Xuất phát từ vị trí vai trò hết sức to lớn từ cơ sở; cơ sở, đặc biệt là xã, phường, thịtrấn là nơi trực tiếp triển khai, thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước, chỉ có
Trang 1MÔN LÝ LUẬN DÂN CHỦ CƠ SỞ
1 Đặc điểm đời sống chính trị ở cơ sở quyết định (ảnh hưởng) đến dân chủ cơ
sở ở làng xã (lề thói, dân trí, nhận thức)?
Trả lời:
“Dân chủ” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm “demos” (nhân dân) và “kratos”(quyền lực, chính quyền), kết hợp lại thành “demokratia”, có nghĩa là quyền lực củanhân dân, chính quyền của nhân dân Dân chủ có nghĩa là nhân dân làm chủ mọi quyềnlực xã hội
Nói đến cơ sở là nói đến cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính nhà nước; ởnước ta, đó là cấp xã (xã, phường, thị trấn) Cơ sở và chính quyền cấp cơ sở có vị trí đặcbiệt trong hệ thống chính trị nước ta Đó là cấp xa Trung ương nhất, là cấp gần dân nhất.Trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước, chính quyền cấp cơ sở là cấp trực tiếp làmviệc với dân
Xuất phát từ vị trí vai trò hết sức to lớn từ cơ sở; cơ sở, đặc biệt là xã, phường, thịtrấn là nơi trực tiếp triển khai, thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước, chỉ có thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân từ cơ sở mới khơidậy được tính tích cực, chủ động, tự giác của các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiệnchủ chương, chính sách ấy Tuy nhiên, từ những đặc điểm đời sống chính trị ở cơ sở cóquyết định đến thực hiện dân chủ cơ sở ở làng xã (lề thói, dân trí, nhận thức)
Trong lịch sử, xã (có nơi là làng – xã) là một đơn vị quần cư - hành chính trong kếtcấu nông thôn Việt Nam Những đặc điểm sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của xã lànhững yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến dân chủ hóa cấp cơ sở nói riêng và sựphát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung
Xã là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xácđịnh; trong đó, lãnh thổ hành chính chủ yếu dựa trên lãnh thổ tự nhiên, thường là trênđất đai mà những thế hệ đầu tiên lập làng và khai khẩn xác định Mặc dù nhiều thời kỳđất đai thuộc sở hữu tối cao của nhà nước, nhưng làng – xã có quyền sử dụng Diện tíchđất của các làng lại không đồng đều
Làng - xã trong lịch sử là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế; làng – xã vừa có
ruộng vừa có nghề, có chợ tạo thành một không gian kinh tế khép kín thống nhất Ngày
Trang 2nay, mặc dù kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phá vỡ kết cấu truyền thống này, đã xuất hiện
tự do di chuyển vốn, lao động, kỹ thuật giữa các làng, các vùng…, nhưng những đặcđiểm kinh tế làng xã vẫn còn đậm nét Nhiều làng sản xuất những sản vật truyền thống,nhiều làng nghề đã có từ lâu trong lịch sử đến nay vẫn tiếp tục
Làng - xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán và văn hóa.
