Cụ thể, phần lớn các công trình chỉ tập trung vào một sốvấn đề về quan điểm của Đảng, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và vai trò củatrí thức trong cách mạng Việt Nam nói chung,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
NGUYỄN THANH HÓA
TRÍ THỨC VIỆT NAM THAM GIA KHÁNG CHIẾN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Nhiều
tư liệu và kết luận khoa học mới của luận án chưa từng được nghiên cứu, công bố trên bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thanh Hóa
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và
những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
26
1.2.3 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết 29
CHƯƠNG 2: TRÍ THỨC VIỆT NAM THAM GIA KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945-1950
32
2.1 Khái niệm về trí thức và khái quát về trí thức Việt Nam đến năm 1945 32
2.1.2 Khái niệm về trí thức Việt Nam trong thời kỳ 1945-1954 33 2.1.3 Trí thức Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam đến Cách mạng tháng
2.2.2 Những đóng góp của trí thức trong giai đoạn 1945-1950 46
Trang 4CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1951-1954
3.1. Bối cảnh lịch sử và quan điểm của Đảng với trí thức
trong tình hình mới
85
3.1.2 Quan điểm của Đảng đối với trí thức trong tình hình mới 86
3.2 Những đóng góp của trí thức trong giai đoạn 1951-1954 90
4.2 Một số kinh nghiệm về việc vận động, phát huy vai trò trí thức trong
kháng chiến chống thực dân Pháp
150
4.2.1 Lấy mục tiêu độc lập dân tộc làm động lực để vận động, tập hợp trí thức 150 4.2.2 Tin tưởng và nhìn nhận đúng vai trò của người trí thức 152 4.2.3 Kinh nghiệm từ hạn chế của công tác vận động trí thức trong kháng chiến
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử mỗi dân tộc đều in dấu đậm nét vai trò của trí thức Lịch sử Việt Namcũng không nằm ngoài quy luật đó Trí thức là nguồn lực quan trọng để phát triển đấtnước Có thể khẳng định trí thức là chìa khóa cho các quốc gia “mở cửa”, ngày mộtphát triển vững mạnh hơn
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ lịch sử, đội ngũ trí thức đều cónhững đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng, xây dựng và pháttriển đất nước Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm đến việcvận động trí thức tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong mỗi thời
kỳ cách mạng khác nhau, Đảng có những sách lược vận động trí thức khác nhau Đặcbiệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, dưới ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức trong và ngoài nước
đã tập trung về với Chính phủ mới để tham gia vào công cuộc xây dựng, bảo vệ chế độmới, tiếp đó là tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).Thực tế lịch sử khẳng định đội ngũ trí thức đã có những đóng góp xứng đáng vàothắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là thời kỳ phát triển nở rộ củatrí thức Việt Nam Trí thức có mặt và thể hiện vai trò ở hầu hết lĩnh vực của cuộckháng chiến Thành viên Chính phủ hầu hết là trí thức Từ sau Cách mạng tháng Tám
1945, Chính phủ Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc để đấu tranhgiải phóng dân tộc, trong đó nêu cao vai trò của tầng lớp trí thức Dưới ảnh hưởng củaChủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức trong và ngoài nước đã tập trung về với chínhphủ mới để tham gia vào cuộc kháng chiến Có thể nói trí thức là nhân tố quan trọng,góp phần vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Chủ tịch HồChí Minh từng khẳng định vị trí của người trí thức trong lúc cuộc kháng chiến đangdiễn ra ngày một ác liệt: “Trí thức Việt Nam đã gánh vác một phần quan trọng trongcuộc kháng chiến cứu quốc và gánh một phần quan trọng trong công việc kiến quốc”
và “Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều” [87, tr.472] Ở những giai đoạn khác nhau của cuộc kháng chiến, người trí thức đều thể hiện
Trang 7được tầm quan trọng và vai trò không thể thay thế, mà rõ nhất là ở các lĩnh vực: giáodục, y tế, kinh tế-tài chính, văn học-nghệ thuật, quân sự-quốc phòng
Trí thức Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở thành mảng
đề tài quan trọng, thu hút nhiều tổ chức, nhà khoa học đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu và
đã có một số lượng nhất định các công trình được công bố dưới dạng khác nhau, nhiềuluận điểm khoa học có ý nghĩa được vận dụng vào thực tế
Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu này chưa có tính hệ thống và cũng chưathật tương xứng với thực tế Cụ thể, phần lớn các công trình chỉ tập trung vào một sốvấn đề về quan điểm của Đảng, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và vai trò củatrí thức trong cách mạng Việt Nam nói chung, kháng chiến chống Pháp nói riêng.Những công trình này đi sâu phân tích quan điểm cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong việc sử dụng trí thức thông qua những bài viết, lời kêu gọi trí thức, nhưng lại thiên
về tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức như một lý giải về việc tại sao Đảng
và Chính phủ lại tập hợp được một đội ngũ đông đảo như vậy, chưa lý giải được cácnguyên nhân, động lực tại sao họ lại đi theo cách mạng, vai trò của họ là gì, thể hiện ởnhững phương diện nào Hơn nữa, những nghiên cứu này cũng chưa nhìn nhận triệt đểđóng góp của giới trí thức qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Việc đi sâu nghiên cứu tạisao các trí thức từ nhiều nguồn gốc xuất thân, nguồn gốc giáo dục khác nhau, ở cáchoàn cảnh khác nhau lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh tập hợp lại phục vụ công cuộc giảiphóng dân tộc? Lãnh đạo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng các trí thức ở cáclĩnh vực khác như thế nào để phục vụ cuộc kháng chiến? Việc phân tích vai trò của tríthức tham gia kháng chiến chống Pháp sẽ giúp chúng ta có điều kiện so sánh với thựctiễn lịch sử để nhìn nhận lại việc thực hiện chính sách của Đảng vận động và sử dụng tríthức trong ở thời đại ngày nay và tương lai Nhìn chung, nghiên cứu về trí thức trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn còn là một khoảng trống
Hiện nay, vấn đề trí thức và vận động trí thức để xây dựng, phát triển đất nước
là vấn đề vô cùng quan trọng Tình trạng chảy máu chất xám ra bên ngoài vẫn diễn rahàng ngày Nhiều trí thức có tài, có đức song chưa có được môi trường làm việc tíchcực, chưa được trọng dụng, đãi ngộ một cách xứng đáng Điều ấy làm ảnh hưởng tớicông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Do vậy, những kinh nghiệm về vận động,
Trang 8tập hợp trí thức trong kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn còn ý nghĩa thực tiễn,nhằm áp dụng vào tình hình thực tế.
Xuất phát từ lịch sử vấn đề nghiên cứu và nhận thức như vậy, NCS quyết định
lựa chọn đề tài “Trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” để thực hiện luận án Tiến sĩ.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Nghiên cứu một cách có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủtịch Hồ Chí Minh về trí thức thời kỳ 1945-1954
- Trình bày bối cảnh lịch sử, những hoạt động của trí thức Việt Nam tham giakháng chiến chống Pháp (1945-1954)
- Đánh giá một cách khoa học, khách quan vị trí, vai trò và những đóng góp củatrí thức trong quá trình kháng chiến kiến quốc thời kỳ 1945-1954 ở một số lĩnh vực:giáo dục, y tế, văn học-nghệ thuật, kinh tế-tài chính, quân sự-quốc phòng
- Phân tích những đặc điểm, hạn chế của trí thức tham gia kháng chiến chốngPháp, đồng thời rút ra những kinh nghiệm về việc vận động trí thức, phát huy vai tròtrí thức trong kháng chiến chống Pháp, để vận dụng vào phát huy vai trò của trí thứctrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là trí thức Việt Nam tham gia kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong thời kỳ 1945-1954, do tác động của thời cuộc, trí thứcViệt Nam phân chia làm hai bộ phận: một bộ phận đi theo Chính phủ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, tham gia kháng chiến chống Pháp; một bộ phận không đi theo Chínhphủ, ở trong vùng tạm chiếm hoặc tham gia Chính phủ của Bảo Đại Luận án tập trungnghiên cứu hoạt động, vai trò của bộ phận trí thức tham gia kháng chiến chống thựcdân Pháp
- Về không gian: Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở miền Bắc
- Về thời gian: 1945-1954, và trong chừng mực nhất định, có đề cập đến trí thứcthời kỳ trước năm 1945 để làm rõ vấn đề nghiên cứu
4 Nguồn tài liệu nghiên cứu
- Các nguồn tài liệu về chính sách của Đảng và quan điểm của Chủ tịch HồChí Minh từ sau 1930 đến hết kháng chiến chống Pháp 1954 là nguồn tư liệu chính
để khai thác khía cạnh đường lối, chính sách vận động trí thức; các tài liệu nhưnghị định, sắc lệnh, quyết định, văn kiện… liên quan đến chính sách vận động và
sử dụng trí thức
- Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc qua các giai đoạnlịch sử dân tộc, trong đó tập trung vào các công trình nghiên cứu chính sáchvận động và sử dụng trí thức trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp1945-1954
- Các nguồn tài liệu tiếp cận từ chính những người từng tham gia kháng chiếnchống Pháp, phân tích trải nghiệm, cảm nhận của chính họ Các hồi ký, nhật ký củacác trí thức tham gia kháng chiến
- Một số bài báo, tạp chí trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
- Các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng các nguồn tài liệu liên quan đến lịch sử hìnhthành và đấu tranh của giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.Trong đó tập trung vào các nguồn tài liệu về sự chuyển giao giữa các trí thức nhohọc và các trí thức Pháp học; các phong trào đấu tranh như Đông du, Đông kinhnghĩa thục…
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngoài ra còn sửdụng các phương pháp khác như logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… trong
đó chú trọng phương pháp phê phán sử liệu Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phươngpháp phỏng vấn nhân chứng, đối chiếu với các tư liệu lịch sử
