Lời giới thiệu Vào đầu năm 40 của thế kỷ XX, khi tình hình cách mạng Việt Nam chuyển biến mới, Đảng đã quyết định “thay đổi chiến lược” đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Cuộc vận động giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã diễn ra sôi nổi trên tất cả vùng miền của đất nước Việt Nam. Hoảng sự trước phong trào đấu tranh của nhân dân và sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng trong toàn quốc, thực dân Pháp đã điên cuồng đẩy mạnh khủng bố, bắt bớ, giam cầm những người yêu nước và chiến sĩ cộng sản của Việt Nam. Một loạt nhà tù đế quốc được mở rộng và xây dựng thêm để tra tấn, đọa đày, tiêu diệt tinh thần, ý chí và lực lượng của cách mạng, đồng thời uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Nhà ngục Đăk Mil do chính quyền thực dân Pháp xây dựng giữa rừng già của Tây Nguyên đại ngàn, vốn là vùng “rừng thiêng, nước độc”, ra đời trong bối cảnh lịch sử ấy. Địa điểm xây dựng là một khoảnh đất nhỏ ở vùng đất cực Nam của tỉnh Đăk Lăk trước đây , cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50 km, nay thuộc thôn 9A, xã Đăk Lao, Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Thực dân Pháp xây dựng Nhà ngục ở nơi đây với mưu đồ nham hiểm: bằng khí hậu khắc nghiệt, chế độ lao tù hà khắc, lao dịch khổ sai nặng nề dẫn tới đói rét, bệnh tật để làm nhụt ý chí đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sĩ cộng sản và tiêu diệt lực lượng trung kiên của cách mạng. Trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo đó, các chiến sĩ cách mạng ở nhà ngục Đăk Mil cũng như các nhà tù đế quốc khác không những không chịu khuất phục mà đã biến ngục tù thành trường học cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: các chiến sỹ cách mạng đã Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí của ta đã lợi dụng những ngày tháng ở trong tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn cản được bước tiến của cách mạng mà trái lại, nó đã trở thành một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng thêm cứng rắn, mà kết quả là cách mạng đã chiến thắng, đế quốc đã thua . Nhà ngục Đắk Mil dù tồn tại một thời gian ngắn (19411943), nhưng là một trong những bằng chứng lịch sử của một địa ngục trần gian, một chứng tích đầy tội ác man rợ của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược và thống trị Việt Nam trong những năm 40 của thế kỷ XX. Đồng thời, cũng là nơi tỏa sáng những tấm gương kiên trung, bất khuất, quật cường của các chiến sĩ cách mạng mà thực dân Pháp cho là “những phần tử nguy hiểm nhất” đối với chính quyền thực dân, là một trong những minh chứng sinh động và hùng hồn cho bản lĩnh và ý chí của dân tộc Việt Nam quyết giành cho được độc lập trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử thách thức, cam go nào. Với ý nghĩa lịch sử to lớn cảu ngục Đắk Mil, ngày 1732005, Di tích được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin ký Quyết định số 112005QĐBVHTT, xếp hạng Nhà ngục Đăk Mil là Di tích Lịch sử quốc gia. Để tiếp tục khắc ghi công ơn và tôn vinh các thế hệ cách mạng đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, cả xương máu cho nền độc lập, đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay tiếp tục phát huy trong xây dựng quê hương Đăk Nông giàu mạnh, Tỉnh ủy Đăk Nông quyết định nghiên cứu, biên soạn và phát hành ấn phẩm LỊCH SỬ DI TÍCH CÁCH MẠNG NHÀ NGỤC ĐĂK MIL (19411943). Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, đặc biệt là các đồng chí lão thành cách mạng đã từng bị thực dân Pháp giam cầm tại Nhà ngục Đắk Mil, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đắk Nông và tỉnh Đắk Lắk qua các thời kỳ, các nhà khoa học Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử trong và ngoài tỉnh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho Ban biên soạn sưu tầm, xác minh tư liệu và góp ý cho quá trình xây dựng bản thảo; xin cảm ơn Nhà xuất bản….đã xuất bản cuốn sách kịp thời trong dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Tỉnh. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, xây dựng bản thảo, song Ban biên soạn gặp không ít khó khăn về tài liệu lưu trữ, về việc gặp gỡ các nhân chứng lịch sử và do thời gian tồn tại của Nhà ngục quá ngắn, do vậy, công trình khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Kính mong sự góp ý xây dựng của các đồng chí, đồng bào và các bạn để Công trình được hoàn thiện hơn, đáp ứng với sự mong mỏi của độc giả. BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY ĐẮK NÔNG Chương 1: ÂM MƯU THÂM ĐỘC, TÀN BẠO CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP NHÀ NGỤC ĐĂK MIL I. Vài nét về địa lý, lịch sử, kinh tế xã hội của vùng đất Đăk Mil trên cao nguyên M’Nông trước khi thực dân Pháp xâm lược 1. Địa hình, khí hậu Đăk Mil là huyện biên giới phía Tây Bắc tỉnh Đăk Nông, trước đây là vùng đất thuộc huyện Đăk Mil (cũ) thuộc tỉnh Đắk Lắk. Ngày 01012004 tỉnh Đắk Nông chính thức được thành lập theo tinh thần Nghị quyết số 222003QH11 của kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI ngày 26 tháng 11 năm 2003. Vùng đất Đăk Mil nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Đăk Nông, diện tích tự nhiên 682,99km2, cách Thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ Đăk Nông) 60 km theo quốc lộ 14. Phía Bắc giáp huyện Cư Jut; Đông giáp huyện Krông Nô; phía Nam giáp huyện Đăk Song; Tây giáp tỉnh Moldulkiri (Vương quốc Campuchia). Đăk Mil nằm trên cao nguyên MNông, người Pháp thường gọi là cao nguyên Trung tâm Nam Đông Dương, gọi tắt là cao nguyên Trung tâm (Plateau Central). Được gọi là Trung tâm vì nó là Ngã ba biên giới của 3 xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên. Cao nguyên có độ cao trung bình 500 mét so với mặt nước biển, vùng phía Bắc huyện từ 400 600 mét và phía Nam huyện cao hơn, độ cao trung bình 700 900 mét, phần lớn địa hình có dạng đồi lượn sóng nối liền nhau bị chia cắt bởi nhiều sông suối nhỏ và các hợp thuỷ, xen kẽ là các thung lũng nhỏ, bằng, thấp. Có hai dạng địa hình chính: địa hình dốc lượn sóng nhẹ, có độ dốc từ 00 đến 150, phân bố chủ yếu ở phía Đông và khu vực trung tâm của huyện, chiếm khoảng 74,6% diện tích tự nhiên. Địa hình dốc chia cắt mạnh, độ dốc trên 150, phân bố ở phía Tây Bắc và phía Tây Nam của huyện, chiếm khoảng 25,4% diện tích tự nhiên. Đăk Mil là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Đăk Lăk và Đăk Nông, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ bình quân 22,30C, ẩm độ không khí bình quân hằng năm là 85%, lượng mưa bình quân 2.513 mm. Cùng với hai dòng sông Krông Nô và Krông Na chảy từ Đông sang Tây, hai dòng suối lớn là Đăk RLông và Đăk Đam là hàng trăm dòng suối lớn nhỏ khác chia cắt vùng đất này. Rừng núi Đăk Mil là nơi quần tụ nhiều loài động vật của dãy Trường Sơn đại ngàn, trong đó có nhiều loài thú ăn thịt. Nhiều khu rừng nguyên sinh trong hệ thống rừng núi Đăk Mil chứa đựng hệ thực vật phong phú, đa dạng. Đầu thế kỷ XX, nơi đây được bao phủ bởi rừng nguyên sinh. Đầu thế kỷ XX, các Phái bộ khảo sát hành chính Đông Cao Miên phải bằng các con đường cũ đầy khó khăn nguy hiểm từ Trung Kỳ hay Nam Kỳ, và bằng con đường qua Đông Cao Miên để tiến vào Cao nguyên MNông. Vi di chuyển của các phái bộ thăm dò cao nguyên vô cùng khó khăn với phương tiện chính là voi và hành quân bộ. Nơi đây, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt. Địa thế cao nguyên Mnông như mái nhà. Nhiều nhà địa lý gọi đây là mái nhà của cực Nam Đông Dương. Đường nóc đổ xuống bốn phía là những sườn dốc với những mạng lưới sông suối dày đặc. Độ cao trung bình của Đăk Mil là 800 mét, có 2 sông Krông Nô và Krông Na, cùng 2 suối lớn là Dak RLông, Dăk Đam và hàng trăm suối nhỏ. Vì vậy, địa hình chia cắt, hiểm trở. Đầu thế kỷ XX, việc giao lưu nội địa khó khăn. Để giao lưu với bên ngoài chỉ có hai con đường mòn: một Đông Tây, trên đất Campuchia từ Krôchiê đến vùng biên giới với Đắk Lắk có thể đi xe bò được trong mùa khô, và một Nam Bắc, trên đất Việt Nam, men theo đường phân thủy hai sông Đồng Nai và sông Bé để xuống vùng châu thổ Đông Nam bộ Việt Nam. Với khí hậu vô cùng khắc nghiệt, địa hình hiểm trở và rừng già bao phủ mà chính quyền thực dân Pháp đến đầu thế kỷ XX mới xâm nhập được vào cao nguyên này, và phải đến năm 1935 quân Pháp mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa NTrang Lơng. Những với điều kiện như vậy, việc xây dựng một nhà ngục ở Đăk Mil, âm mưu chính quyền thực dân Pháp là khí hậu khắc nghiệt, đói, sốt rét, thú dữ luôn rình mò cùng với chính sách dã man tàn bạo trong lao tù, chúng có thể làm nhụt ý chí đấu tranh, làm hủy hoại quyết tâm đấu tranh và làm chết dần, chết mòn những phạm nhân cứng cổ, là “những phần tử nguy hiểm nhất” đối với chính quyền thực dân. Đồng thời thực dân Pháp còn tính đến, việc lực chọn địa điểm Đắk Mil, với vị trí heo hút giữa rừng rậm, dân cư thưa thớt, thực dân Pháp có thể cách li những người yêu nước và cách mạng với bên ngoài, bưng bít các thông tin về sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở ngoài dội vào trong lao tù, cũng như tìm cách bưng bít các thông tin về tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sĩ cách mạng trong lao tù, hạn chế sự tác động ảnh hưởng đối với phong trào cách mạng quần chúng bên ngoài. Thậm chí, với địa hình hiểm trở, rừng rậm, ít dân cư, thực dân Pháp cho rằng tù nhân có thoát khỏi nhà đày cũng không thể sống sót để trở về với cách mạng. 2. Tình hình kinh tế xã hội Vùng đất Đăk Mil từ lâu đời là nơi sinh sống của dân tộc M’Nông và S’Tiêng, trong đó chủ yếu là dân tộc M’Nông với hai nhánh M’Nông Preh và Bu Nơr. Ngôn ngữ chính của người M’Nông theo ngữ hệ Môn Khơme, cùng hệ dân tộc Mạ Kơho, vì vậy mang nhiều yếu tố Khơ me. Cũng như các dân tộc khác cư trú trên cao nguyên Đăk Nông, đồng bào Đăk Mil sống chủ yếu bằng nghề nông, với phương thức canh tác còn hết sức giản đơn, phát nương rẫy bằng rìu và xà gạt, chọc lỗ tra hạt, tuốt lúa bằng tay hoặc bằng các công cụ thô sơ. Bên cạnh đó, đồng bào cũng chú trọng đến nghề chăn nuôi gia súc để lấy sức kéo và mổ lấy thịt vào những dịp lễ tết. Ngoài ra, người MNông vẫn duy trì tập quán săn bắn thú rừng, bắt cá trên các sông suối để bổ sung nguồn thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày. Sống trên địa bàn Tây Nguyên còn nhiều khó khăn, từ lâu, đồng bào các dân tộc ở Đăk Mil đã biết tự rèn dao, rựa thô sơ để phục vụ sản xuất, đàn ông biết đan lát, phụ nữ biết dệt vải để tự túc về cái mặc. Trong tiến trình lịch sử, trải qua các bước thăng trầm, bộ tộc MNông chưa hình thành một xã hội mang tính nhà nước mà vẫn còn đậm dấu ấn của cộng đồng nguyên thủy. Họ quần tụ với nhau trong một làng và quản lý chủ yếu bằng luật tục. Bộ máy tự quản đứng đầu là Già làng được nhân dân bầu lên do tín nhiệm về đức độ và bản lĩnh ứng phó với những diễn biến xảy ra trong cuộc sống buôn ấp. Là người vừa quản lý luật tục và chỉ huy trai làng bảo vệ nhân dân. Già làng là thủ lĩnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của làng, hoàn toàn tự nguyện, không có đòi hỏi về thù lao và cống tế. Đặc điểm này nêu bật truyền thống dân chủ, bình đẳng, một nét đẹp văn hóa trở thành bản sắc truyền thống của người MNông. Điều kiện lịch sử văn hóa đã tạo nên ở đồng bào các dân tộc ở Đăk Mil một tinh thần phóng khoáng, yêu tự do, không chịu khuất phục trước sự áp bức, bóc lột của kẻ khác, do đó một truyền thống bất khuất trong đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và của các thế lực bên ngoài đã dần được hình thành trong cộng đồng các dân tộc ở nơi đây. Chính vì vậy, người MNông sớm có ý thức tự trang bị vũ khí để tự bảo vệ mình. Vũ khí để tiến công chủ yếu là mũi lao, mà mỗi thanh niên đến tuổi trưởng thành đều mang bên mình. Mũi lao được rèn bằng sắt, dài từ 20 cm đến 40 cm, hình thoi giống như lưỡi giáo của người Kinh, cắm vào cán gỗ dài chừng ba mét. Bên cạnh đó, đồng bào còn sử dụng súng săn, mà đạn là khúc gỗ dài gần bằng nòng súng, có mũi sắc tẩm thuốc độc dùng để săn những loài thú dữ. Ngoài ra, thanh niên trai tráng MNông còn khá thuần thục trong việc dùng nỏ một sự sáng tạo cải tiến từ cây cung do kết cấu thân và rãnh bắn. Cánh nỏ được làm bằng thứ gỗ vừa cứng vừa dễ uốn dẻo, dây làm bằng sợi Klót rất bền. Tên làm bằng tre cứng, có cánh để giữ hướng bay, đầu mũi tên sắc nhọn được tẩm thuốc độc lấy từ nhựa cây Kam rồi pha với nọc độc của rắn. Với loại vũ khí này đã tiếp thêm sức mạnh cho ý chí chiến đấu kiên cường của người MNông trong quá trình bảo vệ quê hương của họ, mà tiêu biểu là cuộc nổi dậy của người anh hùng dân tộc NTrang Lơng trên vùng đất Đăk Mil. Đồng bào MNông không theo một tôn giáo nào. Tín ngưỡng của đồng bào chủ yếu là đặt lòng tin vào một vị thần linh được gọi là Rít và các thần núi, thần sông, thần cây cối... Sinh hoạt xã hội của người MNông và STiêng ở Đăk Mil theo chế độ mẫu hệ. Các gia đình trong buôn làng đều có quan hệ thân tộc hoặc thích tộc làm cho quan hệ cộng đồng được duy trì khá bền vững. Những tập quán được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác trở thành những nét đẹp truyền thống của các đồng bào Đăk Mil. Họ sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống và trong sản xuất, sẵn sàng kết nghĩa anh em, bạn bè với các dân tộc khác. Tập quán sản xuất của đồng bào là làm rẫy, nhưng là rẫy du canh ngắn hạn (từ 1 đến 3 năm) kéo theo du cư nhịp độ nhanh. Chăn nuôi và thủ công nghiệp gia đình thô sơ và kém phát triển nên săn bắn và hái lượm là nguồn kinh tế bổ sung quan trọng. Đầu thế kỷ XX, dân cư trên cao nguyên vẫn rất thưa thớt, buôn làng rải rác và quy mô nhỏ. Người Mnông nhiều nơi chỉ vài ba ngôi nhà mỗi làng, dân số mỗi làng chỉ sáu hoặc bảy chục người. Những làng trên miền đất đỏ đông dân hơn, mỗi làng cũng chỉ trên 100 dân. Người dân hầu như không biết ngôn ngữ phổ thông và chưa có sự liên hệ với các dân tộc khác. Mặt khác, với âm mưu thâm độc chia để trị, thực dân Pháp lợi dụng sự bất đồng ngôn ngữ, đặc thù tâm lý các dân tộc và trình độ dân trí thấp, để tuyên truyền, gieo rắc tâm lý chia rẽ, thù địch giữa các dân tộc. Với đặc điểm địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế xã hội lạc hậu, đường sá đi lại khó khăn, tách biệt với các địa phương khác. Đây chính là nơi thực dân Pháp lựa chọn vị trí để “biệt giam”, cách ly những tù nhân chính trị đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ở bên ngoài. 3. Mưu đồ của thực dân Pháp đối với Tây Nguyên nói chung và cao nguyên MNông nói riêng Tây Nguyên nói chung và cao nguyên MNông nói riêng là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng, có điều kiện thiên nhiên, tài nguyên giàu có, tiềm năng dồi dào, đất rộng người thưa và là cửa ngõ thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, ngay từ giữa thế kỷ XIX, Tây Nguyên đã trở thành mục tiêu thực dân Pháp chú ý trong hành trình xâm chiếm Đông Dương. Ban đầu, thực dân Pháp thăm dò và nắm bắt tình hình Tây Nguyên thông qua những đoàn truyền giáo, thám hiểm. Theo những tài liệu hiện còn lưu giữ thì từ năm 1838, Giám mục Tabe (Thabert) đã ghi chép các vùng dân tộc Tây Nguyên trên bản đồ đầu tiên của mình. Tiếp sau đó, các linh mục như Bulơvô (năm 1851), Phông ten (năm 1852), Adêma (năm 1857) theo lưu vực sông Đồng Nai đã liên tiếp thâm nhập vào các khu vực của đồng bào MNông để thăm dò. Năm 1860, các nhóm giáo sĩ đã lập Hội thánh Trinh Sư trong vùng đồng bào MNông, đồng thời lập Hội thánh ở vùng đồng bào STiêng (Brơ Lam). Một số nhà thờ mọc lên tại nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Thực chất là những căn cứ quân sự đầu tiên của thực dân Pháp. Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn phái các đoàn thám hiểm đến khảo sát địa dư, chủng tộc, chuẩn bị điều kiện cho cuộc viễn chinh của chúng sau này. Đến cuối thế kỷ XIX, cùng với quá trình thôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu đưa đội quân viễn chinh lên xâm chiếm vùng đất hoang sơ nhưng giàu có này. Năm 1894, khi thực dân Pháp đưa hai toán quân đi theo thung lũng sông Ba và sông HNăng lên cao nguyên MNông đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào. Năm 1896, Pôn Đume (Paul Dourme) sang làm Toàn quyền Đông Dương. Pôn Đume trở thành nhân vật phát động cuộc chinh phạt vùng đất Tây Nguyên và đưa ra một loạt các chính sách nô dịch và thống trị các dân tộc Đông Dương nói chung và đồng bào Tây Nguyên nói riêng, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự. Năm 1898, quân Pháp từ Kratiê (Campuchia) tập trung lực lượng tấn công chiếm Buôn Đôn, sau đó tiến đánh các vùng Mê Khul, Mê Wan, Buôn Trấp, Buôn Chóa và lần lượt đưa quân chinh phục người Bih và đánh chiếm cao nguyên MNông. Cũng trong năm 1898, Pôn Đume ra lệnh xóa bỏ chế độ sơn phòng của triều đình Huế đặt ở Nam – Ngãi Bình, thay thế vào đó là việc thành lập các đồn, với nhiệm vụ nắm toàn quyền chỉ huy khu vực cả về quân sự, chính trị và hành chính. Bộ máy sơn phòng cũ của triều đình Huế bị bãi bỏ phần lớn, bộ phận nhỏ còn lại trở thành thuộc hạ của bọn quan lại đồn Pháp. Năm 1898, được coi là năm mở đầu nền thống trị của Pháp ở Tây Nguyên. Đến những năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt đồn bốt tiếp tục mọc lên bao vây miền sơn nguyên Nam Đông Dương. Chính từ các đồn trên vòng vây này, Đume và bọn tay chân đã tung các phái bộ khoa học, quân sự chính trị của chúng để điều tra, do thám, lấn chiếm dần miền sơn nguyên theo kiểu vết dầu loang. Âm mưu của thực dân Pháp là tách miền sơn nguyên này thành một xứ, ở đó chúng sẽ thực hiện chế độ “trực trị” và độc quyền bóc lột các dân tộc. Tuy nhiên, trên thực tế, khi thực dân Pháp về cơ bản đánh chiếm được Đăk Lăk và bắt đầu áp đặt bộ máy cai trị, thì vùng cao nguyên MNông rộng lớn ở phía Nam vẫn là vùng quân Pháp chưa kiểm soát được và chúng gọi đây là Resgion Insoumis (vùng không khuất phục). Năm 1907, dưới thời Bernard (Bê Nanh) làm Công sứ, thực dân Pháp ước lượng chỉ quy thuận được 300 làng từ Buôn Ma Thuột đến MDrak, còn khoảng 200250 làng ở phía Bắc Buôn Hồ, phía Nam sông Sêrêpôk chúng không thể quy thuận được . Nếu như năm 1898 được coi là năm mở đầu nền thống trị của Pháp ở Tây Nguyên, thì đến năm 1908, thực dân Pháp chính thức đưa quân vào đánh chiếm cao nguyên Nam Tây Nguyên (cao nguyên MNông) và tại Đắk Lăk chúng xây dựng Nhà đày Buôn Ma Thuột. Cho đến những năm 19091911, thực dân Pháp mới bình định được một số vùng cư trú của đồng bào MNông và thiết lập quận Đăk Song (một trong 5 quận của tỉnh Đăk Lăk). Cũng như ở Tây Nguyên, sau khi áp đặt được ách thống trị ở vùng cao nguyên MNông, thực dân Pháp bắt tay vào thực thi chính sách cai trị. Về kinh tế, một khó khăn của Pháp khi áp đặt chế độ cai trị đối với lĩnh vực kinh tế ở Tây Nguyên là chúng không có nguồn nhân lực cần thiết để phục vụ cho việc khai thác đồn điền, xây dựng đường sá, đồn bốt trong điều kiện miền sơn nguyên đất rộng, người thưa. Để giải quyết khó khăn, Toàn quyền Đume đã thực hiện một cuộc cải cách chế độ thuế thân và chế độ xâu có sẵn. Chúng tiến hành hủy bỏ chế độ thu thuế và tô hiện vật của triều đình nhà Nguyễn, thay vào đó là chế độ thu thuế bằng tiền, với nhiều thứ thuế vô lý như thuế trâu, thuế voi, thuế đàn ông, thuế đàn bà; bắt dân đi phu làm đường 14, khai hoang lập đồn điền, làm sở trà không công cho bọn chủ Pháp. Xâu trước đây quy định bằng 10 ngày công ích, Toàn quyền Đume cho tăng thêm một số ngày dành cho tư ích. Thực tế lịch sử chứng minh rằng, chính sách xâu thuế thâm độc của Toàn quyền Đume vẫn không đáp ứng được nhu cầu to lớn của thực dân Pháp về nhân lực. Tuy vậy, những chính sách ấy đã trở thành một trong những xiềng xích cột chân người dân miền núi trên cao nguyên MNông vào các đồn điền, công trình làm đường sá và đồn bốt của bọn thực dân, dẫn đến cảnh nghèo đói, lạc hậu, bệnh tật và dân số ngày càng giảm. Sau khi tiến hành xâm chiếm Tây Nguyên, số đồn điền trên địa bàn tăng lên nhanh chóng. Từ một vài đồn điền đầu thế kỷ XX đã tăng lên hàng trăm đồn điền vào những năm 30. Riêng năm 1926, có 27 đơn xin lập đồn điền, với diện tích chiếm đoạt lên tới 17 vạn héc ta trên địa bàn Đăk Lăk, nơi có đất đai màu mỡ ở Nam Tây Nguyên,.. Về quân sự, âm mưu của Toàn quyền Đume là thành lập những lực lượng vũ trang người bản địa miền núi, dùng làm công cụ đàn áp phong trào cách mạng và làm bia đỡ đạn cho chúng khi chiến tranh xảy ra. Theo lệnh của Đume, thực dân Pháp đã tiến hành thành lập một đội lính khố xanh (bảo an) với 1.500 quân, được bố trí ở các đồn; đồng thời tuyển mộ cho quân đội thuộc địa Pháp 5.000 lính khố đỏ người Ê đê, Giarai và Bana . Một mặt, thực dân Pháp thẳng tay dùng vũ lực đàn áp đồng bào các dân tộc; mặt khác, chúng dùng chính sách mua chuộc, lôi kéo một số tộc trưởng, tù trưởng để khống chế dân chúng. Về chính trị, thực dân Pháp thực thi chính sách “đóng cửa”, hạn chế đến mức tối thiểu việc đưa người Kinh, người Khơ me, người Lào vào Tây Nguyên; chia rẽ, cô lập giữa đồng bào dân tộc với đồng bào từ nơi khác tới, chia rẽ sâu sắc giữa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; chúng kích động tư tưởng bài Kinh, gây sự thù hằn giữa các dân tộc, bắt dân tộc này đi lính để đàn áp dân tộc kia…. Trước sự xâm lược, áp bức hà khắc của thực dân Pháp, từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên khắp đất nước Việt Nam đã nổ ra hàng loạt phong trào đấu tranh bảo vệ quê hương, xóm làng, thôn bản của các dân tộc, các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, trong đó có cuộc đấu tranh kiên cường của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và đồng bào trên vùng đất Đăk Nông nói riêng. Cùng hòa nhịp với cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của các vị tù trưởng, tộc trưởng, tiếng súng chiến đấu của đồng bào các dân tộc trên cao nguyên MNông đã diễn ra liên tục và ngày càng mạnh mẽ. Bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của Mơ Thua (chi nhánh tộc Ê Đê ở MDrak năm 1894), kế đó là cuộc nổi dậy của tù trưởng Ama Sao, người Buôn Tung, cách thị xã Buôn Mê Thuột 16 km (18891905); cuộc nổi dậy của Oi HMai (tên thật là Y Tòng) ở huyện MDrak (19011909); cuộc nổi dậy của Ama Lai (19011907). Sau khi liên tiếp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của đồng bào Tây Nguyên, thực dân Pháp cử Hăng ri mét (Henri Maitre) lên cao nguyên MNông, chuẩn bị cho việc xây dựng một tỉnh MNông, STiêng tự trị. Từ đầu năm 1909, Hăng ri mét tung quân càn quét, uy hiếp tinh thần đồng bào sinh sống trên cao nguyên MNông, bắt dân làng phải bỏ nương rẫy đi phu dài ngày, gùi lương thực, hàng hóa, mở đường sá, xây đồn trại. Ngay từ khi đặt chân lên cao nguyên M’Nông, đội quân viễn chinh Pháp đã gặp phải cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào các dân tộc M’Nông, với tinh thần: ...Con gái đánh bằng chày giã gạo Con trai đánh bằng dao gươm, giáo mác Tất cả giơ lên như bông lau bông lách Giết bằng được thằng Tây... Trong các phong trào đấu tranh của nhân dân MNông, tiêu biểu là hai cuộc chiến đấu kiên cường do N’trang Gưh và N’Trang Lơng lãnh đạo. N’Trang Gưh, là tù trưởng có uy tín trong nhân dân M’Nông Bih sống ở hạ lưu sông Krông Na. Sớm nhận thấy ý đồ xâm lược và thôn tính của thực dân Pháp, N’Trang Gưh tự đứng ra tổ chức tập hợp thanh niên của 25 làng buôn trong khu vực để chuẩn bị chiến đấu giữ làng. Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với lòng quả cảm, với quyết tâm bảo vệ đất đai và buôn làng, 600 người trong hàng ngũ của nghĩa quân đã hát vang bài ca ra trận của dân tộc M’Nông Bih. Dưới sự chủ huy của N’Trang Gưh, nghĩa quân chiến đấu vô cùng dũng cảm, chặn đứng bước tiến của quân đội Pháp tại lưu vực sông Krông Na, tiêu diệt gần hết một cánh quân địch trên cánh đồng Buôn Phok. Cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào M’Nông Bih kéo dài cho đến năm 1913. Sau đó, N’Trang Gưh kêu gọi nhân dân chuyển làng vào rừng sâu, bất hợp tác với giặc, một bộ phận theo ông di chuyển lên vùng Sê Rê Pok, sinh sống ở đó không chịu khuất phục Pháp. Kế tiếp cuộc chiến đấu của tù trưởng N’Trang Gưh là cuộc khởi nghĩa rất tiêu biểu của người M’Nông Biệt do N’Trang Lơng lãnh đạo kéo dài gần 14 thế kỷ (19121936). NTrang Lơng là một tù trưởng có uy tín lớn trong vùng. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân NTrang Lơng là khu vực cao nguyên trung tâm, nằm giữa biên giới Việt – Miên, về phía Tây Nam Đăk Lăk. Năm 1912, dưới sự chỉ huy trực tiếp của NTrang Lơng, khoảng 300 nghĩa quân đã tiến hành đánh trận mở màn vào đồn Bu Sowrra, tiêu diệt hoàn toàn quân Pháp trong đồn. Những năm 19121913, quân đội Pháp trở lại trả thù nghĩa quân của NTrang Lơng. Trong một trận càn quét, thực dân Pháp đã bắt, tra tấn dã man và giết hại vợ con của NTrang Lơng, sau đó chúng thi hành chính sách đốt sạch, phá sạch. Trước hành động dã man của thực dân Pháp, nghĩa quân NTrang Lơng đã rút vào rừng sâu để bảo toàn lực lượng. Khi quân Pháp lấn chiếm trở lại Cao nguyên MNông. Ngày 2611931, nghĩa quân NTrang Lơng tổ chức một cuộc phục kích mưu trí tiêu diệt tên Gattin (Galtille) trên đường chúng đi tuần tiễu từ Bù Đốp đi Phale Khê (cách Srey Ktum khoảng 17km). Ngày 611931, NTrang Lơng chỉ huy khoảng 200 nghĩa quân được trang bị súng và cung nỏ, tập kích đồn 65 của Pháp – một cứ điểm kiên cố, có hầm ngầm và dây thép gai bao quanh. Sau một ngày chiến đấu, quân Pháp phải rút chạy. Nghĩa quân tiếp tục chiếm giữ đồn và đánh tan quân tiếp viện, giết chết tên chỉ huy Lơcôngtơ (Leconte), đánh dấu việc nghĩa quân quét sạch quân Pháp khỏi cao nguyên MNông. Sau sự kiện đó một phong trào chống Pháp bùng lên mạnh mẽ ở vùng Ba biên giới. Từ tháng 2 đến tháng 121931, Toàn quyền Đông Dương Pátxkia (Pasquier) và tên Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Bilốt (Billôte) chuẩn bị một kế hoạch để đối phó với những cuộc nổi dậy của đồng bào MNông. Theo đó, chúng tập trung lực lượng bao vây khu vực có phong trào nổi dậy. Mặt khác, với lực lượng áp đảo, chúng càn quét liên tục vùng trung tâm phong trào. Từ năm 1932, chúng thực hiện chiến dịch càn quét quy mô lớn. Trước sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân, quân Pháp chỉ dựng thêm được hai đồn trong khu vực đó là đồn Budengrom và Lơrôlăng (thuộc Campuchia). Dưới sự lãnh đạo của NTrang Lơng, đồng bào MNông thực hiện phương thức vườn không nhà trống, dời làng vào rừng sâu chuẩn bị chiến đấu. Nghĩa quân NTrang Lơng đánh trả quân Pháp một cách quyết liệt. Cuộc kháng chiến trên cao nguyên không chỉ được giữ vững mà còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở rộng. Trong tháng 2 và tháng 31933, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân NTrang Lơng. Ngày 20101933, nghĩa quân NTrang Lơng phục kích ở núi Bará, giết chết tên đại úy Morére. Ngày 111934, tiến công đồn Căngrôlăng. Ngày 211934, tiến đánh đồn Bukoh ở Bù Đốp. Sau các trận tập kích của nghĩa quân, Pháp tăng cường đàn áp phong trào đấu trang của đồng bào Tây Nguyên.Giữa tháng 51935, quân Pháp tập trung lực lượng, tiến công đại bản doanh của nghĩa quân Ntrang Lơng. Cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp kéo dài. Lxing Rding một vị chỉ huy đầy mưu lược và là cánh tay đắc lực nhất của NTrang Lơng bị sa vào tay giặc. Lương thực, thực phẩm, vũ khí và thuốc men của nghĩa quân tại vùng căn cứ Nâm Nung thiếu thốn nghiêm trọng. Đến đầu mùa mưa năm 1935, trong một trận chiến đấu không cân sức, thủ lĩnh NTrang Lơng bị trọng thương, cùng một số thủ lĩnh khác rơi vào tay giặc. Ông hy sinh vào đêm ngày 2351935. Cuộc khởi nghĩa của NTrang Lơng và phong trào chống Pháp của đồng bào các dân tộc trên cao nguyên MNông đã minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần đâu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước. Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn hai thập kỷ đã ghi một dấu mốc có ý nghĩa to lớn trong trang sử hào hùng của đại gia đình các dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc Tây Nguyên nói riêng. Cuộc khởi nghĩa của NTrang Lơng không chỉ cổ vũ các thế hệ người MNông, STiêng, Ê đê, Mạ, Chàm, Kinh, Kho... ở Đắk Mil và Đắk Nông nối tiếp nhau đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, mà còn khích lệ, động viên ý chí và quyết tâm của các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong các lao tù của đế quốc tại Buôn Ma Thuột, tại Đắk Mil, giữ vững khí tiết, tiếp tục đấu tranh, để trả “thù nhà, nợ nước”, giải phóng dân tộc. II. Mưu đồ và quá trình xây dựng Nhà ngục Đắk Mil của thực dân Pháp một “biệt giam” nằm trong cụm nhà tù của thực dân Pháp thuộc Nhà đày Buôn Ma Thuột: Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng lan rộng và phát triển mạnh mẽ. Thực dân Pháp ngày càng tăng cường đàn áp khốc liệt. Chúng thẳng tay bắt bớ những người yêu nước và cách mạng, nhất là tiêu diệt những chiến sĩ cách mạng, những người tổ chức và lãnh đạo các phong trào đấu tranh. Để thực hiện âm mưu xâm chiếm vùng đất này, chính quyền thuộc địa đã tiến hành mọi thủ đoạn, mọi biện pháp tàn bạo và thâm độc để tiêu diệt cuộc đấu tranh bền bỉ và quyết liệt. Chúng đàn áp dã man phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Để giam cầm và tra tấn những người yêu nước, chính quyền thực dân Pháp đã dựng lên hệ thống nhà tù, trại giam với quy mô và tính chất khác nhau theo tổ chức hành chính. Thời kỳ này chúng xây dựng thêm nhiều nhà tù, trong đó ở khu vực Tây Nguyên có nhà tù Kon Tum, nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil. Năm 1904, khi thực dân Pháp dời tỉnh lỵ Đăk Lăk từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, chúng đã cho xây dựng một nhà lao tại Buôn Ma Thuột. Trong khoảng ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, nhà lao Buôn Ma Thuột chỉ là một nhà lao có quy mô nhỏ hẹp, dùng để giam những người dân địa phương can tội chống bắt xâu, nộp thuế, chống cuộc xâm chiếm và cai trị của thực dân Pháp tại Đắk Lăk. Sau nhà lao còn là nơi giam cầm những tù nhân từ nơi khác đến và giam giữ và lưu đày tù chính trị. Tù chính trị ngoại tỉnh bị đày lên Đắk Lăk lần đầu tiên là vào cuối năm 1927, nhưng số lượng còn rất ít. Đến năm 1929, một số tù chính trị tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt bị đưa lên Buôn Ma Thuột, trong số đó có đồng chí Phan Đăng Lưu. Năm 1930, đoàn tù chính trị gồm 30 chiến sĩ cộng sản đầu tiên bị đày lên Buôn Ma Thuột. Từ cuối năm 1930, sang đầu năm 1931, khi cao trào cách mạng 19301931 và Xô viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp khủng bố thì tù chính trị từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi... bị đưa lên nhà đày Buôn Ma Thuột ngày càng nhiều. Do vậy, Nhà đày Buôn Ma Thuột không đủ chỗ để giam cầm tù nhân. Yêu cầu mở rộng, xây dựng thêm nhà đày được đặt ra gấp rút cho chính quyền thực dân ở Đắk Lăk. Nhiều địa điểm xây dựng được đưa ra để lựa chọn. Cuối cùng, một địa điểm nằm ở phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột, cách trại lính khố xanh khoảng 300 mét. Vị trí này là một đồi cây ít rậm rạp, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu, khiến cho việc xây dựng nhà đày được tiến hành nhanh chóng. Từ sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 1931), thực dân Pháp đã biến Nhà đày Buôn Ma Thuột thành nơi đày ải các chiến sỹ cộng sản, những người yêu nước, tham gia đấu tranh cách mạng, bị địch bắt do tham gia các phong trào đấu tranh trên cả nước. Mùa hè năm 1931, công việc xây dựng Nhà đày Buôn Ma Thuột với quy mô lớn được bắt đầu. Đến cuối tháng 111931, Nhà đày Buôn Mê Thuột được hoàn thành. Các dãy nhà giam đều được xây tường gạch, mái lợp ngói. Có tất cả 6 nhà giam kiên cố (gọi là lao), mỗi lao chứa gần 100 tù nhân. Các lao bao kín một sân rộng hơn một hécta. Một bức tường gạch cao chạy bao quanh khu vực nhà giam thay cho lớp rào tre và dây thép gia không chắc chắn. Nhà bếp, nhà y tế cũng được xây gạch. từ đó về sau, công việc gia cố Nhà đày được tiến hành qua các thời kỳ, như lập các xà lim cấm cố, xưởng mộc, xưởng rèn để làm cùm xích tù nhân. Từ năm 19301931, các tù nhân bị đày lên Buôn Ma Thuột chủ yếu là những người yêu nước, những đảng viên cộng sản bị bắt và xử án nặng. Họ bị chính quyền thực dân coi là những phần tử nguy hiểm. Trong số tù nhân đó, một số mang án chung thân đi đày, một số bị án tử hình giảm xuống chung thân, đa số là án từ 9 năm đến 15 năm, còn tù nhân có mức án từ 7 năm trở xuống rất ít. Thực dân Pháp đã biến nơi đây thành địa ngục đày ải các chiến sĩ cách mạng bị bắt trong phong trào cách mạng của cả nước. Năm 1932, thực dân Pháp tiếp tục mở rộng nhà tù, biến nhà tù Buôn Ma Thuột thành một trong bốn nhà tù có quy mô lớn ở Việt Nam. Tại Buôn Ma Thuột, chúng thi hành chế độ lao tù hết sức khắc nghiệt và tàn bạo, nhằm thủ tiêu cả ý chí lẫn thể xác của tù nhân. Ốm đau, ghẻ lở, đói rét là đồng minh của chế độ lao dịch tàn nhẫn. Đã vậy họ còn luôn luôn bị đánh đập, xử phạt vô cớ và bị thủ tiêu bí mật. Bữa ăn hàng ngày của tù nhân là gạo mục và cá thối. Dù bị kiết lỵ ốm đau, hàng ngày tù nhân vẫn phải đi lao động với những công việc nặng nhọc như làm đường 21, đường 14 và xây dựng cầu SêRêPôk,... nhiều tù nhân đã chết trên công trường làm đường 14, do vậy, con đường 14 còn được gọi là con đường máu. Ban đêm, tù nhân về ngủ trong tư thế bị cùm chân. Bởi vậy, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tên gọi Buôn Ma Thuột được mọi người nhắc đến như biểu tượng của sự hãi hùng đau khổ và chết chóc khủng khiếp. Trong giai đoạn 19321935, các chiến sĩ cách mạng tiếp tục bị thực dân Pháp bắt giam nhiều, số lượng tù nhân ngày càng tăng nhanh.Cùng với chính sách khủng bố trắng sau khi hàng loạt nhà ngục ra đời ở những nơi rừng thiêng nước độc. Ngày 191939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ngày 391939, Anh Pháp tuyên chiến với Đức. Sau khi tham chiến, Chính phủ Pháp thi hành chính sách phát xít, đàn áp các lực l¬ượng cộng sản và dân chủ, tiến bộ ở trong n¬ước và các thuộc địa. Ở Đông Dư¬ơng, chính quyền thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản và các đoàn thể quần chúng do Đảng thành lập. Ngày 2891939, Toàn quyền Đông Dương Catơru ra nghị định giải tán các tổ chức nghiệp đoàn và tương tế ái hữu. Một số quyền tự do, dân chủ giành đ¬ược trong thời kỳ 19361939 bị thủ tiêu. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam. Hàng vạn thanh niên bị bắt đi lính sang Pháp làm bia đỡ đạn. Để huy động sức người sức của cho cuộc chiến, thực dân Pháp tăng thuế, trưng thu, tr¬ưng dụng các xí nghiệp t¬ư nhân cho quốc phòng; kiểm soát gắt gao xuất nhập khẩu. Từ cuối năm 1939 đầu 1940, thực dân Pháp phát xít hoá bộ máy cai trị, ra sức khủng bố phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thẳng tay đàn áp, bắt bớ các chiến sĩ yêu nước và cách mạng,… Cùng với chính sách khủng bố trắng sau khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, số lượng tù nhân do vậy ngày càng đông. Năm 1940, số lượng tù nhân bị giam cầm tại nhà đày Buôn Ma Thuột tăng lên đến 6 Batiment (dãy nhà giam), tương ứng với 600 tù nhân. Để phục vụ ý đồ mở rộng và củng cố bộ máy cai trị ở cao nguyên MNông, cai quản đồng bào M’Nông, chính quyền thực dân Pháp lập Đại lý Đắk Mil, do người Pháp làm Đốc lý. Khi Đại lý Đắk Mil chuẩn bị được xây dựng, năm 1940 thực dân Pháp lập thêm một nhà giam tại Đăk Mil để đưa tù nhân xuống nhằm lợi dụng công sức và giết hại những người tù cộng sản bằng công việc lao dịch nặng nhọc trên vùng đất cao nguyên MNông. Hơn nữa, để trực tiếp phục vụ cho việc xây dựng tuyến đường xuyên qua cao nguyên MNông. Ngục Đăk Mil là một “biệt giam” nằm trong cụm nhà tù của Nhà đày Buôn Mê Thuột, nhưng đây là nơi chính quyền thực dân giam giữ những tù nhân chính trị nguy hiểm tại nhà đày Buôn Ma Thuột, mà theo chúng có ảnh hưởng nguy hại đến việc giam giữ và “cải huấn” các phạm nhân khác. Thực dân Pháp đặt Nhà ngục tại Đăk Mil nhằm khai thác sức lao động của tù nhân phục vụ cho việc xây dựng Đại lý Đăk Mil, đồng thời là nơi trừng trị những người dân “phản nghịch”, đặc biệt là những tù nhân chính trị. Mọi chế độ vật chất, đồ dùng cho Nhà đày Đăk Mil hàng ngày, sách báo, thư từ đều do Nhà đày Buôn Ma Thuột chuyển về. Bị đày lên Buôn Ma Thuột là những người bị kết án tù lâu năm (từ 8 năm trở lên), còn bị đày xuống Đắk Mil lại là những chiến sĩ cách mạng mà cai ngục cho là rất nguy hiểm đối với chúng. 1. Vị trí Nhà ngục và cách thức quản lý Nhà ngục Đắk Mil của thực dân Pháp Nhà ngục Đắk Mil là một bộ phận nằm trong hệ thống Nhà đày Buôn Ma Thuột. Cùng với Nhà tù Kon Tum, Nhà tù Lao Bảo, Nhà đày Buôn Ma Thuột là nhà tù cấp kỳ, chịu sự chỉ đạo của Khâm sứ Trung Kỳ. Nhà ngục Đăk Mil nằm ở một khu rừng cực Nam Buôn Ma Thuột gần giáp giới Nam Kỳ và Campuchia, nằm trong trong vùng vốn là căn cứ địa của phong trào đấu tranh chống Pháp của đồng bào M’Nông dưới sự lãnh đạo của NTrang Lơng, mà trong nhiều năm quân Pháp đã vấp phải sự chống cự quyết liệt và trong lịch sử viễn chinh của quân đội xâm lược Pháp gọi đay là vùng đất không thể nào khuất phục được (Region in sonmis). Thực dân Pháp quyết định xây Nhà ngục ở Đăk Mil để một mặt thực hiện mục đích đày ải về thể xác và tinh thần, thủ tiêu dần những chiến sĩ cộng sản kiên trung trong cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân, mặt khắc để uy hiếp tinh thần yêu nước của đồng bào MNông trên vùng đất Nam cao nguyên này. Nhà ngục Đắk Mil được xây dựng trên một khoảng đất nhỏ tại trung tâm huyện Đắk Mil, cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50 km, trước năm 2004 thuộc tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay thuộc thôn 9A, xã Đăk Lao, Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Nhà ngục được bao quanh bằng một hàng rào gỗ chồng khít nhau và 2 lớp rào thép gai bên ngoài. Chúng xây dựng Nhà ngục tại Đắk Mil, một địa ngục trần gian nữa ở cao nguyên M’Nông. Bởi nơi đây, đầu những năm 1940 là vùng đất còn là rừng già rậm rạp, nhiều thú dữ. Đặc biệt, mùa đông trên cao nguyên, gió thổi lạnh thấu xương. Nơi sinh sống của đồng bào MNông, nếu tù nhân trốn hỏi ngục không biết tiếng cũng khó thoát khỏi.
Trang 2Lời giới thiệu
Vào đầu năm 40 của thế kỷ XX, khi tình hình cách mạng Việt Nam chuyển biến mới, Đảng đã quyết định “thay đổi chiến lược” đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết Cuộc vận động giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã diễn ra sôi nổi trên tất cả vùng miền của đất nước Việt Nam Hoảng sự trước phong trào đấu tranh của nhân dân và
sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng trong toàn quốc, thực dân Pháp đã điên cuồng đẩy mạnh khủng bố, bắt bớ, giam cầm những người yêu nước
và chiến sĩ cộng sản của Việt Nam Một loạt nhà tù đế quốc được mở rộng và xây dựng thêm để tra tấn, đọa đày, tiêu diệt tinh thần, ý chí và lực lượng của cách mạng, đồng thời uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân
ta Nhà ngục Đăk Mil do chính quyền thực dân Pháp xây dựng giữa rừng già của Tây Nguyên đại ngàn, vốn là vùng “rừng thiêng, nước độc”, ra đời trong bối cảnh lịch sử ấy Địa điểm xây dựng là một khoảnh đất nhỏ ở vùng đất cực Nam của tỉnh Đăk Lăk trước đây1, cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50 km, nay thuộc thôn 9A, xã Đăk Lao, Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông Thực dân Pháp xây dựng Nhà ngục ở nơi đây với mưu đồ nham hiểm: bằng khí hậu khắc nghiệt, chế độ lao tù hà khắc, lao dịch khổ sai nặng nề dẫn tới đói rét, bệnh tật để làm nhụt ý chí đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sĩ cộng sản và tiêu diệt lực lượng trung kiên của cách mạng Trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo đó, các chiến sĩ cách mạng
ở nhà ngục Đăk Mil cũng như các nhà tù đế quốc khác không những không chịu khuất phục mà đã biến ngục tù thành trường học cách mạng - như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: các chiến sỹ cách mạng đã
"Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí của ta đã lợi dụng những ngày
1 Ngày 01/01/2004 tỉnh Đắk Nông chính thức được thành lập theo tinh thần Nghị quyết số
22/2003/QH11 của kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI ngày 26 tháng 11 năm 2003
Trang 3tháng ở trong tù để hội họp và học tập lý luận Một lần nữa, việc đó chứng
tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn cản được bước tiến của cách mạng mà trái lại, nó đã trở thành một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng thêm cứng rắn,
mà kết quả là cách mạng đã chiến thắng, đế quốc đã thua"1
Nhà ngục Đắk Mil dù tồn tại một thời gian ngắn (1941-1943), nhưng là một trong những bằng chứng lịch sử của một địa ngục trần gian, một chứng tích đầy tội ác man rợ của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược và thống trị Việt Nam trong những năm 40 của thế kỷ
XX Đồng thời, cũng là nơi tỏa sáng những tấm gương kiên trung, bất khuất, quật cường của các chiến sĩ cách mạng mà thực dân Pháp cho là
“những phần tử nguy hiểm nhất” đối với chính quyền thực dân, là một trong những minh chứng sinh động và hùng hồn cho bản lĩnh và ý chí của dân tộc Việt Nam quyết giành cho được độc lập trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử thách thức, cam go nào Với ý nghĩa lịch sử to lớn cảu ngục Đắk Mil, ngày 17-3-2005, Di tích được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ký
Quyết định số 11/2005/QĐ-BVHTT, xếp hạng Nhà ngục Đăk Mil là Di tích Lịch sử quốc gia.
Để tiếp tục khắc ghi công ơn và tôn vinh các thế hệ cách mạng đã
hy sinh cả tuổi thanh xuân, cả xương máu cho nền độc lập, đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt
là thế hệ trẻ hiện nay tiếp tục phát huy trong xây dựng quê hương Đăk Nông giàu mạnh, Tỉnh ủy Đăk Nông quyết định nghiên cứu, biên soạn và
phát hành ấn phẩm LỊCH SỬ DI TÍCH CÁCH MẠNG NHÀ NGỤC ĐĂK MIL (1941-1943).
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, t.10 tr.3-4
Trang 4Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lão thành cách mạng, đặc biệt là các đồng chí lão thành cách mạng đã từng bị thực dân Pháp giam cầm tại Nhà ngục Đắk Mil, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đắk Nông và tỉnh Đắk Lắk qua các thời kỳ, các nhà khoa học Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử trong và ngoài tỉnh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho Ban biên soạn sưu tầm, xác minh tư liệu và góp ý cho quá trình xây dựng bản thảo; xin cảm ơn Nhà xuất bản….đã xuất bản cuốn sách kịp thời trong dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Tỉnh.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, xây dựng bản thảo, song Ban biên soạn gặp không ít khó khăn về tài liệu lưu trữ,
về việc gặp gỡ các nhân chứng lịch sử và do thời gian tồn tại của Nhà ngục quá ngắn, do vậy, công trình khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Kính mong sự góp ý xây dựng của các đồng chí, đồng bào và các bạn để Công trình được hoàn thiện hơn, đáp ứng với sự mong mỏi của độc giả
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY ĐẮK NÔNG
Trang 5Chương 1:
ÂM MƯU THÂM ĐỘC, TÀN BẠO CỦA THỰC DÂN PHÁP
VÀ QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP NHÀ NGỤC ĐĂK MIL
I Vài nét về địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội của vùng đất Đăk Mil trên cao nguyên M’Nông trước khi thực dân Pháp xâm lược
1 Địa hình, khí hậu
Đăk Mil là huyện biên giới phía Tây Bắc tỉnh Đăk Nông, trước đây
là vùng đất thuộc huyện Đăk Mil (cũ)1 thuộc tỉnh Đắk Lắk
Ngày 01/01/2004 tỉnh Đắk Nông chính thức được thành lập theo tinh thần Nghị quyết số 22/2003/QH11 của kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI ngày 26 tháng 11 năm
2003 Vùng đất Đăk Mil nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Đăk Nông, diện tích tự nhiên 682,99km2, cách Thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ Đăk Nông) 60
km theo quốc lộ 14 Phía Bắc giáp huyện Cư Jut; Đông giáp huyện Krông Nô; phía Nam giáp huyện Đăk Song; Tây giáp tỉnh Moldulkiri (Vương quốc Campuchia)
Đăk Mil nằm trên cao nguyên M'Nông, người Pháp thường gọi là cao nguyên Trung tâm Nam Đông Dương, gọi tắt là cao nguyên Trung tâm (Plateau Central) Được gọi là Trung tâm vì nó là "Ngã ba biên giới" của 3 xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên Cao nguyên có độ cao trung bình 500 mét so với mặt nước biển, vùng phía Bắc huyện từ 400 - 600 mét và phía Nam huyện cao hơn, độ cao trung bình 700 - 900 mét, phần lớn địa hình có dạng đồi lượn sóng nối liền nhau bị chia cắt bởi nhiều sông suối nhỏ và các hợp thuỷ, xen kẽ là các thung lũng nhỏ, bằng, thấp
1 Huyện Đăk Mil cũ gồm cả huyện Cư Jút, Krông Nô, Đăk R'Lấp.
Trang 6Có hai dạng địa hình chính: địa hình dốc lượn sóng nhẹ, có độ dốc từ 00 đến 150, phân bố chủ yếu ở phía Đông và khu vực trung tâm của huyện, chiếm khoảng 74,6% diện tích tự nhiên Địa hình dốc chia cắt mạnh, độ dốc trên 150, phân bố ở phía Tây Bắc và phía Tây Nam của huyện, chiếm khoảng 25,4% diện tích tự nhiên Đăk Mil là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Đăk Lăk và Đăk Nông, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa
cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể Nhiệt độ bình quân 22,30C, ẩm độ không khí bình quân hằng năm là 85%, lượng mưa bình quân 2.513 mm Cùng với hai dòng sông Krông Nô và Krông Na chảy từ Đông sang Tây, hai dòng suối lớn là Đăk R'Lông và Đăk Đam là hàng trăm dòng suối lớn nhỏ khác chia cắt vùng đất này
Rừng núi Đăk Mil là nơi quần tụ nhiều loài động vật của dãy Trường Sơn đại ngàn, trong đó có nhiều loài thú ăn thịt Nhiều khu rừng nguyên sinh trong hệ thống rừng núi Đăk Mil chứa đựng hệ thực vật phong phú, đa dạng Đầu thế kỷ XX, nơi đây được bao phủ bởi rừng nguyên sinh
Đầu thế kỷ XX, các "Phái bộ khảo sát - hành chính Đông Cao Miên" phải bằng các con đường cũ đầy khó khăn nguy hiểm từ Trung Kỳ hay Nam Kỳ, và bằng con đường qua Đông Cao Miên để tiến vào Cao nguyên M'Nông Vi di chuyển của các phái bộ thăm dò cao nguyên vô cùng khó khăn với phương tiện chính là voi và hành quân bộ
Nơi đây, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt Địa thế cao nguyên M'nông như mái nhà Nhiều nhà địa lý gọi đây là "mái nhà của cực Nam Đông Dương" Đường nóc đổ xuống bốn phía là những sườn dốc với những mạng lưới sông suối dày đặc Độ cao trung bình của Đăk Mil là
Trang 7800 mét, có 2 sông Krông Nô và Krông Na, cùng 2 suối lớn là Dak R'Lông, Dăk Đam và hàng trăm suối nhỏ Vì vậy, địa hình chia cắt, hiểm trở Đầu thế kỷ XX, việc giao lưu nội địa khó khăn Để giao lưu với bên ngoài chỉ có hai con đường mòn: một Đông - Tây, trên đất Campuchia từ Krôchiê đến vùng biên giới với Đắk Lắk có thể đi xe bò được trong mùa khô, và một Nam - Bắc, trên đất Việt Nam, men theo đường phân thủy hai sông Đồng Nai và sông Bé để xuống vùng châu thổ Đông Nam bộ Việt Nam
Với khí hậu vô cùng khắc nghiệt, địa hình hiểm trở và rừng già bao phủ mà chính quyền thực dân Pháp đến đầu thế kỷ XX mới xâm nhập được vào cao nguyên này, và phải đến năm 1935 quân Pháp mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa N'Trang Lơng Những với điều kiện như vậy, việc xây dựng một nhà ngục ở Đăk Mil, âm mưu chính quyền thực dân Pháp là khí hậu khắc nghiệt, đói, sốt rét, thú dữ luôn rình mò cùng với chính sách
dã man tàn bạo trong lao tù, chúng có thể làm nhụt ý chí đấu tranh, làm hủy hoại quyết tâm đấu tranh và làm chết dần, chết mòn những phạm nhân "cứng cổ", là “những phần tử nguy hiểm nhất” đối với chính quyền thực dân Đồng thời thực dân Pháp còn tính đến, việc lực chọn địa điểm Đắk Mil, với vị trí heo hút giữa rừng rậm, dân cư thưa thớt, thực dân Pháp có thể cách li những người yêu nước và cách mạng với bên ngoài, bưng bít các thông tin về sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở ngoài dội vào trong lao tù, cũng như tìm cách bưng bít các thông tin về tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sĩ cách mạng trong lao tù, hạn chế sự tác động ảnh hưởng đối với phong trào cách mạng quần chúng bên ngoài Thậm chí, với địa hình hiểm trở, rừng rậm, ít dân cư, thực dân Pháp cho rằng tù nhân có thoát khỏi nhà đày cũng không thể sống sót để trở về với cách mạng
2 Tình hình kinh tế - xã hội
Trang 8Vùng đất Đăk Mil từ lâu đời là nơi sinh sống của dân tộc M’Nông
và S’Tiêng, trong đó chủ yếu là dân tộc M’Nông với hai nhánh M’Nông Preh và Bu Nơr Ngôn ngữ chính của người M’Nông theo ngữ hệ Môn - Khơme, cùng hệ dân tộc Mạ - Kơho, vì vậy mang nhiều yếu tố Khơ me
Cũng như các dân tộc khác cư trú trên cao nguyên Đăk Nông, đồng bào Đăk Mil sống chủ yếu bằng nghề nông, với phương thức canh tác còn hết sức giản đơn, phát nương rẫy bằng rìu và xà gạt, chọc lỗ tra hạt, tuốt lúa bằng tay hoặc bằng các công cụ thô sơ Bên cạnh đó, đồng bào cũng chú trọng đến nghề chăn nuôi gia súc để lấy sức kéo và mổ lấy thịt vào những dịp lễ tết Ngoài ra, người M'Nông vẫn duy trì tập quán săn bắn thú rừng, bắt cá trên các sông suối để bổ sung nguồn thực phẩm trong các bữa
ăn hàng ngày
Sống trên địa bàn Tây Nguyên còn nhiều khó khăn, từ lâu, đồng bào các dân tộc ở Đăk Mil đã biết tự rèn dao, rựa thô sơ để phục vụ sản xuất, đàn ông biết đan lát, phụ nữ biết dệt vải để tự túc về cái mặc
Trong tiến trình lịch sử, trải qua các bước thăng trầm, bộ tộc M'Nông chưa hình thành một xã hội mang tính nhà nước mà vẫn còn đậm dấu ấn của cộng đồng nguyên thủy Họ quần tụ với nhau trong một làng
và quản lý chủ yếu bằng luật tục Bộ máy tự quản đứng đầu là Già làng được nhân dân bầu lên do tín nhiệm về đức độ và bản lĩnh ứng phó với những diễn biến xảy ra trong cuộc sống buôn ấp Là người vừa quản lý luật tục và chỉ huy trai làng bảo vệ nhân dân Già làng là thủ lĩnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của làng, hoàn toàn tự nguyện, không có đòi hỏi về thù lao và cống tế Đặc điểm này nêu bật truyền thống dân chủ, bình đẳng, một nét đẹp văn hóa trở thành bản sắc truyền thống của người M'Nông
Trang 9Điều kiện lịch sử - văn hóa đã tạo nên ở đồng bào các dân tộc ở Đăk Mil một tinh thần phóng khoáng, yêu tự do, không chịu khuất phục trước sự áp bức, bóc lột của kẻ khác, do đó một truyền thống bất khuất trong đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và của các thế lực bên ngoài đã dần được hình thành trong cộng đồng các dân tộc ở nơi đây Chính vì vậy, người M'Nông sớm có ý thức tự trang bị vũ khí để tự bảo vệ mình Vũ khí để tiến công chủ yếu là mũi lao, mà mỗi thanh niên đến tuổi trưởng thành đều mang bên mình Mũi lao được rèn bằng sắt, dài
từ 20 cm đến 40 cm, hình thoi giống như lưỡi giáo của người Kinh, cắm vào cán gỗ dài chừng ba mét Bên cạnh đó, đồng bào còn sử dụng súng săn, mà đạn là khúc gỗ dài gần bằng nòng súng, có mũi sắc tẩm thuốc độc dùng để săn những loài thú dữ Ngoài ra, thanh niên trai tráng M'Nông còn khá thuần thục trong việc dùng nỏ - một sự sáng tạo cải tiến từ cây cung do kết cấu thân và rãnh bắn Cánh nỏ được làm bằng thứ gỗ vừa cứng vừa dễ uốn dẻo, dây làm bằng sợi Klót rất bền Tên làm bằng tre cứng, có cánh để giữ hướng bay, đầu mũi tên sắc nhọn được tẩm thuốc độc lấy từ nhựa cây Kam rồi pha với nọc độc của rắn Với loại vũ khí này
đã tiếp thêm sức mạnh cho ý chí chiến đấu kiên cường của người M'Nông trong quá trình bảo vệ quê hương của họ, mà tiêu biểu là cuộc nổi dậy của người anh hùng dân tộc N'Trang Lơng trên vùng đất Đăk Mil
Đồng bào M'Nông không theo một tôn giáo nào Tín ngưỡng của đồng bào chủ yếu là đặt lòng tin vào một vị thần linh được gọi là Rít và các thần núi, thần sông, thần cây cối
Sinh hoạt xã hội của người M'Nông và S'Tiêng ở Đăk Mil theo chế
độ mẫu hệ Các gia đình trong buôn làng đều có quan hệ thân tộc hoặc thích tộc làm cho quan hệ cộng đồng được duy trì khá bền vững Những tập quán được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác trở thành những nét đẹp truyền thống của các đồng bào Đăk Mil Họ sẵn sàng giúp đỡ nhau
Trang 10trong cuộc sống và trong sản xuất, sẵn sàng kết nghĩa anh em, bạn bè với các dân tộc khác.
Tập quán sản xuất của đồng bào là làm rẫy, nhưng là rẫy du canh ngắn hạn (từ 1 đến 3 năm) kéo theo du cư nhịp độ nhanh Chăn nuôi và thủ công nghiệp gia đình thô sơ và kém phát triển nên săn bắn và hái lượm là nguồn kinh tế bổ sung quan trọng
Đầu thế kỷ XX, dân cư trên cao nguyên vẫn rất thưa thớt, buôn làng rải rác và quy mô nhỏ Người M'nông nhiều nơi chỉ vài ba ngôi nhà mỗi làng, dân số mỗi làng chỉ sáu hoặc bảy chục người Những làng trên miền đất đỏ đông dân hơn, mỗi làng cũng chỉ trên 100 dân Người dân hầu như không biết ngôn ngữ phổ thông và chưa có sự liên hệ với các dân tộc khác Mặt khác, với âm mưu thâm độc "chia để trị", thực dân Pháp lợi dụng sự bất đồng ngôn ngữ, đặc thù tâm lý các dân tộc và trình độ dân trí thấp, để tuyên truyền, gieo rắc tâm lý chia rẽ, thù địch giữa các dân tộc
Với đặc điểm địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế - xã hội lạc hậu, đường sá đi lại khó khăn, tách biệt với các địa phương khác Đây chính là nơi thực dân Pháp lựa chọn vị trí để “biệt giam”, cách ly những
tù nhân chính trị đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ở bên ngoài
3 Mưu đồ của thực dân Pháp đối với Tây Nguyên nói chung và cao nguyên M'Nông nói riêng
Tây Nguyên nói chung và cao nguyên M'Nông nói riêng là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng, có điều kiện thiên nhiên, tài nguyên giàu có, tiềm năng dồi dào, đất rộng người thưa và
là cửa ngõ thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội Chính vì vậy, ngay từ giữa thế kỷ XIX, Tây Nguyên đã trở thành mục tiêu thực dân Pháp chú ý trong hành trình xâm chiếm Đông Dương
Trang 11Ban đầu, thực dân Pháp thăm dò và nắm bắt tình hình Tây Nguyên thông qua những đoàn truyền giáo, thám hiểm Theo những tài liệu hiện còn lưu giữ thì từ năm 1838, Giám mục Tabe (Thabert) đã ghi chép các vùng dân tộc Tây Nguyên trên bản đồ đầu tiên của mình Tiếp sau đó, các linh mục như Bulơvô (năm 1851), Phông ten (năm 1852), Adêma (năm 1857) theo lưu vực sông Đồng Nai đã liên tiếp thâm nhập vào các khu vực của đồng bào M'Nông để thăm dò
Năm 1860, các nhóm giáo sĩ đã lập Hội thánh Trinh Sư trong vùng đồng bào M'Nông, đồng thời lập Hội thánh ở vùng đồng bào S'Tiêng (Brơ Lam) Một số nhà thờ mọc lên tại nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên Thực chất là những căn cứ quân sự đầu tiên của thực dân Pháp Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn phái các đoàn thám hiểm đến khảo sát địa dư, chủng tộc, chuẩn bị điều kiện cho cuộc viễn chinh của chúng sau này
Đến cuối thế kỷ XIX, cùng với quá trình thôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu đưa đội quân viễn chinh lên xâm chiếm vùng đất hoang sơ nhưng giàu có này Năm 1894, khi thực dân Pháp đưa hai toán quân đi theo thung lũng sông Ba và sông H'Năng lên cao nguyên M'Nông đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào
Năm 1896, Pôn Đume (Paul Dourme) sang làm Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume trở thành nhân vật phát động cuộc chinh phạt vùng đất Tây Nguyên và đưa ra một loạt các chính sách nô dịch và thống trị các dân tộc Đông Dương nói chung và đồng bào Tây Nguyên nói riêng, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự
Năm 1898, quân Pháp từ Kratiê (Campuchia) tập trung lực lượng tấn công chiếm Buôn Đôn, sau đó tiến đánh các vùng Mê Khul, Mê Wan,
Trang 12Buôn Trấp, Buôn Chóa và lần lượt đưa quân chinh phục người Bih và đánh chiếm cao nguyên M'Nông
Cũng trong năm 1898, Pôn Đume ra lệnh xóa bỏ chế độ sơn phòng của triều đình Huế đặt ở Nam – Ngãi - Bình, thay thế vào đó là việc thành lập các đồn, với nhiệm vụ nắm toàn quyền chỉ huy khu vực cả về quân sự, chính trị và hành chính Bộ máy sơn phòng cũ của triều đình Huế bị bãi
bỏ phần lớn, bộ phận nhỏ còn lại trở thành thuộc hạ của bọn quan lại đồn Pháp
Năm 1898, được coi là năm mở đầu nền thống trị của Pháp ở Tây Nguyên Đến những năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt đồn bốt tiếp tục mọc lên bao vây miền sơn nguyên Nam Đông Dương Chính từ các đồn trên vòng vây này, Đume và bọn tay chân đã tung các phái bộ khoa học, quân
sự - chính trị của chúng để điều tra, do thám, lấn chiếm dần miền sơn nguyên theo kiểu vết dầu loang
Âm mưu của thực dân Pháp là tách miền sơn nguyên này thành một
xứ, ở đó chúng sẽ thực hiện chế độ “trực trị” và độc quyền bóc lột các dân tộc Tuy nhiên, trên thực tế, khi thực dân Pháp về cơ bản đánh chiếm được Đăk Lăk và bắt đầu áp đặt bộ máy cai trị, thì vùng cao nguyên M'Nông rộng lớn ở phía Nam vẫn là vùng quân Pháp chưa kiểm soát được và chúng gọi đây là Resgion Insoumis (vùng không khuất phục)
Năm 1907, dưới thời Bernard (Bê Nanh) làm Công sứ, thực dân Pháp ước lượng chỉ "quy thuận" được 300 làng từ Buôn Ma Thuột đến M'Drak, còn khoảng 200-250 làng ở phía Bắc Buôn Hồ, phía Nam sông Sêrêpôk chúng không thể "quy thuận" được1
Nếu như năm 1898 được coi là năm mở đầu nền thống trị của Pháp
ở Tây Nguyên, thì đến năm 1908, thực dân Pháp chính thức đưa quân vào
1 Theo Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Đắk Nông (1945-2007), Đắk Nông, 6-2009, tr 18.
Trang 13đánh chiếm cao nguyên Nam Tây Nguyên (cao nguyên M'Nông) và tại
Đắk Lăk chúng xây dựng Nhà đày Buôn Ma Thuột Cho đến những năm
1909-1911, thực dân Pháp mới bình định được một số vùng cư trú của đồng bào M'Nông và thiết lập quận Đăk Song (một trong 5 quận của tỉnh Đăk Lăk)
Cũng như ở Tây Nguyên, sau khi áp đặt được ách thống trị ở vùng cao nguyên M'Nông, thực dân Pháp bắt tay vào thực thi chính sách cai trị
Về kinh tế, một khó khăn của Pháp khi áp đặt chế độ cai trị đối với
lĩnh vực kinh tế ở Tây Nguyên là chúng không có nguồn nhân lực cần thiết để phục vụ cho việc khai thác đồn điền, xây dựng đường sá, đồn bốt trong điều kiện miền sơn nguyên đất rộng, người thưa Để giải quyết khó khăn, Toàn quyền Đume đã thực hiện một cuộc cải cách chế độ thuế thân
và chế độ xâu có sẵn Chúng tiến hành hủy bỏ chế độ thu thuế và tô hiện vật của triều đình nhà Nguyễn, thay vào đó là chế độ thu thuế bằng tiền, với nhiều thứ thuế vô lý như thuế trâu, thuế voi, thuế đàn ông, thuế đàn bà; bắt dân đi phu làm đường 14, khai hoang lập đồn điền, làm sở trà không công cho bọn chủ Pháp Xâu trước đây quy định bằng 10 ngày công ích, Toàn quyền Đume cho tăng thêm một số ngày dành cho tư ích
Thực tế lịch sử chứng minh rằng, chính sách xâu thuế thâm độc của Toàn quyền Đume vẫn không đáp ứng được nhu cầu to lớn của thực dân Pháp về nhân lực Tuy vậy, những chính sách ấy đã trở thành một trong những xiềng xích cột chân người dân miền núi trên cao nguyên M'Nông vào các đồn điền, công trình làm đường sá và đồn bốt của bọn thực dân, dẫn đến cảnh nghèo đói, lạc hậu, bệnh tật và dân số ngày càng giảm
Sau khi tiến hành xâm chiếm Tây Nguyên, số đồn điền trên địa bàn tăng lên nhanh chóng Từ một vài đồn điền đầu thế kỷ XX đã tăng lên hàng trăm đồn điền vào những năm 30 Riêng năm 1926, có 27 đơn xin
Trang 14lập đồn điền, với diện tích chiếm đoạt lên tới 17 vạn héc ta trên địa bàn Đăk Lăk, nơi có đất đai màu mỡ ở Nam Tây Nguyên,
Về quân sự, âm mưu của Toàn quyền Đume là thành lập những lực
lượng vũ trang người bản địa miền núi, dùng làm công cụ đàn áp phong trào cách mạng và làm bia đỡ đạn cho chúng khi chiến tranh xảy ra Theo lệnh của Đume, thực dân Pháp đã tiến hành thành lập một đội lính khố xanh (bảo an) với 1.500 quân, được bố trí ở các đồn; đồng thời tuyển mộ cho quân đội thuộc địa Pháp 5.000 lính khố đỏ người Ê đê, Giarai và Bana1
Một mặt, thực dân Pháp thẳng tay dùng vũ lực đàn áp đồng bào các dân tộc; mặt khác, chúng dùng chính sách mua chuộc, lôi kéo một số tộc trưởng, tù trưởng để khống chế dân chúng
Về chính trị, thực dân Pháp thực thi chính sách “đóng cửa”, hạn chế
đến mức tối thiểu việc đưa người Kinh, người Khơ me, người Lào vào Tây Nguyên; chia rẽ, cô lập giữa đồng bào dân tộc với đồng bào từ nơi khác tới, chia rẽ sâu sắc giữa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; chúng kích động tư tưởng bài Kinh, gây sự thù hằn giữa các dân tộc, bắt dân tộc này đi lính để đàn áp dân tộc kia…
Trước sự xâm lược, áp bức hà khắc của thực dân Pháp, từ cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên khắp đất nước Việt Nam đã nổ ra hàng loạt phong trào đấu tranh bảo vệ quê hương, xóm làng, thôn bản của các dân tộc, các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, trong đó có cuộc đấu tranh kiên cường của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và đồng bào trên vùng đất Đăk Nông nói riêng
Cùng hòa nhịp với cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của các vị tù trưởng, tộc trưởng, tiếng súng chiến đấu của đồng
1 Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (1930-2005), Đắk Nông, 2006, tr 22.
Trang 15bào các dân tộc trên cao nguyên M'Nông đã diễn ra liên tục và ngày càng mạnh mẽ Bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của Mơ Thua (chi nhánh tộc Ê Đê ở M'Drak năm 1894), kế đó là cuộc nổi dậy của tù trưởng Ama Sao, người Buôn Tung, cách thị xã Buôn Mê Thuột 16 km (1889-1905); cuộc nổi dậy của Oi H'Mai (tên thật là Y Tòng) ở huyện M'Drak (1901-1909); cuộc nổi dậy của Ama Lai (1901-1907)
Sau khi liên tiếp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của đồng bào Tây Nguyên, thực dân Pháp cử Hăng ri mét (Henri Maitre) lên cao nguyên M'Nông, chuẩn bị cho việc xây dựng một "tỉnh M'Nông, S'Tiêng tự trị"
Từ đầu năm 1909, Hăng ri mét tung quân càn quét, uy hiếp tinh thần đồng bào sinh sống trên cao nguyên M'Nông, bắt dân làng phải bỏ nương rẫy đi phu dài ngày, gùi lương thực, hàng hóa, mở đường sá, xây đồn trại
Ngay từ khi đặt chân lên cao nguyên M’Nông, đội quân viễn chinh Pháp đã gặp phải cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào các dân tộc M’Nông, với tinh thần:
Con gái đánh bằng chày giã gạo
Con trai đánh bằng dao gươm, giáo mác
Tất cả giơ lên như bông lau bông lách
Giết bằng được thằng Tây
Trong các phong trào đấu tranh của nhân dân M'Nông, tiêu biểu là hai cuộc chiến đấu kiên cường do N’trang Gưh và N’Trang Lơng lãnh đạo
N’Trang Gưh, là tù trưởng có uy tín trong nhân dân M’Nông Bih
sống ở hạ lưu sông Krông Na Sớm nhận thấy ý đồ xâm lược và thôn tính của thực dân Pháp, N’Trang Gưh tự đứng ra tổ chức tập hợp thanh niên của 25 làng buôn trong khu vực để chuẩn bị chiến đấu giữ làng
Trang 16Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với lòng quả cảm, với quyết tâm bảo vệ đất đai và buôn làng, 600 người trong hàng ngũ của nghĩa quân đã hát vang bài ca ra trận của dân tộc M’Nông Bih
Dưới sự chủ huy của N’Trang Gưh, nghĩa quân chiến đấu vô cùng dũng cảm, chặn đứng bước tiến của quân đội Pháp tại lưu vực sông Krông
Na, tiêu diệt gần hết một cánh quân địch trên cánh đồng Buôn Phok
Cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào M’Nông Bih kéo dài cho đến năm 1913 Sau đó, N’Trang Gưh kêu gọi nhân dân chuyển làng vào rừng sâu, bất hợp tác với giặc, một bộ phận theo ông di chuyển lên vùng
Sê Rê Pok, sinh sống ở đó không chịu khuất phục Pháp
Kế tiếp cuộc chiến đấu của tù trưởng N’Trang Gưh là cuộc khởi nghĩa rất tiêu biểu của người M’Nông Biệt do N’Trang Lơng lãnh đạo kéo dài gần 1/4 thế kỷ (1912-1936)
N'Trang Lơng là một tù trưởng có uy tín lớn trong vùng Địa bàn hoạt động của nghĩa quân N'Trang Lơng là khu vực cao nguyên trung tâm, nằm giữa biên giới Việt – Miên, về phía Tây Nam Đăk Lăk Năm
1912, dưới sự chỉ huy trực tiếp của N'Trang Lơng, khoảng 300 nghĩa quân1 đã tiến hành đánh trận mở màn vào đồn Bu Sowrra, tiêu diệt hoàn toàn quân Pháp trong đồn
Những năm 1912-1913, quân đội Pháp trở lại trả thù nghĩa quân của N'Trang Lơng Trong một trận càn quét, thực dân Pháp đã bắt, tra tấn
dã man và giết hại vợ con của N'Trang Lơng, sau đó chúng thi hành chính sách đốt sạch, phá sạch Trước hành động dã man của thực dân Pháp, nghĩa quân N'Trang Lơng đã rút vào rừng sâu để bảo toàn lực lượng
Khi quân Pháp lấn chiếm trở lại Cao nguyên M'Nông Ngày
26-1-1931, nghĩa quân N'Trang Lơng tổ chức một cuộc phục kích mưu trí tiêu
1 Gồm 150 quân Biệt của N'Trang Lơng và khoảng 150 quân Bunor của B'Heng Reng.
Trang 17diệt tên Gattin (Galtille) trên đường chúng đi tuần tiễu từ Bù Đốp đi Phale Khê (cách Srey Ktum khoảng 17km) Ngày 6-1-1931, N'Trang Lơng chỉ huy khoảng 200 nghĩa quân được trang bị súng và cung nỏ, tập kích đồn
65 của Pháp – một cứ điểm kiên cố, có hầm ngầm và dây thép gai bao quanh Sau một ngày chiến đấu, quân Pháp phải rút chạy Nghĩa quân tiếp tục chiếm giữ đồn và đánh tan quân tiếp viện, giết chết tên chỉ huy Lơcôngtơ (Leconte), đánh dấu việc nghĩa quân quét sạch quân Pháp khỏi cao nguyên M'Nông
Sau sự kiện đó một phong trào chống Pháp bùng lên mạnh mẽ ở vùng Ba biên giới
Từ tháng 2 đến tháng 12-1931, Toàn quyền Đông Dương Pátxkia (Pasquier) và tên Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương Bilốt (Billôte) chuẩn bị một kế hoạch để đối phó với những cuộc nổi dậy của đồng bào M'Nông Theo đó, chúng tập trung lực lượng bao vây khu vực
có phong trào nổi dậy Mặt khác, với lực lượng áp đảo, chúng càn quét liên tục vùng trung tâm phong trào Từ năm 1932, chúng thực hiện chiến dịch càn quét quy mô lớn Trước sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân, quân Pháp chỉ dựng thêm được hai đồn trong khu vực đó là đồn Budengrom và Lơrôlăng (thuộc Campuchia)
Dưới sự lãnh đạo của N'Trang Lơng, đồng bào M'Nông thực hiện phương thức "vườn không nhà trống", dời làng vào rừng sâu chuẩn bị chiến đấu Nghĩa quân N'Trang Lơng đánh trả quân Pháp một cách quyết liệt Cuộc kháng chiến trên cao nguyên không chỉ được giữ vững mà còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở rộng
Trong tháng 2 và tháng 3-1933, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô
Trang 18lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân N'Trang Lơng
Ngày 20-10-1933, nghĩa quân N'Trang Lơng phục kích ở núi Bará, giết chết tên đại úy Morére Ngày 1-1-1934, tiến công đồn Căngrôlăng Ngày 2-1-1934, tiến đánh đồn Bukoh ở Bù Đốp
Sau các trận tập kích của nghĩa quân, Pháp tăng cường đàn áp phong trào đấu trang của đồng bào Tây Nguyên.Giữa tháng 5-1935, quân Pháp tập trung lực lượng, tiến công đại bản doanh của nghĩa quân N'trang Lơng Cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp kéo dài Lxing R'ding - một
vị chỉ huy đầy mưu lược và là cánh tay đắc lực nhất của N'Trang Lơng bị
sa vào tay giặc Lương thực, thực phẩm, vũ khí và thuốc men của nghĩa quân tại vùng căn cứ Nâm Nung thiếu thốn nghiêm trọng Đến đầu mùa mưa năm 1935, trong một trận chiến đấu không cân sức, thủ lĩnh N'Trang Lơng bị trọng thương, cùng một số thủ lĩnh khác rơi vào tay giặc Ông hy sinh vào đêm ngày 23-5-1935
Cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng và phong trào chống Pháp của đồng bào các dân tộc trên cao nguyên M'Nông đã minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần đâu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn hai thập kỷ đã ghi một dấu mốc có ý nghĩa to lớn trong trang sử hào hùng của đại gia đình các dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc Tây Nguyên nói riêng
Cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng không chỉ cổ vũ các thế hệ người M'Nông, S'Tiêng, Ê đê, Mạ, Chàm, Kinh, K'ho ở Đắk Mil và Đắk Nông nối tiếp nhau đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược,
mà còn khích lệ, động viên ý chí và quyết tâm của các chiến sĩ cách mạng
bị giam cầm trong các lao tù của đế quốc tại Buôn Ma Thuột, tại Đắk
Trang 19Mil, giữ vững khí tiết, tiếp tục đấu tranh, để trả “thù nhà, nợ nước”, giải phóng dân tộc
II Mưu đồ và quá trình xây dựng Nhà ngục Đắk Mil của thực dân Pháp một “biệt giam” nằm trong cụm nhà tù của thực dân Pháp thuộc Nhà đày Buôn Ma Thuột:
Từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng lan rộng và phát triển mạnh mẽ Thực dân Pháp ngày càng tăng cường đàn áp khốc liệt Chúng thẳng tay bắt bớ những người yêu nước và cách mạng, nhất là tiêu diệt những chiến sĩ cách mạng, những người tổ chức và lãnh đạo các phong trào đấu tranh
Để thực hiện âm mưu xâm chiếm vùng đất này, chính quyền thuộc địa đã tiến hành mọi thủ đoạn, mọi biện pháp tàn bạo và thâm độc để tiêu diệt cuộc đấu tranh bền bỉ và quyết liệt Chúng đàn áp dã man phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Để giam cầm và tra tấn những người yêu nước, chính quyền thực dân Pháp đã dựng lên hệ thống nhà tù, trại giam với quy mô và tính chất khác nhau theo tổ chức hành chính Thời kỳ này chúng xây dựng thêm nhiều nhà tù, trong đó ở khu vực Tây Nguyên có nhà tù Kon Tum, nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil
Năm 1904, khi thực dân Pháp dời tỉnh lỵ Đăk Lăk từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, chúng đã cho xây dựng một nhà lao tại Buôn Ma Thuột Trong khoảng ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, nhà lao Buôn Ma Thuột chỉ là một nhà lao có quy mô nhỏ hẹp, dùng để giam những người dân địa phương "can tội "chống bắt xâu, nộp thuế, chống cuộc xâm chiếm và cai trị của thực dân Pháp tại Đắk Lăk Sau nhà lao còn là nơi giam cầm những tù nhân từ nơi khác đến và giam giữ và lưu đày tù chính trị
Trang 20Tù chính trị ngoại tỉnh bị đày lên Đắk Lăk lần đầu tiên là vào cuối năm 1927, nhưng số lượng còn rất ít Đến năm 1929, một số tù chính trị tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt bị đưa lên Buôn Ma Thuột, trong số đó có đồng chí Phan Đăng Lưu
Năm 1930, đoàn tù chính trị gồm 30 chiến sĩ cộng sản đầu tiên bị đày lên Buôn Ma Thuột Từ cuối năm 1930, sang đầu năm 1931, khi cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ - Tĩnh bị thực dân Pháp khủng bố thì tù chính trị từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi bị đưa lên nhà đày Buôn Ma Thuột ngày càng nhiều Do vậy, Nhà đày Buôn
Ma Thuột không đủ chỗ để giam cầm tù nhân Yêu cầu mở rộng, xây dựng thêm nhà đày được đặt ra gấp rút cho chính quyền thực dân ở Đắk Lăk Nhiều địa điểm xây dựng được đưa ra để lựa chọn Cuối cùng, một địa điểm nằm ở phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột, cách trại lính khố xanh khoảng 300 mét Vị trí này là một đồi cây ít rậm rạp, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu, khiến cho việc xây dựng nhà đày được tiến hành nhanh chóng
Từ sau cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930- 1931), thực dân Pháp
đã biến Nhà đày Buôn Ma Thuột thành nơi đày ải các chiến sỹ cộng sản, những người yêu nước, tham gia đấu tranh cách mạng, bị địch bắt do tham gia các phong trào đấu tranh trên cả nước
Mùa hè năm 1931, công việc xây dựng Nhà đày Buôn Ma Thuột với quy mô lớn được bắt đầu Đến cuối tháng 11-1931, Nhà đày Buôn Mê Thuột được hoàn thành Các dãy nhà giam đều được xây tường gạch, mái lợp ngói Có tất cả 6 nhà giam kiên cố (gọi là lao), mỗi lao chứa gần 100
tù nhân Các lao bao kín một sân rộng hơn một hécta Một bức tường gạch cao chạy bao quanh khu vực nhà giam thay cho lớp rào tre và dây thép gia không chắc chắn Nhà bếp, nhà y tế cũng được xây gạch từ đó về
Trang 21sau, công việc gia cố Nhà đày được tiến hành qua các thời kỳ, như lập các
xà lim cấm cố, xưởng mộc, xưởng rèn để làm cùm xích tù nhân
Từ năm 1930-1931, các tù nhân bị đày lên Buôn Ma Thuột chủ yếu
là những người yêu nước, những đảng viên cộng sản bị bắt và xử án nặng
Họ bị chính quyền thực dân coi là "những phần tử nguy hiểm" Trong số
tù nhân đó, một số mang án chung thân đi đày, một số bị án tử hình giảm xuống chung thân, đa số là án từ 9 năm đến 15 năm, còn tù nhân có mức
án từ 7 năm trở xuống rất ít Thực dân Pháp đã biến nơi đây thành địa ngục đày ải các chiến sĩ cách mạng bị bắt trong phong trào cách mạng của
tù nhân vẫn phải đi lao động với những công việc nặng nhọc như làm đường 21, đường 14 và xây dựng cầu SêRêPôk, nhiều tù nhân đã chết trên công trường làm đường 14, do vậy, con đường 14 còn được gọi là
"con đường máu" Ban đêm, tù nhân về ngủ trong tư thế bị cùm chân Bởi vậy, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tên gọi Buôn Ma Thuột được mọi người nhắc đến như biểu tượng của sự hãi hùng đau khổ và chết chóc khủng khiếp
Trong giai đoạn 1932-1935, các chiến sĩ cách mạng tiếp tục bị thực dân Pháp bắt giam nhiều, số lượng tù nhân ngày càng tăng nhanh.Cùng với chính sách khủng bố trắng sau khi hàng loạt nhà ngục ra đời ở những
Trang 22nơi rừng thiêng nước độc
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Ngày 3-9-1939, Anh - Pháp tuyên chiến với Đức Sau khi tham chiến, Chính phủ Pháp thi hành chính sách phát xít, đàn áp các lực lượng cộng sản và dân chủ, tiến bộ ở trong nước và các thuộc địa
Ở Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản và các đoàn thể quần chúng do Đảng thành lập Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương Catơru ra nghị định giải tán các tổ chức nghiệp đoàn và tương tế ái hữu Một số quyền tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam Hàng vạn thanh niên bị bắt đi lính sang Pháp làm bia đỡ đạn Để huy động sức người sức của cho cuộc chiến, thực dân Pháp tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí nghiệp tư nhân cho quốc phòng; kiểm soát gắt gao xuất nhập khẩu Từ cuối năm 1939 đầu 1940, thực dân Pháp phát xít hoá
bộ máy cai trị, ra sức khủng bố phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thẳng tay đàn áp, bắt bớ các chiến sĩ yêu nước và cách mạng,… Cùng với chính sách khủng bố trắng sau khi Chiến tranh thế giới II bùng
nổ, số lượng tù nhân do vậy ngày càng đông Năm 1940, số lượng tù nhân
bị giam cầm tại nhà đày Buôn Ma Thuột tăng lên đến 6 Batiment (dãy nhà giam), tương ứng với 600 tù nhân
Để phục vụ ý đồ mở rộng và củng cố bộ máy cai trị ở cao nguyên
M'Nông, cai quản đồng bào M’Nông, chính quyền thực dân Pháp lập Đại
lý Đắk Mil, do người Pháp làm Đốc lý Khi Đại lý Đắk Mil1 chuẩn bị được xây dựng, năm 1940 thực dân Pháp lập thêm một nhà giam tại Đăk Mil để đưa tù nhân xuống nhằm lợi dụng công sức và giết hại những người tù cộng sản bằng công việc lao dịch nặng nhọc trên vùng đất cao nguyên M'Nông Hơn nữa, để trực tiếp phục vụ cho việc xây dựng tuyến
1 Một đơn vị hành chính cấp huyện của chính quyền thực dân Pháp ở miền núi
Trang 23đường xuyên qua cao nguyên M'Nông.
Ngục Đăk Mil là một “biệt giam” nằm trong cụm nhà tù của Nhà đày Buôn Mê Thuột, nhưng đây là nơi chính quyền thực dân giam giữ những tù nhân chính trị nguy hiểm tại nhà đày Buôn Ma Thuột, mà theo chúng có ảnh hưởng nguy hại đến việc giam giữ và “cải huấn” các phạm nhân khác
Thực dân Pháp đặt Nhà ngục tại Đăk Mil nhằm khai thác sức lao động của tù nhân phục vụ cho việc xây dựng Đại lý Đăk Mil, đồng thời là nơi trừng trị những người dân “phản nghịch”, đặc biệt là những tù nhân chính trị Mọi chế độ vật chất, đồ dùng cho Nhà đày Đăk Mil hàng ngày, sách báo, thư từ đều do Nhà đày Buôn Ma Thuột chuyển về
Bị đày lên Buôn Ma Thuột là những người bị kết án tù lâu năm (từ
8 năm trở lên), còn bị đày xuống Đắk Mil lại là những chiến sĩ cách mạng
mà cai ngục cho là rất nguy hiểm đối với chúng
1 Vị trí Nhà ngục và cách thức quản lý Nhà ngục Đắk Mil của thực dân Pháp
Nhà ngục Đắk Mil là một bộ phận nằm trong hệ thống Nhà đày Buôn Ma Thuột Cùng với Nhà tù Kon Tum, Nhà tù Lao Bảo, Nhà đày Buôn Ma Thuột là nhà tù cấp kỳ, chịu sự chỉ đạo của Khâm sứ Trung Kỳ
Nhà ngục Đăk Mil nằm ở một khu rừng cực Nam Buôn Ma Thuột gần giáp giới Nam Kỳ và Campuchia, nằm trong trong vùng vốn là căn cứ địa của phong trào đấu tranh chống Pháp của đồng bào M’Nông dưới sự lãnh đạo của N'Trang Lơng, mà trong nhiều năm quân Pháp đã vấp phải
sự chống cự quyết liệt và trong lịch sử viễn chinh của quân đội xâm lược Pháp gọi đay là vùng đất "không thể nào khuất phục được" (Region in sonmis) Thực dân Pháp quyết định xây Nhà ngục ở Đăk Mil để một mặt thực hiện mục đích đày ải về thể xác và tinh thần, thủ tiêu dần những
Trang 24chiến sĩ cộng sản kiên trung trong cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân, mặt khắc để uy hiếp tinh thần yêu nước của đồng bào M'Nông trên vùng đất Nam cao nguyên này.
Nhà ngục Đắk Mil được xây dựng trên một khoảng đất nhỏ tại trung tâm huyện Đắk Mil, cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50 km, trước năm 2004 thuộc tỉnh Đắk Lắk Hiện nay thuộc thôn 9A, xã Đăk Lao, Huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông Nhà ngục được bao quanh bằng một hàng rào gỗ chồng khít nhau và 2 lớp rào thép gai bên ngoài Chúng xây dựng Nhà ngục tại Đắk Mil, một địa ngục trần gian nữa ở cao nguyên M’Nông
Bởi nơi đây, đầu những năm 1940 là vùng đất còn là rừng già rậm rạp, nhiều thú dữ Đặc biệt, mùa đông trên cao nguyên, gió thổi lạnh thấu xương Nơi sinh sống của đồng bào M'Nông, nếu tù nhân trốn hỏi ngục không biết tiếng cũng khó thoát khỏi
Bên cạnh đó, thực dân Pháp với mưu đồ rất thâm độc ra lệnh cho tất cả đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, từ các thị trấn, nếu gặp người
"Đoãn" (là cái nón, người Rhadé gọi người người Kinh là Đoạn tức người đội nón) thì phải bắt nộp ngay cho chúng
Nhà ngục Đăk Mil được thu gọn trong căn nhà sàn 9 gian bằng gỗ, lợp tranh Tầng dưới bỏ trống, tầng trên một lối đi ở giữa, hai dãy sàn gỗ
2 bên có đầy đủ cùm chân, xiềng Mỗi một cùm có treo lủng lẳng 4 ống tre lớn: 2 ống trên là “đinh ea” (ống đựng nước uống), 2 ống dưới là “đinh cheh” (ống đựng nước tiểu, phân) Mỗi tù nhân được phát một mảnh chăn chiên “Nam Định” mỏng manh, một mảnh chiếu và một bát, một đôi đũa
để ăn cơm Ngoài những vật dụng này ra còn lại tất cả các vật dụng khác (như bàn chải đánh răng, lon bò sữa ) đều bị coi là bất hợp pháp và nếu lính canh phát hiện được sẽ bị tịch thu
Trang 25Cách một khoảnh sân nhỏ, sau trại giam là 3 gian nhà bếp xiêu vẹo
có 1 cái nồi mười để nấu thức ăn, 2 cái chảo 30 để nấu cơm và 2 đôi thùng gánh nước, 2 con dao lớn
Mặc dù là một nhà ngục phụ thuộc Nhà đày Buôn Ma Thuột nhưng Nhà ngục Đăk Mil có đầy đủ một bộ máy điều hành của chính quyền thực dân
Quản lý Nhà ngục Đăk Mil là tên Bêdiê quan một khố xanh (garde principal de la garde Indigène) Bêdiê khoảng 25-26 tuổi, có bố người Pháp, mẹ người Phi sống không vợ con
Để bảo vệ nhà ngục, canh gác Ngục Đăk Mil hàng ngày là 2 tiểu đội với 30 lính khố xanh người địa phương – các tù nhân gọi là chú “cà hàn”, trong đó có cả cai đội và có một viên quản người Việt, dưới quyền chỉ huy của tên Bêdiê
Nhà ngục đặt dưới quyền tổng quản của tên Giám ngục Bơruytút là Đại úy đồn trưởng Đăk Mil Chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ Nhà ngục còn là tên quản ngục Môsin khét tiếng gian ác, nguyên hình một tên thực dân khát máu (là quản ngục Nhà đày Buôn Ma Thuột quản lý chung các nhà tù phụ thuộc)
Trong hệ thống nhà đày Buôn Ma Thuột, nhà ngục Đăk Mil nằm dưới sự điều khiển của tên Công sứ và Giám binh Đắk Lăk và có sự chỉ đạo chung của tên Khâm sứ Trung kỳ
Để phục vụ cho việc quản lý từ nhân nguy hiểm trong nhà ngục giữa rừng hoang vắng, chính quyền thực dân còn thực thi chính sách thâm độc là chia rẽ, gây thù hằn giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc, để khi tù nhân trốn trại chúng có thể qua người dân địa phương để bắt lại
2 Những tù nhân đầu tiên bị thực dân Pháp đày đến nhà ngục
Trang 26Đắk Mil
Nhà đày Buôn Ma Thuột là nơi giam giữ những tù chính trị bị kết
án lâu năm, có những tù nhân chính trị mà chúng coi là đặc biệt nguy hiểm, những tù nhân không được hưởng chế độ ân xá, giảm án trong thời
kỳ Mặt trận Dân chủ (trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, do phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ lên cao, chính quyền thực dân đã phải thả nhiều tù nhân, nhiều tù chính trị được ân xá) Trước sự đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc, chúng thực thi chế độ lao tù hà khắc, phân loại tù nhân nhưng như thế vẫn chưa đủ Ngoài việc phân loại tù nhân theo mức độ nguy hiểm đối với chế độ thực dân phản động thể hiện ở mức án, nay chúng còn phân loại căn cứ vào "thái độ, hạnh kiểm", để trên cơ sở đó làm phân rã những người cộng sản bằng sự tách rời nhau ra và bằng những lợi ích, đối xử khác nhau
Từ năm 1941, chúng phân loại tù nhân ở Nhà đày Buôn Ma Thuột làm 4 loại:
- Loại đặc biệt nguy hiểm đày đi Nhà ngục Đăk Mil
- Loại nguy hiểm nhiều thì biệt giam trong Nhà đày Buôn Ma Thuột
- Loại nguy hiểm vừa thì bắt lao dịch tại Nhà đày Buôn Ma Thuột
- Loại ít nguy hiểm hoặc chỉ còn ít thời gian giam giữ thì bắt đi lao dịch bên ngoài Nhà đày Buôn Ma Thuột
Đầu năm 1941, đoàn tù đầu tiên bị đày xuống ngục Đăk Mil là các
tù chính trị xuất phát từ Nhà đày Buôn Ma Thuột trên các xe tải trần với mục đích lấy đói rét, bệnh tật và lao dịch khổ sai ở đây để tiêu diệt ý chí cách mạng và thủ tiêu dần các chiến sĩ cộng sản
Sau này, trong hồi ký, đồng chí Lê Nam Thắng kể lại: "Chúng
Trang 27xiềng tay 2 người một còng, đường nhỏ, xấu, xe chạy chậm như chui trong rừng rậm Sau một cuộc hành trình dài trong xiềng xích với sự áp giải của 2 tiểu đội lính khố xanh Lúc này, tên Giám ngục Bơruytút là Đại
úy đồn trưởng Đăk Mil, được quan Công sứ và Giám ngục binh tỉnh Đăk Lăk giao chỉ huy lính, tù nhân và dân phu M'Nông xây dựng ngục Đăk Mil"1
Theo Hồi ký của đồng chí Nguyễn Tạo - một trong những phạm nhân trong đoàn tù nhân đầu tiên bị chính quyền thực dân đưa đến Đăk Mil: Tây Nguyên tháng 3, nắng, gió bụi đất mù mịt Một buổi sáng sớm đầu tháng 3 – 1941 như thế, đoàn tù đầu tiên gồm những "con ngựa vằn"2
từ Nhà đày Buôn Ma Thuột bị giải đến Nhà ngục Đắk Mil Từ khi chưa
có tiếng kẻnh báo thức như thường ngày, tên cai ngục ác độc đã hò hét, thúc giục, chửa rủa những người lính khố xanh, một đại đội lính khố xanh dàn ra, lưỡi lê cắm họng súng, ba chiếc xe cam nhông nổ máy sình sịch đứng chờ giữa sân Đoàn tù xuất phát từ Nhà đày Buôn Ma Thuột, trên con đường nhỏ, mặt đường xấu, ba xe chạy chậm như chui trong rừng rậm, luôn gầm rú bò ngược dốc khó nhọc, rền rĩ, chồm lên dằn xuống, lắc lư Để tránh tù bỏ trốn dọc đường di chuyển, chúng xiềng tay 2 người một còng, có sự áp giải của 2 tiểu đội lính khố xanh Trên mỗi thùng xe, bốn lính khố xanh ngồi bốn góc, "thể xác như một đàn lợn bị xích, chen nhau ngồi giữa thùng xe bị dồi lên, ném xuống, lăn lóc, dồn ép, theo đà xe chạy, nhảy
Con đường cái như một con trăn màu đỏ, lủi nhanh vào ngàn cây xanh thẳm, lại luồn ra, vắt qua những đồi trọc lơ thơ cay cỏ
Trời nắng gắt, gió thổi, xe đua nhau chạy, nhảy, bụi mù mịt, bụi phủ kín cả xe, cả tầm mắt chúng tôi"3
1 Theo lời kể của đồng chí Lê Nam Thắng – cựu tù nhân tại nhà ngục Đăk Mil.
2 Theo Nguyễn Tạo, Mô sin gọi những tù nhân nguy hiểm là "những con ngựa vằn", vì theo y ngựa vằn (les zèbes) là loài ngựa dữ tợn hơn cọp, hay cắn, hay đá, khong ai cưỡi lên được.
3 Nguyễn Tạo: Chúng tôi vượt ngục (hồi ký), Nxb Văn học, H, 1977, tr.254.
Trang 28Hết một ngày đường vật vã, đoàn tù đến ngục Đắk Mil trong đói khát và mệt nhọc4
Những tù nhân đầu tiên đến Đắk Mil đi trên các chiếc xe tải trần Trên mỗi xe, bốn tên lính ôm súng ngồi 4 góc Chúng xích các phạm nhân trên đường di chuyển, các nhân chứng kể lại, hình ảnh những tù nhân trên
xe như “một đàn lợn bị xích”, ngồi chen chúc ở giữa thùng xe Một đoạn đường vài chục ki lô mét nhưng những chiếc xe luôn gầm rú, bò ngược dốc khó nhọc, rền rĩ, lắc lư, bụi mù mịt Mọi người bị dồi lên, ném xuống, dồn ép, lăn lóc theo đà chạy nhảy của xe
Đoàn tù nhân đầu tiên từ Nhà đày Buôn Ma Thuột vừa đến Nhà ngục Đắk Mil, tên Giám ngục Bơruytút vào gặp ngay và tự giới thiệu là Đại úy đồn trưởng Đăk Mil, được quan Công sứ và Giám binh tỉnh Đắk Lăk giao chỉ huy lính, quản tù nhân và dân phu M'Nông xây dựng Đăk Mil thành một Đại lý văn minh đại Pháp, và sẽ trừng trị những người dân nơi đây Tù nhân phải làm việc và vâng lời lính, nếu "cứng đầu" sẽ bị đánh và trừng phạt
Những tù chính trị thực dân Pháp chuyển đến giam ở nhà ngục Đăk Mil đều là những tù nhân mà bọn cai ngục cho là "nguy hiểm nhất", thường là những người tham gia tổ chức, lãnh đạo các cuộc đấu tranh
4Về thời gian đoàn tù đầu tiên đến Đăk Mil cũng có tài liệu viết là năm 1940 (Lịch sử đấu tranh cách
mạng của Đảng bộ và quân dân các dân tộc huyện Đăk Mil (1930-1975), T.I, tr.35), một số tài liệu viết đoàn tù đầu tiên đến Đăk Mil vào đầu tháng 11 năm 1941 Nhìn chung, qua đối chiếu các tài liệu và căn
cứ vào các dữ liệu từ hồi kỳ, có thể đi đến thống nhất là đoàn tù nhân đầu tiên từ Nhà đày Buôn Mê Thuột đến Đăk Mil là vào đầu năm 1941, cụ thể là đầu tháng 3 – 1941
Xung quanh số người trong đoàn tù đầu tiên từ Buôn Mê Thuột chuyển đến Nhà ngục Đăk Mil
đến nay có nhiều ý kiến chưa thống nhất
Theo sách Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột 1930-1945 (tr 114) viết, cuối năm 1941, địch bắt
đầu đưa 60 tù nhân – những phần tử "rất nguy hiểm", từ "biệt giam" Lao số 1 - Nhà đày Buôn Ma Thuột (nơi biệt giam những người tù cộng sản nguy hiểm), lên lưu đày tại Đắk Mil
Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Tạo, một trong những phạm nhân trong đoàn tù nhân đầu
tiên bị chính quyền thực dân đưa đến Đăk Mil, in trong cuốn Chúng tôi vượt ngục, tr.254, đoàn tù đầu
tiên đến Đăk Mil có 120 tù nhân.
Theo sách Trương Vân Lĩnh, Lê Hồng Sơn, cuộc đời và sự nghiệp, đoàn tù đầu tiên từ Nhà đày
Buôn Mê Thuột tới Đăk Mil có 60 tù nhân (Sở Văn hóa – Thông tin Nghệ An, Bảo tàng Xô viết Nghệ -
Tĩnh: Trương Vân Lĩnh, Lê Hồng Sơn, cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Nghệ An, tr.47).
Cũng ở nhiều cuốn sách khác đã được xuất bản, lại cho rằng đoàn tù nhân đầu tiên đến Đăk Mil gồm 45
tù chính trị
Trang 29chống chế độ lao tù hà khắc; đấu tranh bảo vệ tính mạng, bảo vệ khí tiết người cộng sản Tù nhân bị đưa đến nhà ngục Đăk Mil gồm những người
bị thực dân Pháp bắt từ khắp nơi về, cả ở miền Bắc, Trung, Nam, cả từ Hồng Kông, Thượng Hải, từ Lào, Xiêm đưa đến Những tù nhân này đã bị giam cầm thời gian dài, 5 năm – 15 năm Nhiều người bị đưa đi đày ở nhiều nhà tù khác nhau
Trong hồi ký của mình, đồng chí Nguyễn Tạo viết: Cai ngục
"Môsin chọn 120 người chúng tôi (tù nhân - tác giả) đày đi Đăk Mil (đi từ Nhà đày Buôn Ma Thuột - tác giả), mục đích là lấy đói rét, bệnh tật, đánh đập để dần dần tiêu diệt những “con ngựa vằn” từ trong rừng sâu hoang vắng"1 Ngoài ra chẳng có gì ngoài thú rừng và rừng cây rậm rạp bao la Chính bản thân tên Bêdiê cũng cảm thấy như bị đi đày như những người
Khác với các nhà tù khác ở Trung Kỳ và Tây Nguyên lúc đó, nhà ngục Đắk Mil tuy không lớn về quy mô, song là nơi được thực dân Pháp
"quan tâm đặc biệt", nơi giam cầm và tra tấn “những phần tử nguy hiểm
1 Nguyễn Tạo: Chúng tôi vượt ngục (hồi ký), Nxb văn học, 1977, tr 254.
Trang 30nhất” – những tù nhân chính trị là những người yêu nước, tham gia phong trào đấu tranh cách mạng, những đảng viên kiên trung đã từng bị giam ở các nhà tù khác, không những không chịu khuất phục mà còn tổ chức, tập hợp lực lượng đấu tranh trong các nhà tù thực dân.
Với mục đích lấy đói rét, bệnh tật, tra tấn cực hình và khổ sai để tiêu diệt ý chí cách mạng của những những người tù cộng sản, thực dân Pháp đã biến nhà ngục Đăk Mil thành nơi biệt giam, là địa ngục trần gian với chế độ nhà tù tàn khốc nhằm giết dần, giết mòn những người cộng sản
về thể xác và tinh thần Tuy nhiên, thực dân Pháp đã phải đối mặt với những cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và mạnh mẽ của các chiến sĩ cách mạng với một quyết tâm đấu tranh chống lại các chính sách tàn bạo của nhà tù thực dân để bảo vệ cuộc sống, bảo vệ lực lượng cách mạng, và nung nấu quyết tâm có thời cơ sẵn sàng chấp nhân với gian nguy, thử thách, hy sinh để vượt ngục trở về với nhân dân, tiếp tục hoạt động cách mạng
Trang 31I Ngục Đắk Mil- sự tận cùng của chính sách hà khắc và tinh thần bất khuất của chiến sĩ cộng sản
1 Nhà ngục Đắk Mil – Sự tận cùng của chính sách hà khắc, tàn bạo, dã man của thực dân Pháp
Thiết chế nhà tù cho đến trước Chiến tranh thế giới nổ ra, về cơ
bản được áp dụng theo quy chế được ban hành từ ngày 17-5-1916 với những thủ đoạn phân loại, bóc lột, đàn áp tù nhân rất thâm độc1 Về phân loại tù nhân, chế độ lao tù của chính quyền thực dân phân thành các loại căn cứ vào tội trạng và thái độ, sự mẫn cán trong công việc Loại 1 có nhiều tiến bộ, được nhận doanh điền, được đi làm trong phân xưởng, công trường, chỉ riêng loại 1 mới được Toàn quyền Đông Dương xét xá tội, giảm tội; loại 2 được đưa đi làm việc công ích phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích thuộc địa; loại 3 phải làm việc nặng nhọc nhất và có thể bị cách ly với các loại tù khác Tù loại 3 được xếp vào loại phải cách ly với các loại tù khác, phải đưa vào "những khu trại trừng giới để cấm cố", phải làm những công việc nặng nhọc nhất trên công trường đặc biệt, không được phép tiếp xúc với tù nhân khác Trong các án thì có sự phân biệt giữa chính trị phạm và thường phạm Nhưng những người bị kết án cấm
cố, phát lưu và phóng trục thì toàn là chính trị phạm2
Do Nhà đày Buôn Ma Thuột được chính quyền thực dân phong kiến Trung kỳ dành cho những tù chính trị có mức án nặng và nguy hiểm, nên chế độ tù có sự khác biệt Hình phạt xiềng được bãi bỏ từ năm 1928, thì năm 1931 được lập lại ở Nhà đày Buôn Ma Thuột Trung xà lim cấm
1 Ngày 17-5-1916, Tàn quyền Đông Dương ban hành 3 Nghị định: Nghị định chế độ tù phát lưu ở Đông Dương, đây là văn bản triển khai sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 19-12-1915 Nghị định có nội dung: địa điểm ấn định cho tù phát lưu, điều kiện và yêu cầu đề đạt, việc xin làm công tại các cơ sở lao động, vấn đề tạm cấp đất đai để canh tác, việc chuyển thành sở hữu, trường hợp tù nhân ở với gia đình, trường hợp tù nhân lấy vợ, trường hợp tù nhân chết Nghị định về chế độ tại các nhà tù ở Nam Kỳ, Nghị định về quy chế mới cho tù Côn Đảo.
2 Dưới chế độ thực dân có các án: Án cấm cố (détention; Án phát lưu (déportation); Án phóng trục (bannissement); Án khổ sai (travaux forcés); Án giam (prison); Án lưu (relégation); Án đồ và án đồ bị giam luôn luôn trong phòng (réclusion et téclusion cellutalre),
Trang 32cố, tù nhân không những bị cùm chân mà còn bị xích tay vào sàn gỗ Theo Nghị định ngày 2-12-1931 của Khâm sứ Trung kỳ thì người cầm đầu các cuộc đấu tranh của tù chính trị trong Nhà đày Buôn Ma Thuột sẽ
bị xử phạt giam xà lim cấm cố, ăn cơm nhạt hoặc bị đày tiếp đến Côn Đảo Tù nhân nào tham gia đấu tranh còn bị phạt tăng án Một tù nhân đòi hỏi những quyền tối thiểu trong ăn uống, tắm giặt bị phạt tăng thêm 3 năm tù giam Một người viết báo gửi ra ngoài bị phạt tăng thêm 5 năm tù Một người yêu cầu nới rộng lỗ cùm chân, phạt thêm 3 năm tù
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, số lượng tù nhân tại Nhà đày Buôn Mê Thuột tăng lên nhanh chóng do địch chuyển nhiều đoàn tù từ các tỉnh miền Trung lên Đồng thời, tù nhân cũng bị khủng bố, đàn áp dã man hơn Năm 1940, tên cai ngục khét tiếng tàn ác Mô sin trở lại cai ngục Buôn Ma Thuột Lợi dụng tình hình chiến tranh, bọn cai trị rút bớt và thu
hẹp quyền lợi vật chất và tinh thần của tù nhân, xóa bỏ chế độ tù chính trị, thu hẹp số tù nhân được quy định không phải lao dịch khổ sai; bỏ lệnh
tù chính trị được đọc sách báo, nhận thư quà do gia đình gửi vào và phải lao dịch khổ sai như tù thường
Để quản lý chặt chẽ tù nhân, chúng quy định "tất cả tù nhân đi làm
ở bên ngoài phải cắt tóc, phải ghi rõ số tù trên một mảnh vải trắng khâu vào sau lưng áo"1
Về chế độ mặc, mỗi năm chúng chỉ phát cho tù nhân hai bộ quân áo vai thô, năm tù nhân đông chỉ được phát một bộ Quần áo ngắn cũn cỡn, quần chỉ quá đầu gối, áo mặc hở rốn Các phạm nhân bị phạt nằm xà lim không được mặc quần áo Về tắm mỗi tù nhân mỗi tuần chỉ được tắm 2 lần, mỗi lần tắm không quá 13 phút, nếu tắm chậm chậm là bị đánh đập Mỗi khi đi ra khỏi ngục tù nhân đều bị xiềng tay, kể cả khi tắm giặt và luôn bọ lính canh gác chặt chẽ, tù nhân không được đi xa lính gác quá 5
1 Báo cáo của Công sứ Buôn Ma Thuột gửi Khâm sứ Trung Kỳ (tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng).
Trang 33mét
Hình ảnh nhà tù thực dân ám ảnh suốt đời mỗi người tù là những cùm sắt, gông xích: Một thanh sắt tròn như cái đinh bu loong lớn, dài hai chục thước, xiên qua những lỗ khoan tròn của các trụ gỗ, rồi xâu vào các khuy của vòng xiềng đeo vào chân phạm nhân Cái cùm sắt đó được tù nhân ví như những hình một xiên chả khổng lồ của giống quỷ thực dân,
mà những “miếng chả” trong mỗi gắp chả là 30 cái bàn chân tù nhân đeo lủng lẳng
Mỗi buổi sáng, một trung đội lính khố xanh người dân tộc nai nịt, súng ống tới mở khoá rút xiên sắt, mở cùm đưa từng tổ phạm nhân đi làm Mỗi sáng, tiếng kẻng đánh thức, tiếng loảng xoảng mở cửa, tháo cùm nghe ghê rợn
Đến 11 giờ 30 lại vào cùm; 2 giờ chiều lại mở cùm, 6 giờ tối lại cho chân vào cùm Đó là giờ giấc của cuộc đời tù nhân Đăk Mil cũng như các nhà tù khác
Nơi ở của phạm nhân tòi tài với nhiều rận, rệp, muỗi, nhặng
Mỗi khi ra ngoài, anh em tù đều bị xiềng tay, kể cả khi đi tắm giặt vẫn có lính canh gác, quản chặt
Chế độ tù vốn đã hà khắc lại bị cắt giảm Theo chế độ tù, khẩu phần mỗi ngày được 900g, mức ăn ít ỏi lại bị bọn cai ngục Đăk Mil cắt xén chỉ dưới 500g lương thực mỗi ngày
Chúa ngục đã áp dụng chế độ lao tù hết sức khắc nghiệt và tàn bạo Đồng thời, chúng lợi dụng công sức tù nhân và giết chết dần mòn những người tù cộng sản bằng công việc lao dịch nặng nề trên vùng đất cao nguyên M’Nông Hằng ngày tù nhân phải đi lao dịch nặng nề như làm
đường quốc lộ 14, Việc khai thác, vận chuyển vật liệu để xây Nhà ngục
Trang 34do tù nhân thực hiện trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm không chỉ để bóc lột một cách tàn nhẫn sức lực của tù nhân mà còn nhằm thủ tiêu cả ý chí lẫn thể xác của tù nhân
Sau Tết Nhâm Ngọ (năm 1942), địch đưa thêm 60 tù nhân đến ngục Đắk Mil, trong đó có đồng chí Trần Hữu Dực1, Trương Vân Lĩnh2,
…
Từ giữa năm 1942, để đối phó với các cuộc vượt ngục ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, theo lệnh của Khâm sứ Trung Kỳ, tên quản ngục khét tiếng gian ác Môsin (Moshine) được điều động trở lại làm quản ngục Nhà đày Buôn Ma Thuột lần thứ ba Môsin trắng trợn tuyên bố xóa bỏ
1 Trần Hữu Dực sinh ngày 15 tháng 1 năm 1910 tại làng Dương Lệ Đông, tổng Gia
An, nay là xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.Tham gia cách mạng
từ năm 15 tuổi, tháng 11 năm 1926 thành lập "Ái hữu dân đoàn" và trở thành đảng viên cộng sản của nhóm cộng sản đầu tiên ở Quảng Trị Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1929 Tháng 11 năm 1930, Tỉnh ủy Quảng Trị chính thức được thành lập, ông được cử giữ chức Bí thư Từ năm 1940, ông được phân công tham gia công việc của xứ ủy, phụ trách 11 tỉnh Nam Trung kỳ.Trong thời gian hoạt động, ông
bị Pháp bắt 3 lần, và bị chính quyền Nam triều kết án tổng số 29 năm tù giam, và 22 năm quản thúc tại các nhà lao Quảng Trị, Lao Bảo, Ban Ma Thuột, đến năm 1942 ông
bị đày đên nhà đày Đắk Mil.
2Trương Vân Lĩnh tên khai sinh là Trương Văn Thanh, sinh năm 1902 tại làng Tuỵ Anh, tổng Vân Trình (nay xã Nghi Phương), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Sớm được giác ngộ cách mạng Tháng 2/1925 Trương Vân Lĩnh được Đặng Thúc Hứa giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) học tập Sang Trung Quốc anh được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được kếp nạp vào nhóm bí mật để làm nòng cốt cho việc thành lập tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”(VNTNCMĐCH) Dưới sự hướng dẫn của Nguyến Ái Quốc, Trương Vân Lĩnh tham gia vào Ban lãnh đạo Tổng bộ VNTNCMĐCH và tích cực đóng góp vào việc xuất bản báo “Thanh niên”, tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho số thanh niên yêu nước từ trong nước sang Trong quá trình hoạt động cách mạng ở Trung Quốc Ngày 5/1/1932, Trương Vân Lĩnh đến Thượng Hải lên tàu thuỷ đi Nhật nhận tiền giúp đỡ hoạt động của Cường Để thì bị cảnh sát Anh bắt giam Theo yêu cầu của thực dân Pháp, chính quyền Thượng Hải giao Trương Vân Lĩnh cho bọn Pháp ở Đông Dương Bọn chúng đưa anh
về giam ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội) Ngày 15/5/1932, toà án Nam triều tỉnh Nghệ An kết án Trương Vân Lĩnh tù khổ sai chung thân đày đi Lao Bảo Sau đó chúng chuyển đồng chí Trương Vân Lĩnh lên nhà tù Buôn Ma Thuột Khi thực dân Pháp chuyển một
số tù chính trị tại Ban Mê Thuột đi trại Đắc Mil, trong đó có đồng chí Trương Vân Lĩnh.
Trang 35chế độ tù chính trị, xóa bỏ quyền tự quản của tù nhân và thực hiện chế độ lao dịch khổ sai; "thực hiện một sự giám sát tối đa đối với những phần tử đặc biệt nguy hiểm"1 Chúng còn cùng với mật thám Nha Trang xin bổ sung thêm 20 lính khố xanh để tăng cường canh gác Với sự gia cố hệ thống Nhà đày, tăng cường các biện pháp kiểm soát, tăng thêm lực lượng
bộ máy quản lý, canh gác, chúng nhận thấy hệ thống Nhà đày Buôn Ma Thuột (trong đó có Nhà ngục Đăk Mil) đã đạt đến mức hoàn hảo nhất từ trước đến lúc này Bọn cai trị cũng phải thừa nhận "guồng máy hoạt động
ở Nhà đày Buôn Ma Thuột hiện nay không có gì đáng chê trách"2
Tháng 6-1943, khi phát hiện 3 tù nhân trốn, cai ngục Đắk Mil đã khẩn cấp báo cáo về Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ Đắk Lăk, quản ngục Môsin ở nhà đày Buôn Ma Thuột Sau khi điều tra, Môsin ra lệnh giải ngay bốn tù nhân đi lấy nước về nhà đày Buôn Ma Thuột Nhưng trên đường đi, chưa đến cầu 14, chúng đã bắn chết bốn đồng chí: Nguyễn Thành Hãn, Trần Đức Mai, Nguyễn Diệp và Chu Liễn rồi vứt xác vào rừng3
Sinh mệnh của các tù nhân ở Đắk Mil thường xuyên bị đe dọa bởi cai ngục, bệnh tật Chính quyền thực dân điên cuồng khủng bố, đánh, bắn, cùm gông, người bị giết chết ngay người bị chết dần dần
Cuộc sống của tù nhân, đêm về ngủ trong tư thế bị cùm; bữa ăn hàng ngày là gạo mục và cá thối Hệ quả là ốm đau, bệnh tật, ghẻ lở, đói rét trở thành “bạn đồng hành” của anh em tù nhân Đã vậy, tù nhân ở đây luôn bị đánh đập, phạt vô cớ và còn bị thủ tiêu bí mật
Ngoài công việc lao dịch nặng nề, dưới những trận đòn roi tàn bạo
1 "Báo cáo của Công sứ Buôn Ma Thuột gửi Khâm sứ Trung Kỳ trong các năm 1941, 1942", Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
2 "Báo cáo của Công sứ Buôn Ma Thuột gửi Khâm sứ Trung Kỳ trong các năm 1941, 1942", Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
3 Theo sách Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột 1930-1945, chúng quảng xác 4 tù nhân lên xe chở về Nhà
đày Buôn Ma Thuột.
Trang 36của bọn cai ngục, anh em tù còn phải chịu sự tàn phá đến suy kiệt cơ thể,
do “rừng thiêng, nước độc” Những tù nhân vốn trẻ, khoẻ (từ 17-20 tuổi)
bị đày từ miền xuôi lên, cũng chỉ trong thời gian rất ngắn đã bị sốt rét, kiết lị, phù thũng, tiểu tiện ra máu,… nhiều người trong số họ bị suy kiệt rồi chết
2 Tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng trong Nhà ngục
Chiến tranh thế giới thứ hai là một thử thách lớn đối với dân tộc Việt Nam Trừ bọn tay sai của thực dân Pháp, tầng lớp địa chủ lớn và tư sản mại bản, tất cả các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều bị ảnh hưởng bởi chính sách phản động của đế quốc Pháp Trước sự biến chuyển của tình hình, hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới bùng nổ, ngày 6-11-1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh), do đồng chí Nguyễn Văn
Cừ, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì Hội nghị đã phân tích tình hình trong nước và quốc tế, quyết định đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp bách nhất
Khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương (1940), tình hình trong nước chuyển biến mau lẹ Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phát xít Nhật đã bị đẩy lên cực điểm, các cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân một số địa phương Bắc Sơn, Nam kỳ, Đô Lương đã bùng nổ Trong bối cảnh ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp
về nước, chỉ đạo cách mạng Việt Nam Với Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám (khóa I ) tháng 5 năm 1941, chủ trương tích cực chuẩn bị mọi mặt để tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến Cuộc vận động giải phóng dân tộc của Đảng đã thúc đẩy khí thế cách mạng sục sôi trong cả nước Trước tình hình ấy, để dập tắt với phong trào cách mạng, uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân ta,
Trang 37thực dân Pháp đã điên cuồng tiến hành khủng bố, bắt bớ hàng loạt chiến
sĩ cách mạng, đàn áp dã man các cuộc nổi dậy đấu tranh vũ trang của nhân dân Việt Nam Tình hình ấy đã dội vào trong các nhà tù của thực dân Pháp và tác động mạnh mẽ đến tư tưởng những người tù chính trị Những cuộc tranh luận trong cách nhận thức về tình hình thế giới và cách mạng Việt Nam, về tiền đồ của cách mạng; về cách thức đấu tranh với việc chế độ tù chính trị bị cắt xén, diễn ra trong nội bộ những người tù cộng sản Thực tế tình hình đặt ra nhiều vấn đề mới cần được thảo luận, quán triệt đi đến thống nhất ý chí và hành động Với kinh nghiệm trong lãnh đạo đấu tranh, khoảng cuối năm 1940, một số tù nhân cũ trong Nhà
đày Buôn Ma Thuột đứng ra lập tổ chức bí mật gọi là Lực lượng trung kiên của nhà đày Tổ chức mang nhiều tên gọi khác nhau như Cách mạng
chiến sĩ đoàn, Ủy ban vận động cách mạng, Mặc dù không gọi là chi bộ nhưng tổ chức này có tính chất và vai trò như một chi bộ cộng sản Tù nhân tham gia đều hoàn toàn tự nguyện, có đủ tiêu chuẩn nhất định và trước nhất là phải thực hiện đúng Điều lệ Đảng Công sản, tự nguyện hy
sinh suốt đời cho chủ nghĩa cộng sản Tổ chức Lực lượng trung kiên xác
định rõ nhiệm vụ:
- Tổ chức và lãnh đạo đấu tranh bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần của tù chính trị, là lực lượng nòng cốt duy trì, củng cố tổ chức của tù nhân
- Lãnh đạo giáo dục đảng viên, cán bộ giữ vững tinh thần đấu tranh trong tù, mở lớp huấn luyện lý luận và chính trị, quân sự, văn hóa nhằm đào tạo và chuẩn bị lực lượng cán bộ lãnh đạo phong trào quần chúng khi thoát khỏi lao tù
- Tiến hành đấu tranh bảo vệ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, những quan điểm chiến lược và những nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng
Trang 38- Tổ chức bắt mối liên lạc với Đảng ở bên ngoài.
- Chuẩn bị điều kiện và phương tiện cho một số đồng chí trốn thoát khỏi Nhà đày, ra ngoài hoạt động
- Gây cơ sở bên ngoài Nhà đày, nhất là ở thị xã Buôn Ma Thuột và các đồn điền vùng phụ cận
Số thành viên của Lực lượng trung kiên có lúc phát triển cao nhất
lên tới trên 70 người1 Tổ chức Lực lượng trung kiên có vai trò tập hợp
lực lượng và thống nhất hành động của tù nhân Tổ chức của tù nhân trong Nhà đày càng chặt chẽ hơn trước, và trên một phạm vi rong hơn, đã hình thành Mặt trận tù nhân mang tinh chất quần chúng, thu hút hầu hết tù nhân
Là những “phần tử nguy hiểm nhất” bị đày từ nhà đày Buôn Ma Thuột về biệt giam tại Nhà ngục Đắk Mil, các chiến sĩ cách mạng tiếp tục phát huy kinh nghiệm và truyền thống đấu tranh kiên cường ở Nhà đày Buôn Ma Thuột Vì vậy, tại Nhà ngục Đắk Mil dù chế độ lao tù vô cùng
hà khắc và tàn bạo cũng không thể tiêu diệt được ý chí đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng Chính sách tàn bạo, dã man của thực dân đế quốc chỉ khắc ghi thêm tội ác dã man của chúng đối với dân tộc ta, chỉ có thể giam giữ thể xác nhưng không thể khuất phục được tinh thần của các chiến sĩ cách mạng Các chiến sĩ cách mạng ở nơi đấy đã tiếp tục vượt lên gian nan, thử thách khắc nghiệt của khí hậu, của chế độ lao tù hà khắc nghiệt ngã của thực dân Pháp, biến nhà tù thành trường học, rèn luyện ý chí Các đồng chí đã đoàn kết, đùm bọc nhau, cùng nung nấu ý chí cao cả, tổ chức nhau trong mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc Với tinh thần đấu tranh không ngừng nghỉ, đấu tranh ở mọi lúc, mọi nơi, muốn có sức mạnh phải
có tổ chức, phải hợp thành lực lượng, các đồng chí đã sớm hình thành tổ
1 Xem thêm: Tỉnh ủy Đăk Lăk, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột 1930 – 1945, Đăk
Lăk – 2010, tr.108-109
Trang 39chức, tạo lực lượng để đấu tranh
Trải qua những năm tháng bị giam cầm qua các nhà ngục của đế quốc thực dân, những chiến sĩ cộng sản bị đưa đến Đắk Mil đã nhận thấy việc đầu tiên là tự đặt tổ chức, tự xây dựng quy chế, chế độ nội quy để giữ
vệ sinh, trật tự Đồng thời củng cố tổ chức, phát triển lực lượng
Công việc đầu tiên mà những người tù chính trị làm là lựa chọn
những người có uy tín, năng lực đưa vào Ban cán sự để lãnh đạo tù nhân
đấu tranh chống lại chế độ ngục tù dã man, hướng dẫn, giúp đỡ nhau học chính trị, văn hóa, quân sự, rèn luyện chí khí của người cách mạng trước
vô vàn khó khăn thử thách ở ngục tù heo hút này và để tổ chức cải thiện sinh hoạt, bảo vệ trật tự, vệ sinh
Những người tù chính trị đã bầu cử thành lập một “Ban cán sự”
gồm đồng chí Trần Văn Quang, Nguyễn Tạo, Kinh, Hòa, Trinh, Bửu Toàn Ban cán sự tổ chức lãnh đạo đấu tranh, chống mọi áp bức tàn bạo
của chế độ lao tù, đề ra chủ trương nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu, chống đàn áp, bảo vệ quyền lợi của tù nhân và tổ chức vượt ngục Đặc biệt, anh em tù nhân xác định nhiệm vụ quan trọng là phải phá bằng được
lò gạch, không cho chúng xây dựng lò gạch và đốt lò thành công, qua đó phá kế hoạch xây dựng Đại lý Đăk Mil của địch, buộc chúng phải giải thể công trường Đắk Mil
Đồng chí Trương Vân Lĩnh và Nguyễn Tạo được phân công dự thảo “Bản nội quy sinh hoạt nhà lao Đắk Mil” và “lãnh đạo” tổ nhà bếp Những tù nhân, chân trong cùm, tranh thủ buổi tối, từng giờ từng phút nhanh chóng xây dựng các chế độ sinh hoạt Từ vệ sinh ăn uống, quần áo, chăn chiếu, tới trật tự giờ giấc đều được quy định tỷ mỉ, thành điều khoản
Đối với lính tráng, cai đội, xếp lao, thái độ anh em tù cần mềm
Trang 40mỏng, đứng đắn, nhưng phải luôn luôn sẵn sàng cương quyết đấu tranh
II Đấu tranh chống phá, làm thất bại mưu đồ bóc lột tàn khốc sức lực những người tù và đồng bào dân tộc của thực dân Pháp tại Đắk Mil
1 Biểu tình đòi quyền lợi của tù nhân đến chống phá lò gạch tại ngục Đắk Mil:
Bước vào những năm 40 của thế kỷ XX, với chủ trương của Đảng khẩn trương chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, các Xứ ủy Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Trung Kỳ tích cực triển khai chuẩn bị mọi lực lượng cách mạng, khí thế đấu tranh sục sôi cách mạng lan rộng cả nước Trước tình hình đó, thực dân Pháp càng điên cuồng khủng bố tàn sát, bắt bớ những người yêu nước và các chiến sĩ cách mạng Ở Tây Nguyên, với mưu đồ chuẩn bị các nguyên vật liệu xây dựng để mở rộng Nhà ngục Đắk Mil, tiếp tục đưa những tù nhân “nguy hiểm” đối với chính quyền thực dân và đồng thời tận dụng, bóc lột đến tận cùng sức lực của những người
tù chính trị bị đày ở nơi đây, thực dân Pháp chủ trương tập trung cho công trường lò gạch Hàng ngày, trong thời tiết khắc nghiệt, đói ăn, nhưng chúng bắt hơn 40 tù nhân làm các công việc nặng nhọc: xây lò, làm đất, đóng gạch, phơi phơ (gạch chưa nung), xếp và che phơi Ngoài ra còn thực dân Pháp còn bắt phu là đồng bào người M’Nông đốn củi đem về kho để chuẩn bị đốt gạch Thực dân Pháp ép buộc các tù nhân ở đây phải khẩn trương hoàn thành tất cả những công việc làm gạch để chuẩn bị mở rộng nhà ngục, đưa thêm khoảng 120 tù nhân nơi khác về đày tại Đắk Mil
Thực hiện chủ trương của Ban cán sự Nhà ngục, anh em tù đã lập
kế hoạch chuẩn bị từng công đoạn để phá lò gạch Trước đó, theo sự phân công của Ban cán sự, anh em làm gạch đã cho muối vào nước suối