1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồng âm và đa nghĩa trong tiếng việt (đối chiếu với tiếng việt hiện đại)

20 304 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát công trình này chúng tôi còn nhận thấy: tác giả công trình còn bỏ sót nhiều ĐVĐÂ được tạo ra từ quá trình phân li ngữ nghĩa như trường hợp của các ĐV bạc, đài… Năm 1925, ở Sài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM



U

ĐỒNG ÂM VÀ ĐA NGHĨA TRONG TIÊNG VIỆT

(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI)

Mã s ố: 62.22.01.01

TP H Ồ CHÍ MINH - 2011

Trang 2

M ỤC LỤC

0

MỤC LỤC0 2

0

DẪN NHẬP 50 0

0

0

0

0

0

0

Chương 1 : NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG0 33

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Chương 2 : HIỆN TƯỢNG ĐỒNG ÂM TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN

HIỆN ĐẠI0 58

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Trang 3

Chương 3 : HIỆN TƯỢNG ĐA NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN

HIỆN ĐẠI0 90

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

1 P

1

P

0

0

1 P

0

112

0

1 P

0

0

Chương 4 : TỪ ĐỒNG ÂM VÀ ĐA NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG

HÁN HIỆN ĐẠI0 128

0

0

0

4.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG ĐƠN VỊ ĐÂ&ĐN TRONG KHU VỰC ĐỒNG ÂM KHÁC GỐC NGỮ

0

0

0

0

0

0

0

Trang 4

0

0

138

0

0

0

0

0

140

0

0

0

0

KẾT LUẬN0 144

0

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1500

Trang 5

DẪN NHẬP

1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đồng âm (ĐÂ), đa nghĩa (ĐN) là hiện tượng (HT) có tính phổ quát trong ngôn ngữ, nó bao gồm:

ĐÂ và ĐN trong từ, ĐÂ và ĐN trong ngữ, ĐÂ và ĐN trong câu Trong đó, ĐÂ và ĐN trong từ là HT phổ biến nhất Với tư cách là trung tâm của HTĐÂ và HTĐN, từ ĐÂ và từ ĐN đã được bàn đến từ khá sớm Tuy vậy, cho tới nay, HT này vẫn còn nhiều bất đồng trong giới nghiên cứu Những công

trình khảo sát về từ ĐÂ và từ ĐN cho thấy HT này đã được tiếp cận từ nhiều hướng và mỗi hướng tiếp cận đều cho ta những phát hiện khác nhau Ngay trong một hướng tiếp cận thì những đặc điểm, những khía cạnh liên quan đến từ ĐÂ và từ ĐN cũng được nhìn nhận không hoàn toàn giống nhau giữa các tác giả

Trong giới Việt ngữ học, rất nhiều nhà nghiên cứu dựa trên các quan niệm, đường hướng tiếp cận và mức độ khác nhau đã bàn về từ ĐÂ và từ ĐN Một số tác giả đã cố gắng xác định các tiêu chí nhận diện từ ĐÂ, từ ĐN, đề xuất các hướng miêu tả, phân loại chúng Một số tác giả còn trình bày số liệu về các đơn vị (ĐV) ĐÂ và ĐN của họ Tuy nhiên, chưa có tác giả nào lấy từ ĐÂ, từ ĐN và từ vừa ĐÂ vừa ĐN làm đối tượng nghiên cứu chính của mình, đặc biệt là họ chưa xác lập được sự đối lập cơ bản giữa từ ĐÂCG nghĩa (từ ĐÂCG) với những từ ĐÂKG nghĩa (ĐÂngẫu nhiên) Đây là điểm mà luận án (LA) sẽ đề cập tới

Vấn đề từ ĐN cũng còn nhiều chỗ phải đề cập tới như: xác định rõ các loại từ ĐN, sự khác biệt giữa ĐN của một từ ĐN thông thường (giữa các nghĩa thường có quan hệ phái sinh) với ĐN giữa các từ

ĐÂ (không có quan hệ phái sinh, thường chỉ có liên hệ về nghĩa) Từ những lí do này, chúng tôi xác định: đối tượng nghiên cứu chính của LA là từ ĐÂ, từ ĐN; từ ĐÂ và ĐN trong TV Đồng thời, sẽ đối chiếu nó với vấn đề tương ứng trong tiếng Hán, một ngôn ngữ gần gũi về loại hình, nhằm tìm ra những

chỗ đồng nhất và khác biệt trong 2 ngôn ngữ Đây là những lí do để chúng chọn đề tài: Đồng âm và đa

nghĩa trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Hán hiện đại)