Các phong tục, tập quán độc đáo của các làng chủ yếu được quy định bởi lệ làng, hươngước, luật tục thành văn, không thành văn Có nhiều tập quán ở nhiều làng - xã khắt khe,lạc hậu
Làng - xã còn là một đơn vị tự trị về chính trị Mặc dù kết cấu hành chính của làng
- xã có những thay đổi, nhưng nhìn chung trong lịch sử Việt Nam, làng - xã là đơn vịhành chính cơ sở của nhà nước phong kiến Làng - xã dùng phép vua (luật) và lệ làng đểđiều hành xã hội của làng Trong thời phong kiến “phép vua thua lệ làng” - do nhiềunguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do tính tự trị của làng - làng tự bảo
vệ lấy lợi ích của làng Làng tự làm ăn, tự sinh sống các gia đình trong làng tự nuôi dạy
và giáo dục con cái
Đời sống chính trị của làng - xã nói chung là dân chủ kiểu công xã nông thôn, nặngtính cộng đồng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm Trong quá trình phát triển củalàng - xã, dân chủ làng - xã luôn đấu tranh, thỏa hiệp, liên kết với quá trình nhà nướchóa, phong kiến hóa Dân chủ làng - xã vừa có mặt tích cực là dân chủ cộng đồng, tự trị,vừa có tính tiêu cực là trì trệ, “cứng đầu” với nhà nước, mặc kệ nhà nước
Nền dân chủ làng - xã rất đề cao “làng”, tức cộng đồng Mỗi cá nhân là thần dâncủa một nước, tôi của vua, chứ không phải là “công dân” được xác định quyền và nghĩa
vụ một cách hợp pháp Đời sống các cá nhân trong làng Việt phải hòa vào cộng đồng,phải đứng dưới, phục tùng cộng đồng Ở làng Việt, cá nhân không được tạo điều kiện để
xã hội hóa và hiện thực hóa các nhân cách; nó phải nương theo cộng đồng Với các hệthống thể chế làng, hương ước, dư luận, phường, hội, họ…, làng ràng buộc, áp đặt,cưỡng bức đối với cá nhân Thể chế làng luôn giám sát chặt chẽ suy nghĩ, hành vi của
cá nhân, thậm chí tước bỏ quyền tự do chính kiến, tự do hành động của cá nhân, nhất làtầng lớp cùng đinh, bạch đinh Sự giám sát, can thiệp của làng nhiều khi vô lý, nghiệtngã, thậm chí vô nhân đạo Trong quan hệ giữa người với người, ở làng - xã, tất cả đều
Trang 3biến thành quan hệ chú, bác, cô, dì con, cháu…, chứ không phải quan hệ công dân bìnhđẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm.
Như vậy, làng - xã dưới thời phong kiến không có những thể chế, quy chế và điềukiện để đảm bảo dân chủ thật sự cho cá nhân con người với tư cách là công dân của mộtnước Tính tự trị, tự quản tương đối khép kín cùng với đời sống sinh hoạt vật chất thiếuthốn, thấp kém đã tạo ra sự lạm quyền, thói tham lam, bòn rút trong số chức dịch củalàng - xã, biến họ thành cường hào – một tệ nạn xã hội hết sức nặng nề và thường xuyênnhũng nhiễu đời sống người nông dân Ở mức độ cao hơn, cường hào cấu kết với nhữngđịa chủ gian ác nhất dùng lệ làng, dùng các thể chế làng để khống chế và áp bức nôngdân, lũng đoạn tổ chức làng - xã, làm cho sự chuyên chế, mất dân chủ ở nông thôn ngàycàng trầm trọng
Sinh hoạt chính trị - xã hội của làng - xã Việt Nam còn có ảnh hưởng đến cuộcsống hiện tại Làng - xã có một lịch sử lâu dài để thúc đẩy chúng ta tiến xa hơn trên conđường dân chủ hóa, nhưng những tập quán lạc hậu cũng đủ nặng để níu giữ chúng ta lại.Giải quyết những vấn đề của quá khứ là điều kiện tiên quyết để dân chủ hóa ở cơ sởthành công
Ngày nay, cơ sở cũng là cấp còn nhiều khó khăn, tồn tại trong đời sống kinh tế - xãhội Trình độ học vấn, trình độ dân trí của dân cư, kể cả cán bộ xã, còn thấp; nhân dâncòn gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong việc tiếp cận và hưởng thụ những thành tựu vănhóa, khoa học, công nghệ hiện đại Có thể nói rằng, cấp cơ sở là mắt xích yếu nhất trong
hệ thống chính trị, hệ thống nhà nước ở nước ta hiện nay Nhiều vấn đề nổi cộm, tiêucực đang tiềm tàng, những nơi nổ ra “điểm nóng” cũng đều xuất phát từ cơ sở Ở một số
cơ sở dân chủ bị vi phạm nghiêm trọng Nạn tham ô, tham nhũng, ức hiếp nhân dânchậm được giải quyết Trước khi có Quy chế dân chủ ở cơ sở, chưa có một phương ánnào có tính quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở.Chính quyền nhiều nơi đã rất nỗ lực giải quyết tốt những vấn đề bức xúc của cơ sởmình, lành mạnh hóa đời sống chính trị - xã hội, nhưng vì thiếu một cách tiếp cận toàndiện, thiếu sự phối hợp trong tổng thể cả chiều ngang và chiều dọc của hệ thống chínhtrị, nên những cố gắng của các cơ sở đó không mang lại hiệu quả mong muốn
