác Đó là tính chất tập trung cao độ củanhững khối mâu thuẫn lớn, chi phối trực tiếp của đến cấu trúc tác phẩm vànhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốt truyện Xung đột là độnglực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xác lập những quan hệmới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của tác phẩm kịch

Trang 12

Trong bài viết “Bi kịch Vũ Như Tô”, Đỗ Đức Hiểu đã đưa ra nhận

định: “Thi pháp cổ điển cho rằng, xung đột là đặc trưng cơ bản, đặc trưng

số một của kịch Thi pháp kịch hiện đại nhận định xung đột là biểu hiệnbên ngoài, bề mặt của những lực bên trong, những lực này chuyển động tạothành những mâu thuẫn, trái chiều nhau, xung đột với nhau Nó quyết định

sự tiến triển của hành động, đồng thời nó chỉ rõ những mối quan hệ phứchợp giữa các lực, sự di chuyển của các lực ấy”[51,166]

Qua xung đột có thể thấy những mâu thuẫn lớn của hiện thực xã hội,đồng thời cũng cho thấy tư tưởng, chủ đề của vở kịch, lập trường quanđiểm của tác giả Cách thức triển khai và giải quyết xung đột làm thành hạtnhân của tư tưởng nghệ thuật

1.1.1.3.2 Hành động kịch

Kịch là thể loại mang lại sự nhận thức thông qua yếu tố hành động.Nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm thìhành động lại là yếu tố duy trì sự vận hành của tác phẩm Hành động kịchchính là sự thể hiện trực tiếp nội dung của xung đột kịch Xung đột càngcăng thẳng thì hành động càng trở nên mạnh mẽ, quyết liệt

Hành động kịch không đơn giản là những hành động đơn lẻ, ngắtquãng mà là một chuỗi hành động liên tiếp xoáy quanh trục xung đột Hànhđộng kịch chính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặtchẽ trong khuôn khổ văn bản kịch

1.1.1.3.3 Nhân vật kịch

Nhân vật kịch chủ yếu được khắc họa bằng hành động, bao gồmhành động bên trong và hành động bên ngoài Hành động bên trong lànhững hoạt động thầm kín trong đầu óc của con người như suy nghĩ, tínhtoán, đấu tranh tư tưởng… Còn hoạt động bên ngoài là những động tác, cửchỉ, ngôn ngữ Qua hành động, nhân vật kịch bộc lộ tính cách của mình -những tính cách đó tham gia vào những xung đột kịch và được biểu hiện cụthể, sinh động Do đặc trưng của thể loại, nhân vật kịch không được khắc

Trang 13

họa tỉ mỉ từ nhiều góc độ như các nhân vật trong tác phẩm tự sự dài mànhân vật hiện lên đúng vào thời điểm “bước ngoặt số phận” Khi thiết lậpxung đột kịch, tác giả đồng thời đẩy nhân vật vào những “hành động” trắctrở Hành động của nhân vật góp phần thúc đẩy cốt truyện và biểu hiện chủ

đề tư tưởng của tác phẩm

Cũng trong bài “Bi kịch Vũ Như Tô”, Đỗ Đức Hiểu đã nêu: “Thi

pháp cổ điển nghiên cứu nhân vật kịch như một “tâm lý”, một “tính cách”,nhân vật “bắt chước cuộc sống”, trở thành những “điển hình”,… Thi phápkịch hiện đại quan niệm nhân vật kịch là con người sống, một cá nhân, một

cá tính luôn biến động trong không gian, trong thời gian Kịch sĩ xây dựngtừng bước, từ cảnh này qua cảnh khác, bằng kịch bản, tức là đối thoại, nhânvật của mình, nhân vật tự hình thành dần, thêm bề dày, chiều sâu, trở thànhmột nhân vật phức hợp, nhiều chiều.” [51,170]

1.1.1.3.4 Ngôn ngữ kịch

Trong kịch không tồn tại ngôn ngữ của người kể chuyện Tác giảkịch bản không có chỗ đứng trong tác phẩm với tư cách là người kểchuyện, thuyết minh, biện giải… cho nhân vật Một trong những thi phápnổi bật của kịch đó là sử dụng ngôn ngữ nhân vật làm hình thái tồn tại duynhất của ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng chính: đốithoại và độc thoại Đối thoại là các nhân vật nói với nhau, còn độc thoại lànhân vật tự nói với chính mình Dù là đối thoại hay độc thoại thì ngôn ngữkịch cũng phải phù hợp với tính cách nhân vật Tóm lại, do ngôn ngữ kịchchỉ biểu hiện bằng ngôn ngữ của nhân vật nên ngôn ngữ kịch phải đảm bảo

có tính hành động, tính hàm súc, tính tổng hợp và phải phù hợp với tínhcách nhân vật

1.1.1.3.5 Không gian và thời gian kịch

Không gian và thời gian trong kịch bản văn học có những điểm riêngtiêu biểu cho thi pháp thể loại Đặc trưng của kịch là tính giới hạn về không

- thời gian

Trang 14

Không gian của kịch bản bao gồm có không gian sân khấu và khônggian ngoài sân khấu Không gian sân khấu bao bọc trong nó nhân vật, đồđạc, cảnh trí Không gian ngoài sân khấu là không gian tưởng tượng,không gian tâm tưởng, không gian kí ức… được mở ra theo mạch đối thoại

và sự vận động của cốt truyện

Thời gian của kịch bản bao gồm thời gian diễn xuất và thời gianhành động Thời gian diễn xuất - thời gian sân khấu - tính từ lúc mở mànđến lúc hạ màn kéo dài khoảng chừng ba tiếng đồng hồ và có thể chia nhỏhơn thành thời gian của từng hồi, từng lớp, từng cảnh Thời gian hành độngđược tính bằng năm tháng theo tuổi đời nhân vật Phá vỡ nguyên tắc hànhđộng chỉ diễn ra trong một ngày của kịch cổ điển Pháp, thời gian hành độngcủa nhân vật trong các trường phái, trào lưu kịch sau cổ điển được kéothành thời gian của một thời, một đoạn hay một quãng đời dài

Trên đây chúng tôi đã trình bày những nội dung cơ bản của thi pháp

kịch Khi thực hiện đề tài so sánh vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại,

chúng tôi sẽ dựa vào các đặc trưng cơ bản đó của kịch và lấy đó làm tiêuchí để tiến hành so sánh

1.1.2 Các quan niệm sáng tác trong tiến trình phát triển kịch ở Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển kịch ở Việt Nam gắn liền với sựthay đổi quan niệm trong sáng tác của các kịch tác gia

Vào đầu thập kỉ 20 của thế kỷ XX, kịch nói Việt Nam ra đời là kếtquả của sự giao lưu văn hoá Đông - Tây Do vậy, có thế thấy rõ quan niệm

sáng tác kịch ở giai đoạn đầu từ 1921 - 1930: Kịch Việt Nam hình thành trên cơ sở tiếp nhận kịch Pháp nên các vở kịch thời kì này như Chén thuốc độc, Toà án lương tâm (Vũ Đình Long), Hoàng Mộng Điệp (Vi Huyền Đắc), Chàng ngốc (Nam Xương)… được sáng tác theo tinh thần mô phỏng

Trang 15

kịch cổ điển Pháp cả về cấu trúc tuân thủ luật tam duy nhất lẫn nội dung xãhội - đạo đức của nó.

Đến giai đoạn 1930 - 1945, kịch nói Việt Nam tiếp tục chịu ảnh

hưởng sâu sắc của các nhà viết kịch Pháp từ tư tưởng, quan niệm nghệthuật đến cấu trúc kịch bản Kịch giai đoạn này không phải chịu ảnh hưởngcủa chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỷ XVII - XVIII mà chủ yếu ảnh hưởng từchủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỷ XIX nên chúng ta có thể dễ dàng nhậnthấy sự chuyển hướng sang khai thác mâu thuẫn giữa thực tại và ước mơ ởkịch của Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Vũ Trọng Phụng…

Đến giai đoạn cách mạng 1945 - 1954, quan niệm về kịch đã có sự

thay đổi Dưới ảnh hưởng của phong trào đấu tranh Cách mạng do Đảnglãnh đạo và ảnh hưởng của những tư tưởng lí luận văn học mác xít đượcHải Triều truyền bá từ những năm 30, một dòng văn học mới đã hình thành

để đến khi bắt gặp Đề cương văn hoá và được tiếp sức bởi các tư tưởng líluận mới mau chóng phát triển từ năm 1945 - dòng văn học Cách mạng Đểđáp ứng yêu cầu phục vụ đấu tranh cách mạng, kịch trở thành phương tiệntuyên truyền Kịch mở rộng dung lượng phản ánh đến đời sống sinh hoạtcủa công - nông - binh và làm mất đi tính mô phỏng, bắt chước kịch Pháp.Nội dung mới, hình thức mới của kịch giai đoạn này xuất pháp từ mục đíchphục vụ cách mạng đã tạo nên diện mạo mới có tính chất dân tộc và nhândân cho nền kịch nói giai đoạn này

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 không chỉ đưa lịch sử dân tộcsang trang mới mà còn mở ra một giai đoạn văn học tiếp theo với sự trưởngthành về nhiều mặt Từ năm 1954 trở đi, quan niệm sáng tác kịch của cáctác giả đã hướng tới đáp ứng yêu cầu thời sự, phản ánh các mâu thuẫn giaicấp trong thực tiễn và xác định nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn là đề caoquyền lợi của nhân dân

Vào những năm 1975 - 1985, dân tộc ta phải đối mặt với thực tế khó

khăn của thời kì hậu chiến và từ đó đặt ra những yêu cầu nhận thức đối với

Trang 16

hiện tại Ngòi bút kịch của các tác giả một mặt vẫn hướng vào đề tài chiếntranh, mặt khác hướng vào không khí dân chủ và nhiệt huyết công dân mới.