Như trên đã nói, LA không dừng lại ở sự nghiên cứu từ ĐÂ và từ ĐN nói chung mà sẽ còn tập trung nghiên cứu từ ĐÂ và ĐN trong loại từ ĐÂCG và ĐÂKG của TV Nghiên cứu những đối tượng này, chúng ta một mặt sẽ làm rõ được đặc điểm của từ ĐÂ, từ ĐN trong TV, mặt khác cũng làm rõ được vị trí, vai trò và đặc điểm của từ ĐÂCG, từ vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂCG và ĐÂKG của TV Từ đó làm rõ được những đồng nhất và khác biệt cũng như thấy được những điểm giao thoa giữa hai HT này LA cũng sẽ đối chiếu từ ĐÂ, từ ĐN, từ ĐÂ và ĐN trong TV với từ ĐÂ, từ

ĐN, từ ĐÂ và ĐN trong THHĐ để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong hai ngôn ngữ

Trang 6

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Ở Việt Nam, trước 1945, HTĐÂ, ĐN của TV đã gián tiếp được đề cập tới trong một số tự vị

do chính người Việt Nam biên soạn nhằm chuẩn hóa chính tả, chữ viết (chữ quốc ngữ) nhưng chưa được soi rọi dưới góc độ lí luận Chẳng hạn:

Năm 1895, có Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của [13 ] Đây là cuốn tự điển tường giải

đầu tiên do người Việt biên soạn, là nguồn tài liệu quý về từ vựng ngữ nghĩa TV những năm cuối thế kỉ XIX Theo Lê Quang Thiêm [131, tr.50-52] thì: “Trong một mức độ nhất định, tác giả Đại Nam quấc

âm t ự vị đã phân biệt được các đề mục ĐÂ (Lê Quang Thiêm gọi là ĐÂ ngữ nghĩa) Khảo sát công trình

này chúng tôi còn nhận thấy: tác giả công trình còn bỏ sót nhiều ĐVĐÂ được tạo ra từ quá trình phân li

ngữ nghĩa như trường hợp của các ĐV bạc, đài…

Năm 1925, ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Mai [91] là người đầu tiên đề cập tới HTĐÂ của TV với

việc xuất bản ĐÂ tự vị Công trình này thu thập “những chữ khó viết hoặc những chữ ĐÂ cùng

nh ững chữ không nhằm ĐÂ mà phải viết dấu hỏi hay dấu ngã, hoặc viết d hay g ở trước, c hay là t,

có g hay là không có g ở sau” Khảo sát công trình này chúng tôi thấy: cấu tạo của ĐÂ tự vị gồm hai

phần (1) phần thu thập những “chữ” ĐÂ với SL lên tới 1779 ĐV, (2) Phần phụ thêm thu thập những

ĐV mà theo tác giả là sẽ có vấn đề về chính tả, những ĐV gốc Ấn Âu không được thu thập và giải thích trong công trình này Mặc dù tác giả không hiển ngôn thế nào là ĐÂ song qua cách giải thích,

sắp xếp của tác giả, ta vẫn có thể thấy được Đó là những ĐV có âm đọc giống nhau, có nghĩa khác nhau và là những ĐV đơn tiết Do hạn chế về thời đại nên ĐÂ tự vị của Nguyễn Văn Mai mới chỉ

thống kê được một SL rất nhỏ các ĐVĐÂ của TV, chưa xử lí thỏa đáng các vấn đề của HTĐÂ trong TV, ngữ liệu mới chỉ dừng lại trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong văn ngôn tiếng Hán song bước đầu cũng đã gợi mở ra một số vấn đề lí luận liên quan đến HTĐÂ của TV như: HTĐÂ giữa từ thuần Việt với từ gốc Hán, giữa từ địa phương với từ toàn dân, vấn đề các ĐVĐÂ đơn tiết.… Đó là

những đóng góp không thể phủ nhận

Năm 1931, có thêm sự góp mặt của Việt Nam tự điển [63] So với Đại Nam quấc âm tự vị của