Trang 117 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả liên quan đến
đề tài luận án, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia làm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;
Chương 2: Trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp giai
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có hàng trăm công trình nghiên cứu, bài trên các báo, tạp chí viết
về trí thức trong cuộc kháng chiến chống Pháp Trên cơ sở những tài liệu thu thậpđược, NCS nhận thấy trí thức được đề cập, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau.Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, NCS muốn đề cập đến một số khuynh hướng, kếtquả nghiên cứu của các công trình, đề tài có liên quan đến trí thức trong cuộc khángchiến chống thực dân Pháp: (1) Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp; (2) Những công trình nghiên cứu về đường lối, chính sách củaĐảng đối với trí thức; (3) Những công trình nghiên cứu về đóng góp, vai trò của tríthức; (4) Những công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc đời của các trí thức
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Có thể xem những công trình nghiên cứu loại này thuộc loại công trình nghiêncứu gián tiếp liên quan đến đề tài luận án mà NCS thực hiện
Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, lấy sự kiện
chiến thắng Biên giới 1950 làm mốc thời gian để phân chia hai giai đoạn nghiên cứucủa cuộc kháng chiến chống Pháp Theo đó, công trình này được chia làm hai tập: Tập
1 từ năm 1945 đến 1950; Tập 2 từ năm 1951 đến 1954 Với cách phân chia như vậy,cho thấy ý nghĩa của Chiến dịch Biên giới 1950 là vô cùng to lớn
Theo nghiên cứu của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam thì ngoài ý nghĩa quân sự,chiến thắng Biên giới còn có ý nghĩa quan trọng về mặt ngoại giao Với chiến thắngnày: “đường giao thông quốc tế được mở ra trên nhiều hướng, hậu phương ta nối liềnvới Trung Quốc láng giềng, với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và cácnước anh em khác ở Đông Âu” [190, tr 572] Từ đây trở đi, cuộc kháng chiến củanhân dân Việt Nam nhận được nhiều viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa,đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô Ảnh hưởng của Trung Quốc, Liên Xô tới cuộckháng chiến của Việt Nam ngày một sâu rộng hơn, trong đó có ảnh hưởng tới việc ứng
xử với trí thức Nghiên cứu sinh phân chia nghiên cứu về trí thức thành hai giai đoạn1945-1950, 1951-1954 với ý nghĩa như vậy
Trang 13Trong bộ Lịch sử Việt Nam do PGS.TS Trần Đức Cường làm Tổng chủ biên
(2014), mốc chiến thắng Biên giới 1950 cũng được lấy là sự kiện để phân chia hai giaiđoạn nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Theo đó, tập 10 đề cậpđến các sự kiện, diễn tiến lịch sử từ tháng 9-1945 đến cuối năm 1950; Tập 11 đề cậpđến các sự kiện từ sau chiến thắng Biên giới 1950 đến khi kết thúc cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp, ký kết hiệp định Géneve (7-1954)
Một công trình đề cập khá chi tiết những diến biến những ngày đầu toàn quốc
kháng chiến là Toàn quốc kháng chiến - ý chí bảo vệ độc lập, tự do và bài học lịch sử (19-12-1946 - 19-12-2016) [173], tập hợp hơn 90 bài viết, báo cáo khoa học nhân sự
kiện kỷ niệm 70 năm ngày toàn quốc kháng chiến, 2016 Trong ấn phẩm này, có nhiềubài viết đề cập đến sự tham gia của một số trí thức trong những ngày đầu toàn quốc
kháng chiến, tiêu biểu như: Văn nghệ sĩ Việt Nam sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; Vai trò của Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu trong Cách mạng tháng Tám và những năm đầu toàn quốc kháng chiến; Đồng chí Võ Nguyên Giáp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến; Trí thức Việt Nam trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến… Những bài viết này trình bày những hoạt
động của một số trí thức ở các lĩnh vực khác nhau trong những ngày đầu toàn quốckháng chiến Tư liệu của cuốn sách này góp phần làm rõ bối cảnh của cuộc khángchiến chống Pháp và bước đầu nêu lên sự tham gia của một số trí thức và của cácngành vào cuộc kháng chiến
Những công trình biên niên của Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Dân tộc thống
nhất như: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất, tập I (1930-1954) [20]; Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập 1 (1945-1954) [21] đề cập
đến hoạt động của Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận - nơi tập hợp nhiều trí thức hoặc đềcập đến các quan điểm, chính sách của nhà nước, của Đảng liên quan đến trí thức
Một nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến thời kỳ chống Pháp, nhưng cụthể hơn là đề cập đến hoạt động của các lĩnh vực, các mặt của cuộc kháng chiến nhưngoại giao, giáo dục, văn hóa, tài chính, kinh tế quốc phòng góp phần làm rõ hơn đónggóp của các ngành, trong đó có trí thức trong cuộc kháng chiến
Trang 14Cuốn sách Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, Tập 1: Ngoại giao Việt Nam 1945-1975 [110] (1996), ông Lưu Văn Lợi đánh giá việc ra đời của nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (10-1949) có ảnh hưởng lớn tới cách mạng Việt Nam.Ông cho rằng: “Năm 1950, đã chấm dứt tình trạng Việt Nam chiến đấu trong vòng vây
và đánh dấu bước chuyển biến mới” [110, tr 144] Kể từ đây Việt Nam nhận đượcnhiều viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng khá nhiều
từ Trung Quốc, Liên Xô Thông qua cuốn sách này, có thể tìm hiểu thêm về hoạt động
và những đóng góp về ngoại giao của một số trí thức; đồng thời giúp ích trong việc tìmhiểu về bối cảnh, hoàn cảnh ảnh hưởng tới quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với tríthức Việt Nam sau khi mở quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô 1950
Trong cuốn Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945-1950, TS Nguyễn Trọng Hậu cho rằng “chiến thắng biên giới – sự phá vây trên thực
tế, bước ngoặt của ngoại giao Việt Nam” [74, tr 238] Ông cũng khẳng định: “Thắng lợicủa Chiến dịch Biên giới năm 1950 đã chấm dứt tình trạng Việt Nam chiến đấu trongvòng vây của kẻ thù Từ đây, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ củanhân dân Việt Nam đã có một hậu phương rộng lớn, kéo dài từ Trung Quốc đến biển BanTích” [74, tr 243] Thông qua cuốn sách này, có thể hiểu thêm về bối cảnh lịch sử, đónggóp của những nhà trí thức ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Nhà nghiên cứu Đặng Phong, với công trình: Lịch sử kinh tế Việt Nam, Tập 1:
1945-1954 [136], cố gắng dựng lại toàn cảnh bức tranh về tình hình kinh tế Việt Nam
trong kháng chiến chống Pháp Cuốn Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954) [45], do Trần Dương chủ biên, với sự tham gia của
các ông Hà Phú Hương, Lê Văn Ngọ, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Thượng Đạt, VũNgọc Khuê, Đặng Phong, đã trình bày một số nét tổng quát về nền kinh tế Việt Namtrong thời kỳ lịch sử từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp thắng lợi(1945-1954) Lĩnh vực kinh tế tài chính góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộckháng chiến Thông qua tài liệu này, có thể hiểu thêm về bối cảnh xây dựng và phát triểnnền kinh tế, tài chính Việt Nam, với sự tham gia của các trí thức trong thời kháng chiếnchống Pháp
Trang 15Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, cuốn sách Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - 40 mùa sen nở [1], 1991, tập hợp các bài viết của cán bộ, trí thức đã từng công tác trong
ngành ngân hàng kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 Thông qua cuốn sách này, cóthể biết được những đóng góp của một số trí thức đối với nền kinh tế tài chính ViệtNam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) như Phạm Văn Đồng,Nguyễn Lương Bằng, Lê Viết Lượng
Đối với lĩnh vực y tế, cuốn sách 100 năm Đại học Y Hà Nội – Năm tháng và sự kiện [2] làm rõ bối cảnh phát triển của trường Đại học Y, các trí thức tham gia giảng
dạy, phục vụ kháng chiến; quá trình dạy và học của thầy và trò trường Y Thông quaquá trình đào tạo một số trí thức như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Nguyễn XuânNguyên, Hoàng Tích Mịnh, Đặng Văn Ngữ, Đặng Vũ Hỷ… đã giúp hình thành mộtđội ngũ trí thức mới trong lĩnh vực y tế, có đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến Tàiliệu này nêu bật được những đóng góp của trí thức về y tế và đào tạo cán bộ y tế trongcuộc kháng chiến
Trong lĩnh vực giáo dục, cuốn 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995) [22] đã trình bày những số liệu, thành tựu đạt được của nền giáo dục các
cấp của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đây là nguồn tài liệu quantrọng, góp phần hiểu thêm được về những đóng góp của nền giáo dục Việt Nam vànhững trí thức giữ vai trò chủ chốt trong Bộ Quốc gia Giáo dục như Vũ Đình Hòe,Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khánh Toàn…
Trong lĩnh vực quân giới, cuốn Lịch sử quân giới Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) [104] nêu bật những thành tích của ngành quân giới
Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) mà trong
đó có sự đóng góp, tham gia của một số trí thức
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, có thể kể đến bài viết của Trần Thanh Giang:
Sự phát triển các lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) [66]; GS.TS Trần Đình Sử với bài: Ý thức văn hóa của văn học cách mạng Việt nam sau năm 1945 [157]; Nguyễn Phi Hoanh với cuốn sách: Lược sử mỹ thuật Việt Nam [82] Những bài viết, cuốn sách này trình bày về sự phát triển của lĩnh vực văn
hóa, văn học trong kháng chiến với sự tham gia của các trí thức, văn nghệ sĩ
Trang 16Nhìn chung, những công trình thuộc dạng liên quan gián tiếp đến đề tài luận ángiúp NCS tham khảo, bổ sung một số nội dung như: Có cái nhìn khái quát về bối cảnh,tiến trình, những giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Sự tham gia,đóng góp của các ngành, các lĩnh vực vào cuộc kháng chiến, kiến quốc, trong đó có sựtham gia của các trí thức.