Đề tài kịch giai đoạn nửa sau thế kỉ XX được mở rộng theo nhiều chiềuhướng khác nhau nên các quan niệm, tư tưởng sáng tác kịch cũng linh hoạthơn, đặc biệt là kịch còn mở rộng sang bình diện tâm lý

1.2 Cơ sở thực tiễn

Có thể khẳng định sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn ĐìnhThi có cơ sở từ thực tiễn truyền thống kịch Việt Nam trước đó Tác phẩmkịch của hai ông chịu ảnh hưởng của sự thay đổi quan niệm sáng tác và thipháp học đương thời Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều đã kếthừa những thành công của kịch nói trong thời kì mà mình đang sống và từ

đó tìm tòi những cách tân, sáng tạo góp phần phát triển nền kịch nói ViệtNam

1.2.1 Lịch sử kịch nói Việt Nam từ khi hình thành đến năm 1940

Nền kịch nói Việt Nam ra đời trên nền tảng của nghệ thuật sân khấuphương Tây Trong thời kì Pháp thuộc, kịch trường nước ta phát triển trên

cơ sở ảnh hưởng những trào lưu nghệ thuật Pháp một cách sâu sắc Nhànghiên cứu Tất Thắng trong bài viết “Sự đổi mới kịch Việt Nam thế kỷ XX

từ góc độ thể loại” (in trong cuốn Nhìn lại Văn học Việt Nam thế kỷ XX của

Viện Văn học) đã giải thích sự ra đời của kịch nói Việt Nam vào nhữngnăm đầu thế kỷ XX từ nhiều khía cạnh Chúng tôi xin tóm gọn ý kiến củaTất Thắng đưa ra những lí giải sau: Thứ nhất, đó là sự ra đời dưới sức épcủa xu thế tiếp cận chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ.Thứ hai, đó là kết quả của sự giao lưu văn hoá Pháp - Việt, trong đó kịchViệt Nam ra đời do chịu ảnh hưởng của kịch cổ điển Pháp thế kỷ XVII.Thứ ba, cũng có thể lại giải thích sự ra đời của kịch nói là sự đáp ứng nhucầu của người xem ở thời đại mới, khi mà những kịch chủng, kịch hát cũ

Trang 17

như tuồng, chèo không còn phù hợp với họ nữa Thứ tư, có thể giải thích sự

ra đời của kịch nói như là sự thể hiện tinh thần dân tộc của một số tầng lớptrí thức văn nghệ sĩ Hà Nội Hồi đầu thế kỷ, họ tiếp xúc với kịch cổ điểnPháp, nhất là hài kịch Môlie, khi một số vở hài kịch Tây được dịch và diễntrên sân khấu Hà Nội thì sự kích thích “máu” “chơi” kịch, diễn kịch mà là

“chơi” kịch, diễn kịch Ta ở một số nghệ sĩ, nhà văn trí thức đã trở thànhhành động hiện thực: viết kịch nói và diễn kịch nói Sự ra đời của kịch nóibắt đầu từ việc dịch và dựng một số vở kịch của hài kịch cổ điển Pháp thế

kỷ XVII, đặc biệt là hài kịch Moliere như Người bệnh tưởng, Trưởng giả học làm sang, Người biển lận… Loại kịch dịch tuy buổi đầu có nhiều

nhưng ngày một ít dần, trái lại kịch Việt Nam ngày một nhiều thêm Sựkiện đánh dấu sự ra đời của kịch nói Việt Nam là vào đêm 22/10/1921, vở

kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long được công diễn trên sân khấu Nhà

hát lớn Sự ra đời ấy không tách khỏi ảnh hưởng của kịch cổ điển Pháp.Kịch nói Việt Nam đến đây đã chính thức thành hình

Thực tiễn hoạt động của kịch nói trong thời kỳ đầu 1921 - 1927 thể

hiện rõ tính chất non yếu nhưng vẫn thấy rõ con đường vươn lên, biểu lộ ở

sự tăng tiến số lượng kịch bản Việt Nam được công diễn và đang lấn lướtnhững kịch bản dịch và hoạt động của sân khấu Pháp trên đất nước ta

So với thời kỳ 1921 - 1927, kịch nói từ 1927 - 1930 phát triển nhanh

hơn về mọi mặt: phong phú hơn về kịch bản, sôi nổi hơn về mặt biểu diễn

và xuất hiện một số tác giả viết kịch am hiểu về kịch cổ điển như NguyễnHữu Kim, Vi Huyền Đắc, Nam Xương… Kịch nói Việt Nam ngay từ khimới phát triển, do hoàn cảnh xã hội thúc đẩy, đã nảy sinh khuynh hướngphê phán hiện thực và khuynh hướng đòi thoát ly lễ giáo phong kiến Dovậy, các nhà viết kịch giai đoạn này tìm đến với bi kịch cổ điển Pháp đểhọc tập và tìm ở đó những yếu tố tâm lý - đạo đức thích hợp với xã hội ViệtNam đang tư sản hoá

Trang 18

Như vậy, ở giai đoạn đầu từ 1921 - 1930, kịch Việt Nam hình thành

trên cơ sở tiếp nhận kịch Pháp Quá trình hoạt động của kịch nói Việt Namchưa tách rời khỏi hoạt động của sân khấu ca kịch dân tộc và phạm vi hoạtđộng của kịch nói ở giai đoạn này còn hạn chế Nhưng điểm đáng ghi nhận

là nghệ thuật kịch nói Việt Nam ở giai đoạn này đã được hình thành trên cơ

sở tiếp thu những nhân tố tích cực của kịch trường cổ điển Pháp, pha trộnvới phong cách hài hước, châm biếm sẵn có của sân khấu dân gian cổtruyền

Thời kì 1930 - 1936, hoạt động kịch nói ở sân khấu nước ta bắt đầu

có những chuyển biến theo hướng mới: bắt đầu thể hiện khuynh hướngmuốn tách rời hoạt động sân khấu kịch ra khỏi các hoạt động xã hội côngích để tiến tới một hoạt động nghệ thuật đơn thuần, tách rời hoạt động kịchnói với sân khấu và quần chúng rộng rãi của ca kịch để xây dựng một sânkhấu kịch nói thuần tuý phục vụ một lớp công chúng riêng của kịch.Khuynh hướng này nảy sinh chứng tỏ hoạt động của sân khấu kịch đangbắt đầu trưởng thành và sân khấu kịch nói đang bắt đầu tiến vào lĩnh vựcnghệ thuật

Dựa vào những thành công của việc xây dựng nghệ thuật sân khấukịch nói ở thời kỳ trước, từ năm 1936 trở đi, kịch ở nước ta đã có nhữngbiến chuyển lớn thể hiện ở quan niệm xây dựng sân khấu kịch mới Thời kỳ

từ 1936 - 1940 có thể coi là thời kì bắt đầu trưởng thành của kịch nói Việt

Nam Sự trưởng thành của hoạt động kịch thể hiện trước hết là ở sự kết hợpchặt chẽ giữa người viết kịch, đạo diễn, diễn viên và trang trí Quần chúng

có sự trân trọng người viết kịch như đối với nhà văn, nhà thơ Hoạt độngkịch nói công khai thời kỳ này đã có xu hướng ly khai dần sân khấu vàcông chúng rộng rãi của ca kịch để hình thành dần một sân khấu kịch nóithuần tuý với một lớp công chúng hẹp thuộc tầng lớp tư sản và tiểu tư sảntrí thức

Trang 19

1.2.2 Thực tiễn phát triển của nền kịch nói Việt Nam giai

đoạn 1940 - 1954 và những ảnh hưởng đến sáng tác kịch của

Nguyễn Huy Tưởng

Vào thời kỳ từ 1940 - 1945, tình hình xã hội đấu tranh kháng chiến

chống Pháp đã có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động văn học nghệ thuậtđương thời Phong trào văn nghệ phục cổ đã lan rộng Thơ ca, truyện, kịch

có khuynh hướng trở về quá khứ lấy đề tài ca ngợi gương nghĩa liệt củangười xưa, đi tìm một đặc trưng nghệ thuật riêng của dân tộc Trongkhuynh hướng văn nghệ phục cổ, việc sáng tác kịch lịch sử đã trở thànhmột phong trào sôi nổi cuốn hút các cây bút viết kịch tham gia, tiêu biểu

như Vi Huyền Đắc với vở Kinh Kha, Lệ Chi Viên và Nguyễn Huy Tưởng với vở Vũ Như Tô…

Phong trào phục cổ đã lôi cuốn Nguyễn Huy Tưởng sáng tác vở kịch

Vũ Như Tô, mượn đề tài lịch sử để gửi gắm những vấn đề lớn mà thời đại

đặt ra Nguyễn Huy Tưởng đã kế thừa những thành tựu của kịch nói Việt

Nam đương thời Kịch nói trong giai đoạn 1930 - 1945 có những tiến bộ rõ

rệt về những thủ pháp sân khấu trong việc sáng tạo kịch bản so với giaiđoạn trước Trong nhiều vở kịch đã thấy bớt đi nhiều cái hiện tượng tác giả

“nhảy ra sân khấu” để nói với khán giả, thay vào đó các hình tượng nhânvật của vở kịch đã tự nói lên các chủ đề tư tưởng Giai đoạn này, các nhàviết kịch đã chú ý dẫn dắt hành động phát triển dần từ thấp đến cao điểmmột cách liên tục và logic, chú ý đến vai trò của đối thoại trong sự pháttriển hành động và mô tả tâm lý, cá tính nhân vật, chú ý gây hứng thú chokhán giả bằng một số biện pháp sân khấu như những sự việc đột biến, bấtngờ, chú ý đến khung cảnh chung của sân khấu Các tác giả đã khắc phụcđược khá nhiều bệnh thuyết pháp trên sân khấu, không còn đem những bàihọc luân lí, mượn nhân vật để giáo huấn công chúng Tuy nhiên, hiệntượng thuyết pháp hay đối đáp dài dòng vẫn thấy như trong một số vở kịch

như Không một tiếng vang, Kim Tiền Sự tiến triển của hành động của các

Trang 20

vở kịch đã đỡ bị chậm chạp, nặng nề như trước Những điểm mạnh trên đây

đều được Nguyễn Huy Tưởng thể hiện trong Vũ Như Tô Sự tiến bộ về

nghệ thuật viết kịch so với giai đoạn trước thể hiện ở lời văn kịch bản Nếutrước kia các kịch tác gia còn chú ý đến mặt “làm văn” trong kịch thì bâygiờ người ta không những đã bỏ được lối văn biền ngẫu, những sáo ngữ mà

đã bắt đầu coi trọng nhiệm vụ mô tả tính cách nhân vật và thúc đẩy sự tiếntriển của hành động bằng đối thoại

Nguyễn Huy Tưởng là kịch tác gia tiêu biểu nhất của thời kì cáchmạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp: “Điểm dễ nhận trong kịchcủa ông là chất sử thi dựa trên cơ sở khai thác những mâu thuẫn cơ bản củathời đại, những xung đột quyết liệt liên quan đến vận mệnh cả dân tộc.Hoặc chí ít cũng là những vấn đề xã hội được đặt ra để làm nền cho hoạtđộng tâm lý, cho sự giãi bày tâm trạng thông qua số phận từng nhân vật