Trang 4Liên hệ thực tế tại địa phương: Trong những năm qua, từ khi thực hiện quy chế dân
chủ ở cấp xã (Nghị định 29; ngày 20/4/2007, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hànhPháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thaythế cho Nghị định 79); Thực hiện Pháp lệnh số 34/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về “Thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn” banhành đã được 9 năm qua Thực hiện dân chủ ở cơ sở của xã Ân Nghĩa, Hoài Ân, BìnhĐịnh có nhiều biến chuyển
Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp tục đi vào cuộc sống,qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, góp phầnhuy động sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện các phongtrào thi đua yêu nước và các mục tiêu chung của huyện Hệ thống chính trị từ huyện đếncác xã, thị trấn hoạt động có hiệu quả, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ, cán bộ, đảngviên ở cơ sở được nâng lên theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và cótrách nhiệm với dân” Việc thực hiện quy chế dân chủ, chỉ đạo xây dựng ban hành, thựchiện nhiều quy chế, quy ước phù hợp với từng thời điểm ; phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Quy ước của các thôn, buôn, tổ dân phố
đã phát huy tính chủ động và nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân
Bên cạnh những mặt đạt được còn một số hạn chế như: Một số cấp uỷ cơ sở cònchưa quan tâm chỉ đạo đúng mức, chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong chỉ đạo,thực hiện quy chế dân chủ, đặc biệt trên các lĩnh vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng đôthị; Công tác tuyên truyền tại một số đơn vị chưa thường xuyên; Một bộ phận người dânchưa nhận thức đầy đủ về thực hiện dân chủ ở cơ sở; Hoạt động của một số ban chỉ đạoquy chế dân chủ ở cơ sở chưa thường xuyên, chưa cụ thể hoá sát với tình hình của địaphương
Tóm lại: Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta Đó là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, vừa có tính cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dàiđối với sự nghiệp đổi mới của đất nước ta Việc thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở sẽ khơidậy mọi tiềm năng của các cơ sở Nắm vững những đặc điểm từ cơ sở từ đó hiểu cơ sở,hướng về cơ sở cũng chính là điểm mấu chốt, nhân tố phát huy dân chủ rộng rãi đến vớingười dân, từ đó giúp người dân thực hiện đầy đủ hơn quyền và nghĩa vụ công dân
Trang 52 Các cách tiếp cận về dân chủ Mối quan hệ giữa dân chủ với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội.
Trả lời:
Phạm trù “dân chủ” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm “demos” (nhân dân) và
“kratos” (quyền lực, chính quyền), kết hợp lại thành “demokratia”, có nghĩa là quyềnlực của nhân dân, chính quyền của nhân dân Dân chủ có nghĩa là nhân dân làm chủ mọiquyền lực xã hội Đó là mơ ước từ xưa của nhân loại và được các nhà tư tưởng tiến bộnêu ra từ rất sớm trong lịch sử Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa, đến thời đại chúng ta,dân chủ vẫn đang là đòi hỏi bức xúc, là nhu cầu và động lực phát triển xã hội
Ngày nay, tiếp cận về dân chủ dưới các giác độ sau:
Một là, chế độ nhà nước (các hình thức, nguyên tắc, phương thức thực thi quyền
lực nhà nước và quản lý nhà nước) Ở đây, dân chủ là khẳng định chủ quyền nhà nướccủa nhân dân, nhân dân quyết định hình thức, quy mô, phương thức tổ chức và thực thiquyền lực nhà nước; bộ máy nhà nước, công chức nhà nước chỉ là người được nhân dân
ủy quyền và là người phục vụ nhân dân Dân chủ là đảm bảo cho nhân dân tham giangày càng nhiều và hiệu quả vào quản lý nhà nước
Hai là, coi dân chủ như là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của các tổ chức
