Tuy nhiên qua thực tế công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG tại Văn phòng KBNN Đăk Nông cho thấy còn bộc lộ nhiều tồn tại liên quan đến nguồn vốn này, cụ thể như: Việc đầu tư các công
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN BÁ TOÀN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐẮK NÔNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Chí Dũng
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Bá Toàn
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận văn 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
NGUỒN VỐN CTMTQG 7
1.1 CHI CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA 7
1.1.1 Tổng quan về chi NSNN 7
1.1.2 Chi chương trình mục tiêu quốc gia 11
1.2 KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG QUA KBNN 12
1.2.1 Khái quát về KBNN 12
1.2.2 Khái niệm và vai trò của Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG qua KBNN 18
1.2.3 Nội dung công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG 20
1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG 22
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 24
1.3.1 Nhân tố bên ngoài 24
1.3.2 Nhân tố bên trong 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 29
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 29
Trang 4Nông 30
2.1.3 Kết quả hoạt động chủ yếu của Văn phòng KBNN Đăk Nông trong thời gian qua 31
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 33
2.2.1 Những vấn đề chung 33
2.2.2 Thực trạng công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn phòng KBNN Đăk Nông 38
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 67
3.1 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VỀ KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 67
3.1.1 Định hướng, mục tiêu chung của Hệ thống KBNN 67
3.1.2 Định hướng hoàn thiện công tác Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG ngân sách tỉnh tại Văn phòng KBNN Đăk Nông 70
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG 71
Trang 5Nông 71
3.2.2 Hoàn thiện nghiệp vụ kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG tại Văn phòng KBNN Đăk Nông 73
3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính 75
3.2.4 Nâng cao sự minh bạch của quy trình: 76
3.2.5 Giải pháp hỗ trợ 76
3.3 KIẾN NGHỊ 77
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan 77
3.3.2 Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước 79
3.3.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương 80
3.3.4 Kiến nghị với chủ dự án 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
Trang 6CTMTQG Chương trình mục tiêu Quốc gia
Trang 7bảng Tên bảng Trang
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cơ chế kiểm soát chi (bao gồm cả kiểm soát chi đầu tư và kiểm soát chi thường xuyên) qua Hệ thống Kho bạc Nhà nước đã có nhiều thay đổi, từng bước được hoàn thiện Cơ chế kiểm soát chi thay đổi theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, phân cấp cho chủ đầu tư và đơn vị sử dụng ngân sách, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn chủ đầu tư và đơn vị sử dụng ngân sách trong việc giải ngân các nguồn vốn ngân sách nhà nước được giao quản lý, trong đó có nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG)
Tuy nhiên qua thực tế công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG tại Văn phòng KBNN Đăk Nông cho thấy còn bộc lộ nhiều tồn tại liên quan đến nguồn vốn này, cụ thể như: Việc đầu tư các công trình, dự án thuộc các CTMTQG vẫn còn dàn trải, chồng chéo; tỷ lệ giải ngân nguồn vốn CTMTQG còn thấp; cơ chế, chính sách liên quan đến việc quản lý nguồn vốn CTMTQG chưa ổn định, có nhiều thay đổi, dẫn đến các chủ đầu tư còn bị động trong việc triển khai các CTMTQG, đồng thời dẫn tới việc kiểm soát chi nguồn vốn này có nhiều rủi ro, sai sót;…
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG, hạn chế rủi ro, sai sót trong công tác kiểm soát chi, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách đầu tư cho các CTMTQG,
học viên chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi nguồn vốn chương
trình mục tiêu quốc gia thuộc ngân sách tỉnh tại Văn phòng KBNN Đăk Nông”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG
Trang 9thuộc ngân sách tỉnh tại Văn phòng KBNN Đăk Nông, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nguồn vốn CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn phòng Kho bạc Nhà nước Đăk Nông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn phòng Kho bạc Nhà nước Đăk Nông
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng; Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể: Các phương pháp suy luận lôgíc phổ biến; quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp, các phương pháp thống kê, khảo sát