Do vậy vấn đề ông đặt ra trong kịch thường có tầm khái quát rộng rãi vànhân vật cũng giàu chất sống nội tâm Ngòi bút sử thi mang màu sắc lịch sửkết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc điểm cơ bản của kịchNguyễn Huy Tưởng”[46,28] Kế thừa những đổi mới của kịch giai đoạnnày, Nguyễn Huy Tưởng nỗ lực tìm tòi để khám phá ra những cách thểnghiệm mới Ông đi sâu khắc hoạ suy nghĩ nội tâm của nhân vật Trong vở

Vũ Như Tô, kịch tính không chỉ biểu hiện trong các xung đột của những

mâu thuẫn mà ít nhiều còn thể hiện ngay trong những suy nghĩ giằng xécủa nhân vật chính Qua đó, Nguyễn Huy Tưởng thường đặt ra những vấn

đề có chiều sâu về tư tưởng

Sau cách mạng tháng Tám, kịch đòi hỏi bức thiết phải có những vởviết về cuộc sống mới và con người mới, phải thể hiện được chủ đề cáchmạng trên sân khấu Trong những sáng tác kịch về đề tài lịch sử phải kể

đến vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng Thành công của Bắc Sơn

chủ yếu là ở chỗ lần đầu tiên sân khấu kịch nói đã phản ánh được khá chânthực và quy mô phong trào cách mạng Khi kháng chiến toàn quốc bùng

Trang 21

nổ, kịch nói đi sâu vào đời sống quần chúng Đề tài lịch sử được khai thác

từ những vấn đề đặt ra trong đời sống Kịch kháng chiến phục vụ chủtrương chính sách của nhà nước trong giai đoạn cách mạng, các tác giảquan niệm lấy yêu cầu phục vụ cách mạng làm mục đích chính nên chủ đềsáng rõ, cốt truyện gọn, xung đột kịch gắn bó trực tiếp với đời sống Các vởkịch thường được cấu tạo từ một đến ba hồi, thích hợp với điều kiện trìnhdiễn cơ động trong kháng chiến Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi,kịch những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội có xu hướng mở rộng về đề tài,khai thác xung đột từ những phạm vi khác nhau của đời sống xã hội Cáckịch tác gia vừa phản ánh kịp thời những vấn đề thời sự vừa có ý thức khaithác cuộc sống một cách quy mô hơn, tránh được tình trạng sơ lược vộivàng

1.2.3 Thực tiễn phát triển của nền kịch nói Việt Nam giai

đoạn 1954 - 1975 và những ảnh hưởng đến sáng tác kịch của

Nguyễn Đình Thi

Lịch sử kịch nói Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 cho thấy các nhà

viết kịch một mặt nỗ lực chiếm lĩnh quy mô thẩm mỹ của hiện thực theochiều rộng và chiều sâu, mặt khác cũng nỗ lực khám phá thế giới tâm lýcủa mỗi kiểu người Kịch tác gia nhìn nhận mỗi nhân vật như là sản phẩmcủa thời đại mình đang sống

Bước vào những năm chống Mỹ cứu nước, xung đột kịch tiêu biểu làxung đột địch - ta, hành động kịch mang ý nghĩa tiêu biểu nhất là hànhđộng cứu nước trong những giờ phút trọng đại của lịch sử, nhân vật điểnhình thường là những anh hùng mang tinh thần cách mạng tiến công Sángtác kịch ở giai đoạn này có khuynh hướng trở về miêu tả trực tiếp những

tấm gương anh hùng như vở kịch Sống như Anh vừa giàu chất hiện thực,

vừa giàu tính kịch và chất trữ tình

Cuộc họp về vấn đề hiện thực và truyền thống trong nghệ thuật sânkhấu năm 1970 đã đánh dấu bước phát triển mới về lý luận nghệ thuật sân

Trang 22

khấu khi đề cao ý thức chọn lọc, khai thác những xung đột từ đời sống, đòihỏi kịch phải chọn lọc, tập trung, là nơi xung yếu của hiện thực, có ý nghĩatượng trưng và khái quát hoá, ý nghĩa đột xuất và bộc lộ khá rõ tính chủđộng sáng tạo của người viết.

Trên đây là những tiền đề truyền thống kịch giai đoạn từ 1945 - 1975

có ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi Nhữngnăm Nguyễn Đình Thi bắt tay sáng tác kịch là những năm phát triển của thể

loại ca kịch lịch sử với những vở như Lam Sơn tụ nghĩa, An Tư công chúa, Quan Trung… Các tác giả đều có ý thức tôn trọng hoàn cảnh lịch sử, biểu

dương những gương yêu nước trong quá khứ và trình bày, giải thích cáchiện tượng, nhân vật lịch sử theo quan điểm quần chúng sáng tạo ra lịch sử.Thời kỳ này nhiều tác giả kịch có ý thức khai thác những đề tài lịch sử đểphục vụ trực tiếp cho những yêu cầu của hiện tại Đề tài lịch sử lại rộ lêntrong những sáng tác nghệ thuật những năm 70, đầu những năm 80 của thế

kỉ XX Cùng trong khuynh hướng đó, Nguyễn Đình Thi viết Rừng trúc (1978) và Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), mượn tư tưởng và nhân cách

của người xưa để gửi gắm những khát vọng về cuộc sống hôm nay, monggắn kết các thời đại, gắn kết các nhân vật đương đại với các nhân vật trongquá khứ Cùng với thành công về nghệ thuật tổ chức xung đột, về ngôn

ngữ, Rừng trúc có thể coi là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Đình

Thi, góp phần làm sang trọng cho sân khấu kịch nói Việt Nam nửa cuối thế

kỉ XX: “Sức hấp dẫn của Rừng trúc ngoài tính chọn lọc và tiêu biểu của

xung đột và tính cách còn ở khả năng miêu tả và bộc lộ tâm lý các nhân vậtsâu sắc và giàu tính văn học”[10,8] Ông luôn tôn trọng tính khách quancủa lịch sử và cốt cách của các nhân vật, khai thác vào những sự kiện lịch

sử tưởng như đã cũ để tìm ra trong đó những bài học mới về đạo đức, nhânsinh và lí giải những vấn đề lớn đặt ra cho mọi thời đại Lời thoại trongkịch Nguyễn Đình Thi nhiều sắc thái và bộc lộ tính cách nhân vật Nguyễn

Trang 23

Đình Thi đã đem đến cho kịch nói Việt Nam tính hiện đại, hướng sáng tạo

và phong cách riêng độc đáo

Vở kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc tuy được sáng tác cách nhau hơn

30 năm nhưng lại có sự gần gũi trong việc khai thác đề tài lịch sử để từ đórút ra những bài học triết lý sâu sắc của thời đại Tuy cùng khai thác đề tàilịch sử nhưng trong hai vở kịch, hai tác giả soi chiếu lịch sử ở những góc

độ khác nhau Khi so sánh vở kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc từ góc nhìn thi

pháp thể loại, chúng ta sẽ có thể nhận thấy những điểm gần gũi và khác biệtminh chứng cho sự thay đổi, phát triển không ngừng của nền kịch nói ViệtNam từ giai đoạn trước cách mạng và đến những năm đầu sau khi thốngnhất đất nước Chính những sự khác biệt này đã thể hiện phong cách nổibật của mỗi tác giả Đây là những mục tiêu mà chúng tôi muốn làm rõ ởnhững chương sau

Trang 24

Chương 2

SO SÁNH KỊCH VŨ NHƯ TÔ CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG

VÀ KỊCH RỪNG TRÚC CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI

2.1 Tóm tắt cấu trúc kịch bản

Trước khi tiến hành so sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng

và Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi, chúng tôi xin đưa ra phần tóm tắt cấu

trúc kịch bản của hai vở này Chúng tôi sẽ lấy đó làm cơ sở để việc so sánhtheo các tiêu chí của thi pháp kịch (xung đột, nhân vật, ngôn ngữ, không -thời gian) được thuận tiện hơn và bám sát văn bản kịch

2.1.1 Cấu trúc kịch bản Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng

Vũ Như Tô là vở kịch có cấu trúc logic, nghiêm ngặt chịu ảnh hưởng

theo kiểu bi kịch cổ điển Pháp gồm 5 hồi, mỗi hồi lại gồm nhiều lớp nhỏ

Cấu trúc của kịch Vũ Như Tô thuộc loại cấu trúc theo xung đột kịch: Giao

đãi (hồi I), thắt nút (hồi II), phát triển và xuất hiện trở ngại, sự biến (hồiIII), gợi ra hướng giải quyết (hồi IV) và kết thúc (hồi V)

* Hồi thứ nhất: Trình bày - giao đãi

- Lớp I: Tại cung cấm, Lê Tương Dực thổ lộ với Kim Phượng về mộng xây Cửu Trùng Đài và may mắn đã tìm thấy người tài là Vũ Như Tô Qua lời kể của Lê Tương Dực, Vũ Như Tô được giới thiệu là “một người thợ có hoa tay tuyệt thế” nhưng lại bỏ trốn không chịu xây Cửu Trùng Đài cho vua nên đã bị đóng cũi giải về kinh.

- Lớp II: Đan Thiềm vào bẩm với vua rằng quan thượng thư Lê An xin vào tâu việc Vũ Như Tô.

- Lớp III: Lê An tâu với Lê Tương Dực về việc Vũ Như Tô tỏ ra khinh vua quan, dám lên án vua là hôn quân bạo chúa nên nhất quyết không chịu giúp vua xây Cửu Trùng Đài Lê Tương Dực tức giận cho giải Vũ Như Tô vào để trị tội.

- Lớp IV: Nội giám mời hoàng thượng lâm triều để tiếp sứ thần Trung Quốc.

Trang 25

- Lớp V: Lê Tương Dực lệnh cho Đan Thiềm chờ đến khi Vũ Như Tô vào thì dẫn một đội nữ binh gác điện.

- Lớp VI: Bọn lính giải Vũ Như Tô vào Một người lính báo với Đan Thiềm rồi cả bọn lui.