chính trị, tổ chức xã hội… Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi các cơ quan lãnh đạo của các tổchức phải được thành lập thông qua bầu cử dân chủ và có thể bị bãi miễn, quy địnhquyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận cấp dưới, cấp cơ sở đối với cơ quan lãnh đạocấp trên và cấp cao nhất; quy dịnh mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, vai trò của cácthành viên, hội viện trong quá trình đưa ra các quyết định của tổ chức (thiểu số phụctùng quyết định của đa số, đa số tôn trọng và bỏa vệ thiểu số)…Có một số nguyên tắcphổ biến hiện nay như: nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắcdân chủ đồng thuận…
Ba là, coi dân chủ là giá trị xã hội, thể hiện ở trình độ đạt được về bảo đảm các
quyền, nghĩa vụ, tự do của công dân và sự tham gia của họ vào đời sống xã hội Từ cáchtiếp cận này, nhiều tổ chức quốc tế đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ dân chủ củacác quốc gia Ví dụ, bình đẳng giới và nữ quyền là một tiêu chí để so sánh các nền dânchủ phương Tây, Đông Á và các nước Hồi giáo
Trang 6Bốn là, coi dân chủ là lý tưởng nhân sinh quan, thế giới quan, mục đích hoạt động
của các lực lượng chính trị - xã hội Điều đó có nghĩa là, dân chủ trở thành mục tiêu cótính cương lĩnh cho việc tổ chức và hoạt động của các lực lượng CT - XH nào đó
Năm là, dân chủ trở thành tiêu chí rất cụ thể để đo đếm sự tiến bộ của các quốc
gia, dân tộc của cộng đồng quốc tế và của các định chế quốc tế Ví dụ: IMF, Liên hiệpquốc: mục tiêu, chỉ tiêu thiên niên kỷ,…
Dân chủ còn được tiếp cận trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của quá trìnhquản lý, lãnh đạo trong phối hợp hành động chung Ở đây dân chủ là đảm bảo cho cấpdưới, đối tượng bị quản lý, hoặc người đối thoại có tiếng nói, có khả năng tham gia quyếtđịnh những vấn đề phối hợp chung Mối quan hệ này còn được gọi là tinh thần dân chủ,muốn nói đến sự tôn trọng và đánh giá đúng mức, khách quan của người, cơ quan lãnh đạođối với quyền, ý kiến, sáng kiến của cá nhân công dân, hay đảng viên, thành viên, hội viêncủa một tổ chức; sự tôn trọng của cấp trên đối với quyền, sáng kiến ý kiến của cá nhân, cấpdưới hoặc cơ sở; tính tích cực của cá nhân, cấp dưới, cơ sở vào giải quyết những công việcchung, của tổ chức, của cấp trên Dân chủ ở đây đã trở thành một chuẩn mực ứng xử trongquan hệ giữa người với người, trở thành một biểu hiện của văn hóa nói chung, văn hóachính trị nói riêng
Mặc dù có thể liệt kê thêm một số cách tiếp cận khác nữa, như cách tiếp cận chứcnăng, coi dân chủ là một chức năng của đời sống xã hội, nhằm giải quyết những vấn đềchung mà các cộng đồng xã hội đặt ra Mặc dù có thể nghiên cứu dân chủ dưới nhữngcách tiếp cận khác nhau, nhưng "dân chủ" có những giá trị chung, phổ biến, ẩn chứatrong tất cả các cách tiếp cận trên Vì vậy, cần thấy tính tương đối của các cách tiếp cậnnày
Quan niệm về dân chủ cho đến nay còn khác nhau, phụ thuộc vào giai cấp, dân tộc,tôn giáo, tập quán văn hóa và truyền thống chính trị… Mặc dù vậy, đại bộ phận dân cưtrên thế giới có một cách nhìn nhận thống nhất về dân chủ như sau:
- Nhân dân được coi là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực nhà nước;
- Các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử
tự do, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp (hoặc gián tiếp) và kín;
- Nhà nước thực thi quyền lực một cách công cộng và công khai;
Trang 7- Không tập trung hoặc tuyệt đối hóa quyền lực vào bất kỳ một cơ quan quyền lựcnào, thực hiện nguyên tắc phân quyền (phân quyền hợp lý);
- Nhà nước phải phối hợp hoạt động với xã hội công dân, tạo điều kiện cho côngdân tham gia vào công việc nhà nước, giám sát, phê bình hoạt động của nhà nước;
- Nhân dân dễ dàng tiếp cận thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng;
- Phải hỏi dân khi quyết định những vấn đề trọng đại liên quan đến vận mệnh củanhân dân (trưng cầu dân ý);
- Thiểu số phục tùng quyết định của đa số, đa số tôn trọng và bảo vệ thiểu số
Thực chất của một nền dân chủ hiện đại theo nghĩa rộng là xây dựng một nền kinh
tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, khi chính quyền nhà nước đã thuộc về nhân dân lao động, những nội dungtrên đây của nền dân chủ sẽ mang bản chất giai cấp hoàn toàn mới, mặt khác chúng cònmang tính lịch sử cụ thể rất phong phú
Mối quan hệ giữa dân chủ với các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội.