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, thì luận văn được kết cấu gồm 3
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi nguồn vốn
CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn Phòng KBNN Đăk Nông
Trang 106 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Bài viết của TS Nguyễn Đức Thanh về “Quản lý, thanh toán vốn đầu tư công theo hợp đồng và vai trò của KBNN” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 1+2/2012, đã có những đánh giá, phân tích các quy định về kiểm soát, thanh toán liên quan đến hợp đồng xây dựng và đưa ra được 4 nhóm giải pháp theo hướng gợi mở, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện việc kiểm soát chi theo hợp đồng trong thời gian tới, đặc biệt là khi triển khai việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Kho bạc Nhà nước theo Nghị định 192/2013/NĐ-CP của Chính phủ
Bài viết của Nguyễn Văn Hoan về “Một số trao đổi về quy trình kiểm soát chi một cửa qua KBNN” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 5/2012, nêu lên: Thực trạng thực hiện quy trình kiểm soát chi NSNN “một cửa” qua KBNN, qua đó đã đề xuất sửa đổi quy trình theo hướng “Giao dịch một cửa trong kiểm soát chi NSNN qua KBNN là việc giải quyết công việc từ khâu hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ giấy tờ và trả kết quả tại một đầu mối là cán
bộ KBNN được phân công nhiệm vụ quản lý đơn vị (khách hàng) đó” Có thể nói đây là một giải pháp tình thế, phù hợp với giai đoạn hiện nay, tuy nhiên về lâu về dài cần thay đổi, cho đúng với quy định về giao dịch một cửa
Bài viết của Phạm Bình về “Mở và sử dụng tài khoản chi chương trình mục tiêu quốc gia khi vận hành Hệ thống Tabmis – Những kiến nghị từ thực tế” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 12/2012, nêu lên: Những tồn tại, hạn chế liên quan đến việc mở tài khoản chi CTMTQG, đồng thời tác giả cũng có nhiều đề xuất mang tính gợi mở, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện trong thời gian tới
Bài viết của Trần Mạnh Hà về “Một số điểm mới về cơ chế kiểm soát chi thường xuyên của NSNN qua KBNN theo quy định tại Thông tư 161/2012/TT-BTC” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 12/2012,
Trang 11nêu lên được những điểm mới của cơ chế kiểm soát chi thường xuyên theo Thông tư số 161/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính, những nội dung cần quan tâm trong công tác kiểm soát chi thường xuyên, góp phần giúp công chức được giao nhiệm vụ kiểm soát chi thực hiện đúng quy định Tuy nhiên tác giả chưa chỉ ra được những tồn tại liên quan đến việc thực hiện Thông tư này Bài viết của ThS Phạm Bình về “Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi chương trình mục tiêu quốc gia” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 10/2013, tác giả đã phân tích và đánh giá khá chi tiết về các tồn tại, đồng thời đề ra được 03 nhóm giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chi CTMTQG, tuy nhiên hiện cơ chế chính sách đã có nhiều thay đổi so với trước, nên một số tồn tại và giải pháp đã không còn phù hợp, thay vào đó lại phát sinh những tồn tại mới mà cần phải có giải pháp để hoàn thiện trong thời gian tới
Bài viết của Nguyễn Thị Lai về “Quản lý, kiểm soát cam kết chi tại KBNN Đăk Lăk, những hạn chế phát sinh và kiến nghị giải pháp hoàn thiện” đăng trên tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia số 11/2013, nêu lên: Những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện quy trình mới này, những tồn tại này đã làm ảnh hưởng đến việc giải ngân các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn đầu
tư, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp cần tiếp tục nghiên cứu
để hoàn chỉnh trong thời gian tới
Luận văn Thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng của Đoàn Kim Khuyên, Trường
Đại học Đà Nẵng về “Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
xây dựng cơ bản tại KBNN Đà Nẵng”, Luận văn đã nghiên cứu sâu phần cơ
sở lý luận, có những đánh giá sát về công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
ở thời điểm năm 2012 và đã đề ra được 6 giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, tuy nhiên hiện cơ chế kiểm soát thanh toán
Trang 12vốn đầu tư đã có nhiều thay đổi nên cần nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện trong thời gian tới
Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Lương Ngọc Tuyền, Trường Đại học kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh về “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường
xuyên của ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước”, Luận văn đã có
những nghiên cứu về công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN; tuy nhiên tác giả mới chỉ đi sâu vào phần cơ sở lý luận, phần thực trạng mới chỉ nêu chung chung công tác kiểm soát chi trước khi có luật ngân sách nhà nước
và sau khi có luật ngân sách nhà nước và một số nội dung đã không còn phù hợp với các quy định về kiểm soát chi thường xuyên hiện nay, nên cần nghiên cứu, bổ sung cho hoàn thiện
Luận văn Thạc sĩ tài chính ngân hàng của Nguyễn Xuân Quảng, Trường
Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội về “Hoàn thiện công tác kiểm soát
chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước”, Luận văn đã nghiên cứu
một cách tổng thể về công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước (bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên) qua Kho bạc Nhà nước Luận văn đã khái quát được cơ sở lý luận, phân tích đánh giá được tồn tại, nguyên nhân tồn tại
và đề ra được các giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chi, tuy nhiên hiện cơ chế chính sách liên quan đến kiểm soát chi thường xuyên và chi đầu
tư đã có nhiều thay đổi so với trước, nên một số tồn tại và giải pháp đã không còn phù hợp, cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện trong thời gian tới
Về lý luận và thực tiễn các tác giả đã đưa ra nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến công tác kiểm soát chi NSNN nói chung và công tác kiểm soát chi CTMTQG nói riêng Đánh giá kết quả đạt được, nêu lên những hạn chế, từ đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu, đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện công tác kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước
Trang 13Tác giả thấy rằng tất cả các công trình nghiên cứu và các bài viết trên tạp chí đã công bố nói trên là những tài liệu hết sức quý giá về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên những nghiên cứu trên lại ở những thời điểm khác nhau, có những đề tài nghiên cứu đến nay đã khá lâu nên không còn phù hợp với thực tiễn, các văn bản chế độ về công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG đã có nhiều thay đổi Do vậy đề tài mà tác giả lựa chọn hiện nay không trùng với bất cứ công trình khoa học hay luận văn nào đã công bố Các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài đƣợc tác giả tiếp thu, chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính -Ngân hàng
Trang 14NSNN luôn gắn liền với Nhà nước, nó được dùng để chỉ các khoản thu nhập và các khoản chi tiêu của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật Cho đến nay, các Nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN
Tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nội dung khái niệm NSNN thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:
- NSNN là bản dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ
bản của Nhà nước
- NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước
huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau
Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có yếu tố hợp lý song chưa đầy đủ Khái niệm NSNN là khái niệm trừu tượng, NSNN là một hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước, vì vậy nó phải thể hiện được
Trang 15nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN
Theo Luật ngân sách nhà nước (Luật số 01/2002/QH11 được thông qua
tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khóa 11, ngày 16/12/2002) có định nghĩa “Ngân
sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
b Chu trình quản lý chi NSNN
Chu trình quản lý chi NSNN được hiểu là một vòng tròn khép kín lặp đi lặp lại từ khâu lập dự toán chi NSNN, chấp hành dự toán, đến quyết toán chi NSNN, cụ thể như sau:
Lập dự toán chi NSNN
Lập dự toán chi NSNN địa phương là việc các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chi NSNN phải tổ chức lập dự toán chi Ngân sách trong nhiệm vụ được giao và gửi cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính xem xét tổng hợp, lập dự toán trình UBND cùng cấp Trên cơ sở dự án toán do cơ quan tài chính trình, UBND có trách nhiệm kiểm tra, xem xét dự toán Ngân sách của cấp mình trình HĐND cùng cấp quyết định và trên cơ sở Nghị quyết của HĐND, UBND giao dự toán của các đơn vị trực thuộc
Dự toán chi NSNN đã được phê chuẩn trở thành các chỉ tiêu pháp lệnh, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách các cấp có trách nhiệm giao nhiệm vụ cho các đơn vị dự toán trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được phê duyệt, không một tổ chức, cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ chi ngân sách đã được phân bổ khi chưa có sự đồng ý của cơ quan