- Lớp VII: Đan Thiềm đối thoại với Vũ Như Tô để bộc lộ tấm lòng “đồng bệnh” Đan Thiềm kể cho Vũ Như Tô về cuộc đời mình, bày tỏ sự cảm thông cho bi kịch Tài - Sắc và Lụy và cái nợ tài hoa của Vũ Như Tô Cả hai cùng bất bình với việc triều đình đối đãi bạc ác với người tài Ban đầu Vũ Như Tô kiên quyết không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân nhưng Đan Thiềm đã thuyết phục được ông mượn tay quyền thế xây Cửu Trùng Đài để làm vẻ vang dân tộc.

- Lớp VIII: Lê Tương Dực vào và lệnh cho Đan Thiềm lui.

- Lớp IX: Khi Lê Tương Dực tỏ vẻ bực tức và doạ giết Vũ Như Tô, Vũ Như Tô vẫn khẳng khái, dũng cảm vạch tội triều đình bạc đãi kẻ sĩ Lê Tương Dực nhún nhường tỏ ý mến tài Vũ Như Tô Vũ Như Tô yêu cầu hoàng thượng trọng đãi thợ mới chịu xây Cửu Trùng Đài và nói rõ cái mục đích cao cả khi quyết định xây Cửu Trùng Đài là “xây cho nước ta một toà lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn”.

* Hồi thứ hai: Tất cả những gì được giao đãi bắt đầu phát triển

- Lớp I: Vũ Như Tô tâm sự với vợ là Thị Nhiên về sự thương xót cho nỗi cực khổ của thợ Thị Nhiên lo lắng nói với Vũ Như Tô về việc triều đình và nhân dân bàn tán nhiều về Cửu Trùng Đài.

- Lớp II: Đối thoại giữa Vũ Như Tô với các thợ (Hai Quát, phó Bảo, phó Toét, phó Độ, phó Cõi) về kế hoạch xây Cửu Trùng Đài Vũ Như Tô nhận được

sự ủng hộ của thợ Đến cuối lớp II, có tiếng Trịnh Duy Sản vọng vào nói xây Cửu Trùng Đài là một cái hoạ cho dân chúng.

- Lớp III: Trịnh Duy Sản xuất hiện tỏ vẻ khinh Vũ Như Tô là thợ quèn Trịnh Duy Sản bày tỏ thái độ phản đối xây đài với Nguyễn Vũ Trịnh Duy Sản nhờ Nguyễn Vũ dâng sớ đòi “đuổi Vũ Như Tô, bãi Cửu Trùng Đài, thải thợ” nhưng Nguyễn Vũ đã xé tờ sớ đó.

- Lớp IV: Thái Tử Chiêm Thành xuất hiện, thông báo với Vũ Như Tô và Nguyễn Vũ về tình hình thuyền đá trở về để xây đài và thổ lộ sự sốt ruột chờ thuyền đá ra đủ để được về quê hương Nguyễn Vũ và Vũ Như Tô tỏ vẻ cảm thông trước tình cảnh của thái tử.

- Lớp V: Đan Thiềm ra và báo với Nguyễn Vũ rằng hoàng thượng cho mời cụ lớn vào cung Nguyễn Vũ vào Đan Thiềm động viên Vũ Như Tô xây đài Vũ Như Tô hứa nhất định làm xong để tạ ơn tri ngộ của Đan Thiềm

* Hồi thứ ba: Xuất hiện những trở ngại và sự biến

- Lớp I: Phó Bảo tâm sự với Phó Độ về nỗi nhớ nhà, chán nản và tỏ ý không muốn xây đài nữa Phó Bảo bất bình về việc Vũ Như Tô nhẫn tâm chém đầu những thợ bỏ trốn Khi Phó Độ, Phó Cõi, Phó Bảo cùng đang kêu ca vì xây Cửu Trùng Đài khiến nhiều người thiệt mạng, hao tốn tiền của của dân và tố cáo bọn vua quan sa đoạ thì có tiếng một phần đài bị đổ Hai Quát hoảng hốt vào báo có nhiều người chết.

- Lớp II: Tên lính đao phủ dẫn vào một người thợ bị tội bỏ trốn Người thợ lên án Vũ Như Tô nhẫn tâm và kêu ca việc xây Cửu Trùng Đài khiến dân khổ cực Thấy tên lính đánh đập và giải người thợ đi chém, Phó Bảo và Phó Cõi can ngăn và đau khổ vì không giúp gì được.

Trang 26

- Lớp III: Trước cảnh thợ chết nhiều, Vũ Như Tô đau xót nhưng vẫn quyết xây bằng được đài cao Khi các thợ xin Vũ Như Tô tha cho người thợ bỏ trốn kia tội chết, ông tâm sự nỗi khổ tâm và cho rằng phải cương quyết như vậy mới mong xây xong Cửu Trùng Đài Vũ Như Tô động viên các thợ cùng gắng sức xây đài để thực hiện ước mong cho dân ta hãnh diện và cho bọn khách trú biết người An Nam không phải chỉ xây được những đền miếu nhỏ bé thôi.

- Lớp IV: Nội giám vào trao thưởng vua ban cho Vũ Như Tô Vũ Như Tô đòi chia cho các thợ thuyền mà không nhận công riêng về mình.

- Lớp V: Lê Tương Dực bàn với Nguyễn Vũ tăng sưu thuế để có đủ tiền xây Cửu Trùng Đài Thấy Vũ Như Tô, Lê Tương Dực hết lời khen ngợi tài năng của Vũ nhưng Vũ Như Tô vẫn tỏ vẻ khinh bỉ Lê Tương Dực.

- Lớp VI: Kim Phượng đến xem tình hình xây đài và trò chuyện với Lê Tương Dực về việc trông nom Cửu Trùng Đài

- Lớp VII: Lê Tương Dực thổ lộ với Kim Phượng về những dự định khi đài xây xong Khi Kim Phượng tâu với vua về việc nghi Vũ Như Tô có tình ý với Đan Thiềm, Lê Tương Dực nêu ý định khi đài xây xong sẽ cho chặt đầu cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm.

- Lớp VIII: Trịnh Duy Sản xin Lê Tương Dực bãi việc xây Cửu Trùng Đài, lên án lũ cung nữ đưa vua vào con đường tửu sắc và cho rằng Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài làm hao tiền tốn của, triều đình đổ nát, giặc nổi lên khắp nơi, dân chúng khổ cực Lê Tương Dực nổi giận đòi chém Trịnh Duy Sản nhưng do Kim Phượng can ngăn nên Lê Tương Dực tha tội chết cho Trịnh Duy Sản.

- Lớp IX: Độc thoại của Vũ Như Tô tự động viên bản thân quyết tâm xây Cửu Trùng Đài và bộc bạch đối với Đan Thiềm thì Vũ Như Tô chỉ có tình tri kỷ Đan Thiềm xuất hiện Đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm cho thấy chỉ có Đan Thiềm là người tri kỷ, đồng cảm với Vũ Như Tô.

* Hồi thứ tư: Các mâu thuẫn trong vở kịch tiếp tục phát triển đến cao trào và mở ra hướng giải quyết.

- Lớp I: Thị Nhiên kể với Vũ Như Tô về việc khen chê Cửu Trùng Đài của dân, về dân đói khổ, giặc nổi lên khắp nơi, về cảnh con nhớ bố nhưng Vũ Như Tô không để ý đến mà tâm trí ông vẫn ám ảnh bởi Cửu Trùng Đài

- Lớp II: Thái Tử Chiêm Thành tiết lộ với một tên thợ Chiêm Thành về cái kế báo thù của Thái tử là giúp người An Nam xây Cửu Trùng Đài để làm cho dân ta kiệt quệ.

- Lớp III: Hai Quát kể tội Vũ Như Tô và rủ các thợ trốn theo quân khởi loạn Nhưng Phó Cõi, Phó Toét, Phó Độ vẫn bênh vực Vũ Như Tô, cho rằng ông không có tội, ông chỉ muốn tô điểm non sông chứ không định hại ai Phó Bảo vào báo thợ đã giết Thái tử Chiêm Thành và cũng thuyết phục cả đám thợ cùng khởi loạn theo Trịnh Duy Sản.

- Lớp IV: Một người thợ vào báo với đám thợ rằng tất cả phu phen thợ thuyền đều một lòng làm phản theo Trịnh Duy Sản, đòi giết Vũ Như Tô, vua và

lũ cung nữ.

- Lớp V: Trịnh Duy Sản và Ngô Hạch vào Trịnh Duy Sản đòi chém những thợ không chịu theo quân khởi loạn nên Phó Toét và Phó Độ sợ hãi xin theo Riêng Phó Cõi vờ say rượu không theo quân phản loạn.

- Lớp VI: Độc thoại của Phó Cõi cân nhắc quyết định không theo phe Trịnh Duy Sản Phó Cõi đang định đi báo tin cho Vũ Như Tô thì thấy Lê Trung Mại kéo Đan Thiềm vào, Phó Cõi liền nấp sau tượng Lê Trung Mại nói rõ được lệnh Hoàng hậu sai giết Đan Thiềm Đan Thiềm không lo sợ trước cái chết mà

Trang 27

say sưa ngắm đài, cầu cho Cửu Trùng Đài chóng thành và thanh minh cho sự trong sạch của mình, không có tình ý với Vũ Như Tô Khi Lê Trung Mại và nội giám chuẩn bị thắt cổ Đan Thiềm thì Phó Cõi xông ra cứu Đan Thiềm và đòi chém kẻ ngăn cản khiến Lê Trung Mại và nội giám sợ hãi bỏ chạy Phó Cõi báo với Đan Thiềm rằng Trịnh Duy Sản khởi loạn và nhờ bà thông thạo lối trong cung đi tìm Vũ Như Tô để báo tin.

* Hồi thứ năm: Kết thúc

- Lớp I: Đan Thiềm báo tin có bạo loạn cho Vũ Như Tô và giục ông đi trốn nhưng Vũ Như Tô nghĩ mình không làm gì nên tội nên nhất định không đi, quyết không xa Cửu Trùng Đài.

- Lớp II: Nguyễn Vũ báo tin cho Vũ Như Tô và Đan Thiềm về việc Trịnh Duy Sản làm loạn và bày tỏ lo lắng cho tính mạng của Hoàng thượng Trong khi đó, Đan Thiềm vẫn khẩn khoản giục Vũ Như Tô đi trốn nhưng Vũ Như Tô không đi.

- Lớp II: Lê Trung Mại vào bẩm với Nguyễn Vũ rằng quân khởi loạn đã giết vua Lê Tương Dực Nguyễn Vũ đau xót liền đâm cổ tự vẫn.