Huỳnh Tịnh Của, Việt Nam tự điển đã chú trọng tới việc phân biệt các ĐVĐÂ và các ĐVĐN, các

ĐVĐÂ đều được phân tách và giải thích khá rõ ràng Nếu là ĐÂ Hán Việt thì còn dẫn cả chữ Hán

để phân biệt Nghĩa của các ĐVĐN được phân biệt bằng kí số Ả Rập 1, 2, 3…, sau mỗi nghĩa đều

có ví dụ minh họa Các ĐV ĐÂCG được xếp liền nhau và phân biệt với nhau bằng kí số La Mã Sau cùng là việc liệt kê những kết hợp có chứa mục từ đó Chẳng hạn, loạt ĐÂ có âm đọc là A được giải thích và sắp xếp như sau:

II Cắt rạ bằng cái a: Ruộng đã gặt rồi cầm cái a đi a rạ (…)

Trang 7

Vi ệt Nam tự điển đã phân biệt rõ từ ĐÂ và hình vị ĐÂ Tuy vậy, công trình này vẫn còn bỏ sót

những HTĐÂ khác mà thời ấy chắc chắn đã có như HTĐÂ giữa những ĐV thuần Việt với những

ĐV có nguồn gốc Ấn Âu…

Năm 1932, đáng chú ý là công trình Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh [01] Đây là một bộ TĐ có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam Khảo sát vấn đề thu thập, giải thích, phân loại các ĐVĐÂ và ĐN của Hán

Vi ệt từ điển chúng tôi thấy: Hán Việt từ điển đã rất coi trọng vấn đề thu thập, giải thích và phân biệt,

xử lí các ĐVĐÂ Hán và Hán -Việt Cách xử lí của ông như sau: đầu tiên, tác giả liệt kê tất cả các ĐVĐÂ có trong mục từ đó, tiếp theo là việc liệt kê các kết hợp song tiết có chứa các ĐVĐÂ đó cùng lời giải nghĩa về các ĐV này Chẳng hạn: mục từ có âm đọc là DAO được ông phân tách thành

07 mục từ nhỏ như sau:

Dao 摇Lay động

Dao 遥 Xa

Dao 瑶 Một thứ ngọc tốt; quý báu; sáng sủa trong sạch

Dao 谣Câu hát không thành chương khúc; lời nói bằng không đặt ra

Dao 愮 Lo buồn không tỏ cùng ai được

Dao 徭 Xch Dao dịch

Dao 猺 Tên một dân-tộc ở miền núi thượng-du Bắc-kỳ và nhiều tỉnh phía tây-nam nước tàu… (Hán Việt từ điển,

tr 197-198)

Năm 1939, có quan điểm của Trà Ngân Lê Ngọc Vượng [94] HTĐÂ, ĐN được tác giả bàn

đến trong phần Những nguyên tắc chung (tr.29) và trong phần Lược khảo về từ chương (tr.139)

Theo tác giả thì: “ĐÂ nghĩa là đọc giống nhau Những TV – Nam cùng một âm như: nước chè –

Nước Việt Nam – Nước cờ là những tiếng Đ” Và “Đ tất phải khác nghĩa”

Năm 1940, có quan điểm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm trong Việt Nam văn

ph ạm [70] Trong 18 chương của Việt Nam văn phạm thì trong chương I Những điều khái lược

(tr.18-19) và ở mục Lời tựa (tr VIII, XI) là những chỗ thể hiện rõ quan điểm của họ về từ ĐÂ và

ĐN Theo họ, “tiếng ĐÂ là những tiếng viết giống nhau và đọc đồng một âm như nhau, nhưng cái

nghĩa thì khác mà không có liên – lạc gì với nhau cả Ví như một tiếng nước là nói một xứ có vua

quan cai trị; một tiếng nước khác là nói chất lỏng ở sông ở biển Một tiếng năm là nói khoảng thời gian có mười – hai tháng; một tiếng năm khác là nói số đếm sau số bốn” (Việt Nam văn phạm, tr.18).