có thẩm quyền
Lập dự toán là công việc ban đầu cho quá trình thực hiện của cả năm ngân sách, do đó việc xây dựng dự toán mang ý nghĩa rất quan trọng, quyết
Trang 16định đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ các khâu trong chu trình quản lý NSNN Dự toán NSNN đúng đắn, có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, đối với việc bảo đảm cân đối về tài chính, ngân sách, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận cho
các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu chấp hành dự toán chi NSNN
Chấp hành dự toán chi NSNN
Sau khi dự toán chi NSNN được phê chuẩn, các cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương có trách nhiệm phân bổ dự toán chi NSNN cho các đơn vị sử dụng ngân sách đúng với dự toán được phê chuẩn về tổng số và chi tiết theo đúng tính chất của nguồn kinh phí ngân sách đã được duyệt, đồng thời thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước (KBNN) nơi giao dịch để theo dõi, cấp phát và quản lý
Căn cứ vào dự toán chi NSNN được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách tiến hành chi tiêu, hoàn chỉnh hồ sơ, chứng từ gửi đến KBNN nơi mở tài khoản để tạm ứng, thanh toán cho các đối tượng liên quan KBNN có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và lệnh chuẩn chi của chủ tài khoản, thực hiện chi trả trong phạm vi dự toán và theo đúng chế độ Nhà nước quy định
Quyết toán chi NSNN
Là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chi NSNN Nó bao gồm các công việc lập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các khoản chi NSNN đã được thực hiện trong năm ngân sách Quyết toán chi NSNN được thực hiện theo phương pháp từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên trên và phải được Hội đồng nhân dân các cấp phê chuẩn Quyết toán chi NSNN là sự tổng kết tình hình thực hiện các khoản chi ngân sách của năm trước, thông qua đó chúng ta có thể thấy được hoạt động phát triển KT-XH của Nhà nước trong năm ngân sách, thấy được hoạt động NSNN với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà
Trang 17nước, từ đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết cho việc điều hành chi NSNN những năm tiếp theo
c Quản lý chi NSNN, đối tượng và mục tiêu quản lý chi NSNN
- Quản lý chi NSNN, là quá trình Nhà nước vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng và các quy định của Nhà nước trong quản lý kinh tế, đồng thời
sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tác động đến quá trình sử dụng các nguồn vốn thuộc NSNN để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước đảm nhiệm một cách có hiệu quả nhất
- Đối tượng quản lý chi NSNN, là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước
đã được bố trí trong dự toán NSNN và được cấp phát, thanh toán để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định Trong đó:
+ Cơ sở để quản lý chi NSNN là cơ chế quản lý kinh tế tài chính và hệ thống luật pháp hiện hành
+ Quản lý chi NSNN là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN
- Mục tiêu cơ bản của quản lý chi NSNN, là không để nguồn vốn NSNN
bị thất thoát, lãng phí hoặc sử dụng sai mục đích; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên
là Nhà nước với một bên là các chủ thể sử dụng vốn NSNN
d Kiểm tra, kiểm soát chi NSNN
Kiểm tra, kiểm soát chi NSNN được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong chu trình chi NSNN, cụ thể như sau:
- Đối với khâu lập dự toán, kiểm tra NSNN là việc xem xét lại các dự báo, đánh giá số liệu dự toán của các đơn vị lập nhằm bảo đảm phù hợp với thực tế phát sinh, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hoặc của từng cấp, từng ngành
Trang 18- Đối với khâu chấp hành NSNN, là việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý chi NSNN, đối chiếu các khoản chi NSNN với dự toán được giao, với các quy định về tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành, bảo đảm đúng chế độ Nhà nước quy định Trường hợp chi tiêu không đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thì phải thu hồi
- Đối với khâu quyết toán chi NSNN, là việc xem xét đánh giá sự đúng đắn, tính chính xác của các loại báo cáo tổng hợp, từ đó đưa ra các kết luận
Như vậy kiểm tra, kiểm soát chi NSNN là một chức năng của quản lý NSNN, gắn liền với quản lý NSNN, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động của NSNN
1.1.2 Chi chương trình mục tiêu quốc gia
a Khái niệm chi CTMTQG
Chi CTMTQG là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm thực hiện các dự án thuộc các CTMTQG