- Lớp IV: Một bọn nội giám vào báo tình thế đang nguy ngập vì thợ thuyền theo quân phản nghịch đang kéo về đốt phá kinh thành và An Hoà hầu đang cho tìm giết cung nữ Nghe tin, Lê Trung Mại rủ bọn nội giám cùng bỏ trốn.

- Lớp V: Đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô: Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô trốn đi, đừng mơ mộng về Cửu Trùng Đài nữa nhưng Vũ Như Tô vẫn quyết ở lại.

- Lớp VI: Kim Phượng cùng lũ cung nữ hốt hoảng chạy tới Kim Phượng khóc lóc vì giặc đứng đầy ngoài cửa và hỏi Đan Thiềm đường trốn nhưng Đan Thiềm cho biết tới đây là đường cùng Đan Thiềm thất vọng và chỉ lo cho tính mạng của Vũ Như Tô gặp nguy hiểm thì sẽ không còn ai xây Cửu Trùng Đài.

- Lớp VII: Ngô Hạch dẫn theo quân khởi loạn vào bắt lũ cung nữ Kim Phượng sợ hãi xin tha tội và đổ tội cho Đan Thiềm là kẻ xúc xiểm, dan díu với

Vũ Như Tô Mặc cho Đan Thiềm thanh minh về sự trong sạch của mình, Ngô Hạch vẫn sai lính bắt cả Đan Thiềm và Vũ Như Tô Đan Thiềm xin chịu tội thay cho Vũ Như Tô để ông được sống mà xây nên những công trình tráng lệ cho dân tộc Đến khi không xin được, Vũ Như Tô bị bắt, Đan Thiềm bị giải đi thì bà mới tuyệt vọng vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

- Lớp VIII: Ngô Hạch sai lính giải bọn cung nữ ra Khi nghe Ngô Hạch sai dẫn Vũ Như Tô về trình chủ tướng thì Vũ Như Tô vẫn nghĩ mình không có tội

và hi vọng được gặp An Hoà hầu để phân trần Vũ Như Tô không lo đến tính mạng của mình mà chỉ mãi mơ tưởng đến Cửu Trùng Đài khi hoàn thành.

- Lớp IX: Một lũ quân lính kéo vào báo quân thành bị phá Vũ Như Tô đau xót khi biết tin Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ Lúc bấy giờ Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ, thốt lên đau đớn, nhận ra bi kịch của mình rồi bình thản ra pháp trường.

2.1.2 Cấu trúc kịch bản Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi

Khác với kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng có cấu trúc 5 hồi

theo mô hình kịch cổ điển Pháp thể hiện trình tự phát triển của xung đột

kịch, cấu trúc kịch bản Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi được chia ra làm 8

Trang 28

phần, ở đây chúng tôi tạm gọi là 8 hồi Cấu trúc vở Rừng trúc không sắp

xếp như mô hình cấu trúc theo hành động (thắt nút - sự biến - cởi nút) củaAristote, cũng không phải mô hình cấu trúc theo xung đột kịch 5 hồi củakịch cổ điển Pháp (giao đãi - thắt nút - cao trào - tạm thời hoà hoãn - kết

thúc) Sự phá vỡ cấu trúc thông thường này có lẽ do Rừng trúc là kịch tâm

lý trữ tình nên việc đi sâu vào khai thác cảm xúc, nội tâm của bộ ba nhânvật chính được đặt lên hàng đầu chứ không tập trung diễn tả mô hình cốttruyện của hành động và xung đột Đây cũng là lí do khó có thể đặt tiêu đềhợp lí cho từng hồi theo một tiêu chí thống nhất (hành động hay xung đột).Chính vì thế, chúng tôi tạm thời không đặt tiêu đề cho từng hồi khi tóm tắt

cấu trúc kịch bản Rừng trúc.

* Hồi I:

- Đối thoại giữa Thiên Cực và Trần Thủ Độ: Thiên Cực tức giận về với Thủ Độ về việc lính canh dám giữ kiệu của bà không cho vào nội cung và khuyên Trần Thủ Độ không nên nắm giữ quá nhiều công việc triều chính Thủ

Độ tâm sự với vợ về nỗi lo cho cơ nghiệp nhà Trần trước tình hình giặc đang lăm le muốn xâm chiếm nước ta Thiên Cực tâm sự với chồng về chuyện Chiêu Thánh đau yếu, phiền muộn và không tin mẹ đẻ Vì lo vua không có con nối dõi

sẽ phế Chiêu Thánh lập hoàng hậu dòng họ khác nên Thiên Cực bàn với Thủ

Độ ý định đưa Thuận Thiên - chị gái Chiêu Thánh, đang mang bầu với Trần Liễu - lên thay thế Chiêu Thánh.

- Gia nhân vào bẩm có Trần Liễu đến thăm Trần Liễu và Trần Thủ Độ đối thoại với nhau: Trần Liễu muốn nhờ cô Thiên Cực đến khuyên bảo Thuận Thiên vì Thuận Thiên buồn phiền bỏ đi lễ chùa biền biệt, thấy vậy Thủ Độ khuyên Trần Liễu đối xử chu đáo với vợ trước và lo tìm thầy giỏi, có tâm đức dạy Trần Quốc Tuấn Khi Thủ Độ tỏ ý muốn Hoài Vương nhận việc đến tra xét trên Lạng Giang, Trần Liễu đồng ý.

* Hồi II:

- Tại cung Hoàng Hậu, người thị nữ an ủi Chiêu Thánh bớt đau buồn về chuyện cũ đã để mất ngôi và cha chết Chiêu Thánh bảo với thị nữ thu xếp cho Chiêu Thánh đi viếng mộ cha.

- Chiêu Thánh độc thoại nội tâm về những dằn vặt đau đớn khi gia đình rơi vào bi kịch tranh giành quyền lực, bi kịch mẹ con, chị em, vợ chồng Chiêu Thánh ân hận về trước kia nhỏ dại đã không biết mưu kế của mẹ và chú sắp đặt nên nhường ngôi cho chồng để mất cơ nghiệp vào tay nhà Trần.

- Đối thoại giữa Chiêu Thánh và Thiên Cực thể hiện nỗi oán hận của Chiêu Thánh với mẹ vì Thiên Cực đã câu kết với Thủ Độ bắt Lý Huệ Tông phải chết Chiêu Thánh chính thức tuyên bố rời bỏ ngôi báu, chuyển giang sơn cho nhà Trần để nhà Trần lo giữ lấy giang sơn vững chắc Trước những lời nói của Chiêu Thánh, Thiên Cực thanh minh, khóc lóc đau xót rồi đi ra.

Trang 29

- Đối thoại giữa Thuận Thiên và Chiêu Thánh về nỗi đồng cảm khi hai chị

em đều là nạn nhân của bao chuyện rắc rối trong triều đình.

- Chiêu Thánh tâm sự với Trần Cảnh về nỗi dằn vặt bấy lâu, ân hận vì mất ngôi, đau khổ vì mất con Chiêu Thánh xin nhường ngôi Hoàng Hậu cho chị Thuận Thiên và xin rời cung để làm người dân thường.

- Thuận Thiên tâm sự với Trần Cảnh về sự thương xót cho cuộc đời Chiêu Thánh Trần Cảnh an ủi Thuận Thiên rằng Chiêu Thánh đã được nhẹ nhõm để nhìn hai người đang vẫn mắc vào việc đời bụi bặm.

rõ sự việc và ban thưởng cho người lính.

- Đối thoại giữa Trần Cảnh, Trần Thủ Độ và người học trò Khi nghe người học trò bày tỏ nỗi lo quyền bính của Thủ Độ quá lớn thì xã tắc dễ lâm nguy trước nạn giặc xâm lược, Trần Thủ Độ không tức giận mà còn trọng người thẳng thắn

- Trần Cảnh trao đổi với Thủ Độ về tình hình biên thuỳ Khi thấy Thủ Độ không vì tình anh em cho An Quốc làm tướng mà tiến cử tướng giỏi Lê Tần và bàn tính lo mở giảng đường võ, luyện binh thì Trần Cảnh rất cảm phục Thủ Độ.

- Khuê Kình vào báo có sự biến Hoài Vương làm phản khiến Thủ Độ tức giận Khuê Kình tâu với vua là Lê Tần đã dẹp được quân Hoài Vương và Trần Liễu bỏ trốn.

* Hồi IV:

- Tại cung vua, Trần Cảnh tâm sự với Thuận Thiên về nỗi buồn của bậc quân vương trong cuộc tranh giành quyền lực triều chính Thuận Thiên xin Trần Cảnh tha tội chết cho Hoài Vương.

- Khuê Kình vào báo với Trần Cảnh chưa tìm được Hoài Vương Trần Cảnh rủ Khuê Kình rời cung đến Yên Tử theo hầu Đức Phật Mặc cho Khuê Kình hết lời khuyên ngăn, Trần Cảnh vẫn quyết bỏ ngôi vua để tự cởi trói cho mình và tháo gỡ nỗi khó cho nhiều người.

- Trần Thủ Độ và Lê Tần trao đổi về tin tức của Trần Cảnh và Hoài Vương Thủ Độ giao việc trông nom kinh thành cho Lê Tần để định lên Yên Tử tìm vua về.

Trang 30

- Trần Thủ Độ đối thoại với Chiêu Thánh về việc nước, việc người Trần Thủ Độ xin Chiêu Thánh về cung nhưng Chiêu Thánh quyết xa lánh việc chính sự.

- Vệ sĩ vào báo với Thủ Độ có tin vua đi về phía Yên Tử Thủ Độ nêu kế hoạch triệu tập các quan và bô lão lên Yên Tử thuyết phục vua về kinh hoặc không thì vua ở đâu, triều đình ở đấy.

- Bà áo chàm xuất hiện và kể cho Trần Cảnh và Khuê Kình nghe về việc ông cụ lang thang này đã cứu sống con gái bà.

- Trần Cảnh bàn với Khuê Kình sẽ lên Yên Tử thăm sư Phù Vân chờ mọi việc rõ ràng sẽ về cung.

* Hồi VII:

- Tại một ngôi miếu bên bờ sông Hồng, Thuận Thiên và Thiên Cực bàn chuyện sắp xếp cho Trần Liễu và Trần Cảnh gặp nhau để hoà giải Thuận Thiên lo lắng cho tính mạng của Trần Liễu.

- Khuê Kình báo với Thiên Cực về việc đã sắp xếp chu đáo và cử lính canh cho anh em nhà vua gặp nhau.

- Đối thoại giữa Khuê Kình và tên lính về tình hình bố trí canh gác cho anh em nhà vua gặp nhau.