Một là, mối quan hệ kinh tế với dân chủ Dân chủ phụ thuộc rất lớn vào sự phát
triển kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế Sự phát triển kinh tế đảm bảo cho triển vọngcủa nền dân chủ, đến hành vi, quan điểm của công dân, tạo ra khả năng để nâng caotrình độ văn hóa, văn hóa chính trị của toàn xã hội Sự phát triển kinh tế là điều kiện cơbản và cần thiết cho việc kiến tạo một nền dân chủ Nhưng mặt khác, cũng cần thấyrằng, việc xây dựng một nền dân chủ không phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện kinh tế
Có nhiều nước được coi là dân chủ như Tây Âu và Bắc Mỹ bắt đầu sự nghiệp dân chủhóa khi trình độ kinh tế của họ thấp hơn nhiều so với một số nước ả-rập hoặc châu Áchưa dân chủ hiện nay Dân chủ cũng không hẳn phụ thuộc, hoặc song hành cùng vớitốc độ tăng trưởng kinh tế Ở các nước Mỹ la-tinh trong những năm 70 của thế kỷ XX,tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 5-6% năm, nhưng đây là thời kỳ mà các nướcnày bị thống trị bởi các chế độ độc tài quân sự Chính các chế độ độc tài quân sự lànguyên nhân suy giảm kinh tế của các nước này ở các thời kỳ sau
Mối quan hệ giữa dân chủ và phát triển kinh tế là quan hệ nhân quả chặt chẽ, làmtiền đề và điều kiện cho nhau, không thể nhìn nhận máy móc hoặc đơn giản Kinh tế tạođiều kiện để xây dựng dân chủ, nhưng dân chủ cũng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
Trang 8Cũng cần thấy rằng, dân chủ đã tạo ra các điều kiện để phân phối công bằng hơn phúclợi xã hội, nhờ vậy kích thích sự phát triển kinh tế Mối quan hệ nhân quả ở đây làtương đối và có thể chuyển đổi cho nhau.
Hai là, mối quan hệ trình độ dân trí và văn hóa của nhân dân với dân chủ Việc
nâng cao trình độ văn hóa, dân trí của nhân dân là nhân tố cơ bản để thực hiện dân chủ,bởi vì dân chủ là biểu hiện của trình độ văn hóa chính trị, có quan hệ mất thiết với trình
độ dân trí nói riêng, và văn hóa nói chung Chỉ khi nào người dân tự giác nhận thứcđược quyền hạn và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc của nhà nước và
xã hội với tư cách là công dân có tri thức, có văn hóa thì mới có điều kiện để thực hiệndân chủ
Ba là, mối quan hệ giữa vai trò của chủ thể cầm quyền với dân chủ Dân chủ không
chỉ phụ thuộc vào trình độ dân trí, văn hóa, mà còn phụ thuộc vào chủ thể cầm quyền.Giai cấp tiến bộ, lực lượng tiến bộ cầm quyền, những con người có tài, có đức nắm giữquyền lực nhà nước thường thực hiện dân chủ với nhân dân và ngược lại
Bốn là, mối quan hệ giữa pháp luật và dân chủ Thực hiện dân chủ không chỉ
mong đợi vào “lòng tốt” của người cầm quyền mà quan trọng hơn là xây dựng nhữngđịnh chế dân chủ có khả năng buộc những người nắm quyền dù muốn hay không cũngphải tuân theo Những người cầm quyền được lựa chọn có thể là những người có tài, cóđức, suy nghĩ và hành động của họ vì lợi ích của nhân dân, nhưng nếu không có thể chế
để nhân dân kiểm soát hành vi của họ thì có thể dần dần họ lạm dụng quyền lực để mưucầu lợi ích của riêng mình, trong đó có nạn quan liêu, tham nhũng Phương thuốc đặchiệu để chữa quan liêu, tham nhũng chính là dân chủ
Mặt khác, người dân trong khi thực hiện quyền tự do, dân chủ của mình, công dâncũng có thể vi phạm tự do, dân chủ của người khác Vì vậy, hành vi của người cầmquyền cũng như người công dân đều phải được chế định bằng hiến pháp, pháp luật với