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về đường lối, chính sách của Đảng đối với trí thức
Đây là nhóm công trình quan trọng, phục vụ trực tiếp cho việc tham khảo của
đề tài luận án, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận án Nghiên cứu về đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức diễn ra từ rất sớm, ngay khi cuộckháng chiến chống Pháp đang diễn ra Có thể thấy rằng, những công trình trong nhómnày bàn đến vấn đề trí thức ở một số khía cạnh sau: Trí thức với cách mạng, với khángchiến; quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức; vấn đề vận động, pháthuy vai trò của trí thức trong thời đại ngày nay
Trong nửa cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1951-1954), Liên Xô và TrungQuốc là những nước có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam Đặc biệt là Trung Quốc đã ủng
hộ và viện trợ cho Việt Nam rất nhiều, cả về vật chất, tinh thần và cử cố vấn sang giúpcho Đảng, Chính phủ Việt Nam ở các lĩnh vực quân sự, kinh tế tài chính… Việc truyền
bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, các kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc vàoViệt Nam cũng ngày một mạnh mẽ, trong đó có cả vấn đề quan điểm, chính sách đốivới trí thức Các công trình nghiên cứu về chính sách đối với trí thức được dịch và phổ
biến ở Việt Nam, trong đó tiêu biểu là những cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề trí thức
[162] do Tân Thạch dịch, xuất bản năm 1949 Công trình này cung cấp, phổ biến cáckhái niệm và quan điểm về trí thức, trí thức tranh đấu giai cấp, tri thức của thế giớimới và của chủ nghĩa Mác về vấn đề trí thức trong hiện trình xã hội Việt Nam Vàothời điểm năm 1949, cuốn sách này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc truyền báquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với trí thức Thông qua việc học tập, nghiêncứu những tài liệu dạng này, một bộ phận lớn trí thức đã dần thấm nhuần, chuyển hóa bảnthân, xác định lập trường tư tưởng hết lòng phục vụ kháng chiến
Trang 17Nghiên cứu về quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với trí thức là đề tài
được viết khá nhiều trong những năm gần đây Bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức [75] của Nguyễn Văn Hiền; bài Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức [18]; bài Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức [111] của Nguyễn Thắng Lợi; bài Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc trọng dụng nhân tài trong xây dựng chính quyền cách mạng và kháng chiến kiến quốc [167] của Văn Tất
Thu… đã đề cập đến những nội dung chính: tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và cáchmạng; vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tập hợp trí thức; quan điểm trọngdụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng chính quyền cách mạng vàkháng chiến kiến quốc; những định hướng cải tạo, xây dựng và phát triển trí thức Trong
bài Hồ Chí Minh với trí thức [135], PGS.TS Bùi Đình Phong lại có quan điểm rất mới
khi khẳng định: “Tìm hiểu về Hồ Chí Minh cầu hiền tài là một góc nhìn về Cách mạngtháng Tám Bởi vì chỉ có thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và với tầm nhìn, bản lĩnh
và khoan dung của Hồ Chí Minh thì đội ngũ trí thức Việt Nam mới có điều kiện cốnghiến thật sự cho đất nước” [135, tr 14]
GS.TS Nguyễn Văn Khánh trong công trình Một số vấn đề về trí thức Việt Nam
[95] đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng Cộng sản ViệtNam về vấn đề trí thức, sự hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam trong lịch sử
Năm 2004, GS Nguyễn Văn Khánh và các tác giả Đỗ Xuân Tuất, Lê Ngọc Tú xuất bản công trình Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước [97], trong đó giới thiệu khái quát những luận điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và vai trò của trí thức trong sựnghiệp cách mạng; khái quát về trí thức Việt Nam thời phong kiến, quá trình hìnhthành, cơ cấu và mô hình trí thức Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dântộc; điểm qua một số hoạt động của trí thức Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến; giớithiệu một số quan điểm và đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và nhữngđóng góp của trí thức trong sự nghiệp cách mạng… Tuy nhiên, cuốn sách này chưaphân tích rõ vai trò của trí thức như thế nào thông qua những con người, những bộphận trí thức cụ thể
Trang 18Năm 2015, GS Nguyễn Văn Khánh tiếp tục cho in công trình Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc [99] trình bày các quan điểm khác nhau về trí thức, sự
hình thành và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ trung và cận, hiện đại;tập trung làm rõ những hoạt động đóng góp của trí thức trên các lĩnh vực kinh tế - xã hộicủa đất nước, nhất là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các thời kỳ.Cuốn sách cũng giới thiệu tóm tắt thân thế và sự nghiệp của một số trí thức Việt Namtiêu biểu đã có những đóng góp nổi bật trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội, quân sự, ngoại giao, khoa học, văn học nghệ thuật… Nhìn chung, công trình này đềcập nội dung khá rộng, trong đó có những sự kiện, nhân vật còn đang được tiếp tụcnghiên cứu và có những ý kiến đánh giá khác nhau
PGS.TS Đức Vượng trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề trí thức [199]
đã khái quát 10 điểm về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với trí thức Những vấn đề đó nhấnmạnh việc cần thiết phải có nhận thức đúng đắn đối với trí thức; người trí thức cần phảinhận thức được vai trò của mình đối với đất nước, nhân dân… Một năm sau đó (2010),
PGS Đức Vượng cho xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài [200] trình bày một cách có hệ thống về quá trình đào tạo cán bộ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng, phân tích những gương mặt lãnh đạo cáchmạng đã được Người đào tạo trực tiếp hoặc gián tiếp như Trần Phú, Lê Hồng Phong, HàHuy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thụ,Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v Cuốn sách cũng đã rút ranhững vấn đề then chốt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đào tạo cán bộ
và trọng dụng nhân tài với tư tưởng lớn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Phảitrọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc của chúng ta”
Đặc biệt, năm 2014, PGS Đức Vượng cho xuất bản cuốn sách Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước [202] đề cập một
cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tríthức và xây dựng lực lượng trí thức Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng Cuốn sách
Một số vấn đề về trí thức Việt Nam [185] của Nguyễn Thanh Tuấn, cũng trình bày quan
điểm về trí thức và tiến bộ xã hội; điểm qua các chặng đường lịch sử của trí thức Việt
Trang 19Nam Cuốn sách cũng chỉ ra một số đặc điểm và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thứcViệt Nam hiện nay
Đề tài về người trí thức cũng được nhiều người quan tâm nghiên cứu dưới hình
thức các luận văn, luận án khoa học Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Chủ trương của Đảng
về vận động, tập hợp tầng lớp trí thức thời kỳ 1930-1954 của Nguyễn Thu Hải, bảo vệ
năm 2006 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia HàNội Mặc dù đề ra mục tiêu của luận văn (ở chương 2 và chương 3) là làm rõ chủtrương vận động, tập hợp trí thức nhưng tác giả luận văn lại đề cập, khái quát một cáchkhá chung chung (chủ yếu thông qua các văn bản như: Hội nghị Trung ương lần 2, 4-1947; Phong trào thi đua ái quốc, 1948; Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2, 7-1948;Hội nghị giáo dục toàn quốc, 7-1948; vấn đề lực lượng cách mạng trong Đại hội Đảnglần thứ 2, 2-1951 ), chưa làm rõ những quan điểm, chính sách cụ thể của Đảng,Chính phủ đối với trí thức Tuy nhiên, thông qua cuốn luận văn này, có thể kế thừa tưliệu về chủ trương của Đảng đối với trí thức trong thời kỳ 1945-1954, để thấy đượcnhững bước chuyển biến trong quan điểm của Đảng đối với trí thức, đồng thời qua đó
mở rộng, nghiên cứu sự đóng góp của trí thức ở các lĩnh vực khác nhau dựa trên sựlãnh đạo của Đảng
Luận án tiến sĩ Đảng vận động trí thức trong đấu tranh giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945 của Đặng Thị Minh Phượng, bảo vệ năm 2015, tập trung làm
sáng tỏ công tác trí vận của Đảng thời kỳ 1930-1945, khẳng định sự đúng đắn, sángtạo của Đảng, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc hoạchđịnh đường lối, chủ trương, chính sách về công tác trí vận Trên thực tế, luận án đãgóp phần hệ thống hoá quan điểm của Đảng về trí thức và công tác vận động trí thứctrong thời kỳ 1930-1945; cung cấp những luận cứ khoa học, kinh nghiệm trong việcvận động trí thức ở những giai đoạn lịch sử tiếp sau Ý nghĩa khoa học lớn nhất củaluận án là làm sáng tỏ công tác trí vận của Đảng thời kỳ 1930-1945, khẳng định sựđúng đắn, sáng tạo của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc hoạch định đường lối,chủ trương, chính sách về công tác trí vận Luận án giúp cho những người nghiên cứu
đi sau có cái nhìn khách quan về quan điểm của Đảng, chủ trương vận động trí thứcthời kỳ 1930-1945, là cơ sở để tiếp cận thời kỳ lịch sử 1945-1954
Trang 201.1.3 Những công trình nghiên cứu về đóng góp, vai trò của trí thức
Trong phần này, NCS chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm: nhữngcông trình nghiên cứu có liên quan gián tiếp và những công trình có liên quan trực tiếpđến đề tài luận án
Nhóm những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài luận án
PGS.TS Chương Thâu có những tìm tòi và đóng góp mới trong công trình Góp phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước 1945 [166] PGS.TS Chương
Thâu đã khái quát lược sử Nho giáo Việt Nam và đưa ra những nhận xét về Nho sĩ ViệtNam thời cận đại, cuộc đấu tranh giữa tư tưởng bảo thủ và tư tưởng duy tân cuối thế kỷXIX, sự chuyển hướng tư tưởng trong phong trào quốc gia - dân tộc, ảnh hưởng củaTân thư đối với một số nhà Nho yêu nước, trí thức Việt Nam trong giai đoạn giao thờiđầu thế kỷ XX, trí thức Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong đó có nhiềungười tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp
Nghiên cứu về trí thức đầu thế kỷ 20, không thể không nhắc đến PGS.TS Trần
Viết Nghĩa với công trình Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc [121] PGS.TS Trần Viết Nghĩa đã phân tích thái độ ứng xử của trí thức
Nho học đối với văn minh phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX để thấyđược những sắc thái tư tưởng mới mẻ trong cuộc đấu tranh giữa phái bảo thủ với pháicấp tiến, thấy được vai trò tiên phong của nhà nho cấp tiến trong việc tiếp nhận vănminh phương Tây Theo ông thì trí thức Tây học được hình thành từ cuối thế kỷ 19,đến đầu thế kỷ 20 từng bước trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, có đóng góplớn trong mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng.Trí thức Tây học có sự am hiểu sâu sắc hai nền văn minh Đông – Tây nên họ có nhữngbước tiến về nhận thức hơn hẳn so với thế hệ trước, nhất là trong thái độ ứng xử vớivăn minh phương Tây Cuốn sách này đã góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về thái độ ứng
xử của trí thức Việt Nam khi phải đối diện với văn minh phương Tây, từ đó để thấy rõhơn vai trò của người trí thức với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nói chung vàxây dựng nền văn hóa Việt Nam nói riêng
Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến công trình Ba thế hệ trí thức người Việt 1954) - nghiên cứu lịch sử xã hội [165] của GS.TS Trịnh Văn Thảo - một học giả Việt
Trang 21(1862-Nam, học tập và nghiên cứu tại Pháp từ sau năm 1950 Cuốn sách cung cấp không chỉnhững kết quả nghiên cứu, mà còn phương pháp luận, cách tiếp cận lịch sử-xã hội củatác giả GS Trịnh Văn Thảo đã vận dụng những lý thuyết và phương pháp nghiên cứuhiện đại của nhiều nhà xã hội học nổi tiếng phương Tây và bổ sung, thử nghiệm thànhcông thêm chiều sâu lịch sử, phát triển ngành xã hội học lịch sử Xuyên suốt chiều dàicuốn sách, tác giả đã phân tích về các trí thức dựa trên các phương pháp liên ngànhkhác nhau, đặc biệt là đặt đối tượng nghiên cứu vào trong bối cảnh xuất thân, đặc điểmhọc vấn, bối cảnh chính trị, xã hội để tìm ra các điểm chung Tác giả đã khảo sát rất cụthể tiểu sử và hành trình xã hội của ba thế hệ trí thức, những chuyển biến mang tínhkhủng hoảng hay thử thách của từng thế hệ trong bối cảnh đất nước, khu vực và thếgiới Từ trong các thế hệ trí thức, ông tìm ra nhóm trung tâm của mỗi thế hệ để phântích, đánh giá Mục tiêu của ông là: “muốn qua thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại đầybiến động và sóng gió của đất nước, tầng lớp trí thức Việt Nam đã trải nghiệm và ứngphó như thế nào, từ đó tìm ra truyền thống của họ Dĩ nhiên, mẫu số chung của mọitầng lớp xã hội, của cộng đồng người Việt nói chung là chủ nghĩa yêu nước Nhưngtrong giá trị truyền thống chung đó, người trí thức Việt Nam còn mang truyền thống gìqua sự tự hiển thị trong cách ứng xử, trong nhân cách và phong thái… đó là truyềnthống nho sĩ” [165, tr 11-12]… GS Trịnh Văn Thảo cũng đề cập cụ thể đến nhiều tríthức tên tuổi như: Đặng Thai Mai, Huy Cận, Tô Hoài, Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền,Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn…
Nhóm những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Một số bài như: Ý nghĩa Cách mạng tháng Tám đối với trí thức Việt Nam [152] của Đỗ Xuân Sảng; hay Hoàng Văn Đức với các bài: Trí thức Việt Nam trong cuộc cách mạng dân chủ [62] và bài Hiện trạng đời sống viên chức trí thức [63] đã được công bố
từ rất sớm Những bài viết nói trên một mặt nêu rõ ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạngtháng Tám đối với người trí thức, mặt khác, khái quát sự tham gia, đóng góp của ngườitrí thức đối với cuộc kháng chiến
Nghiên cứu về trí thức Nam bộ được chú ý quan tâm hơn so với ở miền Bắc.Năm 2002, các ông Hồ Hữu Nhựt, Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Tiểng , cho ra đời
công trình Trí thức Sài Gòn - Gia Định 1945-1975 [132] Những tác giả của cuốn sách
Trang 22này là những trí thức vốn tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, họ nhìn lịch sửdưới con mắt của người vừa là nhân chứng, vừa là chủ thể lại vừa là nhà khoa họcnghiên cứu lịch sử Cuốn sách trình bày sự chuyển hoá bản thân và hoạt động của độingũ trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong 30 năm đấu tranh cách mạng (1945-1975); giới thiệu một số gương mặt trí thức tiêu biểu trong phong trào yêu nước vàcách mạng.
Năm 2003, Hồ Sơn Diệp cho ra đời cuốn sách Trí thức Nam bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) [59] với mong muốn phục dựng lại lịch sử của lực
lượng trí thức Nam bộ trong 9 năm kháng chiến; qua đó bước đầu tìm hiểu đặc điểm,vai trò và một vài bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng cách mạng của đội ngũtrí thức tại Nam bộ Với khối tư liệu khá lớn, tác giả đã phân tích bối cảnh lịch sử và
sự hình thành đội ngũ trí thức tại Nam bộ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, quátrình xây dựng lực lượng trí thức yêu nước và kháng chiến cùng những hoạt động yêunước của họ trên các lĩnh vực, ở bưng biền cũng như ở các đô thị bị tạm chiếm Nhữngnhận xét của tác giả về đặc điểm, vai trò của độ ngũ trí thức ở Nam bộ trong khángchiến chống Pháp cũng như những đề xuất về bài học kinh nghiệm trong xây dựng lựclượng và phát huy trí tuệ của trí thức ở Nam bộ đã đặt ra không ít vấn đề cần được tiếptục triển khai nghiên cứu trong tương lai Một trong những kết luận của tác giả là: “Tríthức Nam kỳ hầu hết trưởng thành trong môi trường vật chất thật lý tưởng Họ sinh ratrong nhung lụa, lớn lên khi gia đình họ có đến hàng trăm mẫu ruộng…” [59, tr 232].Tuy nhiên, khi nghiên cứu cuốn sách này, chúng tôi thấy rằng tác giả tập trung làm rõnhững đóng góp của trí thức trong các lĩnh vực đấu tranh chính trị, quân sự là chính;chủ yếu nhấn mạnh các sự kiện lớn, lồng ghép hoạt động của trí thức vào các phongtrào quần chúng; chưa làm rõ được vai trò thực sự của các trí thức, đặc biệt vai trò dẫndắt của họ ở các lĩnh vực khác nhau của cuộc kháng chiến
Nghiên cứu về trí thức thời kỳ này còn có một số luận văn thạc sĩ Luận văn
thạc sĩ Trí thức Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954
của Nguyễn Thị Như, 2005 [130], tuy nghiên cứu về trí thức trong kháng chiến chốngthực dân Pháp, nhưng chưa khái quát được vai trò và đóng góp của trí thức; chưa làm
rõ mối quan hệ giữa quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ đối với trí thức và
Trang 23tác động của những chủ trương, quan điểm ấy ra sao Ở các chương của luận văn, mặc
dù đề cập đến vai trò của trí thức trong các lĩnh vực, nhưng tác giả lại chủ yếu trìnhbày đến các sự kiện của cuộc kháng chiến và kết quả của những lĩnh vực ấy, chưa gắnvới những trường hợp trí thức cụ thể Hơn thế nữa, như tác giả thừa nhận trong phầnmục đích, nhiệm vụ nghiên cứu thì luận văn này trình bày còn chưa được đầy đủ hoạtđộng của trí thức trong từng lĩnh vực, chưa khái quát được toàn diện những đóng góp
đó Đặc biệt còn chưa đi sâu phân tích các trường hợp trí thức tiêu biểu, cụ thể trongtừng lĩnh vực và cũng chưa lý giải tại sao họ lại tham gia kháng chiến Luận văn chỉmới điểm qua một cách khá sơ lược những đóng góp của trí thức trong vài lĩnh vựcchủ yếu, chưa đặt trí thức và đóng góp của họ trong mối quan hệ với những chínhsách, chủ trương chung của Đảng đối với trí thức Ngoài ra, những vấn đề luận văn đặt
ra, như lý giải nguồn gốc, cơ cấu, thái độ chính trị của trí thức trong kháng chiến,nhưng trên thực tế vấn đề vẫn chưa được giải quyết Mặc dù chưa giải quyết thấu đáonhiều vấn đề, nhưng luận văn giúp nhận biết được những vấn đề còn trống về nghiêncứu trí thức để tìm cách khỏa lấp các phần còn chưa được nghiên cứu, hoàn thiện hơntrong công trình của mình
Luận văn Sự ra đời và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam trong những năm 1944-1964 của Phạm Thị Mai Thủy, 2006 [168] đã khái quát toàn bộ quá trình ra
đời, hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam – một chính đảng của trí thức, tiểu tư sản
từ khi ra đời cho đến năm 1964 Tác giả luận văn đã phân tích hoạt động của các nhóm
và tổ chức khác nhau của trí thức như Hướng đạo sinh của Hoàng Đạo Thuý, TạQuang Bửu, nhóm trí thức của Dương Đức Hiền, nhóm trí thức cấp tiến trong Tạp chíThanh Nghị đến hệ thống tổ chức, điều lệ của Đảng Dân chủ Việt Nam để khái quátthành luận điểm: được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngay sau khi rađời, Đảng Dân chủ Việt Nam, đã tự nguyện đấu tranh theo đường lối và sự lãnh đạocủa Đảng, là một thành viên tích cực của Mặt trận Dân tộc thống nhất, là hiện thânsống động của công tác trí vận của Đảng trong giai đoạn tiền khởi nghĩa Luận văn cómột chương nói về hoạt động của Đảng Dân chủ trong thời kỳ 1945-1954, là thời gian
mà đề tài luận án quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, chương này cũng chỉ đề cập tới sựtham gia của Đảng Dân chủ vào những hoạt động, sự kiện lớn của cuộc kháng chiến,
Trang 24chưa làm nổi bật những đóng góp cụ thể của các trí thức tiêu biểu là thành viên củaĐảng Dân chủ
1.1.4 Những ấn phẩm viết về lịch sử cuộc đời của các trí thức
Gần đây, đã có những cuốn sách chuyên khảo về tiểu sử, lịch sử cuộc đời của
từng nhân vật Công trình viết về lịch sử cuộc đời của các trí thức thường có đặc điểm:
một phần đăng tải những bài viết, hồi ký của những trí thức tự kể về cuộc đời mình;một phần là những bài viết cảm nghĩ của những người cùng thời về trí thức đó, hoặc lànhững bài viết của nhà nghiên cứu thuộc thế hệ sau Đây là dạng tài liệu rất quantrọng, phục vụ trực tiếp cho công tác khảo cứu, tìm hiểu về trí thức Dưới đây, chúng tôixin giới thiệu một số công trình nghiên cứu quan trọng được sử dụng trong việc nhìn nhận,đánh giá về trí thức phục vụ cho đề tài luận án
Với Giáo sư Tôn Thất Tùng, nếu như cuốn Đường vào khoa học của tôi, trong
đó có nhật ký ở Điên Biên Phủ phản ánh lại quá trình ông tham gia Cách mạng và
cống hiến cho khoa học thì cuốn Tôn Thất Tùng - cuộc đời và sự nghiệp [174] phản
ánh khá đầy đủ về cuộc đời ông Cuốn sách này có một phần nội dung là hồi ký, ghilại những năm tháng vào nghề và tham gia kháng chiến của bác sĩ Tôn Thất Tùng; mộtphần là các bài viết của nhà báo, đồng nghiệp, học trò, biểu thị tình cảm quý mến, trântrọng tài năng, đóng góp của bác sĩ Tôn Thất Tùng Cuốn sách đã khắc họa đượcnhững nét lớn về cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Tôn Thất Tùng, một trí thức lớn tiêubiểu trong thời đại Hồ Chí Minh
Giáo sư Đặng Vũ Hỷ là một bác sĩ, trí thức trưởng thành từ nền giáo dục củaPháp (từng học trường Y Đông Dương, rồi sang Pháp du học lấy bằng bác sĩ) Saungày toàn quốc kháng chiến, ông tham gia Vệ quốc đoàn, phụ trách quân y tiềnphương ở Cổ Lễ, Nam Định Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia giảng dạy
và cứu chữa thương binh ở Liên khu 3 – 4, rồi giảng dạy ở trường Đại học Y ở Tuyên
Quang Cuốn sách Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và sự nghiệp [58] giới thiệu hơn 30 bài viết
là ký ức, những bài nghiên cứu của học trò, đồng nghiệp về quá trình xây dựng và pháttriển ngành da liễu ở Việt Nam của bác sĩ Đặng Vũ Hỷ
Giáo sư, bác sĩ Trần Hữu Tước là người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp vềnước năm 1946 tham gia kháng chiến chống Pháp Ông có nhiều đóng góp quan trọng
Trang 25cho nền y tế kháng chiến Cuốn sách Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp [180] giới
thiệu các bài viết của bác sĩ Trần Hữu Tước, thể hiện lập trường kiên định, tin tưởngtuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm về y học
và y tế, phát triển khoa học kỹ thuật trong thời đại mới Sách còn giới thiệu nhiều bàiviết của bác sĩ Trần Hữu Tước, nói về sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủtướng Phạm Văn Đồng và các vị lãnh đạo khác đối với ông Phần hai giới thiệu một số
tư liệu quý và các bài viết của một số đồng nghiệp, bạn bè và học trò, thể hiện tài năng,đức độ và sự cống hiến của bác sĩ Trần Hữu Tước Cuốn sách cho thấy, bác sĩ Trần HữuTước là một trong những trí thức có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển nền
y tế Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ là một trí thức được đào tạo bởi nền giáo dục của NhậtBản Năm 1949, ông từ Nhật trở về nước, lên Việt Bắc tham gia kháng chiến, có vai tròquan trọng đối với việc giảng dạy, đào tạo ở trường Đại học Y Ông là người nghiên cứuthành công cách sản xuất thuốc penicilin - loại thuốc kháng sinh mới này đã góp phầnrất lớn trong điều trị chống nhiễm khuẩn cho thương binh và nhân dân trong kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này Cuốn sách Đặng Văn Ngữ - Một trí tuệ Việt Nam [57] giới thiệu những bài viết của GS Đặng Văn Ngữ khi tham gia kháng chiến
chống Pháp, những đóng góp của ông trong việc xây dựng nền y học Việt Nam
Nghiên cứu về Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên có một cụm xuất bản
phẩm như: Tiếp bước chân cha (Hồi ký viết về Giáo sư Nguyễn Văn Huyên) (2003) [71]; Nguyễn Văn Huyên - Một tấm gương đáng quý và cao đẹp (2007) [125] gồm các
bài viết về giáo dục trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ và viết về sự nghiệp nghiên
cứu dân tộc học Ngoài ra, có thể kể đến cuốn Nguyễn Văn Huyên - cuộc đời và sự nghiệp [124], giới thiệu các bài viết, bài nghiên cứu, đánh giá của những người cùng
thời, học trò, đồng nghiệp về Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên; giới thiệu một số bài viếtchọn lọc của ông Nguyễn Văn Huyên trong công tác giáo dục Ông Nguyễn VănHuyên là người được đào tạo đại học và sau đại học ở Pháp, về nước nghiên cứu khoahọc và dạy học Ông là một người trong nhóm bốn trí thức gửi điện yêu cầu Bảo Đạithoái vị và là người ở cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục lâu nhất (1946-1975) Ông đãgóp phần xây nên nền quốc học toàn dân, xóa bỏ tình trạng 95% dân số mù chữ, tổ
Trang 26chức một mạng lưới trường học rộng khắp, xây dựng nên một hệ thống giáo dục kháhoàn chỉnh Cuốn sách là tài liệu góp phần giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn vềđóng góp của một trí thức đối với ngành giáo dục - một thành công quan trọng trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Đặc biệt, Nguyễn Văn Huyên toàn tập - văn hóa và giáo dục Việt Nam (3 tập)
[126], với trên 3000 trang, nội dung quan trọng của bộ sách là một số văn bản dochính ông xử lý và ký trong thời gian ở cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục, phản ánhnhững giai đoạn chính của 30 năm phát triển ngành giáo dục Việt Nam (1945-1975).Tập III dành riêng cho sự nghiệp hoạt động giáo dục của ông Nguyễn Văn Huyêntrong suốt thời kháng chiến chống Pháp với cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1946đến 1954) Theo dõi nội dung trong cuốn sách này, có thể thấy những hoạt động rất đadạng của ông Nguyễn Văn Huyên: những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo đượchoàn thành trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, những bài đượcđăng trên báo, tạp chí, những báo cáo, tham luận tại các hội nghị, thư gửi học sinh,giáo viên, những tổng kết kinh nghiệm ở trong nước và ngoài nước Đặc biệt tập IIIlần đầu tiên công bố hệ thống các chỉ thị, nghị quyết, công văn biên bản họp liên quanđến các hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục do Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên ký.Theo dõi, nghiên cứu các văn bản gắn với hoạt động của Bộ trưởng sẽ giúp các nhànghiên cứu có thể hiểu được nhiều vấn đề lịch sử giáo dục nước ta, những tư tưởng,quan điểm và mối quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục
Nguyễn Xiển là một trí thức có ảnh hưởng từ trước Cách mạng tháng Tám Saunăm 1945, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc bộ kiêm Giám đốc Nha khítượng, rồi làm Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (một Đảng quy tụ nhiều trí thứcyêu nước) Trong kháng chiến chống Pháp, ông là một trong những trí thức có vai tròlớn trong việc xây dựng nền đại học Việt Nam; là người đã tham gia mở lớp toán họchàm thụ và toán học đại cương cho học sinh tốt nghiệp trung học; là người soạn hai bộsách Toán học đại cương và Cơ học thuần lý – những giáo trình bằng tiếng Việt thuộcloại đầu tiên, được dùng cho sinh viên hai trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao
cấp trong kháng chiến Cuốn sách Giáo sư Nguyễn Xiển - Cuộc đời và sự nghiệp [69]
gồm nhiều nội dung: giới thiệu hồi ký của ông Nguyễn Xiển từ khi còn nhỏ cho tới khi
Trang 27tham gia kháng chiến chống Pháp, cũng như viết về quá trình tham gia, đóng góp vàocông tác khí tượng thủy văn ở Việt Nam; một số bài viết của ông Nguyễn Xiển về vấn
đề khí tượng thủy văn, đặc biệt giới thiệu những bài viết thể hiện quan điểm của ôngđối với trí thức, như: chính sách cụ thể đối với trí thức, vấn đề đãi ngộ đối với tríthức… Công trình cũng bao gồm một số bài viết của đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu,nhà báo về cuộc đời hoạt động chính trị và những đóng góp của ông Nguyễn Xiển đốivới ngành khí tượng thủy văn Những bài viết của ông Nguyễn Xiển về trí thức đượcđăng trên Báo Tổ quốc ở các thời điểm lịch sử cụ thể, thể hiện nhận thức của ôngtrong từng giai đoạn
Công trình Luật sư Nguyễn Hữu Thọ hành trình yêu nước [32] của Nguyễn Hữu
Châu đã khắc họa chân dung và “hành trình yêu nước “của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ một nhà trí thức tiêu biểu của miền Nam - một tên tuổi lớn gắn liền với các sự kiện lớncủa đất nước và các phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam từ những năm 1950.Thông qua cuốn sách này cũng có thể biết được hoạt động kháng chiến kiến quốc củamột số trí thức ở Nam bộ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp
-Giáo sư Ngụy Như KonTum là một người được đào tạo bài bản tại Pháp và tốtnghiệp thạc sĩ Lý-Hóa tại Pháp Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm và là mộttrong những trí thức hoạt động mạnh mẽ khi Cách mạng tháng Tám nổ ra Vai trò củaông đối với nền giáo dục kháng chiến nổi bật ở các cương vị: như Tổng giám đốcTrung học vụ, Đổng lý sự vụ Bộ Quốc gia Giáo dục và là Giám đốc trường Sư phạmcao cấp ở Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc, 1951) – nơi đào tạo nhiềucán bộ để phục vụ cho đất nước sau năm 1954 Ông là vị hiệu trưởng lâu nhất của
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Những bài viết trong cuốn sách Giáo sư Ngụy Như KonTum [68] được chia làm hai phần, một phần tập hợp các bài viết của người thân,
học trò và đồng nghiệp về con người đời thường, về quá trình phấn đấu, trưởng thành
và đóng góp cho ngành giáo dục của ông; phần thứ hai là sưu tập các bài viết về sựnghiệp giáo dục, khoa học và quản lý của ông
Giáo sư Hoàng Minh Giám là một trí thức tên tuổi, từng giữ chức Thứ trưởng,
rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong suốt thời gian 1946-1954 Công trình Hoàng Minh Giám - Người con của thế hệ vàng [80], trong đó có hồi ký, nói rõ lý do theo cách
Trang 28mạng của Hoàng Minh Giám; các bài phát biểu, bài viết của ông về lĩnh vực ngoạigiao, văn hóa và tầng lớp trí thức Việt Nam Một phần nội dung quan trọng khác giớithiệu một số bài viết, một số bài nghiên cứu, đánh giá của đồng nghiệp, đồng chí vàcác nhà nghiên cứu về vai trò của Hoàng Minh Giám trong các lĩnh vực khác nhau Vềngoại giao, Hoàng Minh Giám là trợ thủ đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạtđộng ngoại giao những năm 1946-1947 Ông đã có đóng góp tích cực trong việc kếthợp ngoại giao với quân sự, đoàn kết toàn dân, kết hợp đối nội và đối ngoại Bộtrưởng Hoàng Minh Giám đã chỉ đạo ngành Ngoại giao làm tốt chức năng tham mưu,hoàn thành xuất sắc việc thiết lập những mối quan hệ ngoại giao đầu tiên của nướcViệt Nam non trẻ với thế giới bên ngoài; đã góp phần tích cực vào việc xây dựng tổchức ban đầu của Bộ Ngoại giao và lãnh đạo công tác của Bộ ở An toàn khu Việt Bắctrong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Giáo sư Tạ Quang Bửu là một trí thức tiêu biểu của Việt Nam ở thế kỷ 20, vớinhiều đóng góp cho kháng chiến chống Pháp và xây dựng nền khoa học nước nhà
Cuốn sách Tạ Quang Bửu - Nhà khoa học tài năng, uyên bác [158] giới thiệu một số
bài viết chọn lọc của GS Tạ Quang Bửu đối với các vấn đề giáo dục, khoa học và giớithiệu các bài viết vừa thể hiện tình cảm, sự tri ân, hoặc nghiên cứu, đánh giá vai tròcủa Tạ Quang Bửu với nền giáo dục Việt Nam
Nghiên cứu và viết về luật sư Phan Anh có một loạt ấn phẩm: bài viết Luật sư Phan Anh, nhà trí thức yêu nước của Nguyễn Phan Thọ, 2014; Luật sư Phan Anh của
các tác giả Đinh Xuân Lâm và Nguyễn Văn Khoan, 2011 Trước Cách mạng thángTám, luật sư Phan Anh từng là thành viên tích cực của tạp chí Thanh Nghị và từng cóthời gian làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim Sau tháng8-1945, ông giữ nhiều vị trí quan trọng: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, thành viên Hội đồng
Quốc phòng tối cao của Chính phủ Hồ Chí Minh Đặc biệt, công trình Phan Anh - Một niềm tự hào của trí thức Việt Nam, 2015 [133], đã giới thiệu một số bài viết tâm huyết
của luật sư Phan Anh đối với Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là những suy nghĩ được
thể hiện trong các bài viết như: Hồ Chí Minh và con đường của những người trí thức,
Đi theo con đường của Bác Ngoài ra còn có những bài viết của các nhà nghiên cứu,
Trang 29bạn bè cùng thời về những đóng góp của luật sư Phan Anh cho nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hòa.
Luật sư Vũ Trọng Khánh là người có nhiều đóng góp cho nền tư pháp Việt Nam
từ những ngày đầu mới thành lập nước Công trình Luật sư Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên [113] do tập thể tác giả Nguyễn Hồng Anh, Nguyễn Hữu
Nghĩa, Vũ Trọng Hùng, Vũ Trọng Khải thực hiện đã trình bày tiểu sử và sự nghiệphoạt động cách mạng của Luật sư Vũ Trọng Khánh từ những ngày hoạt động cáchmạng đầu tiên; những năm tháng đấu tranh vì hoà bình và thống nhất Tổ quốc; hoạtđộng và cống hiến của Luật sư Vũ Trọng Khánh trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tư phápđầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Giáo sư Hoàng Xuân Nhị xuất thân trong một gia đình nho học quan lại, nhưngsớm Tây du để tìm kiếm chân trời tri thức mới Sau Cách mạng tháng Tám, ông trở vềnước và từng giữ chức Ủy viên Hành chính Kháng chiến Nam bộ, phụ trách văn hóagiáo dục, Viện trưởng Viện Văn hóa kháng chiến Nam bộ, Giám đốc Sở giáo dục Nam
bộ Hoạt động và ảnh hưởng của Hoàng Xuân Nhị là khá lớn đối với sự phát triển của
nền giáo dục ở Nam bộ Viết về ông có nhiều bài nhưng cuốn Giáo sư Hoàng Xuân Nhị [67], 2015 đã phác thảo chân dung Giáo sư Hoàng Xuân Nhị, khẳng định giá trị
trong các công trình nghiên cứu khoa học mà ông đã thực hiện qua các giai đoạn khácnhau Thông qua những bài viết của các học trò, các nhà nghiên cứu về Hoàng XuânNhị, có thể hiểu thêm những đóng góp của ông đối với nền giáo dục ở Nam bộ trongkháng chiến chống Pháp
Viết về các trí thức có nhiều đóng góp với giáo dục, có cuốn Chân dung - một thế
kỷ Đại học Quốc gia Hà Nội [30], ra đời nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đại học
Quốc gia Hà Nội Ấn phẩm này tập hợp và tôn vinh một số gương mặt tiêu biểu, đại diệncho nhiều thế hệ các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý Đặc biệt, trong cuốn sách này
có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về các nhân vật trí thức có vai trò, tầm ảnh hưởng lớntrong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Nhà nghiên cứu, nhà báo Hàm Châu là người đã dành phần lớn thời gian củacuộc đời để nghiên cứu về trí thức Năm 2014, sau gần nửa thế kỷ tìm tòi và viết, ông
xuất bản công trình Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại – một số chân dung [33].
Trang 30Công trình đồ sộ này giới thiệu 56 gương mặt trí thức có những đóng góp, khát khaocống hiến, phụng sự xã hội cũng như chinh phục đỉnh cao trí tuệ Họ không chỉ gồmcác nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư, các nhà lý thuyết nhiều danh vọng mà còn cả nhữngngười thầy, những nghệ sĩ Họ trưởng thành và lập thân trong bối cảnh đất nước nhiềubiến động, không phải lúc nào cũng sẵn điều kiện để làm việc nhưng họ vẫn tìm cáchthích nghi và vượt qua để làm việc và cống hiến Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọcđánh giá cuốn sách này là “một bích họa hoành tráng, phản ánh giai đoạn lịch sử ViệtNam đương đại” Theo đó, liên quan đến đề tài luận án, có thể nghiên cứu, tìm hiểu vàtham khảo những tài liệu ở phần 1 với nhiều gương mặt trí thức tiêu biểu, điển hình.
Viết về những trí thức ở nước ngoài về nước tham gia kháng chiến có công trình
Những trí thức về nước theo Bác Hồ đi kháng chiến [163] của các tác giả Hồng Thái và
Kiều Khải, 2014 Công trình này tập hợp một số bài viết giới thiệu về chân dung của một
số trí thức theo Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến chống Pháp sau năm 1945 nhưTrần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh và Trần Hữu Tước; khắc họa chân dungChủ tịch Hồ Chí Minh qua tình cảm của những trí thức từng tiếp xúc với Người; phác họachân dung những cộng sự, những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những conngười góp sức vào công cuộc kiến thiết đất nước từ nền cộng hoà còn non trẻ, dần từngbước trở thành nước Việt Nam hùng mạnh
Bộ trưởng Vũ Đình Hòe là một nhân chứng tham gia trực tiếp vào những sựkiện trọng đại của dân tộc trong những ngày Cách mạng tháng Tám và kháng chiến
chống Pháp Trong công trình Gương mặt những người cùng thế hệ [84], 2015 ông đã
phác họa chân dung một số trí thức có công lớn với đất nước trong kháng chiến, trong
đó có những người giữ chức vụ rất cao, có những người có “vấn đề về lý lịch”, cónhững người suốt một thời gian dài chẳng được nhắc đến, mãi đến gần đây mới đượcnhìn nhận lại như ông Nguyễn Hữu Đang, Đỗ Đức Dục…
Viết về những người có đóng góp trong lĩnh vực tài chính có công trình Gia đình doanh nhân Trịnh Văn Bô và những cống hiến cho nền tài chính cách mạng Việt Nam [25] Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết của một số tác giả, các nhà
nghiên cứu sử học về gia đình doanh nhân Trịnh Văn Bô, Trịnh Văn Bính Đây là ấnphẩm khắc họa gần như trọn vẹn những đóng góp to lớn, thầm lặng của một gia đình
Trang 31doanh nhân yêu nước với cách mạng, gắn với những sự kiện xây dựng nền tài chính
trong cuộc kháng chiến chống Pháp Trong công trình Trí thức Việt Nam xưa và nay
[175] do Trung tâm Unesco phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng kết hợpvới Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam thực hiện, 2006, giới thiệu một số bài viết của cácnhà nghiên cứu, học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Xiển, Tạ Ngọc Liễn, Trần QuốcVượng về các trí thức xưa và nay Trong cuốn sách dầy hơn 1700 trang này cũng giớithiệu về những đóng góp và vai trò của 165 trí thức xưa và nay, đặc biệt trong đó chú
ý, nhấn mạnh tới nhiều gương mặt trí thức đã tham gia vào cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp (1945-1954) Đây là tài liệu hữu ích, góp phần nhìn nhận vai trò vàđóng góp của trí thức Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, là tàiliệu tham khảo quan trọng đối với đề tài luận án
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.2.1 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đạt được
Qua khảo cứu các công trình khoa học có liên quan đã được công bố, có thểthấy rằng vấn đề trí thức trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là vấn đề thuhút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình trên chủ yếu đề cậpđến bốn vấn đề:
Một là, Đảng với vấn đề trí thức trong sự nghiệp cách mạng nói chung Nhữngnội dung này chủ yếu được đề cập trong những công trình nghiên cứu sau năm 1954,trong đó khái quát một cách khá chung về vai trò của Đảng đối với trí thức, quan điểmcủa Đảng đối với việc trọng dụng và phát triển người trí thức trong thời kỳ cách mạngcũng như trong thời đại mới
Hai là, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Những công trình, bài viết nói trên cũng trình bày vấn đề trí thức vớicách mạng một cách khái quát, trong đó đề cập đến nhiệm vụ của người trí thức đối với
sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, vấn đề trọng dụng trí thức tuy nhiên có nhiều bàiviết trình bày khá giống nhau về quan điểm của Người đối với việc trọng dụng nhân tàisau cách mạng tháng Tám; trình bày những bài nói, bài viết của người liên quan đến tríthức , trong đó có nói đến một số trường hợp cụ thể (Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước )
Trang 32Ba là, trong một số công trình trình bày các sự kiện liên quan đến một số tríthức trong kháng chiến chống Pháp Về những công trình này, tính đến nay số lượngchưa thật nhiều Tuy nhiên, những công trình này, hoặc đề cập đến các sự kiện lịch sửlớn, trong đó chỉ điểm qua hoạt động của một vài trí thức, hoặc đề cập tới nhưng chưađầy đủ về vai trò của trí thức trong các lĩnh vực khác nhau
Bốn là, một số công trình viết về cuộc đời và sự nghiệp của các trí thức đượcxuất bản trong thời gian gần đây đã giúp nhìn nhận rõ ràng và đầy đủ hơn vai trò củanhững trí thức Tuy nhiên, những cuốn sách này cũng chỉ dừng lại ở phạm vi miêu tảriêng lẻ tiểu sử, hoạt động, đánh giá từng trí thức, chưa có cái nhìn nhận, đánh giá cảmột thế hệ trí thức trong kháng chiến chống Pháp, và đặt trong các mối quan hệ lịch
sử, chính trị Về vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cần phải có những nghiêncứu nghiêm chỉnh về trí thức tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, để có đượcbức tranh tương đối hoàn chỉnh về trí thức với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sựlãnh đạo của Đảng Muốn vậy, ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến động về số lượng vàtính chất hoạt động của những người có học vấn, lao động trí óc nói chung, cần phảithiết lập và nghiên cứu hồ sơ của những trí thức tiêu biểu, đại diện qua từng thời kỳ.Trên thực tế, thời gian gần đây, nhiều ấn phẩm viết về những đóng góp của các trí thứcđối với sự nghiệp cách mạng đã được ấn hành, đó là một nguồn tư liệu quan trọngphục vụ cho việc tìm hiểu về thế hệ trí thức này
1.2.2 Những vấn đề chưa giải quyết thỏa đáng
Qua khảo cứu những công trình nghiên cứu, NCS thấy rằng chưa có một côngtrình nào đề cập đầy đủ hoạt động, vai trò của trí thức tham gia cuộc kháng chiếnchống Pháp Các công trình nghiên cứu ở trên chưa làm rõ được toàn diện về vai trò,đóng góp của trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp
Trong suốt những năm 1930-1941, vai trò lịch sử (thuộc về lực lượng của cáchmạng) của người trí thức chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng Nhưng từ Hội nghịTrung ương 6 (11-1939), và nhất là từ Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), Đảng Cộngsản Đông Dương đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, xác định kẻ thù củacách mạng, đồng thời coi trí thức là một lực lượng quan trọng, cần phải lôi kéo, tậphợp Trong suốt giai đoạn ấy, hoạt động yêu nước của trí thức Việt Nam chủ yếu được
Trang 33thể hiện trong các hoạt động báo chí, nghiên cứu, các phong trào phổ biến kiến thức,dạy học nhằm chờ thời cơ Từ sau Cách mạng tháng Tám, vai trò của trí thức đượcnhìn nhận, đánh giá cao hơn Họ trực tiếp tham gia vào hoạt động từ trong Chính phủ,nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng ở các bộ, ngành cho đến cơ sở và thể hiện vai trò đósuốt cuộc kháng chiến chống Pháp Mặc dù có đề cập đến chủ trương, chính sách củaĐảng với trí thức, thậm chí đề cập đến vai trò của một số trí thức, nhưng những côngtrình trên chưa làm rõ được một số vấn đề sau:
+ Nguồn gốc xuất thân, học vấn của trí thức Việt Nam trong kháng chiến chốngthực dân Pháp
+ Lý giải nguyên nhân vì sao trí thức lại đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến(trong đó có nhiều trí thức từ bỏ nghề nghiệp, địa vị ở nước ngoài để tham gia khángchiến)
Đặc biệt, chưa thấy công trình nào thể hiện mối quan hệ giữa chính sách củaĐảng đối với trí thức và sự thay đổi chính sách ấy đối với trí thức trong cuộc khángchiến chống Pháp; chính sách của Đảng giúp người trí thức tự cải biến như thế nào đểthành người trí thức mới cả trong nhận thức lẫn hành động đặng phục vụ tốt nhất chokháng chiến và kiến quốc Kể từ sau chiến dịch Biên giới (1950), mối quan hệ giữaViệt Nam với các nước trong phe Xã hội chủ nghĩa được mở rộng hơn; Việt Nam cũngbắt đầu nhận được nhiều sự ủng hộ về vật chất của các nước, đặc biệt là Trung Quốc,Liên Xô Dưới sự ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc, Việt Nam tiến hành giảm tô,giảm tức, cải cách ruộng đất Nhiều cuộc chỉnh huấn, rèn cán chỉnh quân được tổchức ở các cơ quan, đoàn thể, trong các tổ chức Đảng, trong quân đội đã góp phầnlàm thay đổi nhận thức của trí thức về nhân sinh quan, về thực tại đồng thời cũng đemlại một không khí khác hơn so với giai đoạn trước Một số nhà nghiên cứu cho rằng[73], sau Cách mạng tháng Tám có thể chia ra làm hai giai đoạn phát triển của khángchiến và cũng là của trí thức Việt Nam Những năm 1945-1950, mặc dù là những nămkháng chiến, kiến quốc nhưng lại là giai đoạn hết sức “lãng mạn” của tầng lớp trí thứcyêu nước Từ năm 1950 trở đi là giai đoạn du nhập nhanh chóng và mạnh mẽ nhiềuquan niệm về đấu tranh giai cấp và tư tưởng Mao Trạch Đông, của Đảng Cộng sảnTrung Quốc vào Việt Nam, mà ảnh hưởng trực tiếp qua các phong trào chính huấn tư
Trang 34tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức Trên thực tế, sau năm 1950, giới trí thứctiếp tục thể hiện được vai trò lớn đối với cuộc kháng chiến, quan điểm của Đảng vẫn là
đề cao tầm quan trọng của trí thức Tuy nhiên, cũng từ năm 1950 trở đi, người trí thức
bị nhìn nhận dưới cái nhìn giai cấp, những hạn chế của trí thức được phân tích mộtcách thường xuyên hơn trong sinh hoạt chính trị và công tác, cách suy nghĩ và tầmhoạt động của họ dường như không còn được “lãng mạn” như trước đó
Cũng chưa có công trình nào thể hiện nổi bật và hệ thống những đóng góp củatrí thức trong các lĩnh vực: văn hóa giáo dục, y tế, kinh tế tài chính, quốc phòng…Trong các công trình nghiên cứu lịch sử, các tác giả đa phần chú ý đề cập tới các sựkiện, những thành tựu quân sự là chính Gần đây, có một số bài nghiên cứu, nhìn nhận,đánh giá vai trò của một số trí thức tiêu biểu khi tham gia Cách mạng tháng Tám,kháng chiến chống Pháp, hoặc những đóng góp chung của cuộc đời họ cho ngành, chođất nước Tuy nhiên, những bài viết đó vẫn còn ít, chưa nhìn nhận một cách khái quát,đánh giá vai trò của cả một thế hệ trí thức tham gia kháng chiến, đặc biệt là đặt họtrong bối cảnh, trong những lĩnh vực hoạt động của họ
1.2.3 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đạt được, đánh giá đúng nhữngvấn đề còn chưa giải quyết thỏa đáng trong những nghiên cứu trước; đồng thời căn cứvào mục đích, nhiệm vụ cụ thể đặt ra, luận án sẽ tập trung giải quyết những nội dung
cơ bản dưới đây
Luận án tập trung phân tích, đánh giá những chủ trương, quan điểm của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1954) Luận án cũng góp phần làm rõ bối cảnh tình hình trong từng giai đoạn của cuộckháng chiến chống Pháp và tác động của nó tới sự hoạt động, tham gia của trí thức vàocuộc kháng chiến
(1945-Luận án sẽ đi sâu phân tích làm rõ vai trò của trí thức tham gia kháng chiếnchống thực dân Pháp qua hai giai đoạn: 1945-1950 và 1951-1954 Đặc biệt làm nổi bậtvai trò và những đóng góp của trí thức trong các lĩnh vực: giáo dục, y tế, văn học-nghệthuật, kinh tế-tài chính, quân sự quốc phòng
Trang 35Luận án cũng nêu lên những đặc điểm, hạn chế của trí thức tham gia khángchiến chống thực dân Pháp, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm về việc vậnđộng trí thức, phát huy vai trò của trí thức trong kháng chiến chống Pháp, để phát huyvai trò của trí thức trong điều kiện đất nước hiện nay.
Tiểu kết chương 1
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) với đỉnh cao là chiếnthắng Điện Biên Phủ là biểu hiện cho khát vọng độc lập tự do của người dân ViệtNam Trải qua 9 năm kháng chiến, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã làm chothực dân Pháp và những kẻ xâm lược thấy được tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường,
tự lực cánh sinh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giải phóngdân tộc Việt Nam khỏi chế độ thực dân
Nhiều công trình nghiên cứu về thời kỳ này đã khẳng định: khác với cuộckháng chiến chống Mỹ, nhân dân Việt Nam nhận được nhiều sự ủng hộ, hỗ trợ của cácnước trong phe Xã hội chủ nghĩa và bè bạn quốc tế; trong cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp, nhất là trong giai đoạn đầu, hoàn toàn phải tự lực cánh sinh, Đảng vàChính phủ xác định tính chất của cuộc chiến là trường kỳ, tự lực cánh sinh; vừa khángchiến, vừa xây dựng đất nước Với sự chèo lái tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh, đất nước từng bước vượt qua những khó khăn, đương đầu với thử thách và đưacuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi Một trong những vấn đề quan trọng trong khángchiến là vấn đề con người - nhân tố không thể thiếu trong mọi thành công, đã đượcĐảng nhìn nhận thấu đáo Mọi nhân tài, không phân biệt từng làm việc trong chế độ cũhay chế độ mới, miễn là đi theo kháng chiến và phụng sự Tổ quốc, đều được mời ragiúp nước Chính sách trọng dụng người tài đã thu hút được các trí thức đem hết tâmsức và trí tuệ ra phục vụ nhân dân, đóng góp to lớn vào những thắng lợi chung củacuộc kháng chiến, ở mọi ngành, mọi lĩnh vực
Các công trình nghiên cứu đã được điểm luận là những tư liệu rất quý báu, đãcho thấy nhiều khía cạnh về trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dânPháp Tuy nhiên, các công trình đó chưa cung cấp cho người đọc thấy được một cách
có hệ thống, toàn diện về hoạt động, đóng góp của trí thức Việt Nam trong các lĩnhvực cụ thể, trên bình diện cả nước
Trang 36Với những nguồn tư liệu trên và cách tiếp cận như đã được trình bày trong mụcIII -Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết, đề tài nghiên cứu “Tríthức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” sẽ góp phầngiải quyết được những vấn đề còn tồn tại nói trên.
Trang 37CHƯƠNG 2 TRÍ THỨC VIỆT NAM THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945-1950 2.1 Khái niệm về trí thức và khái quát về trí thức Việt Nam đến năm 1945
2.1.1 Khái niệm chung về trí thức
Hiện nay, có nhiều cách lý giải về khái niệm người trí thức Từ “tầng lớp tríthức” (intelligentsia) được biết đến lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, sau đó
từ “người trí thức” (intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau công xã Paris (1871) mang ýnghĩa khá rộng, đó là những người không chỉ có trình độ học vấn hay trình độ chuyênmôn cao, mà còn phải là những người dành sự quan tâm và đưa ra chính kiến của mìnhtrước những vấn đề chính trị, xã hội [73]
Theo tiếng Latinh, thuật ngữ “trí thức” (intelligentia) chỉ những người có hiểubiết, có tri thức Tầng lớp xã hội này bao gồm những người chuyên lao động trí óc, cótrình độ chuyên môn cao
Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học của Liên Xô thì “trí thức là một
nhóm xã hội gồm những người lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cầnthiết cho ngành lao động đó Sự tồn tại của trí thức với tính cách là một nhóm xã hộiđặc biệt gắn liền với sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí óc và lao độngchân tay” [196, tr 360]
V.I.Lênin định nghĩa về trí thức: “Trí thức bao hàm không những chỉ những nhàtrước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu củanhững nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc” [198 tr 372]
Ở Việt Nam, khi tiếp cận khái niệm trí thức, có nhiều cách lý giải khác nhau:
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa trí thức là “tầng lớp xã hội làm nghềlao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâurộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh” [94, tr 582]
Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X (số27-NQ/TW, ngày 6-8-2008) nói rõ: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình
độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng
Trang 38tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giátrị đối với xã hội” [55, tr 81].
Trong nghiên cứu về giới trí thức hiện nay có nhiều khái niệm lý giải thế nào là tríthức, xét trên vai trò và năng lực của người trí thức trong xã hội hiện đại Có thể kể ra lý giảicủa TS Ngô Thị Phượng: “Trí thức là một tầng lớp xã hội bao gồm những người lao động trí
óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng sáng tạo tri thức khoa họcmới, đồng thời, truyền bá và ứng dụng trí thức này vào thực tiễn, góp phần to lớn vào sựphát triển và trình độ văn minh của nhân loại” [147, tr 16]
PGS.TS Đức Vượng thì đưa ra khá nhiều điểm về vai trò, đặc trưng của ngườitrí thức:
“1) Trí thức là người lao động trí óc 2) Trí thức là người có trình độ học vấn cao.3) Trí thức là người có cống hiến chất xám cho xã hội 4) Trí thức là người cónhững sáng kiến, phát minh, có những công trình nghiên cứu khoa học 5) Tríthức là người sống có nhân cách, gọi là “nhân cách trí thức”, trung thực trongcông vụ và trong nghiên cứu, giảng dạy 6) Trí thức là người không cơ hội trongchính trị và trong nghiên cứu khoa học 7) Trí thức là người biết đào tạo, giúp đỡ,nâng đỡ đồng nghiệp vươn lên trong nghiên cứu khoa học và trong công vụ 8)Trí thức là người biết gắn lý luận với thực tế đời sống xã hội 9) Trí thức là người
có tư duy độc lập, có chính kiến rõ ràng 10) Trí thức là người biết hòa đồng đờisống riêng tư của mình vào đời sống xã hội Trí thức xã hội chủ nghĩa là ngườiyêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, gắn bó với nhân dân, góp phần cùng với nhândân nói chung xây dựng xã hội phát triển lành mạnh” [202, tr 25]
2.1.2 Khái niệm về trí thức Việt Nam trong thời kỳ 1945-1954
Để hiểu về người trí thức đầy đủ nhất, cần phải đặt họ trong bối cảnh xã hội củatừng thời kỳ lịch sử nhất định Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự vươn lên của trithức nhân loại, sự tiến bộ của văn minh nhân loại được tổng kết qua mấy nghìn nămkhông thể là hằng số chung quy chiếu cho mọi thời điểm cụ thể trong lịch sử Vì vậy,hiểu về người trí thức trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cũng phảiđặt họ trong bối cảnh xã hội, lịch sử ấy Chúng ta không nên so sánh cách hiểu vềngười trí thức trong thời kỳ này với cách hiểu rộng rãi hơn về người trí thức trong thời
Trang 39đại ngày nay, vì trình độ dân trí lúc đó, vì trong hoàn cảnh những năm kháng chiếnchống Pháp, để phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc, để huy động được sứcngười sức của và tinh thần đoàn kết dân tộc, khái niệm có phần nôm na ấy hoàn toàn
có thể hiểu được
Năm 1948, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Một
người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức” [88, tr 472] Người nhấn mạnh: “Tríthức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấusinh sản Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu
xã hội Khoa học xã hội do đó mà ra Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác Mộtngười học xong đại học, có thể gọi là có trí thức” [87, tr 472]
Khi ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gọi những người trí thức nói chung bằng cụm
từ “lao động trí óc”, tức không phải là những công nhân, nông dân – những người lao độngchân tay Người từng nhấn mạnh: “Đảng Lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân,nông dân và lao động trí óc yêu nước nhất, hăng hái nhất, cách mạng nhất…” Trong nhiềuvăn bản, nhiều bài nói của Người, có lúc Người dùng từ trí thức, lúc lại dùng từ lao động trí
óc để chỉ một đối tượng, đó là những trí thức Vậy họ là những ai? “Là thầy giáo, thầythuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy…” [87, tr 202]
Hiện nay, thuật ngữ “trí thức” được sử dụng một cách tương đối phong phú TheoPGS.TS Đức Vượng thì trong các văn kiện Đảng thường sử dụng hai thuật ngữ là “tầng lớptrí thức”, “đội ngũ trí thức Còn các sách báo thì sử dụng thuật ngữ này một cách đa dạnghơn như: “tầng lớp trí thức”, “đội ngũ trí thức”, “lao động trí óc”, “người trí thức”, “giới tríthức”, “lực lượng trí thức”, “bộ phận trí thức”… Tuy nhiên, không nên rạch ròi phân địnhxem việc sử dụng thuật ngữ này như thế nào mới là chính xác, mà nên đặt vào từng bốicảnh, hoàn cảnh cụ thể: “Có thể khi viết trong văn cảnh liên hệ với giai cấp công nhân, giaicấp nông dân thì viết “tầng lớp trí thức”, nhưng khi diễn đạt trong văn cảnh về tổ chức, xãhội, đoàn thể thì gọi là “đội ngũ trí thức”, “lực lượng trí thức”, “giới trí thức”, “những tríthức”, “lao động trí óc” [202, tr 29]
Trong luận án này, NCS muốn đề cập đến những trí thức, những người lao độngtrí óc, có trình độ văn hóa nhất định, hoạt động trong những lĩnh vực như giáo dục, y
Trang 40tế, quốc phòng, văn học nghệ thuật, kinh tế-tài chính… Luận án sẽ xem xét sự đónggóp của họ như thế nào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
2.1.3 Trí thức Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam đến Cách mạng tháng Tám 1945
Trí thức Việt Nam ra đời và phát triển theo tiến trình lịch sử dân tộc Chínhnhững thanh niên trí thức tiên tiến giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin đã đứng ra thành lậpĐảng Cộng sản Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập thì hoạt động yêunước của tầng trí thức được thu hút dần dưới sự lãnh đạo và ảnh hưởng của Đảng đượcthể hiện dưới nhiều hình thức bí mật, công khai, nửa công khai, nửa bí mật
Sau một thời gian bị khủng bố gắt gao (sau cao trào Xô viết Nghệ-Tĩnh) thì giaiđoạn 1932-1935, phong trào cách mạng dần được khôi phục Một bộ phận trí thức đãtham gia các tổ chức bí mật của Đảng như: Công hội, Thanh niên, Phụ nữ và một số tổchức công khai như Hội đọc sách… Trí thức tiến bộ sử dụng báo chí công khai để phêphán một số quan điểm phản động của tay sai thực dân, góp phần tuyên truyền quanđiểm cách mạng và giác ngộ tinh thần yêu nước trong nhân dân Trí thức cũng hăng háitham gia cuộc tranh luận về văn học nghệ thuật, xoay quanh vấn đề nghệ thuật vị nghệthuật hay nghệ thuật vị nhân sinh
Trong giai đoạn 1936-1939, trí thức yêu nước tích cực tham gia các phong tràophản đối chiến tranh, chống đế quốc, chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít, đòi tự do, cơm
áo, hòa bình
Trên cơ sở phong trào Đông Dương Đại hội, năm 1936 ở Nam kỳ đã có hàngtrăm Ủy ban hành động được thành lập, thu hút hàng ngàn học sinh, sinh viên, trí thứctham gia mít tinh, biểu tình… đòi các quyền tự do dân chủ Ở Hà Nội, đông đảo tríthức đã tham gia ký vào bản Dân nguyện gửi Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp, đòi
ân xá tù chính trị, thực hiện các cải cách dân chủ Học sinh, sinh viên, trí thức ở nhiềunơi đã tổ chức các cuộc họp bàn và ký vào bản Dân nguyện…
Song song với phong trào Đông Dương đại hội, đông đảo trí thức trẻ đã thamgia nghiên cứu sách báo tiến bộ công khai, mang tên nhóm nghiên cứu mác xít Tháng10-1937, Hội Ái hữu cựu học sinh Thăng Long được thành lập Đầu năm 1938 dưới sựlãnh đạo của Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội, Đoàn Thanh niên Dân chủ được thành lập,