- Đối thoại giữa Khuê Kình và Trần Liễu: Khuê Kình báo với Trần Liễu đợi Trần Cảnh đến và hai anh em nhà vua sẽ gặp riêng để nói chuyện.

- Độc thoại của Trần Liễu về tình cảnh “cá chui vào rọ” của mình.

- Đối thoại giữa Trần Cảnh và Trần Liễu: Trần Liễu xin nhận tội và Trần Cảnh thương xót thấy cảnh anh trai tiều tuỵ.

- Thủ Độ đến, nhìn thấy Trần Liễu thì tức giận đòi chém Trần Cảnh khuyên can Trần Cảnh cho Trần Liễu lấy công chuộc tội, phong cho Trần Liễu hiệu Yên Sinh Vương và ban cho một phần đất để trông nom, thu lấy tô thuế làm bổng lộc lâu dài Thủ Độ nhắc nhở anh em nhà vua phải đồng lòng chăm lo cho cơ nghiệp nhà Trần

* Hồi VIII (Phần vĩ thanh):

- Hai mươi năm sau, người thị nữ trò chuyện với cô gái về tình hình quân Thát Đát đốt phá tan hoang nhà cửa của dân ta Người thị nữ ngậm ngùi nghĩ đến Thuận Thiên mất đã 10 năm và Trần Liễu cũng đã chết.

- Lê Tần đối thoại với người thị nữ về tình hình thôn xóm, cùng chia vui với chiến công đánh thắng quân Nguyên của dân tộc và thăm hỏi tình cảnh của Chiêu Thánh.

- Một đoàn mấy gia đình vui vẻ tíu tít trò chuyện thể hiện niềm vui được

về nhà ăn Tết dù cho nhà cửa đã bị tan hoang sau chiến tranh.

- Người thị nữ tâm sự với Chiêu Thánh về nỗi lo sau này quân Nguyên còn có thể xâm lược thì không biết lớp sau có được như lớp người bây giờ không Chiêu Thánh tỏ ý tin tưởng vào lớp người sau với những đại diện như

Trang 31

Chiêu Minh Vương Quang Khải và Trần Quốc Tuấn Chiêu Thánh vui mừng khôn xiết khi đất nước đánh thắng giặc xâm lăng.

2.2 So sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và kịch

Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại

Bám sát phần cơ sở lí luận về thi pháp kịch đã được trình bày ở mục

1.1 chương 1, người viết sẽ so sánh kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi dựa theo các tiêu chí đặc trưng

cơ bản của thể loại kịch bao gồm xung đột, nhân vật, hành động, ngôn ngữ

và không - thời gian Trong đó, việc so sánh theo tiêu chí hành động kịch ở

vở Vũ Như Tô và Rừng trúc sẽ được chúng tôi lồng ghép trình bày ở các

mục xung đột và nhân vật kịch

2.2.1 Xung đột kịch

Khi so sánh mâu thuẫn kịch trong vở Vũ Như Tô và Rừng trúc,

người viết nhận thấy có những điểm tương đồng:

Thứ nhất, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều khai thác xung đột từ những sự kiện lịch sử Phương hướng tiếp cận xung đột và

cách thức triển khai xung đột trong kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc thể hiện

những mâu thuẫn bản chất nhất của lịch sử Hơn thế, tái hiện những mâuthuẫn, xung đột trong những thời đại đã qua chính là cái cớ để các tác giảgửi gắm những băn khoăn về số phận con người và vận mệnh đất nướctrong các thời cuộc loạn lạc

Vũ Như Tô là vở kịch kể về số phận một người người thợ có tài ở

thời vua Lê Tương Dực Khi viết tác phẩm này, Nguyễn Huy Tưởng dựa

vào tài liệu lịch sử Việt sử thông giám cương mục có ghi chép về chuyện

kiến trúc sư tài năng Vũ Như Tô nhận xây dựng Cửu Trùng Đài cho triềuđình thối nát khiến dân phải khổ cực vì sưu thuế, phải làm việc vất vả, bịbệnh dịch và chết nhiều Nguyễn Hoằng Dụ được tin Duy Sản bạo nghịch

Trang 32

giết vua, bèn chém Vũ Như Tô ở ngoài cửa thành Lúc Vũ Như Tô chết còn

bị mọi người chỉ trích, chê cười Tuy dựa vào sự kiện lịch sử có thật nhưngNguyễn Huy Tưởng đã khẳng định được bản lĩnh, tài năng sáng tạo củamình Ông không chỉ đơn thuần tái hiện lịch sử mà còn hư cấu nên một bikịch sâu sắc về người nghệ sĩ Vũ Như Tô có tài, không màng danh lợi, say

mê sáng tạo nghệ thuật nhưng lại không có điều kiện để thể hiện tài năng.Ban đầu, người nghệ sĩ ấy bất chấp tính mạng bị đe doạ vẫn nhất địnhkhông chịu xây Cửu Trùng Đài làm nơi hưởng lạc cho vua chúa Sau này,nghe theo lời Đan Thiềm khuyên ông mượn tay quyền thế để xây dựng mộcông trình tráng lệ cho “dân ta được nghìn thu hãnh diện”, Vũ Như Tô đãnhận lời xây Cửu Trùng Đài Đài càng xây cao, nhân dân càng đói khổ, lầmthan Vũ Như Tô vì quá say mê nghệ thuật mà vô tình trở thành kẻ thù củanhân dân Kết cục là dân chúng oán hận đã theo quân phản loạn nổi dậygiết vua, đốt phá Cửu Trùng Đài và người nghệ sĩ ấy phải chết trong tuyệtvọng Nếu như Vũ Như Tô trong lịch sử chỉ là một tên đốc công đáng ghét

thì trong kịch Vũ Như Tô, ông là người nghệ sĩ vừa đáng giận, vừa đáng

thương Đáng giận là ở chỗ Vũ Như Tô sai lầm xây dựng Cửu Trùng Đài

mà bất chấp dân chúng phải chịu khổ cực Nhưng ông cũng lại vừa đángthương vì là người nghệ sĩ tài năng rơi vào bi kịch “sinh bất phùng thời”,

không có điều kiện để thể hiện tài năng của mình Như vậy, xung đột

trong bi kịch Vũ Như Tô được tạo nên bởi hai mâu thuẫn cơ bản Mâu

thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa, trụy lạc của tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với đời sống bần cùng vì sưu thuế, tạp dịch của nhân dân Mâu thuẫn này được thể hiện rõ nét trong

các hồi đầu tác phẩm và đến hồi V trở thành cao trào, được giải quyết dứtkhoát bằng cuộc nổi loạn giết hôn quân Lê Tương Dực và tất cả những kẻ

được xem là phe cánh của vua Tiếp đến, mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa niềm khát khao xây dựng toà đài hùng vĩ để làm vẻ vang cho dân tộc của Vũ Như Tô với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời

Trang 33

sống nhân dân Khát vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô là chính đáng vì

xuất phát từ thiên chức người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước, muốn xây toà lâuđài để “nhân dân ta nghìn thu còn hãnh diện” nhưng khát vọng đó lại khôngphù hợp với điều kiện thời đại mà ông đang sống Vũ Như Tô đã khôngthấy thực tế: Đài càng xây cao thì càng tốn kém nhiều của cải, sức lực củanhân dân lại thêm thiên tai dịch bệnh khi xây đài khiến Vũ Như Tô trởthành kẻ thù của nhân dân Mâu thuẫn này được bộc lộ rất rõ qua những lờiquân sĩ oán trách, nguyền rủa người xây Cửu Trùng Đài Mâu thuẫn giữakhát vọng của người nghệ sĩ với lợi ích của đời sống nhân dân phát triểnđến cao độ khi quân nổi loạn đốt phá đạp tan Cửu Trùng Đài - đứa con tinhthần của Vũ Như Tô và bắt bớ trừng phạt tác giả của nó

Cũng nhạy bén đối với đề tài lịch sử như Nguyễn Huy Tưởng, cảm

hứng kịch của Nguyễn Đình Thi trong Rừng trúc được khơi gợi từ biến cố

đau thương của cuộc chuyển giao giữa hai triều đại Lý - Trần Thái sư TrầnThủ Độ và Hoàng hậu Trần Thị Dung đã mưu mô sắp đặt cho vua Lý HuệTông nhường ngôi lại cho con gái Chiêu Thánh mới lên 7 tuổi và ép LýHuệ Tông tự tử Từ Chiêu Thánh ngôi vua được nhường lại cho chồng là

Trần Cảnh, mở đầu triều đại nhà Trần Nhưng Rừng trúc lại không viết về

bi kịch đó mà lựa chọn thời điểm về sau, khi vua Trần Cảnh đã 20 tuổi,Hoàng hậu Chiêu Thánh 19 tuổi Lấy lý do vua và Hoàng hậu Chiêu Thánhkhông có con để nối ngôi, Thái sư Trần Thủ Độ cùng vợ là Trần Thị Dung(Hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông - mẹ của Chiêu Thánh) lại sắp đặt chocông chúa Thuận Thiên (chị ruột Chiêu Thánh, vợ của Trần Liễu - anh trainhà vua) hiện đang có mang với Trần Liễu phải lấy Trần Cảnh Từ sự kiệnmấu chốt này mà Nguyễn Đình Thi xây dựng trong vở kịch của mình cácxung đột mẹ - con (Thiên Cực - Chiêu Thánh), anh - em (Trần Liễu - TrầnCảnh), chú - cháu (Thủ Độ - Chiêu Thánh) trong một dòng họ Mối xungđột này cho thấy bi kịch ngang trái và éo le trong quan hệ giữa những yếunhân của hai dòng họ Lý - Trần Cuộc biến thiên kinh hoàng của lịch sử

