1. Trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam?2. Trình bày nội dung đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay?
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BÀI CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO NĂM 2021
1 Trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam?
2 Trình bày nội dung đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay?
TRẢ LỜI Câu 1 Trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam?
Tôn giáo - phạm trù ý thức xã hội, thuộc tâm linh, là một trong những khía cạnh quan trọng của đời sống tinh thần Tôn giáo được hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người và đang là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp trên thế giới
Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam khá đa dạng Cụ thể:
Tín ngưỡng: Theo nghĩa gốc, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào đấng siêu nhiên - cơ sở của tôn giáo Tuy nhiên, ở Việt Nam đã thành thói quen, tín ngưỡng là các loại hình tôn giáo sơ khai, tôn giáo nguyên thủy thờ đa thần có từ lâu đời vẫn tồn tại đến hiện nay Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân
và cộng đồng”
Tôn giáo: Theo nghĩa gốc, tôn giáo là những hành vi (hoạt động) của con người để thể hiện niềm tin vào đấng siêu nhiên Tuy nhiên, ở VN đã thành thói quen, tôn giáo là khái niệm để chỉ các loại hình tôn giáo có sự khác với tôn giáo sơ khai, tôn giáo nguyên thủy (tín ngưỡng), với đầy đủ các yếu tố: giáo lý, giáo luật giáo lễ (quen gọi là luật lệ, lễ nghi), chức sắc và tổ chức giáo hội Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”
Tổ chức tôn giáo: Tổ chức tôn giáo là khái niệm chỉ cộng đồng tôn giáo cụ thể, một tổ chức tôn giáo cụ thể Trên thực tế, một tôn giáo có nhiều tổ chức tôn giáo, do
Trang 2vậy, nếu tôn giáo là chỉ một loại hình tôn giáo, ví dụ như Cao Đài, Tin lành, thì tổ chức tôn giáo là chỉ một tổ chức tôn giáo cụ thể, ví dụ như Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam, Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu tổ chức nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”
Như vậy, khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng rất đa dạng, vừa có nghĩa nguyên gốc, vừa có nghĩa được sử dụng lâu ngày theo thói quen, do vậy khi tiếp cận tín ngưỡng, tôn giáo cần phân biệt trong những ngữ cảnh cụ thể
1 Cơ sở lý luận đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Thứ nhất, Chủ nghĩa Mác-Lênin, cơ sở lý luận của chính sách tôn giáo
Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo được đề ra trước hết xuất phát từ các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, trong đó có bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo
- Về bản chất của tôn giáo:
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của tôn giáo được khái quát trong những luận điểm chính sau đây:
Một là, tôn giáo là sản phẩm của chính con người hay nói cách khác con người
đã sáng tạo ra tôn giáo, ra thần thánh C.Mác đã chỉ ra: “Tôn giáo là sự tự ý thức, tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”
Hai là, tôn giáo là sự phản ánh thế giới không đúng như tồn tại mà là “thế giới
quan lộn ngược” Ph.Ăng ghen nhấn mạnh: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”
Ba là, tôn giáo là thể hiện sự khốn cùng của hiện thực, sự bế tắc trong cuộc
sống của con người C.Mác cho rằng: “Sự khốn cùng của tôn giáo vừa là biểu hiện
Trang 3của sự khốn cùng hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng hiện thực
ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không
có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Bốn là, con người càng hiến mình cho tôn giáo bao nhiêu càng giữ lại cho
mình ít bấy nhiêu, con người trở nên mất lý trí và phụ thuộc vào tôn giáo V.I.Lênin
đã chỉ ra rằng: “…Tôn giáo là thứ rượu tinh thần làm cho con người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người và quên hết những điều họ đòi hỏi để sống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người”
Như vậy, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tôn giáo là sản phẩm của chính con người, nhưng con người không nhận ra sản phẩm của chính mình, mà cho đó thuộc vào một thế giới khác - thế giới thần thánh để tôn giáo quay lại chi phối con người Tôn giáo phản ánh sai thế giới, không đúng với sự tồn tại của nó - một thế giới quan lộn ngược Tôn giáo là thể hiện sự khốn cùng của hiện thực, sự bế tắc trong cuộc sống của con người Con người càng tin vào tôn giáo, càng hiến mình cho tôn giáo bao nhiêu thì càng trở nên mất ý chí và phụ thuộc vào tôn giáo bấy nhiêu
- Về nguồn gốc của tôn giáo:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo có hai nguồn gốc cơ bản: nguồn gốc liên quan đến tự nhiên và nguồn gốc liên quan đến xã hội Cụ thể:
Nguồn gốc liên quan đến tự nhiên Trong lịch sử loài người, con người đã từng sống một thời gian dài không có tín ngưỡng, tôn giáo Trong xã hội nguyên thủy, con người thường bị thiên nhiên uy hiếp, đe dọa, họ không thể nào lý giải và khắc phục được Bất lực trước tự nhiên, họ gán cho tự nhiên những sức mạnh siêu nhiên, thần thánh, rồi cầu khấn, van xin các bậc siêu nhiên, các vị thần thánh chở che, phù hộ, độ trì V.I Lê-nin cho rằng: “…Sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép mầu”
Nguồn gốc liên quan đến xã hội Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, con người còn bất lực trước các lực lượng xã hội Sự bần cùng về kinh tế, sự bất bình đẳng về xã hội, nạn áp bức về chính trị, sự bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị chấp nhận cuộc sống hiện tại, tin vào thế giới sau khi chết, tin vào thần
Trang 4thánh và những phép màu Đúng như Ph.Ănghen viết: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia”
Sau này một số tài liêu bổ sung thêm nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm
lý Thực ra nhận thức và tâm lý là hai yếu tố thể hiện của hai nguồn gốc nói trên, không phải là nguồn gốc theo đúng nghĩa, vì nhận thức sai về tự nhiên, tâm lý lo sợ trước sự áp bức, bóc lột nên hình thành niềm tin vào tôn giáo
+ Về tính chất và chức năng của tôn giáo Theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tôn giáo có ba tính chất cơ bản là: tính chất lịch sử, tính chất quần chúng
và tính chất chính trị Cụ thể:
Tính chất lịch sử: Tính lịch sử của tôn giáo thể hiện ở việc tôn giáo phản ánh
lịch sử qua quá trình ra đời và phát triển của tôn giáo C.Mác đã khái quát tính lịch sử liên quan đến xã hội bằng mệnh đề: “Nhà nước ấy, xã hội ấy, đã sản sinh ra tôn giáo” Ph.Ăngghen cũng đã từng khẳng định tôn giáo từ trước cho đến nay đều là sự biểu hiện của những trình độ phát triển lịch sử của từng dân tộc Chủ nghĩa Mác-Lênin đặc biệt nhấn mạnh tôn giáo là một phạm trù lịch sử, có quá trình hình thành, phát triển, và suy vong Là một phạm trù lịch sử, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo sẽ mất đi trong những điều kiện lịch sử nhất định - khi mà: “Con người không chỉ mưu sự, mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi, và cùng với
nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi vì khi đó không có gì để phản ánh nữa cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên của nó”
Tính quần chúng: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một
hiện tượng xã hội phổ biến và mang tính quần chúng rất rõ rệt Điều đó được thể hiện: tôn giáo thu hút đông người tin theo, tôn giáo có phạm vi tồn tại rộng rãi, không ở châu lục, quốc gia, dân tộc nào mà không có tôn giáo - tôn giáo có mặt khắp mọi nơi trên thế giới Điều cần quan tâm, từ lâu, tôn giáo đã ăn sâu, bén rễ, trở thành nhu cầu tình cảm, đức tin, lẽ sống, thậm chí trở thành nhu cầu tinh thần của cả một cộng đồng, dân tộc, và ở một số nơi có không ít các hoạt động tôn giáo mang tính cuồng tín C Mác đã từng nói “ tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” theo nghĩa là phổ biến, đại chúng, chứ không phải là thuốc phiện của một số người
Trang 5Tính chính trị: Trong các xã hội có giai cấp, tôn giáo nào cũng phản ánh lợi
ích giai cấp và đấu tranh giai cấp Tôn giáo trong các xã hội có giai cấp bao giờ cũng tồn tại đồng thời cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực; có nhiều hoạt động thuần túy tôn giáo song cũng có các hoạt động không thuần túy Lịch sử nhân loại đã từng cho thấy có không ít những lực lượng chính trị lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo Chúng lợi dụng thần quyền, giáo lý, đức tin tôn giáo và tổ chức tôn giáo để phục vụ cho lợi ích của chúng Hơn thế nữa trong từng tôn giáo bao giờ cũng tồn tại nhiều loại lợi ích khác nhau, do vậy tôn giáo mang trong mình những mâu thuẫn xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhấn mạnh sự lợi dụng tôn giáo cho những mục đích chính trị Tôn giáo là công cụ tinh thần của tất cả các giai cấp áp bức nhằm
tự biện hộ cho sự thống trị giai cấp của mình Trong lịch sử và trong xã hội đương đại, những cuộc Chiến tranh tôn giáo hoặc những cuộc thánh chiến đẫm máu đã và đang diễn ra, thực chất vẫn là xuất phát từ lợi ích và việc bảo vệ cho những lợi ích khác nhau
Cùng với việc chỉ ra về tính chất tôn giáo, chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra chức năng của tôn giáo, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chức năng thế giới quan - luận giải
về thế giới theo quan điểm duy tâm và chức năng đền bù một các hư ảo của tôn giáo bằng việc chấp nhận cuộc sống hiện tại hy vọng vào thế giới sau khi chết
+ Nguyên tắc giải quyết tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa
Mác-Lênin đưa ra những nguyên tắc trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Cụ thể:
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng Không được phân biệt người có tôn giáo và người không có tôn giáo, không phân biệt giữa những người theo các tôn giáo khác nhau Không xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người dân
Kiên trì thực hiện việc giải phóng quần chúng khỏi những thiên kiến tôn giáo, khỏi tình trạng nô dịch tinh thần của tôn giáo bằng việc triệt tiêu nguồn gốc sinh ra và nuôi dưỡng tôn giáo, bằng việc cải tạo xã hội, tạo nên một cảnh “cực lạc” ngay trên trái đất này để con người không trông chờ vào cuộc sống cực lạc ở thế giới bên kia
Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo Không được hữu khuynh, cơ hội thỏa hiệp với tôn giáo làm phương hại đến cuộc đấu tranh giai
Trang 6cấp của giai cấp vô sản Không được thờ ơ với biểu hiện tiêu cực của tôn giáo hay sự lợi dụng tôn giáo Tuy nhiên, không được tuyên bố chiến tranh với tôn giáo và coi đó
là nhiệm vụ của Đảng
Xây dựng nhà nước thế tục, không chủ trương thiết lập “tôn giáo quốc doanh”, các tổ chức tôn giáo không được ràng buộc bởi nhà nước Thực hiện việc kết nạp những người theo tôn giáo vào đảng nếu họ đi theo đảng, tận tâm làm trọn nhiệm vụ người đảng viên và không chống lại đảng
Thứ hai, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn của Việt Nam Tư tưởng về tôn giáo của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người Tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo có những vấn đề cơ bản sau:
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Tư tưởng tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hồ chí Minh thể hiện ngay phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 02 tháng 9 năm 1945: “Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương với đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự
do, lương giáo đoàn kết” Sau đó Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 chính thức ghi nhận “quyền tự do tín ngưỡng” là một trong những quyền cơ bản của công dân Cùng với tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện việc chống lợi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín dị đoan Chống lợi dụng tôn giáo nhưng đối với những người biết hối cải quay về với Tổ quốc, thì “sẽ được hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân Đây là một trong những nội dung nổi bật và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Người nhận thức rõ sự nghiệp cách mạng muốn giành thắng lợi, muốn xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh phải đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, vì “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Hồ Chí Minh chỉ rõ muốn đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân, phải lấy mẫu số chung là quốc gia, dân tộc và
Trang 7quyền lợi cơ bản của nhân dân; phải thật sự tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; phải quan tâm đến mọi mặt đời sống của đồng bào các tôn giáo; phải “cầu đồng, tôn dị” tìm kiếm phát huy những điểm tương đồng, đồng thời tôn trọng những điều khác biệt để đi đến sự thống nhất, đoàn kết
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy các giá trị của tôn giáo Đây là một trong những nội dung tư tưởng rất lớn và rất mới của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Theo Hồ Chí Minh, các tôn giáo khác nhau về giáo lý, giáo luật nhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, tính hướng thiện của con người: Người viết:
“Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” Không những thế, Hồ Chí Minh còn tỏ lòng kính trọng
và ngưỡng mộ các danh nhân thế giới, trong đó có những người sáng lập tôn giáo Người viết: “Học thuyết của Khổng tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm
là phương pháp biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách Tam dân thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao Các vị ấy đều mưu cầu hạnh phúc chung cho xã hội Nếu các vị còn sống trên đời này, nếu các vị ấy họp lại một chỗ, tôi tin rằng các vị ấy nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”
Nói tóm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự tiếp thu trí tuệ của nhân loại và sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có nội dung phong phú và đa dạng, chứa đựng giá trị và nhân văn sâu sắc Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo vẫn còn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới hiện nay
2 Cơ sở thực tiễn của chính sách tôn giáo- Đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam:
+ Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Ở Việt Nam có
cả những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo,
có cả tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Công giáo, Tin lành; có cả tôn giáo bên ngoài du nhập vào như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, có cả tôn
Trang 8giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, Ở Việt Nam có cả tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và chức sắc, tổ chức giáo hội), có cả những hình thức tôn giáo sơ khai (tín ngưỡng); có cả những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định, có cả những tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp Ở Việt Nam có khoảng trên 90% dân
số có đời sống tâm linh về tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó có có 25,232 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số Cụ thể: Phật giáo 14.331.000 tín đồ, Công giáo: 7.063.000 tín đồ, Phật giáo Hòa Hảo: 1.336.000 tín đồ, Tin lành: 1.121.000 tín đồ, Cao Đài: 1.116.000 tín đồ, Tịnh độ cư sỹ Phật hội Việt Nam: 258.828 tín đồ, Hồi giáo: 80.045 tín đồ, các tôn giáo khác: 140.000 tín đồ
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và nhiều tổ chức tôn giáo như nói trên, người ta thường ví tôn giáo ở Việt Nam như bức tranh thu nhỏ của tôn giáo của thế giới Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc Tuy nhiên,
số lượng tín đồ tôn giáo ở Việt Nam chỉ chiếm 27% dân số, trong khi chủ thể quản lý
đa số là những người không theo tôn giáo nên ít hiểu biết về tôn giáo dẫn đến những khó khăn trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể; đồng thời đa dạng về tôn giáo cũng đặt ra việc thực hiện việc bình đẳng tôn giáo trước pháp luật
+ Các tôn giáo ở VN đoàn kết, không có xung đột về tôn giáo Như nói trên,
VN có nhiều tôn giáo, nhiều người theo tôn giáo, có tôn giáo nguồn gốc phương Đông, có tôn giáo nguồn gốc phương Tây, có tôn giáo truyền vào từ rất sớm, có tôn giáo mới truyền vào; có tôn giáo đông tín đồ, phạm vi hoạt động rộng, có tôn giáo ít tín đồ, hoạt động trong phạm vi một số địa phương,… Nhưng tất cả tôn giáo ở VN sống hòa đồng không xảy ra xung đột hoặc chiến tranh tôn giáo Tất nhiên, trong quá trình truyền giáo, cả trước đây và sau này, một số tôn giáo có những va chạm với văn hóa tín ngưỡng truyền thống mang tính cục bộ nhưng sớm được khắc phục
Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam, với các lối sống đạo khác nhau, nhưng nhìn chung đều có đức tin, tình cảm và niềm tin tôn giáo sâu sắc Đặc biệt là tín đồ các tôn giáo có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo cộng
Trang 9đồng mang tính chất lễ hội Điều này khác với tín đồ tôn giáo ở một số nước phương Tây hoặc các nước tiến tiến, các sinh hoạt tôn giáo đi theo hướng cá nhân, ở gia đình
Ở Việt Nam cũng vẫn còn một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo còn mê tín dị đoan, thậm chí cuồng tín dễ bị số người cơ hội lôi kéo, lợi dụng
Vấn đề đặt ra trong ứng xử với tôn giáo là vừa phải phát huy tinh thần đoàn kết hòa hợp giữa các tôn giáo, phát huy lòng yêu nước và tinh thần lao động cần cù của các tín đồ tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vừa phải giải quyết thỏa đáng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của tín đồ các tôn giáo, vừa nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho tín đồ các tôn giáo, vừa khắc phục những tồn tại, hạn chế do lịch sử để lại trong một bộ phận tín đồ tôn giáo
+ Ở Việt Nam có lực lượng chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo đông đảo Năm 2019, tổng số chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo ở Việt Nam khoảng trên dưới 87,0 nghìn người Cụ thể của từng tôn giáo: Phật giáo: 54.200, Công giáo: 37.385 (trong đó hơn 30.000 nam nữ tu sỹ), Cao Đài: 13.411, Tin lành: 2.066, Hồi giáo: 435,…120 Hầu hết các chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo ở Việt Nam là người
có tri thức, được đào tạo rất căn bản Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo là những người hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo cho tín đồ Và ở những mức độ khác nhau, chức sắc các tôn giáo có thần quyền Do đó, chức sắc các tôn giáo có uy tín và ảnh hưởng rất quan trọng đối với tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà ngay cả trong đời sống văn hóa, xã hội Cùng với chức sắc, nhà tu hành, các tôn giáo ở Việt Nam
có trên dưới 200 nghìn chức việc gồm cả chức sắc và tín đồ có chức vụ trong bộ máy
tổ chức các tôn giáo
Chức sắc, nhà tu hành, chức việc là lực lượng quan trọng trong mối quan hệ giữa giáo hội của các tôn giáo với nhà nước và là đầu mối trong việc hướng dẫn, quản lý về hoạt động tôn giáo Đồng thời, do vị trí ảnh hưởng của các chức sắc, nhà
tu hành đối với tín đồ và xã hội nên trong công tác tôn giáo nói chung, công tác quản
lý nhà nước nói riêng, việc vận động, tranh thủ các chức sắc, nhà tu hành, chức việc
là đặc biệt quan trọng và cần thiết
+ Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi Trong các tôn giáo
ở Việt Nam, có nhiều tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào, nhất là những tôn giáo
Trang 10lớn, như: Phật giáo với 520 triệu tín đồ chủ yếu ở các nước châu Á; Công giáo với 1,250 tỷ tín đồ ở 193 quốc gia và vùng lãnh thổ ở tất cả các châu lục; Tin lành với
820 triệu tín đồ ở tập trung các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ và Nam Phi; Hồi giáo với 1,450 tỷ tín đồ ở Trung Cận Đông, Bắc Phi, Tây Á, Trung Nam Á và Đông Nam Á,… Điều đó cũng có nghĩa là tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế khá rộng rãi
Vấn đề quan hệ quốc tế của các tôn giáo đang là vấn đề rất lớn và rất quan trọng trong chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, cũng như trong công tác hướng dẫn, quản lý hoạt động tôn giáo Vấn đề quan hệ quốc tế tôn giáo cần được xem xét giải quyết thỏa đáng trong điều kiện chính sách đối ngoại rộng mở và hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam và trong xu hướng toàn cầu hoá và quốc tế hoá các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội
+ Các tôn giáo ở Việt Nam vẫn là đối tượng lợi dụng của các thế lực cơ hội và thù địch Trước đây, khi xâm lược Việt Nam, Pháp, Nhật, Mỹ đều tìm cách lợi dụng các tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị của họ Việc lợi dụng các tôn giáo của các thế lực đế quốc đã để lại nhiều hậu quả mà Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đang phải giải quyết Ngày nay, các thế lực cơ hội và thù địch ở trong nước và ngoài nước đang thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” để chống phá Việt Nam Với chiến lược này, các thế lực cơ hội và thù địch đặc biệt quan tâm lợi dụng vấn đề tôn giáo gắn với vấn đề dân chủ và nhân quyền, trong đó khai thác những sai sót trong việc thực hiện chính sách tôn giáo ở một số cơ sở để xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực cơ hội và thù địch như nói trên đặt ra cho công tác tôn giáo vừa phải thực hiện tốt chính sách tôn giáo trên căn bản tôn trọng và đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của quần chúng tín đồ, vừa phải cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu và những hoạt động của các thế lực xấu lợi dụng tôn giáo
để chống phá cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, tiếp cận vấn dề này, cần phân biệt rõ những phần tử cơ hội và thù địch Việt Nam khác những người chưa hiểu, đúng hơn
là thiếu thông tin về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, hoặc tiếp cận vấn đề tôn giáo, nhân quyền theo góc nhìn truyền thống của các nước, nhất là từ Âu Mỹ