Họ còn bàn về nguồn gốc của từ ĐÂ và nhược điểm của chữ Quốc ngữ: “những tiếng ĐÂ ấy nhiều nhất là những tiếng gốc ở chữ nho mà ra” , họ nêu ví dụ: Chữ minh là sáng thì viết chữ 明,

chữ minh là tối thì viết chữ 冥, chữ minh là mờ - mịt bát - ngát thì viết chữ 瞑, chữ minh là thề

thì viết chữ 盟, chữ minh là ghi, khắc thì viết chữ 铭, chữ minh là kêu (nói về chim) thì viết chữ

鸣”.Theo họ thì “những chữ ấy viết bằng chữ nho là sáu chữ khác nhau, mà viết bằng quốc - ngữ

Trang 8

thì tiếng nào cũng như nhau cả Song ta phải biết phân – biệt rằng đó là sáu tiếng minh có sáu nghĩa

riêng, chứ không phải là một tiếng minh mà có sáu nghĩa ” (Việt Nam văn phạm; tr.19)

Trong L ời tựa, họ đưa ra nhận xét: “Chữ quốc – ngữ rất tiện – lợi là nhờ có năm cái dấu giọng

có thể phiên – dịch đúng hết thảy các âm Chỉ hiềm vì các âm tuy đúng, song khi gặp những tiếng đồng – âm thì viết giống nhau cả, thành ra người nào không biết chữ nho, không làm thế nào phân -

biệt những nghĩa khác nhau trong những tiếng ấy ” (Việt Nam văn phạm; tr III)

Có thể nói rằng, ngay từ rất sớm, HTĐÂ, ĐN trong TV đã được quan tâm lưu ý Ở giai đoạn này, do những hạn chế về thời đại nên chưa có những công trình có tính lí luận, những công trình

tập thể còn ít, chủ yếu là những công trình dựa trên sự nỗ lực, cố gắng và kinh nghiệm của một số

học giả nên thành tựu nghiên cứu chưa nhiều, còn bỏ sót nhiều vấn đề liên quan đến HTĐÂ, ĐN trong TV song bước đầu đã hé mở những vấn đề lí luận như: (1) tầm quan trọng và cái khó của việc

phân biệt những ĐVĐÂ thuần Việt và những ĐVĐÂ gốc Hán khi không có chữ Hán chú kèm, (2) HTĐÂ giữa từ toàn dân với từ địa phương, (3) việc chuẩn hóa chính tả, chữ viết, (4) sự xung đột

giữa các loại văn tự đã và đang được sử dụng (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) trong việc nhận

diện các ĐVĐÂ, ĐN của TV, (5) nhược điểm của chữ Quốc ngữ trong phản ánh các cách phát âm

vùng miền, (6) phân biệt những ĐVĐÂ với những ĐVĐN

Từ sau 1945 đến 1975, HTĐÂ, ĐN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học

Khảo sát những công trình này chúng tôi nhận thấy, trong khi các học giả phía Nam vẫn tuân theo tôn chỉ chuẩn hóa chính tả, chữ viết và góp phần truyền bá chữ Quốc ngữ là chính thì các học giả phía Bắc lại có xu thế nghiêng nhiều về lí luận Những quan điểm có tính lí luận ở giai đoạn này

phần lớn là về vấn đề từ điển học Đáng chú ý là các công trình và quan điểm sau:

Năm 1947, ở Sài Gòn có Đồng âm vận tuyển của Trần Văn Khải [68] Tiến bộ hơn Nguyễn

Văn Mai, Trần Văn Khải đã phát hiện và chỉ ra những nhược điểm, những bất cập của chữ Quốc

ngữ trong việc ghi âm, thể hiện giọng nói của ba miền Tác giả đã rất chú trọng đến thao tác so sánh

đối chiếu và chọn mẫu trong việc thu thập ngữ liệu: “trong quyển từ điển nầy, chúng tôi đối chiếu

các t ự điển ở ba kỳ và chọn lấy cách viết của phần đông, hầu ngày sau điển - chế và thống - nhứt văn – tự Việt – Nam” (Phàm lệ) Trần Văn Khải cũng đã có những cải tiến, sáng tạo hơn về phương

pháp biên soạn, điều này thể hiện ở phương pháp sắp xếp các ĐVĐÂ của tác giả: thứ nhất, sau mỗi

một đầu mục từ hay sau mỗi một hình vị được giải thích đều có đánh số Ả-Rập chỉ rõ những từ hay hình vị ĐÂ trong đầu mục ấy Thứ hai, nghĩa của những hình vị ĐÂ được cho vào ngoặc đơn để

phân biệt với hình vị được giải thích Sau cùng, là việc liệt kê những kết hợp từ có chứa hình vị được giải thích Ví dụ:

Trang 9

Ái 1 Ch.(Yêu) : ân ái ; ái chủng ; ái đái ; ái hộ ; ái hữu ; ái kỷ ; ái quốc ; ái sủng ; ái tình ; bác ái ; bể ái ;

Nghĩa của các từ hay các hình vị ĐÂ được thống kê và giải thích trong Đồng âm vận tuyển khá

rõ ràng và chính xác, nhất là các hình vị Hán Việt Theo thống kê của LA, ngoài 3647 hình vị và từ

được đưa ra giải thích còn có phần Câu rời là phần thu thập thêm những kết hợp từ có chứa những

hình vị được giải thích trong các mục từ trước đó và những chữ dễ gây nhầm lẫn với hình vị được đưa ra giải thích Phần này được tác giả cấu tạo thành những câu thơ lục bát nhằm mục đích giúp

người học dễ học, dễ nhớ, dễ phân biệt Chẳng hạn, án và áng được tác giả phân biệt như sau:

Áng công danh, v ới áng chiến trường có g” (Đồng âm vận tuyển; tr 10)

Ngoài việc thu thập giải thích các hình vị Hán Việt, thuần Việt, Đồng âm v ận tuyển còn thu

thập, giải thích cả những hình vị ĐÂ gốc Pháp

Năm 1951, có Tự- điển Việt- Nam phổ- thông của Đào Văn Tập [118] Công trình này vẫn bộc

lộ khá nhiều nhược điểm ở các khâu xác định nghĩa, sắp xếp nghĩa, phân biệt các ĐVĐN với các

ĐVĐÂ Chẳng hạn: khi xác định nghĩa của hình vị Hán Việt 白(bạch) tác giả đã gán thêm cho nó nghĩa của hình vị bạch trong các kết hợp như: bạch đinh, bạch thủ, trinh bạch khi quan niệm hình vị này ngoài cái nghĩa là “sắc trắng” ra còn có nghĩa là “sạch sẽ, sáng sủa; trắng trơn, không có của

c ải, không có chức tước” (Tự- điển Việt- Nam phổ- thông; tr 27) Về việc xử lí các ĐVĐÂ, Đào Văn

Tập đã đem tất cả các ĐVĐÂ mà ngày nay được dán nhãn là “ĐÂ được cấu tạo theo kiểu chuyển

loại” như: cuốc (dt) <-> cuốc (đgt); bào (dt) <-> bào (đgt) nhập chung vào một mục từ ĐN (Tự-

điển Việt- Nam phổ- thông; tr.139, 34)

Năm 1969, đáng chú ý là quan điểm phân loại từ ĐN và từ ĐÂ của Hoàng Phê [104, tr.3-18]

Ông cho rằng: “phân biệt HT từ nhiều nghĩa với HT từ ĐÂ là một vấn đề khó khăn Nhiều khi rất khó quyết định nên coi đây là một từ nhiều nghĩa hay là nên tách ra thành mấy từ ĐÂ Trong từ điển

phổ thông, nếu quan hệ giữa các nghĩa ngày nay không rõ ràng lắm, thì tốt hơn là tách ra thành Đ”

Năm 1969, Đỗ Hữu Châu [17, tr.43-50] thông qua quá trình khảo sát việc giải thích nghĩa của các ĐV

từ trong TĐTV 1967 (Văn Tân chủ biên) đã thể hiện quan điểm và phương pháp xử lí nghĩa của mình đối

với các ĐVĐN Đây là một công trình thể hiện rõ những vấn đề lí luận ở giai đoạn này

Trong phần thứ nhất của bài viết, ông nhấn mạnh tầm quan trọng và những khó khăn của việc biên soạn từ điển một thứ tiếng, đặc biệt là những khó khăn trong việc giải thích nghĩa của từ TV và

khẳng định: “điều quan trọng nhất là tính hệ thống trong cách làm việc”

Ở phần thứ hai, ông chỉ ra những nhược điểm thường thấy trong những quyển từ điển của ta

trước đó Trong đó, nhược điểm lớn nhất theo ông là “rời rạc, thiếu tính hệ thống” Nhược điểm này

Trang 10

thể hiện ở ba điểm sau: (1) Bộc lộ ở cách sắp xếp theo thứ tự chữ cái mà hệ quả của nó là “không

thể giúp cho người đọc thấy được những mối quan hệ giữa các ĐV từ vựng [ ] cho rằng từ

vựng chỉ là một tập hợp hỗn độn những ĐVcô lập với nhau”.(2) Bộc lộ ở cách giải thích các

nghĩa khác nhau cho cùng một ĐV từ vựng mà hệ quả của nó là “người đọc từ cách giải thích đó

thường không thấy được mối quan hệ giữa các nghĩa ấy như thế nào” (3) Bộc lộ ở cách tách từ ĐÂ

và tách nghĩa của từ với những biểu hiện sau: ở những từ có cấu trúc ngữ nghĩa giống nhau thì trong trường hợp A được tách thành 04 hay 05 nghĩa nhưng ở trường hợp B lại gộp thành 01 hay 02 nghĩa

Có khi, với hai nghĩa khác nhau của cùng một từ, tác giả tách làm hai từ nhưng ở một từ khác tương

tự lại được nhập làm một như trường hợp các từ băng, đèn, bay

Trong phần thứ ba, ông trình bày quan điểm của mình về cơ sở phân tách nghĩa của từ, các nguyên tắc cần chú ý khi giải thích nghĩa của từ trong từ điển Tác giả đưa ra 02 nguyên tắc và 03 tiêu chuẩn khi giảng nghĩa của các từ như sau:

Nguyên tắc thứ nhất, “khi xử lí một ĐV từ vựng nào đó về mặt nghĩa cần chú ý đến các HT

giống nhau xảy ra trong toàn nhóm, tránh tình trạng cô lập đối tượng […] Vì việc tách một ĐV thành những từ riêng rẽ có liên quan tới lí luận về ranh giới giữa HT nhiều nghĩa và HTĐ” Đỗ

Hữu Châu đề ra tiêu chuẩn tách từ ĐÂ như sau: “nếu HT chuyển nghĩa xảy ra một cách cá biệt

mà ngày nay không thể giải thích mối quan hệ giữa nghĩa ấy với các nghĩa khác của từ thì có

thể tách nghĩa ấy thành một từ ĐÂ hay một quán ngữ Không thể tách các từ ĐÂ nếu HT chuyển nghĩa đó xảy ra giống nhau trong cả một loạt từ Còn đối với các HT cá biệt thì việc có tách thành từ ĐÂ hay không là tùy vào cách xử lí của người biên soạn và việc ấy không có ảnh hưởng gì tới toàn hệ thống”

Nguyên tắc thứ hai, “khi xử lí một từ cần nêu được thuộc tính thường trực tổ chức và chi phối các nghĩa khác nhau của từ đó” Theo Đỗ Hữu Châu, “đối với các từ một nghĩa thì việc so sánh nó

với các từ khác cùng nhóm (trái nghĩa, đồng nghĩa) là điều quan trọng Còn đối với từ nhiều nghĩa thì ngoài việc cần so sánh với các từ cùng nhóm còn cần so sánh các nghĩa khác nhau của nó với nhau”

Về việc sắp xếp các nghĩa của từ theo thứ tự, ông cho rằng: “nên sắp xếp làm sao cho quan hệ

giữa các nghĩa được nổi bật, làm sao cho thuộc tính thường trực được nổi bật và được hiện lên trong

lời giải thích”

Về việc tách các nghĩa, ông đề ra ba tiêu chuẩn sau: (1) “Nếu từ được giải thích có bao nhiêu đặc điểm từ loại khác nhau thì có thể chia thành bấy nhiêu nghĩa”, (2) “nếu trong cùng một đặc

điểm từ loại, từ đó có bao nhiêu đặc điểm cú pháp (đặc điểm kết hợp) thì có thể có bấy nhiêu nghĩa trong phạm vi đặc điểm từ loại ấy”, (3) “sau khi đã chia thành những đặc điểm ngữ pháp khác nhau

nếu trong cùng một đặc điểm ngữ pháp, từ ấy có khả năng kết hợp với bao nhiêu từ loại khác xét về

Ngày đăng: 17/08/2016, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w