tư cách là một “khế ước xã hội” biểu hiện cho ý chí chung, do từng cá nhân tự nguyệntrao cho nhà nước và tự nguyện chấp hành ý chí chung đó Khi pháp luật phản ánh ýchí, quyền, lợi ích chung và phù hợp với xu hướng tiến bộ của nhân loại, thì pháp luậttrở thành thước đo của dân chủ Sẽ không có mâu thuẫn giữa dân chủ và pháp luật, giữadân chủ và kỷ cương xã hội
Trang 9Tóm lại, dù tiếp cận dân chủ từ giác độ nào thì dân chủ thực sự được thể hiện ở chỗ
là nền dân chủ mà trong đó mọi quyền lực thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân laođộng, xã hội được quản lý bởi nhân dân và vì nhân dân, nghĩa do chính nhân dân lập ra;mọi người đều được bảo đảm trên thực tế quyền tự do, bình đẳng và các quyền cơ bảnkhác Nhân dân lao động làm chủ trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, làm chủ về kinh
tế chính trị, văn hoá và xã hội Quyền làm chủ của nhân dân được biểu hiện và bảo đảmbằng pháp luật, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trên cơ sở luật pháp
Trang 103 Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về dân chủ ở cơ sở?
Trả lời:
Quan điểm Mác – Lênin về dân chủ được hình thành trong các phong trào đấutranh vì dân chủ, trên cơ sở lập trường của lập trường dân chủ cách mạng (Tư sản)chuyển sang lập trường dân chủ cách mạng hướng giải quyết những nhiệm vụ lịch sửmới của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản
Trước tiên, dân chủ với tư cách là một chế độ xã hội Thực chất, cuộc đấu tranh
giải phóng của giai cấp vô sản là quá trình xây dựng một chế độ dân chủ mới Đấu tranhcho dân chủ, xét đến cùng là con đường dẫn đến chủ nghĩa xã hội Như vậy, theo quanđiểm này dân chủ vừa là mục tiêu, là phương thức mà giai cấp vô sản sử dụng để xâydựng chủ nghĩa xã hội
Dân chủ luôn mang tính giai cấp Dân chủ với tư cách là chế độ nhà nước gắn trựctiếp với một giai cấp cầm quyền nhất định dựa trên một quan hệ sản xuất thống trị nêndân chủ bao giờ cũng mang tính giai cấp, không bao giờ có thứ dân chủ thuần túy chomọi giai cấp
Muốn có quyền dân chủ thực sự trong chính trị trước hết phải giành lấy quyền dânchủ trong kinh tế Suy cho cùng đó chính là vật chất quyết định ý thức
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ được khẳng định quyền nhà nướcthuộc về nhân dân lao động Để thực hiện thành công nền dân chủ đó, cần có sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản, Đảng của giai cấp công nhân
Lê Nin phát triển tư tưởng của Mác – Ăng ghen: Chế độ dân chủ là một hình thứcnhà nước, là một trong những hình thái của nhà nước; Những giá trị dân chủ cần đượcgiai cấp công nhân vận dụng để thực hiện sứ mệnh của mình mà trước hết là xây dựngnền dân chủ mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, dân chủ với tư cách là giá trị xã hội Trong Điều lệ của Liên đoàn
những người cộng sản do hai ông tham gia soạn thảo, vấn đề bình đẳng giữa các thànhviên của Liên đoàn được xem như một vấn đề có tính nguyên tắc: Tất cả các hội viêncủa Liên đoàn đều bình đẳng, họ là anh em và trong mọi trường hợp, đều có nghĩa vụgiúp nhau như anh em Khi xác định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp