1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử hội nông dân bắc kạn

240 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI GIỚI THIỆU Nông dân, nông nghiệp và nông thôn luôn là vấn đề lớn trong các chặng đường lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nông dân, nông nghiệp, nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của qúa trình phát triển. Đối với Bắc Kạn một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, những vấn đề tác động tới nông dân, nông nghiệp, nông thôn ngày nay cần được giải quyết trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Ngay từ khi thành lập, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục, tổ chức, động viên nông dân và xây dựng đội quân chính trị quần chúng cách mạng. Ngày 14101930, tại kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất (khóa I), quyết định thành lập tổ chức Nông hội đỏ. Sự kiện đó đánh dấu bước trưởng thành quan trọng về chất của nông dân Việt Nam. Lần đầu tiên nông dân có đoàn thể cách mạng của mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để phù hợp với nhiệm vụ cách mạng, tổ chức Hội Nông dân Việt Nam nói chung và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn nói riêng liên tục phát triển dưới nhiều hình thức và tên gọi như: Nông hội đỏ, Hội tương tế ái hữu, Hội Nông dân phản đế, Hội Nông dân cứu quốc, Nông hội, Hội Nông dân giải phóng, Hội Nông dân tập thể… Để giúp hiểu rõ về quá trình hình thành tổ chức, phương thức hoạt động, sự đóng góp của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ quê hương; thực hiện chủ trương của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Tỉnh uỷ Bắc Kạn, Hội Nông dân tỉnh quyết định tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (19302010) nhằm khẳng định những giá trị lịch sử, văn hoá của nông dân qua các thời kỳ, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, tinh thần yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Qua đó phát huy truyền thống đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (19302010) là một công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, khẳng định vị thế, tiềm năng kinh tế, xã hội, tinh thần yêu nước kiên cường của nông dân qua các giai đoạn dựng nước, giữ nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những giá trị khoa học về lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân của tỉnh cũng là nguồn nội lực để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập. Tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (19302010) đáp ứng nguyện vọng và lòng mong mỏi của nhân dân trong tỉnh và độc giả, đặt cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ, khách quan, chân thực về hoạt động của một đoàn thể chính trị xã hội; góp phần tôn vinh và ghi nhận phong trào cách mạng của nông dân, các thế hệ cán bộ của Hội đã không quản gian khổ góp sức cho quê hương. Qua đó, xác nhận được thành tích tiêu biểu của nông dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn trong những chặng đường lịch sử, đồng thời thấy rõ vai trò của nông dân, sự đoàn kết, gắn bó giữa nông dân và Hội Nông dân của tỉnh. Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (19302010) giúp người đọc rút ra những điều bổ ích trong lĩnh vực xây dựng phong trào nông dân, tổ chức Hội, quản lý quần chúng, xã hội ở địa phương. Những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa gợi mở phương hướng nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân. Mặc dù công trình đã được chú trọng nghiên cứu, biên soạn công phu, nhóm biên soạn đã có nhiều cố gắng, song cuốn sách vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; chúng tôi mong được bạn đọc cảm thông và góp ý chân thành để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn. Nhân dịp xuất bản cuốn sách, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nhân chứng lịch sử và Ban Địa phương, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, giúp đỡ để cuốn sách được xuất bản. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. TM BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC KẠN CHỦ TỊCH Lưu Văn Quảng Mở đầu BẮC KẠN ĐỊA LÝ, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Bắc Kạn là một trong những tỉnh miền núi, vùng cao, có tổng diện tích tự nhiên là 4.857,21 km2. Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng. Tỉnh lỵ Bắc Kạn cách Thủ đô Hà Nội 170 km theo đường quốc lộ số 3 và là tỉnh có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng. Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, thấp dần từ Bắc Tây Bắc xuống Nam Tây Nam. Đặc điểm nổi bật nhất của địa hình Bắc Kạn là cấu tạo dạng cánh cung. Về cơ bản có thể chia làm 3 khu vực chính: Khu vực phía Đông là các dãy núi kéo dài của cánh cung Ngân Sơn, trải dài gần 100 km từ nam Cao Bằng đến đông Phú Lương (Thái Nguyên) với nhiều khối núi lớn. Đây là dãy núi có cấu tạo tương đối thuần nhất với kết cấu địa chất thuận lợi cho phát triển kinh tế lâm nghiệp. Khu vực phía Tây là khối núi cao chót vót với dải hữu ngạn cánh cung sông Gâm trải dài từ núi Phja Dạ (tên cổ là Phja Già) thuộc huyện Pác Nặm. Khu vực phía Nam là vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi với những dải đồi cao trên 200 m và những dãy núi thấp 400500 m. Trong vùng có nhiều thung lũng rộng, với hệ thống sông, suối dày đặc tạo nên các bãi bồi phù sa thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Bắc Kạn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng có hai mùa rõ rệt: Mùa hạ và mùa đông. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.6002.100mm. Mưa nhiều vào tháng 6 đến tháng 9. Tổng số giờ nắng trung bình là 1.3001.400 giờ. Độ ẩm không khí trung bình 8485%, cao nhất vào tháng 7 (8889%), thấp nhất vào tháng 12 (8082%). Do nằm sâu trong đất liền, lại có các dãy núi cao che chắn, nên Bắc Kạn ít chịu ảnh hưởng của bão . Bắc Kạn có mạng lưới sông, suối khá dày đặc, bao gồm lưu vực của hệ thống sông Thái Bình (gồm sông Cầu và các nhánh của sông Cầu), hệ thống sông Kỳ Cùng (gồm các nhánh sông Bắc Giang và sông Na Rì) và các nhánh sông Năng, sông Gâm, sông Phó Đáy. Trong đó, sông Cầu là hệ thống sông lớn nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn do hai nhánh chính là sông Nặm Ún và Nặm Cắt bắt nguồn từ dãy Phja Bjoóc hợp lại ở Pác Cáp. Sông Cầu đoạn trong nội địa Bắc Kạn dài khoảng 103 km. Sông Năng là sông có độ dài thứ hai sau sông Cầu (87 km) và chảy qua địa giới các huyện Pác Nặm, Ba Bể. Ngoài sông Cầu và sông Năng, Bắc Kạn còn có sông Bắc Giang (Tả Lương), sông Hiến (Tả Thán), sông tiểu Phó Đáy, sông Yên Thịnh và nhiều suối nhỏ khác. Với mạng lưới sông, suối dày đặc đã cung cấp nguồn nước dồi dào để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp. Phần lớn hệ thống sông của Bắc Kạn là đầu nguồn, lòng sông, suối hẹp, có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, nên thuận lợi cho phát triển thủy điện và thu hút khách du lịch bằng những cảnh quan hùng vĩ. Bắc Kạn còn được thiên nhiên ban tặng Hồ Ba Bể . Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta; là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ có diện tích rộng khoảng 500 ha, nằm trong khu vực vườn Quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống. Đến nay, nhiều loài động vật quý hiếm vẫn còn như phượng hoàng đất, gà lôi, voọc mũi hếch, cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên... Với khung cảnh nên thơ, hùng vĩ, vườn Quốc gia Ba Bể trở thành danh lam thắng cảnh thu hút du khách trong nước và quốc tế. Là một trong những tỉnh miền núi với những quần sơn đá vôi, nên trong tổng diện tích 4.795,54 km2, Bắc Kạn chỉ có 6% đất nông nghiệp, trong đó đất feralit chiếm tỷ lệ đáng kể. Đất feralit màu vàng nhạt trên núi cao thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp; feralit màu đỏ nâu trên vùng núi đá vôi có khả năng trồng hoa màu, cây công nghiệp; feralit màu vàng có khả năng trồng các loại cây lương thực. Ngoài ra, Bắc Kạn còn có đất phù sa ven sông thích hợp cho việc trồng lúa. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp và trồng cây công nghiệp. Bắc Kạn là một trong những tỉnh có diện tích rừng tự nhiên vào loại lớn nhất vùng Đông Bắc nước ta, với 301.722,78 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 89,60%, rừng trồng chiếm 10,40% tổng diện tích rừng. Rừng Bắc Kạn được phân bố ở tất cả các huyện và thị xã nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện Bạch Thông, Chợ Mới, Na Rì, Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn và thị xã Bắc Kạn. Rừng Bắc Kạn hiện còn nhiều loại động, thực vật quý hiếm. Trong đó, hệ thực vật có 148 họ, 573 chi, 826 loài (300 loài cây họ gỗ, 300 loài cây thuốc). Hiện nay, 52 loài đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như đinh, ngũ gia bì gai, trai lý, nghiến, chò đãi, trầm hương, cầu điệp; hệ động vật có 366 loài, 110 họ thuộc 28 bộ, trong đó có 63 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam . Có thể nói, rừng Bắc Kạn là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật của vùng Đông Bắc với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm. Cùng với nguồn tài nguyên đất, tài nguyên rừng, Bắc Kạn còn có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, phong phú. Trong đó, chì và kẽm là hai khoáng sản có trữ lượng lớn nhất của tỉnh và cả nước. Ngoài ra, Bắc Kạn còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng sa khoáng, vàng gốc, bạc, kẽm, chì, mănggan, đá vôi, đá quý, vật liệu xây dựng… Đây là một trong những thế mạnh, là tiền đề quan trọng để Bắc Kạn phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và vật liệu xây dựng. Bắc Kạn có những điều kiện thuận lợi, song cũng có không ít những khó khăn, thách thức trong quá trình chế ngự thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, nông dân Bắc Kạn dưới sự lãnh đạo của Đảng không ngừng phấn đấu vươn lên phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn và giành được nhiều thành tựu mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội. II. ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH BẮC KẠN QUA CÁC THỜI KỲ Theo các nguồn sử liệu, Bắc Kạn thời thượng cổ là phần đất của nước Xích Quỷ, sau được tách ra thành vương quốc Thuy Đến. Khi nhà nước Văn Lang ra đời, các Vua Hùng chia nước ta làm 15 bộ, vùng đất Bắc Kạn thuộc bộ Vũ Định, do một Lạc tướng đứng đầu. Khoảng đầu công nguyên, chế độ lạc tướng chấm dứt, bộ chuyển thành huyện, nhưng riêng tên Vũ Định vẫn được giữ như cũ. Dưới thời Bắc thuộc, đời Hán, đất Bắc Kạn thuộc huyện Long Biên. Dưới thời thuộc Đường, Bắc Kạn thuộc huyện Tân Xương, Châu Phong. Năm 938, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, quân và dân ta đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc của dân tộc. Trong điều kiện đất nước độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Đại Việt. Thời nhà Lý, nước ta được chia làm 24 lộ, đất Bắc Kạn thuộc các lộ Cảm Hóa, Vĩnh Thông, Hạ Nông. Đến đời Trần, nước ta gồm 12 lộ, 4 trấn và 14 châu, huyện. Bắc Kạn thuộc châu Thái Nguyên. Năm 1397, nhà Trần đổi châu Vũ Lặc thành trấn Thái Nguyên, nên Bắc Kạn thuộc trấn Thái Nguyên. Khi nhà Minh xâm lược nước ta, chúng chia Đại Việt thành 15 phủ, 31 châu, 31 huyện. Trấn Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên với 11 huyện, đất Bắc Kạn nằm trong địa phận 3 huyện Cảm Hoá, Vĩnh Thông, Long Thạch. Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ quyền, các đơn vị hành chính của đất nước vẫn như cũ. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo. Lúc này, Bắc Kạn thuộc đạo Thái Nguyên. Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469), trên cơ sở định lại bản đồ hành chính, nhà Lê chia nước ta làm 12 thừa tuyên. Đạo Thái Nguyên được đổi thành Thừa tuyên Ninh Sóc, do đó đất Bắc Kạn thuộc Thừa tuyên Ninh Sóc. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), lấy lại tên cũ và gọi là xứ Thái Nguyên, gồm các phủ Thông Hoá, Phú Bình và Cao Bằng. Phủ Thông Hoá gồm huyện Cảm Hóa và châu Bạch Thông , như vậy Bắc Kạn vẫn thuộc xứ Thái Nguyên. Cuối thế kỷ XVI, cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Mạc, Trịnh, Nguyễn dẫn đến tình trạng cát cứ và xung đột liên miên. Từ năm 1592 đến những năm 70 của thế kỷ XVII, xứ Thái Nguyên bị chia cắt, phần phía Bắc thuộc nhà Mạc, phần phía Nam thuộc họ Trịnh. Sau chiến tranh Lê Mạc, Cao Bằng trước thuộc xứ Thái Nguyên được tách ra để lập một đơn vị hành chính trực thuộc triều đình phong kiến trung ương, gọi là trấn Cao Bằng. Do đó, lúc này trấn Thái Nguyên chỉ còn lại phần đất hai phủ Phú Bình và Thông Hóa, thủ phủ đặt tại Bình Kỳ (nay là Đa Phúc). Vùng đất Bắc Kạn thuộc phủ Thông Hóa, trấn Thái Nguyên. Năm 1807, vua Gia Long cắt phần đất phía Nam về Bắc Ninh, thủ phủ Thái Nguyên chuyển về Đồng Mỗ, nay thuộc thành phố Thái Nguyên. Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), vua Nguyễn Thánh Tổ đổi trấn thành tỉnh. Đất Bắc Kạn về cơ bản vẫn thuộc phủ Thông Hoá, tỉnh Thái Nguyên . Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính. Theo Nghị định ngày 2081891 và Nghị định ngày 991891 của Toàn quyền Đông Dương, địa bàn Bắc Kạn thuộc hai đạo quan binh: Đạo quan binh 1 (Tiểu quân khu Thái Nguyên) Đạo quan binh 2 (Tiểu quân khu Lạng Sơn). Ngày 1141900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lấy phần đất thuộc phủ Thông Hoá lập ra tỉnh Bắc Kạn, gồm các châu Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn), Cảm Hoá (sau đổi thành Na Rì). Tiếp đó, ngày 2561901, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách tổng Yên Đĩnh thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nhập vào châu Bạch Thông (Bắc Kạn). Tháng 71901, thị xã Bắc Kạn và châu Bạch Thông được thành lập. Năm 1916, theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ, một số tổng của châu Bạch Thông, Chợ Rã và tổng An Biên Thượng thuộc châu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tách ra để thành lập châu Chợ Đồn. Lúc này, Bắc Kạn gồm 5 châu (Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Chợ Rã, Chợ Đồn), 20 tổng và 103 xã. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, hệ thống địa lý hành chính tỉnh Bắc Kạn căn bản vẫn được giữ như cũ, chỉ có một số thay đổi nhỏ. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, để đáp ứng yêu cầu là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam đánh Mỹ, ngày 2141965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Quyết định số 103QĐTVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ngày 1441967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 50CP đổi thị xã Bắc Kạn thành thị trấn Bắc Kạn, trực thuộc huyện Bạch Thông. Ngày 29121978, theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng nhân dân hai tỉnh Cao Lạng và Bắc Thái, kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng. Tỉnh Bắc Thái còn 11 đơn vị hành chính trực thuộc, đó là các huyện Na Rì, Bạch Thông, Chợ Đồn, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên. Ngày 1671990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 262HĐBT giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông để thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái. Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngày 6111996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ mười đã phê chuẩn việc chia lại địa giới hành chính một số tỉnh. Tỉnh Bắc Thái được chia thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ngày 111997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập trên cơ sở tách bốn huyện, thị xã thuộc tỉnh Bắc Thái cũ và hai huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Các huyện Ngân Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn. Tháng 81998, thành lập thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch Thông. Ngày 2852003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 562003NĐCP về việc thành lập huyện Pác Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể. Đến nay, Bắc Kạn gồm 8 đơn vị hành chính, đó là thị xã Bắc Kạn và các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Pác Nặm, với tổng số 122 xã, phường, thị trấn. III. CƯ DÂN, VĂN HÓA Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ học cho thấy, trên khu vực các dãy núi đá vôi Bắc Sơn, Ngân Sơn, sông Gâm, ngay từ rất sớm đã có con người cư trú. Trong các thung lũng hẹp vùng chân núi, người Tày cổ đã sớm xuất hiện và chinh phục thiên nhiên, khai phá đất đai, trồng lúa nước và cùng cư dân Việt cổ tạo dựng nền văn minh đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, cư dân sinh sống trên đất Bắc Kạn ngày càng đông đúc. Đến nay, Bắc Kạn có khoảng 299.904 người. Trong đó, người Tày chiếm số lượng lớn nhất và được phân bố ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng thấp, thị trấn, thị xã. Người Nùng có mối quan hệ lịch sử với người Tày. Trải qua quá trình phát triển đã hòa nhập vào cộng đồng người Tày, còn những người Nùng hiện nay mới di chuyển đến khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, trong đó có Bắc Kạn vào khoảng hơn 200 năm, tương tự như lịch sử cư trú của người Mông và một bộ phận người Dao. Người Nùng cư trú ở vùng thấp xen kẽ với người Tày và người Kinh, trong đó nơi tập trung đông nhất là huyện Na Rì. Người Kinh có mặt ở Bắc Kạn từ thời Nam Bắc triều. Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đặc biệt là từ sau ngày hòa bình lập lại (1954), trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự phát triển kinh tế xã hội ở Bắc Kạn, số lượng người Kinh tăng lên nhanh chóng. Họ chủ yếu tập trung ở vùng thấp, đô thị và có đóng góp nhất định cho sự phát triển ở Bắc Kạn. Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao quanh chân núi. Với tập quán du canh du cư, kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào nương rẫy, nên địa vực cư trú thiếu ổn định. Theo các tài liệu thư tịch, một số nhóm Dao đã có mặt khá sớm tại Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, nhưng do thiếu cơ sở kinh tế ổn định nên trong khi các nhóm mới tiếp tục chuyển đến thì các nhóm cư trú trước đó lại chuyển sang các tỉnh lân cận . Người Mông, Sán Chay (nhóm Sán Chỉ) có mặt ở Bắc Kạn muộn hơn với số lượng ít. Theo sử cũ, người Hoa có mặt ở Bắc Kạn khá sớm. Đại Nam nhất thống chí ghi: Chợ Hà Hiệu, chợ Quảng Khê, chợ Bắc Phấn, chợ Dương Quang (có phố), chợ Yên Đĩnh (phố xá trù mật), người Thanh, người Thổ (tức Tày), người Kinh, người Nùng: đều ở châu Bạch Thông. Một bộ phận người Hoa tiếp tục chuyển cư đến Bắc Kạn vào đầu thế kỷ XX. Tuy các dân tộc ở Bắc Kạn xuất hiện sớm, muộn với số lượng nhiều ít khác nhau nhưng đều đoàn kết một lòng, cùng nhau chinh phục thiên nhiên để lao động sản xuất, xây dựng nền văn hóa độc đáo, đa màu sắc, bảo vệ quê hương, đất nước. Các cư dân vùng thấp có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác vùng thung lũng và hệ thống thủy lợi đa dạng với phai, mương, cọn, lốc, lìn… Cư dân cư trú ở vùng cao với kỹ thuật khai thác ruộng bậc thang và nương rẫy dốc. Ngoài trồng lúa, đồng bào còn trồng các loại hoa màu, lương thực, các loại rau, đậu và nhiều loại cây ăn quả khác như cam, quýt, mận, hồng. Người Tày và người Nùng chăn nuôi gia súc, gia cầm khá phát triển như trâu, bò, ngựa, gà, vịt, ngan, đồng thời một số nơi có tập quán đánh bắt cá trên sông hồ, nuôi cá ruộng… Các nghề thủ công gia đình khá đa dạng, đáng chú ý là nghề dệt vải và thổ cẩm. Dệt thổ cẩm của người Tày và Nùng là một trong những nghề truyền thống với trình độ kỹ thuật khá cao, hoa văn trang trí phong phú, mô phỏng các loại hình hoa lá thiên nhiên gần gũi với cuộc sống hàng ngày của đồng bào như hoa nhồi, hoa lá mía… Nam giới thì thành thạo trong đan lát, các nghề mộc dân gian. Ở một số vùng, đồng bào còn có nghề rèn, nghề làm gạch ngói như làng Thạch Ngõa ở chân núi Phja Bjoóc… Hiện nay, nhiều nghề thủ công đã bị mai một trước sự phát triển của khoa học công nghệ và sự giao lưu kinh tế, nhưng nhiều ngành nghề như trồng bông dệt vải, làm gạch ngói vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển góp phần phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế văn hóa. Trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, nhưng người dân Bắc Kạn vẫn luôn tự hào vì đã đoàn kết xây dựng nên đời sống văn hóa phong phú mang đậm nét đặc trưng của nhân dân các dân tộc miền núi vùng Đông Bắc như lễ hội Lồng tồng, Lễ hội cầu mùa, Tết Thanh minh… Ngoài ra, Bắc Kạn còn nổi tiếng với những làn điệu dân ca như hát páo dung của người Dao; múa khèn của người Mông; hát then của người Tày, hát sli, hát lượn của người Tày Nùng… Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tuy có những phong tục, tập quán sinh hoạt khác nhau, song nhân dân các dân tộc Bắc Kạn luôn đoàn kết, hòa đồng, tương thân tương ái, tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của nhau, cùng nhau xây dựng nên bức tranh văn hóa đặc sắc, độc đáo của Bắc Kạn, làm phong phú thêm nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam. IV. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG Theo sử cũ, cuối thế kỷ II trước công nguyên, khi quân nhà Hán (Trung Quốc) tiến đánh đất Nam Việt, nhân dân Bắc Kạn đã tranh thủ thời cơ theo con cháu của Thục Phán là Tây Vu Vương đấu tranh nhằm khôi phục nền độc lập của Tổ quốc. Trong cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới thời Bắc thuộc đã có mặt đông đảo các tầng lớp nhân dân Âu Việt vùng miền núi phía Bắc . Mùa xuân năm 40 sau công nguyên, dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hai Bà Trưng, tổ tiên của người Tày, Nùng ở Bắc Kạn đã nhất tề đứng lên cùng nhân dân cả nước đấu tranh. Trong suốt 1.000 năm dưới sự thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhân dân các dân tộc Tày Nùng tham gia đấu tranh lật đổ ách thống trị của nhà Lương thế kỷ thứ VI, lập nước Vạn Xuân. Vào đời Nguyên Hòa (806820), các cuộc nổi dậy của nhân dân Tày, Nùng, Tráng (Choang) chống phong kiến nhà Đường đã được cả quan lại, bách binh tích cực hưởng ứng . Thế kỷ thứ XI, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, các đạo quân miền núi dưới sự chỉ huy của Dương Tự Minh tham gia đánh bại quân xâm lược nhà Tống ngay trên đường tiến quân của chúng từ Thái Nguyên tới Phú Lương, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Trong các cuộc đấu tranh đó, người dân Bắc Kạn tự hào vì đã đóng góp đáng kể sức người, sức của và trực tiếp tham gia đánh địch từ trận đầu khi chúng còn hung hăng, càn dỡ, đến trận cuối khi chúng phải nhục nhã cút khỏi đất nước ta. Đầu thế kỷ XV, dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Minh, cùng với nhân dân cả nước, nông dân Bắc Kạn hưởng ứng tích cực cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Trần Nguyên Khang, Nguyễn Đa Bí. Sau đó, phong trào lan rộng dưới sự chỉ huy của Chu Sư Nhan, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chấn, Nguyễn Trà, Dương Thế Chân, Ông Lão. Đặc biệt trong thời kỳ này, ở Bắc Kạn, các dân tộc thiểu số còn tổ chức “nghĩa binh áo đỏ”, chiến đấu rất linh hoạt, dũng cảm. “Nghĩa binh áo đỏ” hoạt động trong một thời gian dài, dựa vào địa hình hiểm trở của núi rừng Việt Bắc và sau đó mở rộng ra cả vùng Tây Bắc và miền Tây Thanh Hóa Nghệ An, gây cho địch nhiều tổn thất . Trong những năm 14191420, nông dân các dân tộc Bắc Kạn tập hợp đông đảo dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Ngã, một cựu nô tỳ của nhà Trần. Trong vòng vài tháng, đội quân đã lên tới hàng vạn người, làm chủ cả vùng rừng núi rộng lớn từ Việt Bắc đến Đông Bắc. Trong khi hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lê Ngã, nông dân Bắc Kạn còn bí mật hướng về cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi, trong đó tiêu biểu là Lưu Nhân Chú và Phạm Cuống. Đến thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực. Trong gần 100 năm, xứ Thái Nguyên (bao gồm cả Bắc Kạn ngày nay) trở thành bãi chiến trường của hai tập đoàn phong kiến Trịnh Mạc. Năm 1596, sau trận giao tranh đẫm máu ở vùng hồ Ba Bể (Chợ Rã), về cơ bản chiến sự tạm thời chấm dứt, quân Mạc rút lên cố thủ Cao Bằng. Tuy nhiên, cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến đã làm cho đời sống nông dân Bắc Kạn vô cùng khổ cực. Trong lúc này, vì chưa có điều kiện can thiệp bằng vũ lực, phong kiến Trung Quốc dùng thủ đoạn chính trị xảo quyệt sắc phong cho vua Lê, đồng thời ép nhà Lê để nhà Mạc quản trị đất Cao Bằng và một bộ phận tỉnh Bắc Kạn, để duy trì mầm mống nội chiến và tạo cơ sở cho các cuộc chiến tranh xâm lược sau này. Trong các thế kỷ XVIXVIII, chế độ phong kiến nước ta bước vào suy vong, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với giai cấp thống trị ngày càng thêm sâu sắc, nhiều cuộc khởi nghĩa liên tiếp bùng nổ. Trong hoàn cảnh đó, nông dân Bắc Kạn đã nhanh chóng hướng về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771), giúp đỡ nghĩa quân trong việc đánh đổ tập đoàn phong kiến Lê Trịnh, cũng như có nhiều đóng góp về sức người, sức của trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Thanh (1789). Năm 1802, Nguyễn Ánh dựa vào sức mạnh của bọn tư bản phương Tây, đánh bại nhà Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn. Dưới ách thống trị của nhà Nguyễn, nông dân phải chịu bao cảnh cơ cực, bần hàn bởi thuế khóa nặng nề, vô lý và chính sách cai trị bạo tàn của bọn phong kiến phản động. Song với ý chí quật cường, không chịu khuất phục trước bạo tàn, nhân dân cả nước nói chung, nông dân Bắc Kạn nói riêng nhiều lần nổi dậy chống lại cường hào, ác bá. Nông dân Bắc Kạn nhanh chóng tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân, một tù trưởng vùng Bảo Lạc (Cao Bằng). Nghĩa quân làm chủ cả vùng Việt Bắc, chiếm Thái Nguyên, bắt quan lại nhà Nguyễn, thích vào mặt dòng chữ “quan tỉnh hay ăn hối lộ” rồi đuổi đi. Tại các căn cứ quân sự chủ yếu ở châu Bạch Thông và huyện Cảm Hóa, nghĩa quân được sự ủng hộ, bảo vệ, che chở của nông dân đã đánh nhiều trận oanh liệt, bẻ gãy những cánh quân lớn của phong kiến nhà Nguyễn. Triều đình nhà Nguyễn phải chật vật trong nhiều năm mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Để trả thù nghĩa quân, triều đình nhà Nguyễn đã tàn sát, cướp phá dã man nhiều vùng ở Bắc Kạn, hy vọng đè bẹp tinh thần phản kháng của nông dân. Nhưng nông dân Bắc Kạn không bị khuất phục, đã nhiều lần nổi dậy và tham gia các cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Hoàng, Nông Văn Sĩ, Bế Văn Hoành, Bế Văn Cận… . Tuy các cuộc khởi nghĩa trên lần lượt thất bại, song đã thể hiện tinh thần đấu tranh quật khởi, kiên cường trước cường quyền áp bức của nông dân Bắc Kạn. Cuối thế kỷ XIX, triều đình phong kiến nhà Nguyễn suy tàn, các nước tư bản phương tây đang bành chướng thế lực xuống các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trước tình hình đó, nông dân Bắc Kạn cùng nhân dân cả nước một lần nữa vùng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước. Trải qua quá trình phát triển lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã chinh phục thiên nhiên, đoàn kết cùng nhau lao động sản xuất, đấu tranh bảo vệ quê hương, Tổ quốc và xây dựng nên những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc. Đây là tiền đề, là nền tảng quan trọng để nông dân và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn kiên cường, dũng cảm tham gia vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo. Chương I PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN BẮC KẠN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG (19301945) I. CHÍNH SÁCH CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN BẮC KẠN TRƯỚC NĂM 1930 Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng bắn vào bán đảo Sơn Trà và đổ bộ vào Đà Nẵng chính thức xâm lược nước ta. Tiếp đó, chúng tiến đánh Sài Gòn Gia Định và hai lần tấn công Bắc Kỳ. Trước sự tấn công xâm lược của thực dân Pháp, vua quan triều đình nhà Nguyễn chống trả yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng dâng nước ta cho thực dân Pháp. Sau khi đánh chiếm về cơ bản các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ngày 1931884, thực dân Pháp đánh chiếm thành Thái Nguyên, nhưng vấp phải sự đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân, trong đó có đông đảo lực lượng nông dân. Vì thế, ngày 1051884, chúng mới dám cho đóng quân trong thành Thái Nguyên và từng bước mở rộng đánh chiếm các khu vực thuộc Bắc Kạn. Ngày 1321888, đạo quân do đại tá Xécvie (Servière) chỉ huy từ Bảo Lạc (Cao Bằng), kéo xuống đánh chiếm châu lỵ Chợ Rã. Tiếp đó, ngày 1721888, thực dân Pháp chiếm Ngân Sơn. Ngày 1711889, dưới quyền chỉ huy của tướng Boócnhi Đêbo (Borgni Đébor), thực dân Pháp đưa một đạo quân lớn gồm 924 tên (không kể 1.200 người bị bắt đi vận tải lương thực, vũ khí) đánh chiếm Chợ Mới. Trong các năm 18911895, thực dân Pháp lần lượt mở rộng chiếm đóng Na Rì (1891), Bạch Thông (1892), Chợ Đồn (1895). Như vậy, trước sự kháng cự mạnh mẽ của nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn, nên phải sau hơn 10 năm, thực dân Pháp mới cơ bản hoàn thành việc đánh chiếm Bắc Kạn. Để nhanh chóng bình định và vơ vét sức người, sức của ở Bắc Kạn, ngay trong các cuộc hành quân xâm lược, thực dân Pháp đã xây dựng nhiều đồn bốt, điếm canh, nhà tù, như đồn binh ở Hà Hiệu, Chợ Rã (11889); Bạch Thông, Ngân Sơn (111894)… Hệ thống cứ điểm, màng lưới đồn, bốt, điếm canh ngày càng mọc lên như nấm trong toàn tỉnh. Năm 1930, riêng vùng nông thôn bảy châu, huyện phía nam đã có tới 372 điếm canh với đội quân khủng bố đông đảo. Năm 1926, kể cả Thái Nguyên và Bắc Kạn, dân cư chỉ hơn 10 vạn, nhưng lực lượng trong bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã lên tới hàng nghìn tay súng. Thực dân Pháp còn tăng cường xây dựng bộ máy quân sự để dễ bề đàn áp. Ở thị xã có giám binh nắm quyền cao nhất về quân sự, ở châu có châu đoàn, ở tổng có tổng đoàn, cấp xã có xã đoàn và lính dõng. Tính đến năm 1926, ở Bắc Kạn và Thái Nguyên, bộ máy quân sự của thực dân Pháp có khoảng 200 lính Âu Phi, hơn 2.000 lính khố xanh, khố đỏ, 2.000 lính dõng và gần 200 lính cơ canh gác ở các phủ, châu, huyện và các lực lượng vũ trang trá hình khác1. Sau khi chiếm đóng Bắc Kạn, thực dân Pháp chia Bắc Kạn thành 5 châu, (huyện): Bạch Thông, Chợ Rã, Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn. Dưới châu là tổng và xã. Đứng đầu tỉnh là một viên Công sứ người Pháp, nắm quyền về chính trị, quân sự, trực tiếp làm Chánh án toà án đệ nhất (tư pháp đối với người Âu) và kiêm chức Chánh án tòa án đệ nhị cấp (tư pháp đối với người bản xứ). Đứng đầu mỗi châu là viên tri châu. Ở các tổng có chánh, phó tổng; các xã có lý trưởng và phó lý trưởng. Từ năm 1931, ở cấp xã còn có Hội đồng kỳ mục. Năm 1940, ở cấp tổng chúng đặt thêm chức tăng thiết để giúp việc thu thuế. Để phục vụ cho chính sách chia để trị, thực dân Pháp còn thành lập chính quyền riêng của một vài dân tộc thiểu số. Theo đó, người Dao được phép có động trưởng ở cơ sở, hoặc Chánh Mán ở cấp tổng; quản chiểu, phó quản chiểu ở cấp châu. Chúng đặt ra chế độ thống tra đối với người Mông, bang trưởng đối với người Hoa… Thực dân Pháp ra sức tuyên truyền cho bộ máy này, coi đó như là quyền tự trị dân tộc. Nhưng thực chất đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao sống du canh, du cư, xen kẽ với các dân tộc khác, nên bản thân bộ máy mà chúng áp đặt cho họ không có lãnh thổ riêng. Do đó, các dân tộc thiểu số vùng cao vừa phải chịu ách áp bức bóc lột của bộ máy cai trị chung, vừa phải chịu sự áp bức của bộ máy chính quyền dân tộc tự trị mà thực dân Pháp đặt ra. Lợi dụng sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, các vùng, thực dân Pháp ra sức tuyên truyền xuyên tạc để phá hoại truyền thống đoàn kết dân tộc. Chúng tung ra luận điệu nguyên nhân khổ cực của đồng bào du canh du cư là do người vùng thấp đã chiếm hết ruộng bãi; người vùng thấp lại bị kích động oán thù dân buôn bán ở thành thị. Thực dân Pháp còn quy định người Dao phải thực hiện tô lao dịch cho lý trưởng người Tày mỗi khi phát nương. Ngay trong hàng ngũ quan lại địa phương, lý trưởng ở vùng thấp được trao quyền lực và bổng lộc nhiều hơn quản chiểu ở vùng cao. Để xây dựng, củng cố chính quyền tay sai bản xứ trở thành công cụ đắc lực trong việc vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân, thực dân Pháp đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ tay sai. Năm 1888, ngay trên đường hành quân xâm lược các châu, huyện phía Bắc tỉnh, chúng đã tuyển mộ tay sai trong đám lưu manh, buôn lậu để dẫn đường và giúp bọn này lập bộ máy chính quyền phản động. Sau khi bình định Bắc Kạn, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh đào tạo tay sai, trong đó chủ yếu là lựa chọn con em của tầng lớp trên và đặc cách cho ăn học, để đào tạo họ trở thành lớp tay sai mới, trung thành khôn khéo và nhiều mánh lới. Tính chung trong 50 năm, từ năm 1888 đến năm 1938, thực dân Pháp đã đào tạo được gần 60 quan lại từ các bang tá đến tuần phủ, phục vụ trong bộ máy nguỵ quyền của chúng ở Bắc Kạn. Nhiều tên tay sai đắc lực được bọn thực dân trọng dụng, cho làm tri châu, tuần phủ và mặc sức cho vơ vét, cướp bóc tài sản của nhân dân. Như vậy, bằng nhiều hình thức, với những thủ đoạn chính trị thâm độc, thực dân Pháp đã thiết lập được ở Bắc Kạn bộ máy cai trị với chính sách vô cùng hà khắc. Thông qua bộ máy này, chúng ra sức vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân Bắc Kạn. Người nông dân phải chịu hàng trăm thứ thuế nặng nề và vô lý, đặc biệt là thuế đinh (thuế thân) và thuế điền do thực dân Pháp và tay sai đặt ra. Đàn ông từ 18 đến 60 tuổi phải nộp thuế đinh. Thuế đinh được chia làm hai loại: Loại nội tịch (những người có tài sản), mỗi đầu người phải nộp 3 đồngnăm. Loại ngoại tịch (những người không có tài sản hoặc từ nơi khác đến) mỗi đầu người phải nộp 1,5 đồngnăm. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, thực dân Pháp đã năm lần điều chỉnh mức thuế, đưa thuế thân tăng lên gấp hơn hai lần so với ban đầu1. Thực dân Pháp chia thuế điền làm 3 loại: nhất đẳng điền 7 đồngmẫu; nhị đẳng điền 5 đồngmẫu; tam đẳng điền 4 đồngmẫu. Bọn quan lại kỳ hào luôn tìm cách tăng thuế. Chúng thường dùng thủ đoạn “gia đẳng”: đổi nhị đẳng điền thành nhất đẳng điền, tam đẳng điền thành nhị đẳng điền. Trong nhiều trường hợp việc tăng thuế chưa đáp ứng được những thiếu hụt về ngân sách, thực dân Pháp còn đặt thêm các khoản phụ thu khác. Năm 1931, do ngân sách Liên bang Đông Dương thiếu hụt, chúng đặt ra một khoản phụ thu 15% đối với thuế thân và thuế điền (trừ ruộng đất người Âu) để thu thêm gần 30.000 đồng. Ngoài thuế đinh và thuế điền, nông dân Bắc Kạn còn phải chịu hàng loạt thứ thuế vô lý khác, bị ép buộc phải bán nông sản cho chính quyền thực dân với giá rẻ mạt, nhiều khi còn bị cướp trắng. Ai trốn thuế, lậu thuế mà bị chúng phát hiện phải ngồi tù, bị đánh đập dã man và phải chạy tiền đút lót để được yên thân. Nông dân Bắc Kạn còn điêu đứng bởi chế độ phu phen tạp dịch. Hàng năm, nông dân bị bắt đi phu từ hai đến ba đợt, mỗi đợt kéo dài từ 10 đến 12 ngày để xây đồn bốt, làm cầu đường, xây dựng sân bay, vận chuyển, khiêng cáng bọn quan lại đi công cán… Ngay cả trong những ngày mùa, nông dân vẫn bị bắt đi phu, nên việc đồng áng, cày cấy không kịp thời vụ, nguy cơ mùa vụ thất thu, đói kém luôn đe dọa. Nông dân muốn được ở nhà cày cấy, gieo trồng kịp thời vụ buộc phải bán thóc, trâu, bò, ruộng, vườn để lấy tiền nộp cho chúng. Thực dân Pháp và tay sai còn trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, nhất là ở khu vực các huyện phía nam của tỉnh. Những khu vực trù phú hàng trăm, hàng nghìn hecta lần lượt bị chính quyền thực dân khoanh lại để cấp cho đồng bọn. Một số tên nhiều thế lực chiếm những vùng đất màu mỡ rộng hàng vạn hecta. Chỉ tính riêng hai đồn điền của tên Raaynô và Ghiôm đã chiếm tới 25.181 ha. Tên Tuần phủ Hoàng Đức Hinh (Chợ Rã) lợi dụng quyền thế chiếm hết ruộng đất tốt ở xã Thượng Giáo và lợi dụng họ hàng quan lại chiếm đoạt dần số ruộng lân cận của nông dân... Vì thế, nông dân dần bị mất hết ruộng đất, phải bán sức lao động trong các hầm mỏ, đồn điền, trang trại của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Cùng với việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân, thực dân Pháp còn đẩy mạnh khai thác, vơ vét tài nguyên thiên nhiên. Ngay sau khi đặt được ách thống trị ở Bắc Kạn, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác với quy mô lớn các mỏ vàng ở Chợ Rã, Na Rì; mỏ bạc ở Ngân Sơn, Chợ Đồn; mỏ kẽm ở Chợ Đồn... Nhiều mỏ khoáng sản quý được chúng đầu tư với số vốn hàng chục triệu đồng. Trong những năm 19201925, Bắc Kạn được coi là tỉnh đứng đầu về khai thác hầm mỏ ở Bắc Kỳ. Tính chung, từ năm 1914 đến năm 1941, thực dân Pháp đã cướp đi 353.716 tấn quặng kẽm. Riêng năm 1941, chúng đã khai thác 5,5 tấn quặng chì, 180 tấn măng gan. Để dễ bề cai trị, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách ngu dân, hạn chế mở mang văn hóa dân tộc, duy trì, khuyến khích những phong tục tập quán lạc hậu, các tệ nạn xã hội hòng đẩy nhân dân Bắc Kạn chìm đắm trong vòng ngu tối. Vì thế, trong một thời gian dài, chúng không mở trường học. Về sau do nhu cầu đào tạo lực lượng tay sai người bản xứ, chúng buộc phải mở một số lớp học (cấp I) ở thị xã, nhưng chỉ con em của bọn địa chủ, cường hào, quan lại theo học. Năm 1922, cả Bắc Kạn và Thái Nguyên có 6 trường cấp I không toàn cấp, nhưng đến năm 1932 rút xuống còn 5 trường. Năm 1939, nền giáo dục của chúng phát triển nhất, nhưng Bắc Kạn cũng chỉ có 900 học sinh từ vỡ lòng đến cấp I và 60 giáo viên; 98% nhân dân mù chữ, nhất là các dân tộc vùng cao . Như vậy, thực chất nền giáo dục của thực dân Pháp là đào tạo một số người có chút ít văn hóa để làm tay sai cho chúng. Cùng với chính sách ngu dân, thực dân Pháp còn đầu độc người dân bằng thuốc phiện, rượu cồn và các tệ nạn xã hội khác như mê tín dị đoan, cờ bạc, mại dâm… Năm 1941, chúng đã bán ra 208,465 kg thuốc phiện và 276.082 lít rượu cồn , buộc người nhân phải tiêu thụ. Dưới thời thuộc Pháp, Đình Quan Đế (thị xã Bắc Kạn) bị biến thành một trung tâm cờ bạc; các thôn, xóm, làng bản đều có các ổ đánh bạc. Hàng năm, chúng còn khuyến khích các nhà buôn ở thị xã tổ chức các cuộc ăn chơi, đánh bạc kéo dài và các trò chơi có tính miệt thị dân tộc, mua vui cho bọn thống trị. Về y tế, năm 1932 toàn tỉnh có một nhà thương với khoảng 30 giường bệnh. Về sau, chúng lập thêm bệnh xá ở Chợ Rã, Na Rì. Mỗi huyện chỉ có một y tá và một nữ hộ sinh, nhưng chủ yếu phục vụ thực dân, phong kiến. Mỗi khi ốm đau, nông dân ngoài việc sử dụng các loại thuốc nam chỉ biết nhờ cậy vào thầy mo, thầy cúng, tốn kém mà không khỏi bệnh. Các bệnh phổ biến thường xảy ra như sốt rét, ho lao, lỵ và suy nhược vì thuốc phiện. Phụ nữ không bao giờ được khám phụ khoa, khi sinh đẻ không có nhà hộ sinh… Tình trạng hữu sinh vô dưỡng là hiện tượng phổ biến. Nguy cơ diệt tộc xuất hiện trong một số dân tộc. Chính sách áp bức, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai làm cho đời sống nông dân ngày càng điêu đứng. Mâu thuẫn giữa nhân dân Bắc Kạn với bọn thực dân, phong kiến tay sai ngày càng sâu sắc. Nhiều phong trào đấu tranh của nông dân nổ ra liên tiếp, mạnh mẽ, quyết liệt. Ngay khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Phùng Bá Chỉ (tức Bá Kỳ), nông dân và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh vùng lên đấu tranh, đã giáng cho địch những đòn chí mạng. Trong trận Chợ Mới ngày 1711889, nghĩa quân tiêu diệt gần 100 tên địch, hàng chục sỹ quan, làm cho kẻ thù khiếp sợ. Nhưng vì thiếu vũ khí, nên nghĩa quân phải thiêu hủy căn cứ rồi rút lui để bảo toàn lực lượng. Tiếp đó, dưới sự chỉ huy của Mã Sinh Long (Mã Mang), đồng bào Dao đã đánh địch nhiều trận, nhất là trận phục kích đoàn vận tải ngược sông Cầu lên Chợ Mới. Năm 1904, người Dao hai xã Tân Sơn, Cao Sơn (Bạch Thông) đấu tranh chống chính sách sưu cao, thuế nặng của đế quốc, phong kiến. Tháng 81917, nông dân Bắc Kạn hưởng ứng tích cực cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn chỉ huy… Những cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến tay sai trong những năm đầu thế kỷ thứ XX tuy không giành được thắng lợi, nhưng đã thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để nông dân tiếp tục đấu tranh và giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. II. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN THỜI KỲ 19301939 Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động phong trào đấu tranh cách mạng rộng lớn trên cả nước, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh (19301931). Là địa bàn nằm giữa khu vực sớm có phong trào cách mạng, nhưng Bắc Kạn là vùng sâu, vùng xa với núi rừng hiểm trở, dân cư thưa thớt, lại bị thực dân Pháp kiểm soát chặt chẽ, nên việc tuyên truyền và phát triển phong trào cách mạng trong buổi đầu mới thành lập Đảng còn gặp nhiều khó khăn. Trong điều kiện đó, nông dân Bắc Kạn đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh, trở thành lực lượng đông đảo, nòng cốt của cách mạng và được tập hợp trong các tổ chức như Hội tương tế, Hội ái hữu… Mở đầu cuộc đấu tranh của nông dân Bắc Kạn là các đợt rải truyền đơn, mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy phản đối khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh ở thị xã, thị trấn. Sau đó, phong trào đấu tranh lan ra các châu trong tỉnh chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế nặng nề và vô lý… Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nông dân và quần chúng cách mạng, thực dân Pháp điều động lực lượng tới trấn áp và bắt đi một số nông dân mà chúng nghi là người cầm đầu. Song những hành động đó không thể uy hiếp và dập tắt phong trào đấu tranh của nông dân. Nông dân Bắc Kạn vẫn sát cánh cùng công nhân và các tầng lớp nhân dân đấu tranh, giương cao khẩu hiệu: ủng hộ công nông Nghệ Tĩnh, đưa yêu sách đòi giảm sưu, hoãn thuế, đòi thực dân Pháp trả tự do cho những người mà chúng đã bắt. Qua đấu tranh, nông dân ngày càng trưởng thành, ý thức giác ngộ cách mạng ngày càng cao. Đặc biệt là những thanh niên tiêu biểu xuất thân từ nông dân đã từng tham gia tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, được huấn luyện tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin, hăng hái trong mọi hoạt động cách mạng và có nhiều đóng góp trong việc giáo dục, giác ngộ quần chúng tin vào Đảng, tin vào sự tất thắng của cách mạng. Nhiều nông dân đã nhận thức sâu sắc: muốn thoát khỏi ách thống trị thực dân Pháp và tay sai trước hết phải đánh đổ thực dân Pháp, chỗ dựa của bọn tay sai, kẻ thù dân tộc, đồng thời cũng là kẻ thù giai cấp. Ở một nước thuộc địa với nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thực chất là cuộc cách mạng giải phóng nông dân. Vì thế, khi Đảng giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nông dân đã tích cực hưởng ứng và nhanh chóng trở thành động lực thúc đẩy cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Có thể nói, trong cao trào cách mạng 19301931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, nông dân Bắc Kạn đã hưởng ứng và thể hiện vai trò to lớn của mình trong đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, dưới sự lãnh đạo của Đảng và giành thắng lợi từng bước. Trước tình hình đó, thực dân Pháp thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo. Chúng thẳng tay đàn áp những người tham gia đấu tranh, những gia đình nông dân mà chúng nghi là nuôi giấu cán bộ, là nơi đặt cơ sở cách mạng. Mặt khác, thực dân Pháp còn tăng thêm các loại thuế một cách vô lý, đồng thời tiến hành chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Những hành động của thực dân Pháp và tay sai đẩy nông dân Bắc Kạn vào tình cảnh hết sức điêu đứng, song họ vẫn một lòng tin theo Đảng, tin vào sự thắng lợi của cách mạng nên vẫn tiếp tục đấu tranh. Sau thời kỳ khó khăn 19311933, trên cơ sở phong trào cách mạng trong toàn quốc đang dần hồi phục và phát triển, Ban chỉ huy ở ngoài nước của Đảng (làm nhiệm vụ Ban Chấp hành Trung ương lâm thời) được thành lập, chủ trương đào tạo cán bộ đưa về nước, trước hết là gây cơ sở trong đồng bào các dân tộc dọc biên giới Việt Trung. Thực hiện chủ trương trên, các đồng chí Lê Hồng Phong, Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ về Cao Bằng, Lạng Sơn để tổ chức và phát triển phong trào. Do ảnh hưởng của phong trào chung, đặc biệt trong vùng Cao Bắc Lạng, nông dân hai tổng Hà Vị, Nông Thượng và thị xã Bắc Kạn dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Bông ở Xuất Hoá và ông Chỉ ở Cao Kỳ, đã làm đơn tập thể kiện lên Phủ Toàn quyền Đông Dương về việc bọn thực dân và quan lại ức hiếp dân chúng1. Giữa lúc phong trào cách mạng đang từng bước khôi phục và phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp từ ngày 27 đến 3131935 tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đánh giá kết quả đã đạt được trong thời gian qua và đề ra nhiệm vụ cách mạng giai đoạn trước mắt là tiếp tục củng cố phát triển Đảng, tổ chức các hội quần chúng rộng rãi nhằm tập hợp lực lượng cách mạng chống chiến tranh đế quốc. Đại hội thông qua Nghị quyết về vận động nông dân, trong đó vạch rõ những chính sách cực kỳ phản động của thực dân Pháp và tình cảnh khốn cùng của nông dân, đồng thời đề ra nhiệm vụ cần kíp của Đảng trong công tác vận động nông dân làm cách mạng giải phóng dân tộc. Bước sang năm 1936, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những chuyển biến sâu sắc. Tháng 51936, Mặt trận nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập, đã thi hành một loạt các chính sách tiến bộ như đòi thả hết tù chính trị, giải tán và tước vũ khí của phát xít, thực hiện tuần làm việc 40 giờ, tăng trợ cấp cho người thất nghiệp... Điều này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển. Để kịp thời định ra đường lối, phương pháp tổ chức đấu tranh trong thời kỳ mới, tháng 71936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Thượng Hải, do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp đông đảo nông dân, công nhân, trí thức… tham gia cách mạng; chuyển hình thức đấu tranh từ bí mật, không hợp pháp sang hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp. Hội nghị đánh giá cao vai trò của nông dân và mối liên hệ chặt chẽ giữa nông dân và công nhân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, phong trào nông dân Bắc Kạn có những chuyển biến mới, sâu rộng trong các vùng nông thôn, thu hút đông đảo các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… tham gia đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ở nông thôn, các hình thức tổ chức của nông dân rất đa dạng như hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội góp họ, phường đi săn, nhóm học chữ Quốc ngữ… Những hình thức tổ chức này đã tập hợp được đông đảo nông dân trong một tổ chức, cùng đấu tranh giành quyền lợi cho giai cấp mình. Trong những năm 19361939, mặc dù các cơ sở cách mạng ở Bắc Kạn chưa được xây dựng, song do ảnh hưởng của phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi trong cả nước, đã cổ vũ, động viên nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn vùng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột với mục tiêu, nội dung và hình thức phong phú, đa dạng. Nhiều tờ báo công khai của Đảng, Mặt trận dân chủ Đông Dương như Tin tức, Bạn dân, Dân chúng… được truyền bá trong nhân dân các huyện Bạch Thông, Chợ Rã và thị xã Bắc Kạn. Cùng với phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh, nông dân Bắc Kạn còn đấu tranh chống thực dân Pháp bắt dân phu đi làm sân bay, làm đường Bắc Kạn Chợ Đồn, Bắc Kạn Chợ Rã. Để xây dựng sân bay Bắc Kạn, thực dân Pháp bắt 800 người dân đi làm phu thường xuyên, đồng thời huy động hàng trăm dân phu với chế độ lao dịch nặng nề trên các tuyến đường giao thông và giao cho tên Phú Giàng nổi tiếng gian ác, phụ trách việc bắt phu và đốc công. Anh em phu làm đường (chủ yếu là nông dân các xã thuộc tổng Phương Linh, Hà Vị) nổi dậy đấu tranh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của nông dân các xã Quân Bình, Lục Bình, Cẩm Giàng, Tú Trĩ, Tân Tiến, Phương Linh, Vũ Muộn… Tại Hà Nội, đoàn đại biểu đã gửi đơn kiến nghị Bộ Thanh tra lao động, nhưng không được giải quyết. Quần chúng cách mạng tiếp tục đấu tranh, buộc địch phải chuyển đơn sang Toà Thống sứ và hứa sẽ hỏi tội bọn quan lại địa phương, trả tiền công cho dân phu theo ba loại: loại khoẻ 0,4 đồng, loại trung bình 0,18 đồng và phụ nữ 0,15 đồng. Khi trở về địa phương, sau một thời gian không thấy bọn thống trị giải quyết những điều như đã hứa, dân phu lại kéo lên châu lỵ đấu tranh. Kẻ địch ngoan cố bắt hai người hòng uy hiếp phong trào, nhưng cuộc đấu tranh vẫn diễn ra kiên quyết, buộc chúng phải thả những người bị bắt, trả tiền công cho dân phu 0,18 đồngngày. Tên tri châu Bạch Thông buộc phải chuyển đi nơi khác. Có thể nói, phong trào đấu tranh của nông dân Bắc Kạn thời kỳ vận động cách mạng 19361939 dưới sự lãnh đạo của Đảng diễn ra sôi nổi với quy mô lớn và trên diện rộng. Bằng các hình thức đấu tranh đưa yêu sách, viết đơn kiện với hàng trăm chữ ký, phong trào đấu tranh đòi tự do lập hội, tự do hội họp, tự do báo chí, cho đến các cuộc biểu tình, đấu tranh trực diện với kẻ thù đòi giảm thuế, chống bắt phu vào ngày mùa, đi phu phải được cấp tiền gạo, chống phù phu lạm bổ… đã lôi cuốn đông đảo nông dân tham gia và thu được nhiều kết quả. Qua đấu tranh, nông dân được tôi luyện, ý thức giác ngộ cách mạng ngày càng cao, không hoang mang dao động trước những đòn tra tấn dã man hoặc những lời dụ dỗ đường mật của kẻ thù, một lòng vững tin vào Đảng, vào sự tất thắng của cách mạng. Đây là nền tảng, tiền đề quan trọng để phong trào nông dân Bắc Kạn tiếp tục có được những bước chuyển biến to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 19391945. III. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN THỜI KỲ 19391945 Ngày 0191939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Sau khi tham chiến, chính phủ phản động Pháp tiến hành giải tán Đảng Cộng sản Pháp và các tổ chức dân chủ, tiến bộ ở Pháp; thẳng tay đàn áp, khủng bố các cơ sở Đảng và phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, trong đó có Việt Nam. Trước tình hình đó, ngày 2991939, Trung ương Đảng gửi Thông báo cho các cấp bộ Đảng, vạch ra một số phương hướng, nhiệm vụ cần kíp trước mắt, nhằm chuyển hướng các mặt hoạt động

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

Nông dân, nông nghiệp và nông thôn luôn là vấn đề lớn trong các chặng đường lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong lịch

sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nông dân, nông nghiệp, nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của qúa trình phát triển Đối với Bắc Kạn - một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, những vấn đề tác động tới nông dân, nông nghiệp, nông thôn ngày nay cần được giải quyết trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn

Ngay từ khi thành lập, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục, tổ chức, động viên nông dân và xây dựng đội quân chính trị quần chúng cách mạng Ngày 14-10-1930, tại kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất (khóa I), quyết định thành lập tổ chức Nông hội đỏ Sự kiện đó đánh dấu bước trưởng thành quan trọng về chất của nông dân Việt Nam Lần đầu tiên nông dân có đoàn thể cách mạng của mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Để phù hợp với nhiệm vụ cách mạng, tổ chức Hội Nông dân Việt Nam nói chung và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn nói riêng liên tục phát triển dưới nhiều hình thức và tên gọi như: Nông hội đỏ, Hội tương tế ái hữu, Hội Nông dân phản đế, Hội Nông dân cứu quốc, Nông hội, Hội Nông dân giải phóng, Hội Nông dân tập thể…

Để giúp hiểu rõ về quá trình hình thành tổ chức, phương thức hoạt động,

sự đóng góp của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ quê hương; thực hiện chủ trương của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Tỉnh uỷ Bắc Kạn, Hội Nông dân

tỉnh quyết định tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử phong trào nông dân và

Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (1930-2010) nhằm khẳng định những giá trị lịch

sử, văn hoá của nông dân qua các thời kỳ, góp phần giáo dục truyền thống yêu

Trang 2

nước và cách mạng, tinh thần yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc cho các thế

hệ hôm nay và mai sau Qua đó phát huy truyền thống đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp

Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (1930-2010)

là một công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, khẳng định vị thế, tiềm năng kinh tế, xã hội, tinh thần yêu nước kiên cường của nông dân qua các giai đoạn dựng nước, giữ nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Những giá trị khoa học về lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân của tỉnh cũng là nguồn nội lực để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập

Tổ chức nghiên cứu, biên soạn Lịch sử phong trào nông dân và Hội

Nông dân tỉnh Bắc Kạn (1930-2010) đáp ứng nguyện vọng và lòng mong mỏi

của nhân dân trong tỉnh và độc giả, đặt cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ, khách quan, chân thực về hoạt động của một đoàn thể chính trị - xã hội; góp phần tôn vinh và ghi nhận phong trào cách mạng của nông dân, các thế hệ cán bộ của Hội

đã không quản gian khổ góp sức cho quê hương Qua đó, xác nhận được thành tích tiêu biểu của nông dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn trong những chặng đường lịch sử, đồng thời thấy rõ vai trò của nông dân, sự đoàn kết, gắn bó giữa nông dân và Hội Nông dân của tỉnh

Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn (1930-2010)

giúp người đọc rút ra những điều bổ ích trong lĩnh vực xây dựng phong trào nông dân, tổ chức Hội, quản lý quần chúng, xã hội ở địa phương Những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa gợi mở phương hướng nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân

Mặc dù công trình đã được chú trọng nghiên cứu, biên soạn công phu, nhóm biên soạn đã có nhiều cố gắng, song cuốn sách vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; chúng tôi mong được bạn đọc cảm thông và góp ý chân thành để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn Nhân dịp xuất bản cuốn sách, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nhân chứng lịch sử và Ban Địa phương,

Trang 3

Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, giúp đỡ để cuốn sách được xuất bản.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

T/M BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC KẠN

CHỦ TỊCH

Lưu Văn Quảng

Trang 4

Mở đầu

BẮC KẠN - ĐỊA LÝ, CON NGƯỜI

VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Bắc Kạn là một trong những tỉnh miền núi, vùng cao, có tổng diện tích tự nhiên là 4.857,21 km2 Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng Tỉnh lỵ Bắc Kạn cách Thủ đô Hà Nội 170 km theo đường quốc lộ số 3 và

là tỉnh có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng

Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, thấp dần từ Bắc - Tây Bắc xuống Nam - Tây Nam Đặc điểm nổi bật nhất của địa hình Bắc Kạn là cấu tạo dạng cánh cung Về cơ bản có thể chia làm 3 khu vực chính:

- Khu vực phía Đông là các dãy núi kéo dài của cánh cung Ngân Sơn, trải dài gần 100 km từ nam Cao Bằng đến đông Phú Lương (Thái Nguyên) với nhiều khối núi lớn Đây là dãy núi có cấu tạo tương đối thuần nhất với kết cấu địa chất thuận lợi cho phát triển kinh tế lâm nghiệp

- Khu vực phía Tây là khối núi cao chót vót với dải hữu ngạn cánh cung sông Gâm trải dài từ núi Phja Dạ (tên cổ là Phja Già)1 thuộc huyện Pác Nặm

- Khu vực phía Nam là vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi với những dải đồi cao trên 200 m và những dãy núi thấp 400-500 m Trong vùng có nhiều thung lũng rộng, với hệ thống sông, suối dày đặc tạo nên các bãi bồi phù

sa thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp

Bắc Kạn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng có hai mùa

rõ rệt: Mùa hạ và mùa đông Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.600-2.100mm Mưa nhiều vào tháng 6 đến tháng 9 Tổng số giờ nắng trung bình là 1.300-1.400 giờ Độ ẩm không khí trung bình 84-85%, cao nhất

1 Dãy núi Phja Dạ nay thuộc xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm, cấu tạo bằng đá vôi, điểm cao nhất 1.640m, trên đỉnh núi hầu như quanh năm mây mù bao phủ Lưng chừng chân núi có các nguồn nước tuôn trào trắng xóa Cùng với hoa rừng, cây trái thiên nhiên, Phja Dạ đã tạo nên một cảnh quan tuyệt diệu.

Trang 5

vào tháng 7 (88-89%), thấp nhất vào tháng 12 (80-82%) Do nằm sâu trong đất liền, lại có các dãy núi cao che chắn, nên Bắc Kạn ít chịu ảnh hưởng của bão1

Bắc Kạn có mạng lưới sông, suối khá dày đặc, bao gồm lưu vực của hệ thống sông Thái Bình (gồm sông Cầu và các nhánh của sông Cầu), hệ thống sông Kỳ Cùng (gồm các nhánh sông Bắc Giang và sông Na Rì) và các nhánh sông Năng, sông Gâm, sông Phó Đáy Trong đó, sông Cầu là hệ thống sông lớn nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn do hai nhánh chính là sông Nặm Ún và Nặm Cắt bắt nguồn từ dãy Phja Bjoóc hợp lại ở Pác Cáp Sông Cầu đoạn trong nội địa Bắc Kạn dài khoảng 103 km Sông Năng là sông có độ dài thứ hai sau sông Cầu (87 km) và chảy qua địa giới các huyện Pác Nặm, Ba Bể

Ngoài sông Cầu và sông Năng, Bắc Kạn còn có sông Bắc Giang (Tả Lương), sông Hiến (Tả Thán), sông tiểu Phó Đáy, sông Yên Thịnh và nhiều suối nhỏ khác Với mạng lưới sông, suối dày đặc đã cung cấp nguồn nước dồi dào để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp Phần lớn hệ thống sông của Bắc Kạn là đầu nguồn, lòng sông, suối hẹp, có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, nên thuận lợi cho phát triển thủy điện và thu hút khách du lịch bằng những cảnh quan hùng vĩ

Bắc Kạn còn được thiên nhiên ban tặng Hồ Ba Bể2 Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta; là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới Hồ có diện tích rộng khoảng 500 ha, nằm trong khu vực vườn Quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với

417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống Đến nay, nhiều loài động vật quý hiếm vẫn còn như phượng hoàng đất, gà lôi, voọc mũi hếch, cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên Với khung cảnh nên thơ, hùng vĩ, vườn Quốc gia

Ba Bể trở thành danh lam thắng cảnh thu hút du khách trong nước và quốc tế

Là một trong những tỉnh miền núi với những quần sơn đá vôi, nên trong tổng diện tích 4.795,54 km2, Bắc Kạn chỉ có 6% đất nông nghiệp, trong đó đất feralit chiếm tỷ lệ đáng kể Đất feralit màu vàng nhạt trên núi cao thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp; feralit màu đỏ nâu trên vùng núi đá vôi có khả năng

1 Dẫn theo Công ty cổ phần thông tin đối ngoại: Bắc Kạn thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2003, tr 24.

Trang 6

trồng hoa màu, cây công nghiệp; feralit màu vàng có khả năng trồng các loại cây lương thực Ngoài ra, Bắc Kạn còn có đất phù sa ven sông thích hợp cho việc trồng lúa Đây là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp và trồng cây công nghiệp.

Bắc Kạn là một trong những tỉnh có diện tích rừng tự nhiên vào loại lớn nhất vùng Đông Bắc nước ta, với 301.722,78 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 89,60%, rừng trồng chiếm 10,40% tổng diện tích rừng Rừng Bắc Kạn được phân bố ở tất cả các huyện và thị xã nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện Bạch Thông, Chợ Mới, Na Rì, Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn và thị xã Bắc Kạn Rừng Bắc Kạn hiện còn nhiều loại động, thực vật quý hiếm Trong đó, hệ thực vật có 148 họ, 573 chi, 826 loài (300 loài cây họ gỗ, 300 loài cây thuốc) Hiện nay, 52 loài đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như đinh, ngũ gia bì gai, trai lý, nghiến, chò đãi, trầm hương, cầu điệp; hệ động vật có 366 loài, 110 họ thuộc 28

bộ, trong đó có 63 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam1 Có thể nói, rừng Bắc Kạn là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật của vùng Đông Bắc với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm

Cùng với nguồn tài nguyên đất, tài nguyên rừng, Bắc Kạn còn có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, phong phú Trong đó, chì và kẽm là hai khoáng sản có trữ lượng lớn nhất của tỉnh và cả nước Ngoài ra, Bắc Kạn còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng sa khoáng, vàng gốc, bạc, kẽm, chì, mănggan,

đá vôi, đá quý, vật liệu xây dựng… Đây là một trong những thế mạnh, là tiền đề quan trọng để Bắc Kạn phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và vật liệu xây dựng

Bắc Kạn có những điều kiện thuận lợi, song cũng có không ít những khó khăn, thách thức trong quá trình chế ngự thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống Trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, nông dân Bắc Kạn dưới sự lãnh đạo của Đảng không ngừng phấn đấu vươn lên phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn và giành được nhiều thành tựu mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

1 Dẫn theo Công ty cổ phần thông tin đối ngoại: Bắc Kạn thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2003, tr 24.

Trang 7

II ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH BẮC KẠN QUA CÁC THỜI KỲ

Theo các nguồn sử liệu, Bắc Kạn thời thượng cổ là phần đất của nước Xích Quỷ, sau được tách ra thành vương quốc Thuy Đến Khi nhà nước Văn Lang ra đời, các Vua Hùng chia nước ta làm 15 bộ, vùng đất Bắc Kạn thuộc bộ

Vũ Định, do một Lạc tướng đứng đầu Khoảng đầu công nguyên, chế độ lạc tướng chấm dứt, bộ chuyển thành huyện, nhưng riêng tên Vũ Định vẫn được giữ như cũ Dưới thời Bắc thuộc, đời Hán, đất Bắc Kạn thuộc huyện Long Biên Dưới thời thuộc Đường, Bắc Kạn thuộc huyện Tân Xương, Châu Phong

Năm 938, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, quân và dân ta đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, mở đầu

kỷ nguyên độc lập dân tộc của dân tộc Trong điều kiện đất nước độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hoàn chỉnh bộ máy quản

lý nhà nước, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia Đại Việt

Thời nhà Lý, nước ta được chia làm 24 lộ, đất Bắc Kạn thuộc các lộ Cảm Hóa, Vĩnh Thông, Hạ Nông Đến đời Trần, nước ta gồm 12 lộ, 4 trấn và

14 châu, huyện Bắc Kạn thuộc châu Thái Nguyên Năm 1397, nhà Trần đổi châu Vũ Lặc thành trấn Thái Nguyên, nên Bắc Kạn thuộc trấn Thái Nguyên

Khi nhà Minh xâm lược nước ta, chúng chia Đại Việt thành 15 phủ, 31 châu, 31 huyện Trấn Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên với 11 huyện, đất Bắc Kạn nằm trong địa phận 3 huyện Cảm Hoá, Vĩnh Thông, Long Thạch

Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ quyền, các đơn vị hành chính của đất nước vẫn như cũ Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo Lúc này, Bắc Kạn thuộc đạo Thái Nguyên Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469), trên cơ sở định lại bản

đồ hành chính, nhà Lê chia nước ta làm 12 thừa tuyên Đạo Thái Nguyên được đổi thành Thừa tuyên Ninh Sóc, do đó đất Bắc Kạn thuộc Thừa tuyên Ninh Sóc Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), lấy lại tên cũ và gọi là xứ Thái Nguyên, gồm các phủ Thông Hoá, Phú Bình và Cao Bằng Phủ Thông Hoá gồm huyện Cảm Hóa

và châu Bạch Thông1, như vậy Bắc Kạn vẫn thuộc xứ Thái Nguyên

1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, phần Dư địa chí, huyện Cảm Hóa có 44 xã, châu Bạch Thông

Trang 8

Cuối thế kỷ XVI, cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Mạc, Trịnh, Nguyễn dẫn đến tình trạng cát cứ và xung đột liên miên Từ năm 1592 đến những năm 70 của thế kỷ XVII, xứ Thái Nguyên bị chia cắt, phần phía Bắc thuộc nhà Mạc, phần phía Nam thuộc họ Trịnh.

Sau chiến tranh Lê - Mạc, Cao Bằng trước thuộc xứ Thái Nguyên được tách ra để lập một đơn vị hành chính trực thuộc triều đình phong kiến trung ương, gọi là trấn Cao Bằng Do đó, lúc này trấn Thái Nguyên chỉ còn lại phần đất hai phủ Phú Bình và Thông Hóa, thủ phủ đặt tại Bình Kỳ (nay là Đa Phúc) Vùng đất Bắc Kạn thuộc phủ Thông Hóa, trấn Thái Nguyên

Năm 1807, vua Gia Long cắt phần đất phía Nam về Bắc Ninh, thủ phủ Thái Nguyên chuyển về Đồng Mỗ, nay thuộc thành phố Thái Nguyên Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), vua Nguyễn Thánh Tổ đổi trấn thành tỉnh Đất Bắc Kạn về cơ bản vẫn thuộc phủ Thông Hoá, tỉnh Thái Nguyên1

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính Theo Nghị định ngày 20-8-1891 và Nghị định ngày 9-9-

1891 của Toàn quyền Đông Dương, địa bàn Bắc Kạn thuộc hai đạo quan binh: Đạo quan binh 1 (Tiểu quân khu Thái Nguyên) Đạo quan binh 2 (Tiểu quân khu Lạng Sơn)

Ngày 11-4-1900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lấy phần đất thuộc phủ Thông Hoá lập ra tỉnh Bắc Kạn, gồm các châu Bạch Thông, Chợ

Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn), Cảm Hoá (sau đổi thành Na Rì) Tiếp đó, ngày 25-6-1901, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách tổng Yên Đĩnh thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nhập vào châu Bạch Thông (Bắc Kạn) Tháng 7-1901, thị xã Bắc Kạn và châu Bạch Thông được thành lập

Năm 1916, theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ, một số tổng của châu Bạch Thông, Chợ Rã và tổng An Biên Thượng thuộc châu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tách ra để thành lập châu Chợ Đồn Lúc này, Bắc Kạn gồm 5 châu (Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Chợ Rã, Chợ Đồn), 20 tổng và 103 xã

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, hệ thống địa lý hành chính tỉnh Bắc Kạn căn bản vẫn được giữ

1 Châu Bạch Thông nay là đất các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Rã, tức huyện Ba Bể Huyện Cảm Hóa, nay thuộc các huyện Na Rì, Ngân Sơn, vùng Phủ Thông của huyện Bạch Thông.

Trang 9

như cũ, chỉ có một số thay đổi nhỏ Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, để đáp ứng yêu cầu là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam đánh Mỹ, ngày 21-4-1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Quyết định số 103/QĐ-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn

Ngày 14-4-1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 50/CP đổi thị xã Bắc Kạn thành thị trấn Bắc Kạn, trực thuộc huyện Bạch Thông Ngày 29-12-

1978, theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng nhân dân hai tỉnh Cao Lạng và Bắc Thái, kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng Tỉnh Bắc Thái còn 11 đơn

vị hành chính trực thuộc, đó là các huyện Na Rì, Bạch Thông, Chợ Đồn, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên Ngày 16-7-1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 262/HĐBT giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông để thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái

Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngày 6-11-1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ mười đã phê chuẩn việc chia lại địa giới hành chính một số tỉnh Tỉnh Bắc Thái được chia thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn

Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập trên cơ sở tách bốn huyện, thị xã thuộc tỉnh Bắc Thái cũ và hai huyện thuộc tỉnh Cao Bằng Các huyện Ngân Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn Tháng 8-1998, thành lập thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch Thông Ngày 28-5-2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2003/NĐ-

CP về việc thành lập huyện Pác Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể

Đến nay, Bắc Kạn gồm 8 đơn vị hành chính, đó là thị xã Bắc Kạn và các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Pác Nặm, với tổng số 122 xã, phường, thị trấn

III CƯ DÂN, VĂN HÓA

Trang 10

Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ học cho thấy, trên khu vực các dãy núi đá vôi Bắc Sơn, Ngân Sơn, sông Gâm, ngay từ rất sớm đã có con người cư trú Trong các thung lũng hẹp vùng chân núi, người Tày cổ đã sớm xuất hiện và chinh phục thiên nhiên, khai phá đất đai, trồng lúa nước và cùng cư dân Việt

cổ tạo dựng nền văn minh đầu tiên của dân tộc Việt Nam

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, cư dân sinh sống trên đất Bắc Kạn ngày càng đông đúc Đến nay, Bắc Kạn có khoảng 299.904 người Trong đó, người Tày chiếm số lượng lớn nhất và được phân bố ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng thấp, thị trấn, thị xã

Người Nùng có mối quan hệ lịch sử với người Tày Trải qua quá trình

phát triển đã hòa nhập vào cộng đồng người Tày, còn những người Nùng hiện nay mới di chuyển đến khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, trong đó có Bắc Kạn vào khoảng hơn 200 năm, tương tự như lịch sử cư trú của người Mông và một bộ phận người Dao Người Nùng cư trú ở vùng thấp xen kẽ với người Tày

và người Kinh, trong đó nơi tập trung đông nhất là huyện Na Rì

Người Kinh có mặt ở Bắc Kạn từ thời Nam - Bắc triều Từ sau Cách mạng

Tháng Tám 1945, đặc biệt là từ sau ngày hòa bình lập lại (1954), trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự phát triển kinh tế -

xã hội ở Bắc Kạn, số lượng người Kinh tăng lên nhanh chóng Họ chủ yếu tập trung ở vùng thấp, đô thị và có đóng góp nhất định cho sự phát triển ở Bắc Kạn

Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao

quanh chân núi Với tập quán du canh du cư, kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào nương rẫy, nên địa vực cư trú thiếu ổn định Theo các tài liệu thư tịch, một

số nhóm Dao đã có mặt khá sớm tại Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, nhưng do thiếu cơ sở kinh tế ổn định nên trong khi các nhóm mới tiếp tục chuyển đến thì các nhóm cư trú trước đó lại chuyển sang các tỉnh lân cận1

Người Mông, Sán Chay (nhóm Sán Chỉ) có mặt ở Bắc Kạn muộn hơn với

số lượng ít

Theo sử cũ, người Hoa có mặt ở Bắc Kạn khá sớm Đại Nam nhất thống

chí ghi: Chợ Hà Hiệu, chợ Quảng Khê, chợ Bắc Phấn, chợ Dương Quang (có

1 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (1930-1945), 1980, tập I, tr 17.

Trang 11

phố), chợ Yên Đĩnh (phố xá trù mật), người Thanh, người Thổ (tức Tày), người Kinh, người Nùng: đều ở châu Bạch Thông Một bộ phận người Hoa tiếp tục chuyển cư đến Bắc Kạn vào đầu thế kỷ XX.

Tuy các dân tộc ở Bắc Kạn xuất hiện sớm, muộn với số lượng nhiều ít khác nhau nhưng đều đoàn kết một lòng, cùng nhau chinh phục thiên nhiên để lao động sản xuất, xây dựng nền văn hóa độc đáo, đa màu sắc, bảo vệ quê hương, đất nước

Các cư dân vùng thấp có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác vùng thung lũng và hệ thống thủy lợi đa dạng với phai, mương, cọn, lốc, lìn… Cư dân

cư trú ở vùng cao với kỹ thuật khai thác ruộng bậc thang và nương rẫy dốc Ngoài trồng lúa, đồng bào còn trồng các loại hoa màu, lương thực, các loại rau, đậu và nhiều loại cây ăn quả khác như cam, quýt, mận, hồng Người Tày và người Nùng chăn nuôi gia súc, gia cầm khá phát triển như trâu, bò, ngựa, gà, vịt, ngan, đồng thời một số nơi có tập quán đánh bắt cá trên sông hồ, nuôi cá ruộng…

Các nghề thủ công gia đình khá đa dạng, đáng chú ý là nghề dệt vải và thổ cẩm Dệt thổ cẩm của người Tày và Nùng là một trong những nghề truyền thống với trình độ kỹ thuật khá cao, hoa văn trang trí phong phú, mô phỏng các loại hình hoa lá thiên nhiên gần gũi với cuộc sống hàng ngày của đồng bào như hoa nhồi, hoa lá mía… Nam giới thì thành thạo trong đan lát, các nghề mộc dân gian Ở một số vùng, đồng bào còn có nghề rèn, nghề làm gạch ngói như làng Thạch Ngõa ở chân núi Phja Bjoóc… Hiện nay, nhiều nghề thủ công đã bị mai một trước sự phát triển của khoa học công nghệ và sự giao lưu kinh tế, nhưng nhiều ngành nghề như trồng bông dệt vải, làm gạch ngói vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển góp phần phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế - văn hóa

Trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, nhưng người dân Bắc Kạn vẫn luôn tự hào vì đã đoàn kết xây dựng nên đời sống văn hóa phong phú mang đậm nét đặc trưng của nhân dân các dân tộc miền núi vùng Đông Bắc như lễ hội Lồng tồng, Lễ hội cầu mùa, Tết Thanh minh… Ngoài ra, Bắc Kạn còn nổi tiếng với những làn điệu dân ca như hát páo dung của người Dao; múa khèn của người Mông; hát then của người Tày, hát sli, hát lượn của người Tày - Nùng…

Trang 12

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tuy có những phong tục, tập quán sinh hoạt khác nhau, song nhân dân các dân tộc Bắc Kạn luôn đoàn kết, hòa đồng, tương thân tương ái, tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của nhau, cùng nhau xây dựng nên bức tranh văn hóa đặc sắc, độc đáo của Bắc Kạn, làm phong phú thêm nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.

IV TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG

Theo sử cũ, cuối thế kỷ II trước công nguyên, khi quân nhà Hán (Trung Quốc) tiến đánh đất Nam Việt, nhân dân Bắc Kạn đã tranh thủ thời cơ theo con cháu của Thục Phán là Tây Vu Vương đấu tranh nhằm khôi phục nền độc lập của Tổ quốc Trong cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới thời Bắc thuộc đã có mặt đông đảo các tầng lớp nhân dân Âu Việt vùng miền núi phía Bắc1

Mùa xuân năm 40 sau công nguyên, dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hai Bà Trưng, tổ tiên của người Tày, Nùng ở Bắc Kạn đã nhất tề đứng lên cùng nhân dân cả nước đấu tranh

Trong suốt 1.000 năm dưới sự thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhân dân các dân tộc Tày - Nùng tham gia đấu tranh lật đổ ách thống trị của nhà Lương thế kỷ thứ VI, lập nước Vạn Xuân Vào đời Nguyên Hòa (806-820), các cuộc nổi dậy của nhân dân Tày, Nùng, Tráng (Choang) chống phong kiến nhà Đường đã được cả quan lại, bách binh tích cực hưởng ứng2

Thế kỷ thứ XI, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, các đạo quân miền núi dưới sự chỉ huy của Dương Tự Minh tham gia đánh bại quân xâm lược nhà Tống ngay trên đường tiến quân của chúng từ Thái Nguyên tới Phú Lương, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc Trong các cuộc đấu tranh đó, người dân Bắc Kạn tự hào vì đã đóng góp đáng kể sức người, sức của và trực tiếp tham gia đánh địch từ trận đầu khi chúng còn hung hăng, càn dỡ, đến trận cuối khi chúng phải nhục nhã cút khỏi đất nước ta

Đầu thế kỷ XV, dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Minh, cùng với nhân dân cả nước, nông dân Bắc Kạn hưởng ứng tích cực cuộc khởi nghĩa dưới sự

1 Dẫn theo Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1960, tr.32.

2 Dẫn theo Viện Dân tộc học: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội 1978, tr.27.

Trang 13

lãnh đạo của Trần Nguyên Khang, Nguyễn Đa Bí Sau đó, phong trào lan rộng dưới sự chỉ huy của Chu Sư Nhan, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chấn, Nguyễn Trà, Dương Thế Chân, Ông Lão Đặc biệt trong thời kỳ này, ở Bắc Kạn, các dân

tộc thiểu số còn tổ chức “nghĩa binh áo đỏ”, chiến đấu rất linh hoạt, dũng cảm

“Nghĩa binh áo đỏ” hoạt động trong một thời gian dài, dựa vào địa hình hiểm

trở của núi rừng Việt Bắc và sau đó mở rộng ra cả vùng Tây Bắc và miền Tây Thanh Hóa - Nghệ An, gây cho địch nhiều tổn thất1

Trong những năm 1419-1420, nông dân các dân tộc Bắc Kạn tập hợp đông đảo dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Ngã, một cựu nô tỳ của nhà Trần Trong vòng vài tháng, đội quân đã lên tới hàng vạn người, làm chủ cả vùng rừng núi rộng lớn từ Việt Bắc đến Đông Bắc Trong khi hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lê Ngã, nông dân Bắc Kạn còn bí mật hướng về cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi, trong đó tiêu biểu là Lưu Nhân Chú và Phạm Cuống

Đến thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực Trong gần 100 năm, xứ Thái Nguyên (bao gồm cả Bắc Kạn ngày nay) trở thành bãi chiến trường của hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc Năm 1596, sau trận giao tranh đẫm máu ở vùng hồ Ba Bể (Chợ Rã), về cơ bản chiến sự tạm thời chấm dứt, quân Mạc rút lên cố thủ Cao Bằng Tuy nhiên, cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến đã làm cho đời sống nông dân Bắc Kạn vô cùng khổ cực

Trong lúc này, vì chưa có điều kiện can thiệp bằng vũ lực, phong kiến Trung Quốc dùng thủ đoạn chính trị xảo quyệt sắc phong cho vua Lê, đồng thời ép nhà Lê để nhà Mạc quản trị đất Cao Bằng và một bộ phận tỉnh Bắc Kạn, để duy trì mầm mống nội chiến và tạo cơ sở cho các cuộc chiến tranh xâm lược sau này

Trong các thế kỷ XVI-XVIII, chế độ phong kiến nước ta bước vào suy vong, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với giai cấp thống trị ngày càng thêm sâu sắc, nhiều cuộc khởi nghĩa liên tiếp bùng nổ Trong hoàn cảnh đó, nông dân Bắc Kạn đã nhanh chóng hướng về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771), giúp đỡ nghĩa quân trong việc đánh đổ tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, cũng như có

Trang 14

nhiều đóng góp về sức người, sức của trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Thanh (1789).

Năm 1802, Nguyễn Ánh dựa vào sức mạnh của bọn tư bản phương Tây, đánh bại nhà Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn Dưới ách thống trị của nhà Nguyễn, nông dân phải chịu bao cảnh cơ cực, bần hàn bởi thuế khóa nặng nề,

vô lý và chính sách cai trị bạo tàn của bọn phong kiến phản động Song với ý chí quật cường, không chịu khuất phục trước bạo tàn, nhân dân cả nước nói chung, nông dân Bắc Kạn nói riêng nhiều lần nổi dậy chống lại cường hào, ác

bá Nông dân Bắc Kạn nhanh chóng tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân, một tù trưởng vùng Bảo Lạc (Cao Bằng) Nghĩa quân làm chủ cả vùng Việt Bắc, chiếm Thái Nguyên, bắt quan lại nhà Nguyễn, thích vào mặt dòng chữ

“quan tỉnh hay ăn hối lộ” rồi đuổi đi Tại các căn cứ quân sự chủ yếu ở châu

Bạch Thông và huyện Cảm Hóa, nghĩa quân được sự ủng hộ, bảo vệ, che chở của nông dân đã đánh nhiều trận oanh liệt, bẻ gãy những cánh quân lớn của phong kiến nhà Nguyễn Triều đình nhà Nguyễn phải chật vật trong nhiều năm mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa

Để trả thù nghĩa quân, triều đình nhà Nguyễn đã tàn sát, cướp phá dã man nhiều vùng ở Bắc Kạn, hy vọng đè bẹp tinh thần phản kháng của nông dân Nhưng nông dân Bắc Kạn không bị khuất phục, đã nhiều lần nổi dậy và tham gia các cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Hoàng, Nông Văn Sĩ, Bế Văn Hoành, Bế Văn Cận…1 Tuy các cuộc khởi nghĩa trên lần lượt thất bại, song đã thể hiện tinh thần đấu tranh quật khởi, kiên cường trước cường quyền áp bức của nông dân Bắc Kạn

Cuối thế kỷ XIX, triều đình phong kiến nhà Nguyễn suy tàn, các nước

tư bản phương tây đang bành chướng thế lực xuống các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Trước tình hình đó, nông dân Bắc Kạn cùng nhân dân

cả nước một lần nữa vùng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước

Trải qua quá trình phát triển lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã chinh phục thiên nhiên, đoàn kết

1 Dẫn theo Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1960, tập III, tr 510.

Trang 15

cùng nhau lao động sản xuất, đấu tranh bảo vệ quê hương, Tổ quốc và xây dựng nên những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc Đây là tiền đề, là nền tảng quan trọng để nông dân và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn kiên cường, dũng cảm tham gia vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo.

Trang 16

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng bắn vào bán đảo Sơn Trà và đổ bộ vào

Đà Nẵng chính thức xâm lược nước ta Tiếp đó, chúng tiến đánh Sài Gòn - Gia Định và hai lần tấn công Bắc Kỳ Trước sự tấn công xâm lược của thực dân Pháp, vua quan triều đình nhà Nguyễn chống trả yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng dâng nước ta cho thực dân Pháp

Sau khi đánh chiếm về cơ bản các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ngày

19-3-1884, thực dân Pháp đánh chiếm thành Thái Nguyên, nhưng vấp phải sự đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân, trong đó có đông đảo lực lượng nông dân Vì thế, ngày 10-5-1884, chúng mới dám cho đóng quân trong thành Thái Nguyên và từng bước mở rộng đánh chiếm các khu vực thuộc Bắc Kạn

Ngày 13-2-1888, đạo quân do đại tá Xécvie (Servière) chỉ huy từ Bảo Lạc (Cao Bằng), kéo xuống đánh chiếm châu lỵ Chợ Rã Tiếp đó, ngày 17-2-1888, thực dân Pháp chiếm Ngân Sơn Ngày 17-1-1889, dưới quyền chỉ huy của tướng Boócnhi Đêbo (Borgni Đébor), thực dân Pháp đưa một đạo quân lớn gồm 924 tên (không kể 1.200 người bị bắt đi vận tải lương thực, vũ khí) đánh chiếm Chợ Mới Trong các năm 1891-1895, thực dân Pháp lần lượt mở rộng chiếm đóng

Na Rì (1891), Bạch Thông (1892), Chợ Đồn (1895)

Như vậy, trước sự kháng cự mạnh mẽ của nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn, nên phải sau hơn 10 năm, thực dân Pháp mới cơ bản hoàn thành việc đánh chiếm Bắc Kạn

Để nhanh chóng bình định và vơ vét sức người, sức của ở Bắc Kạn, ngay trong các cuộc hành quân xâm lược, thực dân Pháp đã xây dựng nhiều đồn bốt, điếm canh, nhà tù, như đồn binh ở Hà Hiệu, Chợ Rã (1-1889); Bạch Thông, Ngân Sơn (11-1894)… Hệ thống cứ điểm, màng lưới đồn, bốt, điếm canh ngày càng mọc lên như nấm trong toàn tỉnh Năm 1930, riêng vùng nông thôn bảy châu, huyện phía nam đã có tới 372 điếm canh với đội quân khủng bố đông đảo Năm 1926, kể cả Thái Nguyên và Bắc Kạn, dân cư chỉ hơn 10 vạn, nhưng lực lượng trong bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã lên tới hàng nghìn tay súng

Thực dân Pháp còn tăng cường xây dựng bộ máy quân sự để dễ bề đàn áp

Ở thị xã có giám binh nắm quyền cao nhất về quân sự, ở châu có châu đoàn, ở tổng có tổng đoàn, cấp xã có xã đoàn và lính dõng Tính đến năm 1926, ở Bắc

Trang 17

Kạn và Thái Nguyên, bộ máy quân sự của thực dân Pháp có khoảng 200 lính Âu

- Phi, hơn 2.000 lính khố xanh, khố đỏ, 2.000 lính dõng và gần 200 lính cơ canh gác ở các phủ, châu, huyện và các lực lượng vũ trang trá hình khác1

Sau khi chiếm đóng Bắc Kạn, thực dân Pháp chia Bắc Kạn thành 5 châu, (huyện): Bạch Thông, Chợ Rã, Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn Dưới châu là tổng

và xã Đứng đầu tỉnh là một viên Công sứ người Pháp, nắm quyền về chính trị, quân sự, trực tiếp làm Chánh án toà án đệ nhất (tư pháp đối với người Âu) và kiêm chức Chánh án tòa án đệ nhị cấp (tư pháp đối với người bản xứ) Đứng đầu mỗi châu là viên tri châu Ở các tổng có chánh, phó tổng; các xã có lý trưởng và phó lý trưởng Từ năm 1931, ở cấp xã còn có Hội đồng kỳ mục Năm 1940, ở cấp tổng chúng đặt thêm chức tăng thiết để giúp việc thu thuế

Để phục vụ cho chính sách chia để trị, thực dân Pháp còn thành lập chính quyền riêng của một vài dân tộc thiểu số Theo đó, người Dao được phép có động trưởng ở cơ sở, hoặc Chánh Mán ở cấp tổng; quản chiểu, phó quản chiểu ở cấp châu Chúng đặt ra chế độ thống tra đối với người Mông, bang trưởng đối với người Hoa… Thực dân Pháp ra sức tuyên truyền cho bộ máy này, coi đó như là quyền tự trị dân tộc Nhưng thực chất đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao sống du canh, du cư, xen kẽ với các dân tộc khác, nên bản thân bộ máy

mà chúng áp đặt cho họ không có lãnh thổ riêng Do đó, các dân tộc thiểu số vùng cao vừa phải chịu ách áp bức bóc lột của bộ máy cai trị chung, vừa phải chịu sự áp bức của bộ máy chính quyền dân tộc tự trị mà thực dân Pháp đặt ra

Lợi dụng sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, các vùng, thực dân Pháp ra sức tuyên truyền xuyên tạc để phá hoại truyền thống đoàn kết dân tộc Chúng tung ra luận điệu nguyên nhân khổ cực của đồng bào du canh du cư là do người vùng thấp đã chiếm hết ruộng bãi; người vùng thấp lại bị kích động oán thù dân buôn bán ở thành thị Thực dân Pháp còn quy định người Dao phải thực hiện tô lao dịch cho lý trưởng người Tày mỗi khi phát nương Ngay trong hàng ngũ quan lại địa phương, lý trưởng ở vùng thấp được trao quyền lực và bổng lộc nhiều hơn quản chiểu ở vùng cao

Trang 18

Để xây dựng, củng cố chính quyền tay sai bản xứ trở thành công cụ đắc lực trong việc vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân, thực dân Pháp đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ tay sai Năm

1888, ngay trên đường hành quân xâm lược các châu, huyện phía Bắc tỉnh, chúng đã tuyển mộ tay sai trong đám lưu manh, buôn lậu để dẫn đường và giúp bọn này lập bộ máy chính quyền phản động Sau khi bình định Bắc Kạn, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh đào tạo tay sai, trong đó chủ yếu là lựa chọn con em của tầng lớp trên và đặc cách cho ăn học, để đào tạo họ trở thành lớp tay sai mới, trung thành khôn khéo và nhiều mánh lới Tính chung trong 50 năm, từ năm 1888 đến năm 1938, thực dân Pháp đã đào tạo được gần 60 quan lại từ các bang tá đến tuần phủ, phục vụ trong bộ máy nguỵ quyền của chúng ở Bắc Kạn Nhiều tên tay sai đắc lực được bọn thực dân trọng dụng, cho làm tri châu, tuần phủ và mặc sức cho vơ vét, cướp bóc tài sản của nhân dân

Như vậy, bằng nhiều hình thức, với những thủ đoạn chính trị thâm độc, thực dân Pháp đã thiết lập được ở Bắc Kạn bộ máy cai trị với chính sách vô cùng hà khắc Thông qua bộ máy này, chúng ra sức vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân Bắc Kạn

Người nông dân phải chịu hàng trăm thứ thuế nặng nề và vô lý, đặc biệt là thuế đinh (thuế thân) và thuế điền do thực dân Pháp và tay sai đặt ra Đàn ông từ

18 đến 60 tuổi phải nộp thuế đinh Thuế đinh được chia làm hai loại: Loại nội tịch (những người có tài sản), mỗi đầu người phải nộp 3 đồng/năm Loại ngoại tịch (những người không có tài sản hoặc từ nơi khác đến) mỗi đầu người phải nộp 1,5 đồng/năm Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, thực dân Pháp đã năm lần điều chỉnh mức thuế, đưa thuế thân tăng lên gấp hơn hai lần so với ban đầu1 Thực dân Pháp chia thuế điền làm 3 loại: nhất đẳng điền 7 đồng/mẫu; nhị đẳng điền 5 đồng/mẫu; tam đẳng điền 4 đồng/mẫu Bọn quan lại kỳ hào luôn tìm cách

tăng thuế Chúng thường dùng thủ đoạn “gia đẳng”: đổi nhị đẳng điền thành

nhất đẳng điền, tam đẳng điền thành nhị đẳng điền

Trong nhiều trường hợp việc tăng thuế chưa đáp ứng được những thiếu hụt về ngân sách, thực dân Pháp còn đặt thêm các khoản phụ thu khác Năm

1 Thời giá năm 1931, đối với gạo tính theo đơn vị tạ, loại I: 5,5 đồng, loại II: 5,0 đồng, loại III: 4,6 đồng.

Trang 19

1931, do ngân sách Liên bang Đông Dương thiếu hụt, chúng đặt ra một khoản phụ thu 15% đối với thuế thân và thuế điền (trừ ruộng đất người Âu) để thu thêm gần 30.000 đồng.

Ngoài thuế đinh và thuế điền, nông dân Bắc Kạn còn phải chịu hàng loạt thứ thuế vô lý khác, bị ép buộc phải bán nông sản cho chính quyền thực dân với giá rẻ mạt, nhiều khi còn bị cướp trắng Ai trốn thuế, lậu thuế mà bị chúng phát hiện phải ngồi tù, bị đánh đập dã man và phải chạy tiền đút lót để được yên thân

Nông dân Bắc Kạn còn điêu đứng bởi chế độ phu phen tạp dịch Hàng năm, nông dân bị bắt đi phu từ hai đến ba đợt, mỗi đợt kéo dài từ 10 đến 12 ngày để xây đồn bốt, làm cầu đường, xây dựng sân bay, vận chuyển, khiêng cáng bọn quan lại đi công cán… Ngay cả trong những ngày mùa, nông dân vẫn

bị bắt đi phu, nên việc đồng áng, cày cấy không kịp thời vụ, nguy cơ mùa vụ thất thu, đói kém luôn đe dọa Nông dân muốn được ở nhà cày cấy, gieo trồng kịp thời vụ buộc phải bán thóc, trâu, bò, ruộng, vườn để lấy tiền nộp cho chúng

Thực dân Pháp và tay sai còn trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, nhất là ở khu vực các huyện phía nam của tỉnh Những khu vực trù phú hàng trăm, hàng nghìn hecta lần lượt bị chính quyền thực dân khoanh lại để cấp cho đồng bọn Một số tên nhiều thế lực chiếm những vùng đất màu mỡ rộng hàng vạn hecta Chỉ tính riêng hai đồn điền của tên Raaynô và Ghiôm đã chiếm tới 25.181 ha Tên Tuần phủ Hoàng Đức Hinh (Chợ Rã) lợi dụng quyền thế chiếm hết ruộng đất tốt ở xã Thượng Giáo và lợi dụng họ hàng quan lại chiếm đoạt dần số ruộng lân cận của nông dân Vì thế, nông dân dần bị mất hết ruộng đất, phải bán sức lao động trong các hầm mỏ, đồn điền, trang trại của thực dân Pháp và phong kiến tay sai

Cùng với việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân, thực dân Pháp còn đẩy mạnh khai thác, vơ vét tài nguyên thiên nhiên Ngay sau khi đặt được ách thống trị ở Bắc Kạn, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác với quy mô lớn các mỏ vàng ở Chợ Rã, Na Rì; mỏ bạc ở Ngân Sơn, Chợ Đồn; mỏ kẽm ở Chợ Đồn Nhiều mỏ khoáng sản quý được chúng đầu tư với số vốn hàng chục triệu đồng Trong những năm 1920-1925, Bắc Kạn được coi là tỉnh đứng đầu về khai thác hầm mỏ ở Bắc Kỳ Tính chung, từ năm 1914 đến năm 1941, thực dân Pháp đã

Trang 20

cướp đi 353.716 tấn quặng kẽm Riêng năm 1941, chúng đã khai thác 5,5 tấn quặng chì, 180 tấn măng gan.

Để dễ bề cai trị, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách ngu dân, hạn chế mở mang văn hóa dân tộc, duy trì, khuyến khích những phong tục tập quán lạc hậu, các tệ nạn xã hội hòng đẩy nhân dân Bắc Kạn chìm đắm trong vòng ngu tối Vì thế, trong một thời gian dài, chúng không mở trường học Về sau do nhu cầu đào tạo lực lượng tay sai người bản xứ, chúng buộc phải mở một số lớp học (cấp I) ở thị xã, nhưng chỉ con em của bọn địa chủ, cường hào, quan lại theo học Năm 1922, cả Bắc Kạn và Thái Nguyên có 6 trường cấp I không toàn cấp, nhưng đến năm 1932 rút xuống còn 5 trường Năm 1939, nền giáo dục của chúng phát triển nhất, nhưng Bắc Kạn cũng chỉ có 900 học sinh từ vỡ lòng đến cấp I và 60 giáo viên; 98% nhân dân mù chữ, nhất là các dân tộc vùng cao1 Như vậy, thực chất nền giáo dục của thực dân Pháp là đào tạo một số người có chút ít văn hóa để làm tay sai cho chúng

Cùng với chính sách ngu dân, thực dân Pháp còn đầu độc người dân bằng thuốc phiện, rượu cồn và các tệ nạn xã hội khác như mê tín dị đoan, cờ bạc, mại dâm… Năm 1941, chúng đã bán ra 208,465 kg thuốc phiện và 276.082 lít rượu cồn2, buộc người nhân phải tiêu thụ Dưới thời thuộc Pháp, Đình Quan Đế (thị

xã Bắc Kạn) bị biến thành một trung tâm cờ bạc; các thôn, xóm, làng bản đều có các ổ đánh bạc Hàng năm, chúng còn khuyến khích các nhà buôn ở thị xã tổ chức các cuộc ăn chơi, đánh bạc kéo dài và các trò chơi có tính miệt thị dân tộc, mua vui cho bọn thống trị

Về y tế, năm 1932 toàn tỉnh có một nhà thương với khoảng 30 giường bệnh Về sau, chúng lập thêm bệnh xá ở Chợ Rã, Na Rì Mỗi huyện chỉ có một y

tá và một nữ hộ sinh, nhưng chủ yếu phục vụ thực dân, phong kiến Mỗi khi ốm đau, nông dân ngoài việc sử dụng các loại thuốc nam chỉ biết nhờ cậy vào thầy

mo, thầy cúng, tốn kém mà không khỏi bệnh Các bệnh phổ biến thường xảy ra như sốt rét, ho lao, lỵ và suy nhược vì thuốc phiện Phụ nữ không bao giờ được khám phụ khoa, khi sinh đẻ không có nhà hộ sinh… Tình trạng hữu sinh vô dưỡng là hiện tượng phổ biến Nguy cơ diệt tộc xuất hiện trong một số dân tộc

1, 2 Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bắc Thái: Sơ thảo Lịch sử thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám tỉnh Bắc Thái (1939-1945), 1970, tr 140.

Trang 21

Chính sách áp bức, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai làm cho đời sống nông dân ngày càng điêu đứng Mâu thuẫn giữa nhân dân Bắc Kạn với bọn thực dân, phong kiến tay sai ngày càng sâu sắc Nhiều phong trào đấu tranh của nông dân nổ ra liên tiếp, mạnh mẽ, quyết liệt

Ngay khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Phùng Bá Chỉ (tức Bá Kỳ), nông dân và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh vùng lên đấu tranh, đã giáng cho địch những đòn chí mạng Trong trận Chợ Mới ngày 17-1-1889, nghĩa quân tiêu diệt gần 100 tên địch, hàng chục sỹ quan, làm cho kẻ thù khiếp sợ Nhưng vì thiếu vũ khí, nên nghĩa quân phải thiêu hủy căn cứ rồi rút lui để bảo toàn lực lượng Tiếp đó, dưới sự chỉ huy của Mã Sinh Long (Mã Mang), đồng bào Dao đã đánh địch nhiều trận, nhất là trận phục kích đoàn vận tải ngược sông Cầu lên Chợ Mới

Năm 1904, người Dao hai xã Tân Sơn, Cao Sơn (Bạch Thông) đấu tranh chống chính sách sưu cao, thuế nặng của đế quốc, phong kiến Tháng 8-1917, nông dân Bắc Kạn hưởng ứng tích cực cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn chỉ huy…

Những cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến tay sai trong những năm đầu thế kỷ thứ XX tuy không giành được thắng lợi, nhưng đã thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nông dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để nông dân tiếp tục đấu tranh

và giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

II PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN THỜI KỲ 1930-1939Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập Ngay sau khi

ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động phong trào đấu tranh cách mạng rộng lớn trên cả nước, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931)

Là địa bàn nằm giữa khu vực sớm có phong trào cách mạng, nhưng Bắc Kạn là vùng sâu, vùng xa với núi rừng hiểm trở, dân cư thưa thớt, lại bị thực dân

Trang 22

Pháp kiểm soát chặt chẽ, nên việc tuyên truyền và phát triển phong trào cách mạng trong buổi đầu mới thành lập Đảng còn gặp nhiều khó khăn Trong điều kiện đó, nông dân Bắc Kạn đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh, trở thành lực lượng đông đảo, nòng cốt của cách mạng và được tập hợp trong các tổ chức như Hội tương tế, Hội ái hữu…

Mở đầu cuộc đấu tranh của nông dân Bắc Kạn là các đợt rải truyền đơn, mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy phản đối khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ - Tĩnh ở thị xã, thị trấn Sau đó, phong trào đấu tranh lan ra các châu trong tỉnh chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế nặng nề và vô lý…

Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nông dân và quần chúng cách mạng, thực dân Pháp điều động lực lượng tới trấn áp và bắt đi một số nông dân

mà chúng nghi là người cầm đầu Song những hành động đó không thể uy hiếp

và dập tắt phong trào đấu tranh của nông dân Nông dân Bắc Kạn vẫn sát cánh cùng công nhân và các tầng lớp nhân dân đấu tranh, giương cao khẩu hiệu: ủng

hộ công nông Nghệ - Tĩnh, đưa yêu sách đòi giảm sưu, hoãn thuế, đòi thực dân Pháp trả tự do cho những người mà chúng đã bắt

Qua đấu tranh, nông dân ngày càng trưởng thành, ý thức giác ngộ cách mạng ngày càng cao Đặc biệt là những thanh niên tiêu biểu xuất thân từ nông dân đã từng tham gia tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, được huấn luyện tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, hăng hái trong mọi hoạt động cách mạng

và có nhiều đóng góp trong việc giáo dục, giác ngộ quần chúng tin vào Đảng, tin vào sự tất thắng của cách mạng Nhiều nông dân đã nhận thức sâu sắc: muốn thoát khỏi ách thống trị thực dân Pháp và tay sai trước hết phải đánh đổ thực dân Pháp, chỗ dựa của bọn tay sai, kẻ thù dân tộc, đồng thời cũng là kẻ thù giai cấp Ở một nước thuộc địa với nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thực chất là cuộc cách mạng giải phóng nông dân Vì thế, khi Đảng giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nông dân đã tích cực hưởng ứng và nhanh chóng trở thành động lực thúc đẩy cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Có thể nói, trong cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, nông dân Bắc Kạn đã hưởng ứng và thể hiện vai trò to lớn của

Trang 23

mình trong đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, dưới sự lãnh đạo của Đảng và giành thắng lợi từng bước.

Trước tình hình đó, thực dân Pháp thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo Chúng thẳng tay đàn áp những người tham gia đấu tranh, những gia đình nông dân mà chúng nghi là nuôi giấu cán bộ, là nơi đặt cơ sở cách mạng Mặt khác, thực dân Pháp còn tăng thêm các loại thuế một cách vô lý, đồng thời tiến hành chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Những hành động của thực dân Pháp và tay sai đẩy nông dân Bắc Kạn vào tình cảnh hết sức điêu đứng, song họ vẫn một lòng tin theo Đảng, tin vào sự thắng lợi của cách mạng nên vẫn tiếp tục đấu tranh

Sau thời kỳ khó khăn 1931-1933, trên cơ sở phong trào cách mạng trong toàn quốc đang dần hồi phục và phát triển, Ban chỉ huy ở ngoài nước của Đảng (làm nhiệm vụ Ban Chấp hành Trung ương lâm thời) được thành lập, chủ trương đào tạo cán bộ đưa về nước, trước hết là gây cơ sở trong đồng bào các dân tộc dọc biên giới Việt - Trung Thực hiện chủ trương trên, các đồng chí Lê Hồng Phong, Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ về Cao Bằng, Lạng Sơn để tổ chức

và phát triển phong trào

Do ảnh hưởng của phong trào chung, đặc biệt trong vùng Cao - Bắc - Lạng, nông dân hai tổng Hà Vị, Nông Thượng và thị xã Bắc Kạn dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Bông ở Xuất Hoá và ông Chỉ ở Cao Kỳ, đã làm đơn tập thể kiện lên Phủ Toàn quyền Đông Dương về việc bọn thực dân và quan lại ức hiếp dân chúng1

Giữa lúc phong trào cách mạng đang từng bước khôi phục và phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp từ ngày 27 đến 31-3-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) Đại hội đánh giá kết quả đã đạt được trong thời gian qua và đề ra nhiệm vụ cách mạng giai đoạn trước mắt là tiếp tục củng cố phát triển Đảng, tổ chức các hội quần chúng rộng rãi nhằm tập hợp lực lượng cách mạng chống chiến tranh đế quốc Đại hội thông qua Nghị quyết về vận động nông dân, trong đó vạch rõ những chính sách cực kỳ phản động của thực dân

1 Dẫn theo Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Bắc Kạn: Lịch sử Đảng bộ thị xã Bắc Kạn (1943-1995), Nxb Chính

Trang 24

Pháp và tình cảnh khốn cùng của nông dân, đồng thời đề ra nhiệm vụ cần kíp của Đảng trong công tác vận động nông dân làm cách mạng giải phóng dân tộc

Bước sang năm 1936, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những chuyển biến sâu sắc Tháng 5-1936, Mặt trận nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập, đã thi hành một loạt các chính sách tiến bộ như đòi thả hết tù chính trị, giải tán và tước vũ khí của phát xít, thực hiện tuần làm việc 40 giờ, tăng trợ cấp cho người thất nghiệp Điều này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển

Để kịp thời định ra đường lối, phương pháp tổ chức đấu tranh trong thời

kỳ mới, tháng 7-1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Thượng Hải, do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp đông đảo nông dân, công nhân, trí thức… tham gia cách mạng; chuyển hình thức đấu tranh từ bí mật, không hợp pháp sang hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp Hội nghị đánh giá cao vai trò của nông dân và mối liên hệ chặt chẽ giữa nông dân và công nhân

Dưới ánh sáng Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, phong trào nông dân Bắc Kạn có những chuyển biến mới, sâu rộng trong các vùng nông thôn, thu hút đông đảo các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… tham gia đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Ở nông thôn, các hình thức

tổ chức của nông dân rất đa dạng như hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội góp họ, phường đi săn, nhóm học chữ Quốc ngữ… Những hình thức tổ chức này đã tập hợp được đông đảo nông dân trong một tổ chức, cùng đấu tranh giành quyền lợi cho giai cấp mình

Trong những năm 1936-1939, mặc dù các cơ sở cách mạng ở Bắc Kạn chưa được xây dựng, song do ảnh hưởng của phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi trong cả nước, đã cổ vũ, động viên nông dân

và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn vùng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột với

Trang 25

mục tiêu, nội dung và hình thức phong phú, đa dạng Nhiều tờ báo công khai của

Đảng, Mặt trận dân chủ Đông Dương như Tin tức, Bạn dân, Dân chúng… được

truyền bá trong nhân dân các huyện Bạch Thông, Chợ Rã và thị xã Bắc Kạn

Cùng với phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh, nông dân Bắc Kạn còn đấu tranh chống thực dân Pháp bắt dân phu đi làm sân bay, làm đường Bắc Kạn - Chợ Đồn, Bắc Kạn - Chợ Rã Để xây dựng sân bay Bắc Kạn, thực dân Pháp bắt 800 người dân đi làm phu thường xuyên, đồng thời huy động hàng trăm dân phu với chế độ lao dịch nặng nề trên các tuyến đường giao thông và giao cho tên Phú Giàng nổi tiếng gian ác, phụ trách việc bắt phu và đốc công

Anh em phu làm đường (chủ yếu là nông dân các xã thuộc tổng Phương Linh, Hà Vị) nổi dậy đấu tranh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của nông dân các xã Quân Bình, Lục Bình, Cẩm Giàng, Tú Trĩ, Tân Tiến, Phương Linh,

Vũ Muộn… Tại Hà Nội, đoàn đại biểu đã gửi đơn kiến nghị Bộ Thanh tra lao động, nhưng không được giải quyết Quần chúng cách mạng tiếp tục đấu tranh, buộc địch phải chuyển đơn sang Toà Thống sứ và hứa sẽ hỏi tội bọn quan lại địa phương, trả tiền công cho dân phu theo ba loại: loại khoẻ 0,4 đồng, loại trung bình 0,18 đồng và phụ nữ 0,15 đồng

Khi trở về địa phương, sau một thời gian không thấy bọn thống trị giải quyết những điều như đã hứa, dân phu lại kéo lên châu lỵ đấu tranh Kẻ địch ngoan cố bắt hai người hòng uy hiếp phong trào, nhưng cuộc đấu tranh vẫn diễn

ra kiên quyết, buộc chúng phải thả những người bị bắt, trả tiền công cho dân phu 0,18 đồng/ngày Tên tri châu Bạch Thông buộc phải chuyển đi nơi khác

Có thể nói, phong trào đấu tranh của nông dân Bắc Kạn thời kỳ vận động cách mạng 1936-1939 dưới sự lãnh đạo của Đảng diễn ra sôi nổi với quy mô lớn và trên diện rộng Bằng các hình thức đấu tranh đưa yêu sách, viết đơn kiện với hàng trăm chữ ký, phong trào đấu tranh đòi tự do lập hội, tự do hội họp, tự

do báo chí, cho đến các cuộc biểu tình, đấu tranh trực diện với kẻ thù đòi giảm thuế, chống bắt phu vào ngày mùa, đi phu phải được cấp tiền gạo, chống phù phu lạm bổ… đã lôi cuốn đông đảo nông dân tham gia và thu được nhiều kết quả Qua đấu tranh, nông dân được tôi luyện, ý thức giác ngộ cách mạng ngày càng cao, không hoang mang dao động trước những đòn tra tấn dã man hoặc

Trang 26

những lời dụ dỗ đường mật của kẻ thù, một lòng vững tin vào Đảng, vào sự tất thắng của cách mạng Đây là nền tảng, tiền đề quan trọng để phong trào nông dân Bắc Kạn tiếp tục có được những bước chuyển biến to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ 1939-1945.

III PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NÔNG DÂN THỜI KỲ 1939-1945Ngày 01-9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ Sau khi tham chiến, chính phủ phản động Pháp tiến hành giải tán Đảng Cộng sản Pháp và các

tổ chức dân chủ, tiến bộ ở Pháp; thẳng tay đàn áp, khủng bố các cơ sở Đảng và phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, trong đó có Việt Nam

Trước tình hình đó, ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng gửi Thông báo cho các cấp bộ Đảng, vạch ra một số phương hướng, nhiệm vụ cần kíp trước mắt, nhằm chuyển hướng các mặt hoạt động của Đảng và chỉ thị cho các cấp bộ Đảng, các tổ chức quần chúng rút vào hoạt động bí mật Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 và tháng 11-1940, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Trung ương Đảng đã có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với tình hình mới Nhờ đó, phong trào cách mạng cả nước có bước phát triển mới

Trong lúc phong trào cách mạng cả nước cũng như ở Bắc Kạn đang có nhiều chuyển biến, ngày 22-9-1940, phát xít Nhật tràn qua biên giới Việt - Trung, rồi đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng; thực dân Pháp đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi hèn nhát qùy gối dâng nước ta cho phát xít Nhật,

đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh “một cổ hai tròng” với chính sách cai trị vô

cùng hà khắc Phong trào đấu tranh liên tiếp bùng nổ

Trong hai năm 1940-1941, trên khắp cả nước nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu như khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương Tin tức khởi nghĩa, binh biến đã cổ vũ, động viên mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước và Bắc Kạn Tình hình khẩn trương đòi hỏi Đảng ta chỉ đạo sát sao, nhạy bén, tập trung hơn

Đáp ứng yêu cầu của lịch sử, đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Pác

Pó, Cao Bằng (5-1941) Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước,

Trang 27

Hội nghị khẳng định: Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, Pháp - Nhật không chỉ là kẻ thù của công - nông mà còn là

kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, thông qua các hội cứu quốc như: Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ, Quân nhân, Phụ lão, Nhi đồng… và coi việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 và tháng 11-1940, tạo ra động lực đưa phong trào cách mạng cả nước lên một bước mới

Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bắc Kạn là một trong những tỉnh đi đầu trong phong trào Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng, tích cực xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang để giành chính quyền khi thời cơ

cách mạng xuất hiện Cùng với chương trình Việt Minh, các bài ca Hai lủng

quang (Trăng sáng trong), Pỉ noọng ơi… được phổ biến rộng rãi, khích lệ tinh

thần cách mạng của nông dân và các tầng lớp, giai cấp khác vùng lên đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước

Giữa năm 1941, để đối phó với phong trào cách mạng ở Việt Bắc đang dâng lên mạnh mẽ, thực dân Pháp tăng cường lực lượng vây ráp nhằm tiêu diệt căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai Liên tiếp trong hai tháng 6 và 7-1941, chúng huy động hàng trăm lính, mở nhiều cuộc vây càn vào căn cứ Quân Pháp từ Thái Nguyên kéo sang, từ Lạng Sơn kéo về tiến hành cướp phá, lùng bắt cán bộ, dồn hàng nghìn dân vào các trại tập trung

Để đối phó với âm mưu của địch, các đồng chí lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn -

Võ Nhai quyết định di chuyển lên vùng biên giới Việt - Trung Ngày 16-8-1941, đơn vị chia làm hai bộ phận theo hai ngả hành quân lên biên giới Bộ phận theo đường Bắc Kạn lên Cao Bằng bị lọt giữa vòng vây địch Trong trận chiến đấu quyết liệt ngày 22-8-1941 tại Khau Pàn (xã Đức Vân, châu Ngân Sơn), đồng chí Phùng Chí Kiên - Chỉ huy trưởng đã hy sinh, đồng chí Lương Văn Chi, Chỉ huy

Trang 28

phó, bị bắt và sau đó bị địch giết hại1 Để chống địch khủng bố và duy trì phong trào, bộ phận được phân công ở lại căn cứ tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích, vận động và lãnh đạo nông dân đấu tranh

Cuối năm 1941 đầu năm 1942, khu vực phía Bắc Chợ Rã chịu ảnh hưởng

và tác động mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở Bảo Lạc (Cao Bằng), nhất là khi các đồng chí Hồng Tụ, Mệnh Lệnh, Hồng Đào, Hồng Tỵ và chị Mai… đến Chợ Rã để giúp đỡ các cơ sở và củng cố phong trào Vì thế, trong các làng bản Chẻ Vành, Nặm Đăm, Lủng Nghè, Thẳm Củ, Khưa Dầy, Mảy Sào, Pụp Nhùng, Thẳm Tảo…, hầu hết nông dân đã gia nhập Hội Nông dân cứu quốc Tiếp đó,

Ban Việt Minh liên xã Cao Minh (gồm ba xã Cao Tân, Cao Thượng, Cổ Linh)

được thành lập Đây là tổ chức cách mạng đầu tiên ở vùng cao Chợ Rã và cũng

là tổ chức cách mạng đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn

Để giúp quần chúng có điều kiện tiếp thu chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời gây khí thế cho phong trào chung, Trung ương Đảng tăng cường cán

bộ về cơ sở củng cố cơ sở cách mạng, mở các lớp học văn hóa, chính trị, quân

sự Lớp đầu tiên học trong rừng Cao Thượng, do đồng chí Mệnh Lệnh và Tô Vũ phụ trách; các lớp sau mở ở Nà Lài (Cao Tân), Mễ Sảo (Cổ Linh), Trà Vành (Cao Thượng), do đồng chí Khoa phụ trách Do trình độ của nhân dân còn thấp nên chương trình học tập được đơn lược cho phù hợp Chương trình Việt Minh,

Điều lệ Việt Minh được soạn thành văn vần gọi là Việt Minh ngũ tự kinh, Điều

lệ Việt Minh giảm yếu Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã dịch Việt Minh ngũ tự kinh

ra tiếng Tày, Mông, Dao để nông dân dễ học, dễ hiểu và nhớ lâu Nông dân hăng hái, tích cực tham gia các lớp học, tự túc và đóng góp lương thực, thực phẩm để nuôi cán bộ mở lớp

Cùng với việc học tập văn hoá, chính trị, phong trào luyện tập quân sự cũng được chú ý Trong số các lớp huấn luyện quân sự thời kỳ này, đáng chú ý nhất là lớp huấn luyện mở tại Pụp Nhùng (Cao Tân), do đồng chí Đức Hạnh và Sinh Lộ phụ trách với hơn 100 học viên tham dự, trong đó có nhiều người xuất thân nông dân

1 Theo tư liệu Lịch sử đấu tranh cách mạng Ngân Sơn thời kỳ 1939-1945, lưu tại khoa Sử, Đại học Khoa học xã

hội và Nhân văn, Hà Nội.

Trang 29

Có thể khẳng định, phong trào học văn hóa, chính trị, quân sự thực sự đem lại tác dụng thiết thực Trình độ giác ngộ, khí thế cách mạng của quần chúng chuyển biến rõ rệt Nhiều nông dân vùng cao, nhất là phụ nữ quanh năm vất vả với công việc đồng ruộng, chưa bao giờ tham gia hoạt động xã hội bước đầu thoát ra được tập quán cũ, hăng hái tham gia các đoàn thể cứu quốc, tích cực luyện tập quân sự Đầu năm 1942, đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định thành

lập “Đội xung phong Minh Khai” gồm năm phụ nữ, do đồng chí Tự Quyết làm

Đội trưởng; mở các lớp huấn luyện, chuẩn bị cho việc Nam Tiến

Thông qua hoạt động của đội Minh Khai, Bắc Kạn đã xây dựng được một

số cơ sở cách mạng ở Thượng Ân, Cốc Đán, Vân Tùng Một số quần chúng giác ngộ như các chị Ích Hậu, Ngoạn, Liệu (Thượng Ân); Phùng Sĩ Quằn, Phùng Thị Hỷ, Đồng Văn Khoa (Cốc Đàn); ông Nghị, ông Chu (Vân Tùng), được kết nạp vào Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc

Tháng 10-1943, các đồng chí Tự Quyết và Phù Dung còn mở rộng việc xây dựng cơ sở ở Hà Vị (Bạch Thông); tổ chức cho 9 thanh niên đi học ở Nguyên Bình qua hai lớp: Lớp thứ nhất gồm các đồng chí Quằn, Phát, Khoa; lớp thứ hai gồm các đồng chí Đạt, Toản, Tiểng, Hải, Biên, Thăng Số hội viên ngày càng được mở rộng; phong trào cách mạng có bước phát triển nhanh chóng, tạo tiền đề quan trọng để các đội Nam Tiến xây dựng, phát triển lực lượng và lôi cuốn được đông đảo nông dân tham gia Đặc biệt là sự thành lập các tổ chức cách mạng và sự ra đời của Ban Chấp hành Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng (11-1942), đã đưa phong trào cách mạng Bắc Kạn có sự phát triển nhảy vọt

Từ sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941, Việt Bắc được chọn làm căn cứ cách mạng của cả nước, do đó việc liên lạc giữa các địa phương trong khu cách mạng Việt Bắc, trong đó có Bắc Kạn và giữa Trung ương với miền

xuôi ngày càng trở nên cấp thiết Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Căn cứ địa

Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta”, vì “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi” Với tầm nhìn chiến lược, Người khẳng định: “Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp

Trang 30

xúc với toàn quốc được Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”1 Để thực hiện yêu cầu trên, bên cạnh hình thức giao thông bí

mật có từ trước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị phải “xây dựng những con

đường quần chúng” để nối liền các trung tâm cách mạng với nhau.

Thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Ban Việt Minh Liên

tỉnh Cao - Bắc - Lạng, công tác Nam tiến được chuẩn bị khẩn trương Tháng

9-1942, tại Cao Bằng, Ban xung phong Nam tiến với hạt nhân là chi bộ Nam tiến được thành lập, do đồng chí Nông Văn Quang làm Bí thư Ban chỉ đạo do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách, ngoài ra còn có các đồng chí Lê Thiết Hùng, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Dương Văn Long Chi bộ Nam Tiến có nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức phong trào Nam Tiến từ Nguyên Bình, Cao Bằng xuống Bắc Kạn Để tăng cường lực lượng, các lớp huấn luyện được mở ra nhằm tuyển lựa những cán bộ hăng hái, nhiệt tình, có kinh nghiệm vận động quần chúng Trên cơ sở đó thành lập các đội Nam Tiến với sự tham gia của đông đảo nông dân

Sau Hội nghị Lũng Hoài (Hoà An, Cao Bằng), đầu năm 1943, lực lượng Nam Tiến ngoài Đội xung phong Minh Khai, hai đội Nam Tiến, xuất phát từ tổng Kim Mã (Nguyên Bình, Cao Bằng) tiến vào Bắc Kạn Việc xây dựng cơ sở cách mạng trên con đường Nam Tiến ở Bắc Kạn được triển khai theo phương châm linh hoạt Có những tổ được phái bí mật vượt qua những chặng đường dài tới một địa phương nhất định để gây cơ sở, từ đó nối liền với các cơ sở khác, tạo nên thế liên hoàn của phong trào Theo phương hướng này, trong qúa trình triển khai, mỗi đội đều có tổ chức đi trước, điều tra, bắt mối, gây cơ sở, tổ đi sau lựa chọn cốt cán, mở các lớp huấn luyện để đào tạo đội ngũ cán bộ tại chỗ, làm chỗ

dựa để đẩy mạnh phong trào Lực lượng cán bộ mới này được gọi là “Thanh

niên xung phong phát triển” Các cán bộ cách mạng đã đi vào từng làng bản,

đến từng gia đình nông dân để tuyên truyền, vận động và bắt mối, rồi từ đó phát triển cơ sở quần chúng rộng ra theo đường dây họ hàng, bà con thân thuộc

1 Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.33.

Trang 31

Tháng 4-1943, bộ phận đầu tiên của đoàn quân “Nam Tiến” bắt đầu đến

Ngân Sơn và tiến quân theo hai hướng chính: Mũi thứ nhất do đồng chí Nông

Văn Quang phụ trách, xuất phát từ Bản Ê, xã Thượng Ân đi qua Cốc Đán sang

xã Hà Hiệu (Chợ Rã) Sau khi xây dựng xong các cơ sở từ bắc Ngân Sơn đến Hà

Hiệu, rồi tiến về Nghĩa Tá (Chợ Đồn) Mũi thứ hai gồm các đồng chí Hoàng

Thịnh, Dương Văn Long, Nông Công Tú, xuất phát từ Thượng Ân, đi qua các xã Bằng Đức, Đức Vân, Vân Tùng, Thượng Quan, Thuần Mang xuống vùng Quân Bình, Hà Vị, châu Bạch Thông Từ hai hướng chính, một hướng đi vào vùng đồng bào Dao theo đường núi cao; một hướng đi theo các thung lũng vùng thấp vào đồng bào Tày - Nùng

Thực hiện kế hoạch chung, đi đến đâu, các đội xung phong Nam tiến đều

ra sức vận động, tổ chức nông dân vào các Hội Cứu quốc, đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ để phát triển Đảng, xây dựng lực lượng tự vệ, đẩy mạnh công tác binh vận Để giáo dục lòng yêu nước, tuyên truyền chương trình, Điều lệ của Mặt trận Việt Minh, phát động khí thế cách mạng của quần chúng, các đội Nam tiến còn tổ chức sinh hoạt văn hoá cổ truyền như chích máu ăn thề, kết nghĩa anh em… Do đó, trên cơ sở mối quan hệ dòng họ, làng xóm, cộng đồng và bạn

bè vốn rất được trân trọng trong đời sống đồng bào các dân tộc, cơ sở và phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng, trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo nông dân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tham gia

Tại Ngân Sơn, từ năm 1942 đã có cơ sở Việt Minh ở Thượng Ân, Cốc

Đán Được sự giúp đỡ của các đội Nam Tiến, phong trào cách mạng có bước phát triển mới Chỉ trong nửa đầu năm 1943, ở hầu khắp châu Ngân Sơn đã xây dựng được các cơ sở cách mạng Các hình thức tổ chức của Mặt trận Việt Minh như tiểu tổ, ban Việt Minh lần lượt ra đời Cán bộ Nam Tiến đi đến đâu cũng được nhân dân các dân tộc châu Ngân Sơn nhiệt tình giúp đỡ và hưởng ứng Hàng chục lớp huấn luyện đã được tổ chức ở Lũng Mò (Vân Tùng), Thị Xuân (Thuần Mang), Khau Mò, Đông Liển (Thượng Quan), Khuổi Ngoài, Năm La (Cốc Đán) Thông qua các lớp huấn luyện này, cán bộ, tự vệ được học tập về tình hình thế giới và trong nước, tìm hiểu 5 bước công tác (điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh) Trên cơ sở đó, các tiểu đội, trung đội tự

Trang 32

vệ lần lượt ra đời để bảo vệ cơ sở, đưa đón cán bộ Nhiều cán bộ, chiến sĩ, sau khi học ở các lớp huấn luyện được lựa chọn bổ sung vào lực lượng Thanh niên xung phong phát triển Đầu tháng 9-1943, các xã Thượng Ân, Cốc Đán, Tô Khê, Đức Vân, Vân Tùng, Thuần Mang đã thành lập được Ban Chấp hành Việt Minh

xã Ở các xã Thượng Quan, Trung Quan, Hạ Quan, Thiều Quan, Lãng Ngâm, tuy chưa có Ban Chấp hành Việt Minh xã nhưng đã thành lập được các tổ chức Cứu quốc và có một số hội viên Việt Minh hoạt động1

Ở vùng cao Ngân Sơn, phong trào cách mạng phát triển nhanh và mạnh hơn vùng thấp Đến tháng 8-1943, hầu hết nông dân vùng cao Ngân Sơn đã gia nhập Hội Việt Minh, hình thành khu vực riêng của đồng bào Dao với sự ra đời của hệ thống tổ chức Việt Minh từ tổng đến xã Ở mỗi cấp đều có Ban Việt Minh, trong đó có sự tham gia và ủng hộ nhiệt tình của đông đảo nông dân

Cùng với sự lớn mạnh của các tổ chức chính trị, các hình thức tổ chức vũ trang cũng bắt đầu ra đời, trong đó nhiều hội viên có nguồn gốc nông dân Các hội viên cứu quốc tự sắm vũ khí, thành lập các đội tự vệ để bảo vệ cơ sở cách mạng, trừng trị bọn tay sai gian ác và ngăn chặn những cuộc càn quét khủng bố của địch Các hoạt động cổ động tuyên truyền cách mạng với nhiều hình thức

phong phú cũng diễn ra sôi động Báo Việt Nam độc lập được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Bài ca “Việt Minh ngũ tự kinh” trở thành lời kêu gọi nông

dân và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đứng lên cứu nước, cứu nhà Các cuộc họp của Hội Việt Minh thường xuyên kiểm điểm việc thực hiện chủ trương, chính sách của Việt Minh cũng như chương trình hoạt động của Hội; đồng thời vận động nông dân và nhân dân toàn tỉnh bài trừ các phong tục tập quán lạc hậu, tránh lãng phí, ra sức tiết kiệm để ủng hộ cách mạng

Dưới sự chỉ đạo, tổ chức của các đội Nam tiến, hàng chục cuộc mít tinh được tổ chức ở Thượng Ân, Cốc Đán, Đức Vân, Vân Tùng, Thuần Mang… Nhưng đáng chú ý hơn cả là cuộc mít tinh ở Diều Phon và Khưa Vài (Thượng

Ân, Ngân Sơn), đã lôi cuốn, thu hút đông đảo nông dân tham gia

Ngay sau cuộc mít tinh ở Khưa Vài (9-1943), với sự có mặt của đồng chí

Võ Nguyên Giáp, chi bộ Nam tiến tổ chức kết nạp những đội viên trung kiên

1 Dẫn theo Huyện uỷ Ngân Sơn: Lịch sử đấu tranh cách mạng Ngân Sơn (1939-1954), 1991, tr.24.

Trang 33

như Thành Tâm (Đồng Văn Bằng), Đông Sơn (Doanh Hằng) vào Đảng dưới chân thác nước khu Nà Coỏng Tát (Bản Duồm, Thượng Ân); đồng thời tuyên bố thành lập Chi bộ Chí Kiên, do đồng chí Dương Mạc Hiếu làm Bí thư Đây là chi

bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bắc Kạn, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng Bắc Kạn

Tháng 10-1943, Ban Chấp hành Việt Minh tổng Chí Kiên được thành lập tại bản É (Thượng Ân, Ngân Sơn), gồm các đồng chí Đồng Văn Bằng, Thanh Bảo, Đào Văn Bích, Phù Dung, do đồng chí Đồng Văn Bằng làm Chủ nhiệm Tiếp đó, ngày 7-11-1943, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Ban Chấp hành Việt Minh châu Ngân Sơn (châu Ngọc Quyến) được thành lập

Để tiếp tục củng cố và mở rộng phong trào cách mạng ở Ngân Sơn, đoàn Nam Tiến, do các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Dương Mạc Thạch phụ trách còn

mở nhiều lớp huấn luyện cho đảng viên và quần chúng trung kiên tại Thượng

Ân Qua đó, nông dân hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Mặt trận Việt Minh, nên hăng hái tham gia hoạt động cách mạng

Tại Chợ Rã, từ tháng 3-1943, phong trào Việt Minh đã nhanh chóng xây

dựng cơ sở ở vùng đồng bào Dao (Lủng Cháng, xã Hà Hiệu), sau đó phát triển sang Chu Hương, Mỹ Phương Được sự giúp đỡ của đồng bào Dao, cán bộ Nam Tiến từ Lủng Cháng tiến sang Phja Bjoóc - nơi tập trung đông đảo người Dao,

đã vượt qua sự kiểm soát của địch đến xây dựng cơ sở vùng đồng bào Tày - Nùng ở Phiêng Khăm (Yến Dương) Sau đó mở rộng đến Khuổi Nặm - một bản nhỏ trên núi của người Dao, kết nạp trưởng bản Triệu Hữu Châu vào Hội Việt Minh Sau một thời gian ngắn, ảnh hưởng của Việt Minh đã lan sang Nặm Tốc (Yến Dương) lôi cuốn nhiều bản làng ở chân núi Phja Bjoóc tham gia Việt Minh Được cán bộ cách mạng giác ngộ, hầu hết nông dân trong bản đã tham gia các đoàn thể cứu quốc

Trong thời gian này, các mũi Nam Tiến khác cũng khẩn trương xây dựng cơ sở Việt Minh ở nhiều làng bản thuộc các xã Chu Hương, Yến Dương, Địa Linh, Thượng Giáo, Mẫu Ninh, Cao Thượng, Nghiên Loan, Xuân

La, Bộc Bố, Giáo Hiệu, Nhạn Môn1 Ở vùng thấp, cơ sở Việt Minh bắt đầu

Trang 34

hình thành ở Khuổi Nảm, Nà Da, Cốc Lót (Hà Hiệu), Bản Hon (Bành Trạch)

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào, nhiều lớp huấn luyện đã được tổ chức ở Bành Trạch, Phúc Lộc, Lùng Cháng Nhờ đó lực lượng thanh niên xung phong phát triển lên tới gần 100 người, trong đó đa phần là con em nông dân

Từ Ngân Sơn, Chợ Rã, phong trào nhanh chóng phát triển xuống phía nam Sau khi xây dựng được địa bàn đứng chân tại Phja Bjoóc, đoàn cán bộ Nam Tiến do đồng chí Nông Văn Quang phụ trách, đã mở rộng xuống vùng đông bắc Chợ Đồn và xây dựng cơ sở tại nhà ông Triệu Hữu Minh, chánh Mán xóm Lùng Tăng (xã Tân Lập) Từ đó triển khai xây dựng các cơ sở cách mạng ở Quảng Bạch, Bản Thi, Ngọc Phái, Bằng Lãng, Nghĩa Tá2

Song song với việc phát triển phong trào ở vùng cao, thực hiện phương châm xây dựng phong trào theo lối “cóc nhảy”, từ Ngân Sơn, một số cán bộ Nam Tiến được giao nhiệm vụ phát triển phong trào xuống Bạch Thông Theo quan hệ họ hàng, bạn bè của cơ sở người Tày, người Dao ở Ngân Sơn, cán bộ Nam Tiến đã đến xây dựng cơ sở ở các xã Quân Bình, Lục Bình, Đôn Phong, Dương Phong, Quang Thuận Nhiều nông dân được giác ngộ và được kết nạp vào Việt Minh

Cùng thời gian này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đến Bạch Thông hoạt động Tại cuộc họp ở xã Dương Quang, đồng chí Võ Nguyên Giáp giao nhiệm

vụ cho các đồng chí Đức Xuân, Phạm Duy Tiến, Tùng Vân xây dựng và mở rộng đường dây liên lạc giữa các bản vùng cao người Dao và vùng thấp người Tày - Nùng Thông qua cơ sở cách mạng ở Bạch Thông, một số cán bộ Nam Tiến đã tiến vào phía Đông Chợ Đồn xây dựng cơ sở Đông Viên và Rã Bản

Đến lúc này, trên cả hai hướng chính, những “con đường quần chúng” từ

Nguyên Bình (Cao Bằng) vào Ngân Sơn, Chợ Rã, xuống Bạch Thông, Chợ Đồn,

đã được khai thông, hành lang cách mạng từ Đông Bắc xuống Tây Nam Bắc Kạn được xây dựng Những cơ sở Việt Minh có lực lượng tự vệ làm nòng cốt phát triển rộng khắp

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, việc mở rộng tổ chức Việt Minh cho đồng bào vùng cao trở thành một yêu cầu cấp thiết Trước

2 Dẫn theo Huyện ủy Chợ Đồn: Lịch sử Đảng bộ huyện Chợ Đồn (1930-1954), 1993, tr.24.

Trang 35

tình hình đó, Tỉnh uỷ Cao Bằng đã quyết định thành lập Ban vận động khu Việt Minh vùng cao châu Ngân Sơn và Nguyên Bình, gồm các đồng chí Bàn Văn Hoan, Lý Văn Thượng, Thành Công Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tháng 8-1943, chi bộ Đảng vùng cao được thành lập trực tiếp chỉ đạo việc thành lập khu Đồng chí Bàn Văn Hoan, dân tộc Dao được kết nạp vào Đảng làm cho đội ngũ đảng viên ở đây được tăng cường về số lượng và chất lượng.

Phát huy những thành quả cách mạng đã giành được, đầu tháng 11-1943, hàng trăm đại biểu đại diện cho nông dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… thuộc các châu Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Rã, Chợ Đồn…, tổ chức mít tinh kỷ niệm lần thứ 26 Cách mạng Tháng Mười Nga Sau đó, các đại biểu tiến hành hội nghị, thảo luận và quyết định phương hướng phát triển phong trào cách mạng Hội nghị đã nhất trí đẩy mạnh phong trào cách mạng tỉnh Bắc Kạn (mật danh là Chu Trinh), quyết định thành lập khu vận động Việt Minh trong các dân tộc thiểu số vùng cao thuộc phạm vi các châu Ngân Sơn, Chợ Đồn, Chợ Rã… Đến cuối năm

1943, ở Bắc Kạn đã có 19 đội Nam Tiến

Song song với hoạt động của Ban xung phong Nam Tiến, thực hiện quyết

định của Hội nghị Lũng Hoài, theo kế hoạch đã thống nhất, lực lượng “Bắc tiến”

vào Bắc Kạn theo hai đường chính: Từ Võ Nhai, một tổ Cứu quốc quân dự định tiến theo đường qua Na Rì lên Ngân Sơn, nhưng đến Na Rì, do vấp phải lực lượng phản động địa phương, phải quay trở lại xây dựng cơ sở ở vùng Đông Nam châu Bạch Thông Từ Định Hoá, các tổ Cứu quốc quân lần lượt tiến lên Chợ Đồn Giữa tháng 8-1943, cơ sở Việt Minh đã được xây dựng ở Nghĩa Tá, Đại Sảo, Bình Trung Cho đến đầu tháng 9-1943, hầu hết người Dao thuộc tổng Nghĩa Tá, Đông Viên đều gia nhập Việt Minh Tháng 10-1943, hai đoàn Nam tiến và Bắc tiến đã gặp nhau ở xã Nghĩa Tá (Chợ Đồn), con đường liên lạc giữa các trung tâm cách mạng Việt Bắc đã được khai thông

Cùng với các đoàn quân Nam tiến, Bắc tiến, phong trào “Đông tiến” (từ Cao Bằng đến Lạng Sơn) và “Tây tiến” (từ Cao Bằng đánh thông qua vùng cao

Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang lên biên giới Việt Trung) cũng phát triển và

đạt nhiều kết quả Mùa hè 1943, đội quân Tây Tiến từ Nguyên Bình đến phía bắc

Chợ Rã mở thông đường quần chúng qua vùng đồng bào Mông, Dao ở các xã

Trang 36

Bằng Thành, Nhạn Môn, Công Bằng, Bộc Bố, Giáo Hiệu Tháng 9-1943, cơ sở Việt Minh đã mở rộng ở Vằng Kheo, Píc Cáy (Mỹ Phương), tuyên truyền, vận động được nhiều tầng lớp nhân dân như Phó quản người Dao, Động trưởng xã Đồng Phúc, tổng Quảng Khê… Con đường Tây tiến qua phía bắc Chợ Rã được khai thông Trên cơ sở phong trào cách mạng ở vùng cao nói chung và ở Cao Minh nói riêng đã dẫn tới việc ra đời châu Xích Long (20-9-1943) và khu Thiện Thuật (25-9-1943)1.

Cuối năm 1943, nhiều cán bộ trên hướng Tây tiến đã được tăng cường

để xây dựng phong trào một cách vững chắc Nhiều lớp học văn hoá được tổ chức, góp phần nâng cao hiểu biết của đồng bào, có điều kiện tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng, của Mặt trận Việt Minh Như vậy, đến cuối năm

1943, phong trào cách mạng ở Bắc Kạn đã phát triển rộng khắp từ Ngân Sơn đến Chợ Rã, từ Bạch Thông đến Chợ Đồn

Xuất phát từ tình hình cụ thể của địa phương, ngày 22-1-1944, Ban chỉ

đạo Nam tiến quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Kạn và chỉ định

các đồng chí Nông Văn Lạc, Dương Mạc Hiếu, Tùng Vân vào Ban Cán sự lâm

thời; thành lập Tỉnh bộ Việt Minh gồm ba đồng chí: Đồng Văn Bằng, Doanh

Hằng, Nông Công Tú, do đồng chí Đồng Văn Bằng làm Chủ nhiệm2 Sự ra đời của Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Kạn và Tỉnh bộ Việt Minh đánh dấu bước trưởng thành, tạo tiền đề quan trọng cho thời kỳ vùng dậy đấu tranh oanh liệt của nông dân và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, ngay từ tháng 8-1943, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khủng bố khốc liệt trên quy mô rộng Trọng tâm các cuộc hành quân của chúng là Ngân Sơn, Chợ Rã và một phần các châu Bạch Thông, Chợ Đồn Thực dân Pháp tăng quân cho các đồn bốt trên vùng núi cao hiểm yếu của Ngân Sơn, Chợ Rã, Chợ Đồn như Bằng Khẩu, Kéo Lẻng, Pác Nặm, Tổng Quận Chúng còn dựng lên nhiều nha bang tá, đồn khố xanh thành một vòng cung từ Bắc Kạn nối sang Cao Bằng; tăng cường hệ thống mật thám, lực lượng lính khố xanh, lính dõng để truy lùng, vây bắt cán bộ, khủng bố tinh

1 Châu Xích Long gồm vùng cao Bảo Lạc, một phần Hà Quảng (Cao Bằng) và vùng cao Chợ Rã Khu Thiện Thuật là khu vận động cách mạng của đồng bào Mông ở Bắc Kạn và Cao Bằng.

2 Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bắc Thái: Sơ thảo thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám tỉnh Bắc Thái (1939-1945), 1970, tr 160.

Trang 37

thần những gia đình nông dân nuôi giấu cán bộ, tiến hành dồn dân trên quy mô lớn để cô lập cán bộ, đảng viên đối với quần chúng

Đầu tháng 12-1943, địch tập trung lực lượng quân sự do tên Đinh Ngọc Phụng, Bố chánh Bắc Kạn cầm đầu kéo đến Ngân Sơn Chúng trừng phạt rất nặng đối với các gia đình nông dân đặt cơ sở và nuôi giấu cán bộ cách mạng Mỗi gia đình có người tham gia Việt Minh phải nộp 20 đồng, mỗi cán bộ Việt Minh phải nộp 200 đồng Chúng tiến hành rào dân dồn làng trên quy mô 16 xã trong châu Ở một số xã như Thượng Ân, Đức Vân, Vân Tùng… địch bắt cả gia đình cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên đưa về giam giữ tại trại Pá Deng Riêng tổng Bằng Đức chúng đã bắt 54 người của 16 gia đình Nhiều người bị buộc tội liên quan với cộng sản, bị chúng đưa đi giam giữ tại nhà tù Sơn La1

Ngày 22-11-1943, thực dân Pháp cho quân khủng bố Cao Minh (Ba Bể), bao vây làng bản, lùng sục các nhà và thu được một số vũ khí, tài liệu như báo Việt Lập (số ra ngày 10-9-1943), một số giấy hô hào lạc quyên của Liên tỉnh bộ Việt Minh Cao - Bắc - Lạng Chúng bắt 14 người, trong đó có những cán bộ chủ chốt ở địa phương như Lý A Nhì (Lý Lở) - Ủy viên Việt Minh châu Trưng Vương Lần đầu tiên bị địch khủng bố, do thiếu kinh nghiệm, thiếu sự chỉ đạo nên nhiều nông dân lúng túng, hoang mang nên bỏ làng bản chạy vào rừng sâu

Từ Cao Minh, thực dân Pháp tiếp tục mở các cuộc càn quét đến Lủng Cháng, Nà Vài, Bành Trạch, Mỹ Phương, tăng cường kiểm soát để ngăn chặn hoạt động của Việt Minh Đồng bào từ bản Nà Nưa bị dồn xuống Khuổi Mù, từ Lũng Cháng chuyển về Thâm Lạng, từ Lủng Cam, Lủng Mấu bị dồn xuống Khuổi Dưỡng (Hà Hiệu), dân Phiêng Muổng bị đưa xuống Lủng Luộng Các bản trên triền núi phía bắc như Cốc Ngoà bị dồn xuống Bản Chán (Đồng Phúc),

ở Vằng Kheo, Nà Đông bị lùa về Bản Hậu (Mỹ Phương)… Phải bỏ nhà cửu, ruộng vườn để sống trong các trang trại tập trung kiểu phát xít, nông dân luôn ở trong tình trạng thiếu đói, bệnh tật đã làm cho 30 người chết

1 Dẫn theo Huyện ủy Ngân Sơn: Lịch sử đấu tranh cách mạng Ngân Sơn (1939-1954), 1990, tr.20

Các số liệu về cuộc càn quét của địch, tổng hợp từ các sách lịch sử địa phương các huyện Chợ Đồn, Ngân Sơn,

Trang 38

Đầu năm 1944, các cuộc truy lùng, càn quét trở nên ráo riết, khốc liệt, nhất là ở khu rừng Píc Cáy Ngày 14-2-1944, đồng chí Bàn Văn Hoan, Phó chủ nhiệm Ban Chấp hành Việt Minh khu Quang Trung đang công tác tại Lũng Viển (Chợ Rã) bị địch bắt Ngày 16-5-1944, đồng chí Bàn Văn Hoan và đồng chí Phan Văn Long bị địch xử bắn ở bãi Nà Lốc Hàng chục hội viên cốt cán như Tảo Lường ở Vằng Kheo (Mỹ Phương), ông Khèn Chánh Mán ở Nà Còi (Quảng Khê) bị bắt và giam tại Pá Danh.

Tại Bạch Thông, từ cuối tháng 12-1943, thực dân Pháp tổ chức các cuộc

càn lớn vào Nà Lầm (Đôn Phong) theo hai hướng: Một hướng vào Bản Giềng, Lủng Mới, Khuổi Đươn, do tên Đờ Phôngti (De Phontie) chỉ huy Một hướng theo đường Cao Lộc, Lục Bình lên Nà Lồm Nhưng nhờ có sự che chở của các gia đình cách mạng, các đồng chí Phạm Duy Tiến, Tùng Vân đang hoạt động ở đây không bị sa vào tay giặc Đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9-1-1944, đồng chí Đức Xuân (tức Nông Văn Đàn), Đội trưởng Đội tuyên truyền xung phong Nam tiến, một đảng viên cộng sản hoạt động tích cực, đã bị sát hại Sau khi bắn chết đồng chí tại xã Quân Bình, chúng còn dã man chặt đầu đem bêu tại thị xã Bắc Kạn để khủng bố tinh thần đấu tranh của quần chúng cách mạng toàn tỉnh

Tại Chợ Đồn, cuộc khủng bố của địch diễn ra tuy chậm hơn so với Ngân

Sơn nhưng kéo dài ngày hơn Tại các xã, thực dân Pháp đặt thêm các chức

“khán hộ”, “khán xã” để kiểm soát người đi lại trong các làng bản, các ngả

đường Lợi dụng không khí khủng bố, bọn phản động tay sai ra sức vơ vét cướp bóc tài sản của nông dân và các dân tộc trong tỉnh Do không tìm được manh mối, chúng vớ được bản danh sách kèm đơn khiếu nại giữa đồng bào Dao tiền

và Dao đỏ trong vụ tranh chấp chức quản chiểu và biến danh sách này thành danh sách cộng sản để kiếm cớ “tống tiền” Kết cục 7 người Dao bị bắt phải nộp

15 đồng chúng mới tha về

Trước sự khủng bố của thực dân Pháp và tay sai, từ cuối năm 1943 đầu năm 1944, giống như các phong trào đấu tranh khác, phong trào nông dân Bắc Kạn gặp không ít tổn thất Nhiều cán bộ, đảng viên nòng cốt đã hy sinh, tiêu biểu là các đồng chí Đồng Văn Bằng, các đồng chí cán bộ Nam tiến, Đức Xuân,

Trang 39

Hồng Giang, Mỹ Thanh…; gần 200 người bị tù đày, hàng nghìn quần chúng bị cướp bóc, tra tấn dã man, bị dồn vào trại Pá Danh.

Tuy thực dân Pháp đàn áp, khủng bố dã man, nhưng chúng không dập tắt được ý chí cách mạng kiên cường của nhân dân các dân tộc Bắc Kạn Những tấm gương hy sinh oanh liệt của cán bộ, đảng viên trở thành nguồn cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nông dân Vì thế, giữa nanh vuốt của kẻ thù, quần chúng cách mạng vẫn tiếp tục đấu tranh với địch dưới nhiều hình thức linh hoạt để chống nộp phạt, chống bắt bớ, bí mật nuôi giấu cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng Mẹ của đồng chí Bàn Văn Hoan đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp khi đơn vị trở về nối lại con đường quần chúng rằng: Bây giờ Hoan đã mất, mùa màng lại kém, nhưng mùa nào mẹ cũng để dành thóc nếp cho các con đấy Các con cố gắng diệt hết bọn Tây, bọn Nhật thì người Mông mới sống được1 Nhiều gia đình nông dân vượt mọi khó khăn, thiếu thốn chấp nhận ăn ngô, khoai, sắn hay chịu đói, chịu khổ để dành gạo nuôi giấu cán bộ, tổ chức lực lượng, tìm cách đánh địch Tại Ngân Sơn, nông dân còn bí mật dựng lán trong rừng sâu làm nơi nghỉ chân và cung cấp lương thực cho cán bộ

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc, phong trào nông dân vẫn diễn ra nhưng vô cùng ác liệt Các tiểu tổ tự vệ bí mật

và Ban xung phong chống khủng bố được thành lập để diệt trừ các tên Việt gian phản động, làm cho bọn phản động phải kinh sợ Ở nhiều nơi, các Ban xung phong đã lựa chọn trong số tự vệ chiến đấu những đội viên trung kiên để lập các

đội “hộ lương, diệt ác”, các đội tiếp tế, cung cấp lương thực, thuốc men cho các

chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật

Được sự che chở của nhân dân, cán bộ, cơ sở cách mạng được bảo vệ an toàn, phong trào cách mạng đang từng bước được phục hồi và phát triển Đặc biệt, qua cuộc đấu tranh, nhiều nông dân được giác ngộ, được tôi luyện và trở thành những quần chúng ưu tú, được xem xét để kết nạp vào Đảng

Thực hiện Chỉ thị Sửa soạn khởi nghĩa (7-5-1944) của Tổng bộ Việt Minh

và lời kêu gọi “Sắm vũ khí đuổi thù chung” (10-8-1944) của Trung ương Đảng, Ban Việt Minh Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng chủ trương phát động chiến tranh du

Trang 40

kích, đẩy mạnh công tác sửa soạn khởi nghĩa Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra khẩn trương Cơ sở Việt Minh đã được xây dựng rộng khắp cả vùng thấp

và vùng cao Nông dân đã tham gia vào các đoàn thể cứu quốc, trong đó có Hội Nông dân cứu quốc Hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh, nông dân đã tích trữ lương thực đủ ăn từ 6 tháng trở lên Nhiều nơi, nông dân tự động bán tài sản, thóc lúa lấy tiền ủng hộ Việt Minh mua sắm vũ khí Riêng Ngân Sơn, số lượng lương thực mà nông dân ủng hộ cách mạng lên đến 4-5 tấn, được cất giấu ở những kho kín đáo trong rừng như Khẩu Mâu, Khuổi Phát…

Như thế, trong điều kiện còn có nhiều khó khăn, lại bị địch khủng bố gắt gao, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, nông dân Bắc Kạn đã đóng góp sức người, sức của để xây dựng các kho thóc khởi nghĩa

và tích cực tham gia Việt Minh, gia nhập lực lượng tự vệ, anh dũng, kiên cường đấu tranh chống địch Đây là sự chuẩn bị cần thiết để khi thời cơ cách mạng xuất hiện, nông dân Bắc Kạn cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Trên mặt trận Thái Bình Dương, phát xít Nhật bị quân Đồng minh uy hiếp nghiêm trọng, bị cắt đứt đường tiếp tế trên biển Tại Đông Dương, mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp ngày càng trở nên gay gắt Trong hoàn cảnh đó, đêm ngày 9-3-1945, phát xít Nhật nổ súng hất cẳng thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương

Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng

đã họp và ngày 12-3-1945 ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của

chúng ta”.

Tại Cao - Bắc - Lạng, tuy chưa liên lạc được với Trung ương Đảng, nhưng nhận rõ thời cơ ngàn năm có một đã đến, Ban Việt Minh Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng đã họp và ra nghị quyết: Đánh đổ chế độ thống trị của Pháp ở hương thôn, rồi tuỳ nơi, sẽ thành lập chính quyền nhân dân từ cấp xã đến cấp châu, huyện, phủ đến cấp tỉnh Phân phối cán bộ của đội tuyên truyền về cùng các đội vũ trang địa phương, tổ chức thêm những đơn vị Giải phóng quân mới, chuẩn bị trực tiếp đánh Nhật Phá hoại đường sá, cầu cống, dân chúng tích cực

Ngày đăng: 03/08/2016, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w