Trang 34

đẩy Lý Chiêu Hoàng rơi vào bi kịch gia đình với những mâu thuẫn chồng

chéo “nào chồng, nào mẹ, nào chị…” Nhưng xung đột được thể hiện tập

trung và gay gắt nhất trong kịch Rừng trúc chính là xung đột giữa

quyền lực và quyền sống tự do của con người Có lẽ nhân vật thấm thía

mối xung đột này hơn cả chính là Chiêu Thánh khi nàng đã nhận ra thânphận lịch sử của mình như một nạn nhân của cuộc tranh giành quyền lựcgiữa hai triều đại Lý - Trần Chiêu Thánh ý thức rõ sức mạnh ghê gớm củaquyền lực: “quyền lực có khi dẫn đến đau khổ cho con người” Lòng thamquyền lực khiến con người ta dám làm tất cả Vì quyền lực, Trần Thủ Độ

và Trần Thị Dung mưu mô sắp đặt cuộc hôn phối giữa Chiêu Thánh vàTrần Cảnh để giành lấy vương triều về tay nhà Trần, rồi cũng chính họ lạitoan tính một cuộc hôn phối thứ hai giữa Trần Cảnh và Thuận Thiên bấtchấp cho đó là chuyện loạn luân Cũng vì mối xung đột giữa quyền lực vàquyền sống tự do của con người, Trần Cảnh hoang mang trước triều chính

và thế sự nên đã bỏ ngôi vua tìm đến cửa Phật nơi Yên Tử Sự kiện TrầnCảnh bỏ cung đánh dấu thời điểm xung đột anh - em, vợ - chồng, chú -cháu đã lên tới cao trào, là đỉnh điểm của những bất lực của vua trước triềuchính và thế sự éo le Nhưng đứng trước sự an nguy của dân tộc, Trần Cảnh

đã quyết định trở lại kinh thành, hoà giải với Trần Liễu để ổn định và chấnhưng đất nước

Thứ hai, trong cách khai thác xung đột ở kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc, các tác giả đều xây dựng xung đột giữa khát vọng thực hiện

những mong muốn của cá nhân với những ràng buộc của thời cuộc,

qua đó ký thác những vấn đề đậm chất triết lý đối với thời đại Xung đột

kịch trong Vũ Như Tô được xây dựng từ mâu thuẫn giữa khát vọng sáng tạo

tự do của người nghệ sĩ với cường quyền và thực tại đời sống đói khổ của

dân chúng Khát vọng sáng tạo tự do của Vũ Như Tô không phù hợp với

hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Công trình mà ông dốc sức xây dựng lại mâuthuẫn với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân Cái tài của

Trang 35

Vũ Như Tô không thể được phát huy trong cái thời đại mà cường quyềncòn lộng hành, nhân dân đói khổ, lầm than Qua những mâu thuẫn đó,Nguyễn Huy Tưởng gửi gắm triết lý sâu sắc về mối quan hệ gắn bó giữacon người với thời đại họ đang sống Tác giả trăn trở về số phận bi kịch củangười nghệ sĩ, nhận thức được thái độ và vai trò của người nghệ sĩ đối vớithời cuộc: Người nghệ sĩ phải ý thức được nghệ thuật không thể xa rời thựctiễn, nghệ thuật phải gắn với quyền lợi và vận mệnh của quần chúng laođộng chứ nghệ thuật không đem phục vụ cho giai cấp thống trị tàn bạo BởiCái Đẹp nếu không gắn với cái Thiện thì cũng chỉ là cái Đẹp phù phiếm mà

thôi Rừng trúc cũng cho thấy mối xung đột giữa khát vọng thực hiện những mong muốn của cá nhân với những ràng buộc của thời đại Trần

Cảnh là người khát khao một cuộc sống tự do, muốn làm những việc theo ýmình nhưng rồi bị guồng máy chính trị chi phối nên phải làm những việckhác mình Trần Cảnh mong muốn được thỏa đam mê kinh kệ “tìm đến nơirừng trúc Yên Tử, xa mọi việc đời, theo hầu Đức Phật” nhưng cuối cùngtrước vận nước đang bị quân xâm lược nhòm ngó, Trần Cảnh phải trở về

gánh vác triều chính Các nhân vật trong kịch Rừng trúc gánh trên vai trách

nhiệm với dân tộc nên mỗi sự lựa chọn đều cần cân nhắc Ứng xử của họkhông chỉ có ảnh hưởng riêng đến bản thân mà còn ảnh hưởng đến cơ đồ

và sự an nguy của toàn dân tộc

Như vậy, khi thể hiện mối xung đột giữa khát vọng thực hiện nhữngmong muốn tự do của cá nhân với những ràng buộc của thời cuộc, NguyễnHuy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều đặt ra vấn đề quan hệ giữa cá nhân vàdân tộc Hai ông thể hiện những trăn trở về thời vận và số phận con người,

về lẽ sống và tâm thế ứng xử của những cá nhân Dù là kẻ sĩ hay bậc vương quyền thì ứng xử của các nhân vật chính trong hai vở kịch đều

có ảnh hưởng đối với vận mệnh đất nước Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi có sự gặp gỡ ở quan điểm khẳng định cách lựa chọn ứng xử của mỗi cá nhân có quan hệ đến vận mệnh của dân tộc Việc Vũ

Trang 36

Như Tô quyết định xây Cửu Trùng Đài phục vụ cường quyền là đi ngượclại lợi ích thiết thực của nhân dân nên dẫn đến việc nhân dân oán hận, theoquân khởi loạn nổi dậy lậy đổ triều đình

Rừng trúc khai thác xung đột ở thời điểm lịch sử chuyển giao quyền

lực giữa hai triều đại Lý - Trần mà bóng quân Nguyên xâm lược đang

“ngấp nghé” biên thuỳ Trước tình thế này, vì đặt lợi ích của quốc gia lêntrên hết, Lý Chiêu Hoàng đã quyết định từ bỏ khát vọng giành lại ngôi vuavốn thuộc về mình Cũng vì lợi ích của quốc gia mà Trần Cảnh phải rờiYên Tử, trở về cung để gánh vác việc nước Mong muốn “xa mọi việc đời,theo hầu Đức Phật” của Trần Cảnh không thể được thực hiện trong thờiđiểm lịch sử đó bởi “nhà vua không lẽ coi cái nhẹ nhõm của riêng mình to

hơn công việc cả nước” Nhân vật trong kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc đều

đề cao lợi ích của dân tộc, quyền lợi của nhân dân Nguyễn Huy Tưởngbênh vực cho lợi ích của quần chúng và phê phán những gì đi ngược lạiđiều đó Ông đã để cho Cửu Trùng Đài bị phá huỷ vì đặt trong hoàn cảnh

đó thì quyền lợi thiết thực của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu

Nguyễn Đình Thi trong kịch Rừng trúc cũng đứng về phía nhân dân để ca

ngợi những ứng xử hi sinh cao đẹp của Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnhtrước nhiệm vụ chung phải đồng tâm củng cố sức mạnh triều đình và đẩylùi giặc ngoại xâm của dân tộc

Điểm tương đồng thư ba đó là Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều xây dựng trong tác phẩm của mình mối xung đột giữa

các quan niệm Trong Vũ Như Tô, xung đột giữa khát vọng sáng tạo nghệ

thuật thuần tuý với thực tế đời sống khổ cực của dân chúng đã biểu hiệnmột cách kín đáo và sâu sắc mối xung đột giữa hai quan niệm: nghệ thuật

vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh Tiếng nói của Đan Thiềm khuyên

Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để thực hiện khát vọng sáng tạo cáiĐẹp “tranh tinh xảo với hoá công” của người nghệ sĩ mà không nghĩ tớiquyền lợi của nhân dân thì thực chất đó là tiếng nói của nghệ thuật thuần

Trang 37

tuý tách rời đời sống Theo đuổi cái Đẹp thuần tuý đó, Vũ Như Tô thànhngười có tội với nhân dân và phải chết trong lửa hận Tác giả thể hiện niềmday dứt qua lời đề tựa của vở kịch: “Than ôi! Như Tô phải hay những kẻgiết Như Tô phải? Ta chẳng biết Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh vớiĐan Thiềm” Mặc dù khẳng định phương hướng của nghệ thuật phải phục

vụ quần chúng nhân dân nhưng ông cũng thể hiện tấm lòng đồng cảm sâusắc với số phận người nghệ sĩ “sinh bất phùng thời” và trân trọng tài năngcủa Vũ Như Tô Những trăn trở có tính chất triết lý về mối xung đột giữaquan điểm nghệ thuật thuần tuý và quan điểm nghệ thuật phụng sự cuộcsống này thực tế đã xảy ra trên văn đàn Việt Nam với cuộc tranh luận giữahai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh vào những năm

1935 - 1939 Điều này khẳng định giá trị có ý nghĩa vô cùng sâu sắc của những vấn đề mà Nguyễn Huy Tưởng đặt ra trong Vũ Như Tô Cũng thể hiện mối xung đột giữa các quan niệm nhưng trong Rừng trúc lại là xung

đột giữa các quan niệm sống Trước việc Trần Thủ Độ chỉ đề cao lợi íchcủa quốc gia dân tộc mà bất chấp những việc phi luân, gây ra bao đau đớn,khó xử cho con người, Nguyễn Đình Thi đã để nhân vật Chiêu Thánh nóithay những trăn trở của mình: “Việc nước là lớn nhất nhưng việc người vớingười cũng không phải là nhỏ hơn” Tác giả đề cao lợi ích của dân tộcnhưng cũng tỉnh táo nhận ra rằng việc nước là lớn nhất nhưng quan hệ giữangười với người cũng không phải nhỏ hơn, từ đó đề ra quan niệm sống cần

“phải biết hài hoà để trọn trách nhiệm với nước, trọn tình với người”

Cuối cùng, khi so sánh xung đột trong kịch Vũ Như Tô và Rừng trúc

có thể dễ dàng nhận thấy các tác giả đều đã chú trọng khai thác xung đột nội tâm của các nhân vật để xây dựng nên những tính cách sinh động Việc khai thác đời sống nội tâm của nhân vật và biểu hiện những

xung đột tâm lý căng thẳng đã làm nên chất trữ tình trong hai vở kịch.Nguyễn Huy Tưởng không chỉ dựng lại được những biến cố xoay quanh sựkiện xây dựng Cửu Trùng Đài mà còn đi sâu khắc họa số phận bất hạnh và

Trang 38

tâm trạng đầy mâu thuẫn của Vũ Như Tô Điều này góp phần làm nên mộtnhân vật Vũ Như Tô có sức ám ảnh sâu sắc đối với người đọc Trong conngười Vũ Như Tô chứa đựng mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ sĩ và tráchnhiệm công dân Là nghệ sĩ, Vũ Như Tô say mê sáng tạo nghệ thuật để làmđẹp cho non sông Nhưng là công dân, Vũ Như Tô lại băn khoăn, thấy

“ngại” khi ý nguyện nghệ thuật của mình khiến nhân dân phải đói khổ.Việc Nguyễn Huy Tưởng gửi gắm những trăn trở của mình thông qua xungđột nội tâm của nhân vật đã làm tăng chất trữ tình cho tác phẩm kịch Ởgiai đoạn sau, thủ pháp khắc họa nội tâm nhân vật đã trở thành một trongnhững nét riêng đặc sắc để nhận diện phong cách kịch Nguyễn Đình Thi

Rừng trúc là một vở kịch tâm lý trữ tình Trong tác phẩm này, nội tâm của

Lý Chiêu Hoàng được khắc họa tỉ mỉ với những dằn vặt, trăn trở khiếnngười đọc không nén nổi nỗi xót thương cho số phận bi kịch của ChiêuHoàng

Ngoài những điểm tương đồng trên, người viết cũng nhận thấy có sự khác biệt trong cách lựa chọn thời điểm xảy ra xung đột, cách triển

khai và giải quyết xung đột ở Vũ Như Tô và Rừng trúc

Nguyễn Huy Tưởng lựa chọn, khai thác sự kiện lịch sử ở thời điểm đang xảy ra các biến cố dữ dội, đầy sóng gió tạo nên bước ngoặt

của lịch sử Vũ Như Tô viết về thời điểm lịch sử những năm 1526 - 1527

với những mâu thuẫn gay gắt giữa đời sống xa hoa, trụy lạc của triều đình

Lê Tương Dực với đời sống bần cùng vì sưu thuế, tạp dịch của nhân dân vàmâu thuẫn giữa khát vọng sáng tạo nghệ thuật của Vũ Như Tô với lợi íchthiết thực của nhân dân Mâu thuẫn không thể giải quyết được dẫn đến kếtthúc bi thảm là dân chúng theo quân phản loạn nổi dậy giết vua và Vũ Như

Tô Xuất phát việc lựa chọn thời điểm lịch sử này, Nguyễn Huy Tưởng

đã viết nên một tác phẩm giàu kịch tính, xung đột đối kháng mạnh mẽ, phát triển đến cao trào và hành động được thực hiện gấp rút, dồn dập, quyết liệt Vì lựa chọn thời điểm xung đột xảy ra dữ dội nên các hành động

Trang 39

trong vở kịch trở nên phong phú, đa tuyến, nhanh và mạnh Các nhân vậtsống trong mối mâu thuẫn không thể điều hoà được ở thời điểm lịch sử đóphải chống đỡ và chiến đấu quyết liệt để thực hiện hoài bão của mình và đểtìm cách giải quyết mối xung đột đó Còn Nguyễn Đình Thi trong kịch

Rừng trúc lại lựa chọn thời điểm khi mà cuộc mưu đoạt ngôi vua đã diễn ra

được 11 năm, lúc này các nhân vật chính trong vở kịch đã chín chắn vàthấm thía nỗi đau đớn mà quyền lực gây ra cho số phận mỗi cá nhân

Nguyễn Đình Thi không chọn thời điểm đang xảy ra cuộc tranh giành quyền lực với những xung đột đối kháng mạnh mẽ của các lực lượng đụng độ, chống đối trực tiếp mà chủ đích khai thác những suy nghĩ, tư tưởng và xung đột nội tâm của các nhân vật sau những biến cố dữ dội

của lịch sử Vì thế, xung đột trong kịch Rừng trúc không đối kháng mạnh

mẽ, gay gắt như trong kịch Vũ Như Tô mà chỉ là những xung đột ngầm âm ỉ

trong nội tâm nhân vật Trong bài “Một số hình thái xung đột trong kịchNguyễn Đình Thi”, Lê Thị Chính đã phát hiện ra mối quan tâm của nhàviết kịch này khi khai thác xung đột thường là “những thương tổn nặng nềcủa con người trong những mối quan hệ và những tình thế đặc biệt éo

le”[3,93] Khác với xung đột trong Vũ Như Tô là xung đột đối kháng quyết liệt giữa các lực lượng xã hội, xung đột trong Rừng trúc mang sắc thái trữ tình, giàu cảm xúc và suy nghĩ nội tâm Kịch bản Rừng trúc

không có những xung đột cao trào đến nghẹt thở Đúng như nhà nghiên cứuTất Thắng trong bài viết “Thế giới kịch Nguyễn Đình Thi” đã nhận xét vềthi pháp kịch Nguyễn Đình Thi: “Ta không thấy ở đây mối xung đột đượctrình bày theo kiểu kịch Aristote, tức là được trình bày trong hành động, từgiao đãi đến thắt nút, đến… tạm thời hoàn hoãn và đến giải toả trong kếtthúc Các mối xung đột kịch kiểu cổ điển và rất phương Tây này không cóchỗ trong kịch Nguyễn Đình Thi”[22,367] Lựa chọn hướng tiếp cận nhân

vật từ tư tưởng và mâu thuẫn nội tâm nên hành động trong Rừng trúc như

bị “ém” lại, không đa dạng, phong phú như trong Vũ Như Tô Như vậy,

Trang 40

việc các tác giả lựa chọn thời điểm xảy ra xung đột đã chi phối trực tiếpđến cấu trúc tác phẩm và nhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốttruyện trong mỗi vở kịch

Cách giải quyết xung đột trong Vũ Như Tô và Rừng trúc cũng khác nhau rõ rệt Xung đột mang tính chất đối kháng mạnh mẽ trong Vũ

Như Tô kết thúc bằng việc dân chúng theo quân khởi loạn giết vua, đốt phá

Cửu Trùng Đài và trừng trị người sáng tạo nên công trình ấy Như vậy,

cách giải quyết xung đột trong Vũ Như Tô phù hợp với quy luật khách quan

và quy luật của lịch sử Để cho nhân vật của mình phải “chết trong lửa hậncủa quần chúng” và tuyệt vọng khi nhìn Cửu Trùng Đài - đứa con tinh thầncủa người nghệ sĩ bị phá huỷ khiến tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng mang

đậm tính chất của bi kịch cổ điển châu Âu Cái chết của Vũ Như Tô cũng chính là sự phản ánh bản chất bi kịch với mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa khát vọng của người nghệ sĩ với thực tế xã hội Còn với

Rừng trúc, theo ý kiến của nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng thì “ở một phương diện nào đó, có thể xem Rừng trúc là một bi kịch lịch sử” vì “đẫm

màu sắc bi kịch về quyền lực chính trị trong một dòng họ và vương triềutrước biến chuyển của lịch sử, bi kịch về thân phận của con người trước sựvận hành nghiệt ngã của quyền lực”[49,18] Nhưng chúng ta dễ dàng nhận

thấy, khác với kết thúc đầy bi thảm trong vở Vũ Như Tô, cách giải quyết xung đột trong Rừng trúc êm ái hơn Cách giải quyết này đậm dấu ấn chủ

quan của Nguyễn Đình Thi khi ông để cho nhân vật tự ý thức được tráchnhiệm của mình đối với vận mệnh đất nước mà gác lại những hiềm khíchriêng để hoà giải với nhau, cùng chung sức lo lắng việc nước Trong bài

“Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử” đăng trên Tạp chí Văn học số 11 năm 1999, Phan Trọng Thưởng

đã phát hiện ra rằng các giải quyết xung đột trong Rừng trúc khác với các

bi kịch cổ điển vì “sân khấu không la liệt xác chết, tình huống cuối cùngkhông huỷ diệt tình huống ban đầu như bi kịch cổ điển châu Âu”[49,18]

Ngày đăng: 08/11/2014, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anhikst (2003), Lý luận kịch từ Aristôt đến Lessin, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận kịch từ Aristôt đến Lessin
Tác giả: Anhikst
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội
Năm: 2003
3. Lê Thị Chính (2004), “Một số hình thái xung đột trong kịch Nguyễn Đình Thi”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, 85 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hình thái xung đột trong kịch NguyễnĐình Thi”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Thị Chính
Năm: 2004
4. Lê Thị Chính (2005), Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch, Luận văn Tiến sĩ Văn học, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch
Tác giả: Lê Thị Chính
Năm: 2005
5. Phan Cự Đệ (1964), “Kịch Nguyễn Huy Tưởng”, Tạp chí Văn học, số 3, 20 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch Nguyễn Huy Tưởng”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1964
6. Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975) tập 1,Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam (1945 -1975) tập 1
Tác giả: Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
7. Hà Minh Đức - Phan Cự Đệ (1966), Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960): nghiên cứu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huy Tưởng (1912 -1960): nghiên cứu
Tác giả: Hà Minh Đức - Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1966
8. Hà Minh Đức (chủ biên) (2000), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
9. Hà Minh Đức (chủ biên) (2002), Nhìn lại Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại Văn học Việt Nam thế kỷXX
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Hà Minh Đức (2008), “Tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6, 3 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi”, "Tạpchí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2008
11. Văn Giá (2008), “Nguyễn Đình Thi nghĩ về lao động viết văn”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6, 21-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Thi nghĩ về lao động viết văn”, "Tạpchí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Văn Giá
Năm: 2008
12. Cao Huy Giu dịch - Đào Duy Anh h.đ (2006), Đại Việt sử ký toàn thư tập I, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toànthư tập I
Tác giả: Cao Huy Giu dịch - Đào Duy Anh h.đ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
13. Cao Huy Giu dịch - Đào Duy Anh h.đ (2006), Đại Việt sử ký toàn thư tập II, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toànthư tập II
Tác giả: Cao Huy Giu dịch - Đào Duy Anh h.đ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
14. Thu Hà, “Rừng trúc - Sự thăng hoa của kịch lịch sử”http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/San-khau-Dien-anh/2004/09/3B9D6939/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng trúc - Sự thăng hoa của kịch lịch sử
15. Quốc Hải, “Thêm một viên gạch hồng cho kịch đề tài lịch sử”http://www.nhahattuoitre.vn/content/viewer.asp?a=86&z=15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm một viên gạch hồng cho kịch đề tài lịch sử
16. Hoàng Quốc Hải (2003), Bão táp cung đình (Tiểu thuyết lịch sử), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bão táp cung đình (Tiểu thuyết lịch sử)
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2003
17. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuậtngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
18. Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý (1978), Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám), Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịchnói Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám)
Tác giả: Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1978
19. Hoàng Ngọc Hiến (1994), Năm bài giảng về thể loại văn học: ký - bi kịch - trường ca – anh hùng ca - tiểu thuyết, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại văn học: ký - bikịch - trường ca – anh hùng ca - tiểu thuyết
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
20. Đỗ Đức Hiểu (1998), “Mấy điều về kịch và Thi pháp kịch”, Tạp chí Văn học, số 2, 3 -10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy điều về kịch và Thi pháp kịch”, "Tạp chíVăn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w