b Đặc điểm chi CTMTQG
Đầu tư cho các CTMTQG cũng được xem như hoạt động đầu tư phát triển nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển và ngoài ra thì nó có một số đặc điểm riêng, cụ thể có những đặc điểm sau:
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn
- Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện
dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian này tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động và đào thải công trình
Trang 19- Các thành quả của hoạt động đầu tư của các CTMTQG là các công trình xây dựng, thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên
- Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành
các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao
- Các hoạt động đầu tư theo các CTMTQG chủ yếu tập trung ở các vùng khó khăn không có điều kiện phát triển kinh tế
- Các hoạt động đầu tư theo CTMTQG thường chỉ có Nhà nước mới thực hiện
c Phân loại chi CTMTQG
- Chi CTMTQG có tính chất chi đầu tư: Là khoản vốn ngân sách được
Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội không có khả năng thu hồi vốn và các khoản chi đầu tư khác thuộc các CTMTQG
- Chi CTMTQG có tính chất chi sự nghiệp: là các khoản chi thường xuyên bao gồm các khoản chi về các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá xã hội, hoạt động của các cơ quan Nhà nước thuộc các CTMTQG
1.2 KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG QUA KBNN
1.2.1 Khái quát về KBNN
a Các mô hình KBNN trên thế giới
Trên thế giới có các mô hình KBNN tiêu biểu sau đây:
- Mô hình thứ nhất, Kho bạc Nhà nước trực thuộc Ngân hàng Trung
ương, theo mô hình này thì trong bộ máy của Ngân hàng trung ương có một đơn vị làm nhiệm vụ quản lý Quỹ ngân sách nhà nước, đặc trách theo dõi và giúp Bộ Tài chính quản lý các khoản thu, chi Ngân sách nhà nước, phối hợp với Vụ Ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính làm nhiệm vụ kế toán và quyết toán NSNN
Trang 20Mô hình này trước đây được áp dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên xô (cũ); Trung Quốc, các nước Ðông Âu và Châu Phi, hiện nay mô hình
này hầu như không còn tồn tại
- Mô hình thứ hai, Kho bạc là cơ quan trực thuộc Chính phủ, theo mô
hình này Kho bạc Nhà nước là một cơ quan ngang Bộ thường được gọi là Bộ Ngân khố hay Tổng nha ngân khố
Nhiệm vụ chủ yếu của Kho bạc Nhà nước theo mô hình này là: Quản lý tài sản của Nhà nước; thực hiện thu, chi NSNN; hạch toán kế toán các nghiệp
vụ tài chính, lập cân đối thu chi tiền tệ; phát hành tiền; quản lý nợ quốc gia; quản lý các loại tài sản quý hiếm; phát hành trái phiếu, tín phiếu Nhà nước
Mô hình này được áp dụng ở các nước như: Mỹ, Anh, Canada, Australia,
Mô hình thứ ba, Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính
hoặc (Bộ Kinh tế - Tài chính), theo mô hình này Kho bạc Nhà nước là một bộ phận của Bộ Tài chính, chịu sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Nhiệm vụ chủ yếu của KBNN theo mô hình này là: Thực hiện các nhiệm
vụ tập trung các khoản thu thuế, phí vào ngân sách, kiểm soát việc chi trả từ NSNN; xắp sếp điều hòa các khoản chi NSNN; kiểm tra giám sát việc sử dụng công quỹ, quản lý các khoản nợ trong nước và nợ nước ngoài
Mô hình này được áp dụng ở phần lớn các nước ở Châu âu điển hình là Pháp, Ðức, và các nước ở Ðông Nam á như Indonexia, Malayxia, Thái Lan Kho bạc Nhà nước còn có tên gọi khác như Vụ quản lý tài chính công, Vụ Kế toán công, trong đó có các nghiệp vụ quản lý quỹ ngân sách nhà nước, kế toán
và quyết toán ngân sách nhà nước, quản lý nợ công
Có thể nói rằng Kho bạc Nhà nước ở các nước ra đời khá sớm, hầu hết được chia tách và phát triển từ cơ quan Tài chính, chuyên môn hóa công tác quản lý ngân sách nhà nước và mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ
Trang 21của KBNN ở các nước tùy vào điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống KBNN được xây dựng theo mô hình thứ ba, nghĩa là KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính KBNN được được
tổ chức thành hệ thống ngành dọc từ trung ương đến địa phương (gồm cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện), theo nguyên tắc tập trung, thống nhất
b Lịch sử hình thành KBNN
Cùng với sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng hoà (năm 1945), Nha ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo Sắc lệnh số 45/TTg của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là in tiền, phát hành tiền của Chính phủ, quản lý quỹ Ngân sách nhà nước, quản lý một
số tài sản quý của Nhà nước bằng hiện vật như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý,
Từ năm 1951, nhiệm vụ của Nha Ngân khố được chuyển giao sang hệ thống Ngân hàng cùng với việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sau đổi tên là Ngân hàng Nhà nước) Trong giai đoạn này, trên nền tảng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, thực hiện vai trò là 3 trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, vừa thực hiện nhiệm vụ của Nha Nhân khố bao gồm các công việc như chấp hành quĩ Ngân sách nhà nước, tập trung các nguồn thu của Ngân sách nhà nước, tổ chức cấp phát chi trả các khoản chi Ngân sách nhà nước theo lệnh của cơ quan Tài chính, làm nhiệm vụ kế toán thu, chi quỹ Ngân sách nhà nước, in tiền, phát hành tiền, quản lý dự trữ Nhà nước về vàng bạc kim khí đá quý
Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện Ðể phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ đã có sự thay đổi, đặc biệt
Trang 22là các vấn đề có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Tài chính và Ngân hàng Hệ thống Ngân hàng được tổ chức lại thành hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, các Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ - tín dụng Nhiệm vụ quản lý quỹ Ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính Nhà nước được chuyển giao từ Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính để hệ thống Tài chính thực hiện chức năng quản lý và điều hành Ngân sách nhà nước tài chính quốc gia
Quan điểm thành lập hệ thống Kho bạc trực thuộc Bộ Tài chính để quản
lý quỹ Ngân sách nhà nước và tài sản quốc gia đã được Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định tại Nghị định số 155/HÐBT ngày 15/10/1988
về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính Thực hiện nghị định của Hội đồng Bộ trưởng, từ năm 1988 - 1989, Bộ Tài chính đã có đề án thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước và tiến hành thử nghiệm tại hai tỉnh Kiên Giang (từ tháng 10/1988) và An Giang (từ tháng 7/9189); kết quả cho thấy: việc quản lý quỹ Ngân sách nhà nước tại địa bàn hai tỉnh trên thực hiện tốt, tập trung nhanh các nguồn thu, đáp ứng đầy đủ kịp thời các nhu cầu chi Ngân sách nhà nước, trợ giúp đắc lực cho cơ quan Tài chính và chính quyền địa phương trong việc quản lý và điều hành Ngân sách nhà nước, mặt khác đã tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn sắp xếp tổ chức lại hoạt động theo hướng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng có hiệu quả Qua gần 25 năm hoạt động, Kho bạc Nhà nước Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, từng bước ổn định và phát triển, cùng với toàn ngành tài chính đạt được nhiều kết quả tích cực trong hoạch định chính sách, quản lý phân phối nguồn lực của đất nước, góp phần tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao Có thể khẳng định rằng
hệ thống Kho bạc Nhà nước đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới và
Trang 23lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia thông qua những kết quả cụ thể trong việc tập trung nhanh, đầy đủ nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng; Huy động một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển;
Kế toán, thông tin Kho bạc Nhà nước đã đảm bảo cung cấp thông tin chính xác về tình hình thu chi ngân sách phục vụ sự chỉ đạo điều hành của các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương, góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng quản lý, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước
Những kết quả đã đạt được qua quá trình hình thành và phát triển Kho bạc Nhà nước đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong công cuộc đổi mới tài chính tiền tệ Kho bạc Nhà nước đã phát triển đúng định hướng, từng bước xác lập vai trò, vị thế của mình trong hệ thống quản lý tài chính ngân sách nhà nước Sự hình thành, ra đời và phát triển của hệ thống KBNN đã trải qua các thới kỳ: “Xây dựng, củng cố, ổn định và phát triển " trong những năm đầu; “Tiếp tục duy trì sự ổn định để phát triển" trong những năm tiếp theo; “Hoàn thiện chức năng, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng,
mở mang sự nghiệp" ở những năm đầu của thế kỷ 21; đến nay sau gần 25 năm
hệ thống KBNN đang ở thời kỳ “Duy trì ổn định, hoàn thiện chức năng, hiện đại hoá công nghệ, phát triển nguồn nhân lực” Lịch sử ngành KBNN cho thấy, dù ở thời kỳ hay giai đoạn nào đi nữa đều đòi hỏi mỗi cán bộ của hệ thống phải nỗ lực phấn đấu, nêu cao tinh thần đoàn kết để cùng nhau xây dựng hệ thống KBNN với mục tiêu lâu dài là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các mặt hoạt động để phát triển toàn diện và bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ Kho bạc Nhà nước phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công và cải cách hành chính quốc gia, xây dựng nền công nghệ Kho bạc Nhà nước hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao”
Trang 24c Chức năng nhiệm vụ của KBNN
Hệ thống KBNN được thành lập theo quyết định số 07/HĐBT ngày 04 tháng 01 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng Từ ngày thành lập đến nay, qua từng thời kỳ xây dựng và phát triển chức năng, nhiệm vụ của KBNN được thay đổi để đáp ứng với sự phát triển của đất nước Theo Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng 08 năm 2009, KBNN có các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
Chức năng của Kho bạc Nhà nước :
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán Nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước :
- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác được giao theo quy định của pháp luật:
+ Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
+ Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước
và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
+ Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính Nhà nước
và các quỹ khác do Kho bạc Nhà nước quản lý; Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước ;
Trang 25+ Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nước và thực hiện công tác thống kê, báo cáo tài chính:
+ Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức thực hiện công tác thống kê Kho bạc Nhà nước và chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
- Thực hiện công tác thanh toán và điều hòa vốn:
+ Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ Kho bạc Nhà nước tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống;
+ Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp vụ;
+ Được sử dụng ngân quỹ Kho bạc Nhà nước để tạm ứng cho ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ
- Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
1.2.2 Khái niệm và vai trò của Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG qua KBNN
a Khái niệm kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG qua KBNN
Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG từ NSNN qua KBNN là quá trình kiểm soát và thực hiện việc thanh toán vốn cho các dự án thuộc đối tượng sử
Trang 26dụng vốn NSNN trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do chủ đầu tư và các cơ quan quản
lý Nhà nước có liên quan gửi đến KBNN nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn NSNN đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng chính sách, chế độ do Nhà nước quy định
b Vai trò của kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG qua KBNN
Vai trò kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG của KBNN thể hiện:
- Kho bạc Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong chu trình chi NSNN, KBNN trở thành “trạm gác cuối cùng” được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN
- Do nguồn vốn đầu tư cho các CTMTQG chiếm một tỷ trọng tương đối trong chi NSNN, nên chi nguồn vốn CTMTQG có tác động đến chính sách tài khóa của Chính phủ Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG nhằm bảo đảm các khoản chi từ NSNN đúng mục đích, phát huy hiệu quả của chính sách tài khoá, bảo đảm an sinh xã hội
- Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG góp phần thúc đẩy thực hiện chế
độ kế toán XDCB, chế độ kế toán hành chính sự nghiệp chính xác, minh bạch,
rõ ràng
- Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi nguồn vốn CTMTQG về tính hợp pháp, hợp lệ của khoản chi, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện được cơ quan, đơn vị nào sử dụng kinh phí sai mục đích, sai chế độ, KBNN được phép từ chối thanh toán Từ đó hạn chế được tình trạng thất thoát, lãng phí kinh phí NSNN, đồng thời giúp cho việc sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả
- Kho bạc Nhà nước tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn và từng cấp ngân sách Từ đó rút ra kết
Trang 27quả, tồn tại và nguyên nhân tồn tại, cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan tài chính và lãnh đạo chính quyền các cấp
1.2.3 Nội dung công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG
Về nguyên tắc tất cả khoản chi CTMTQG đều phải kiểm soát trước khi giải ngân (bao gồm cả tạm ứng và thanh toán) Việc kiểm soát chi của KBNN dựa trên cơ sở hồ sơ, chứng từ và các điều kiện chi sau đó thực hiện xuất quỹ NSNN thanh toán cho các đối tượng thụ hưởng Nội dung công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG của KBNN bao gồm:
* Tiếp nhận hồ sơ, chứng từ: Khi có nhu cầu chi tiêu ngoài các hồ sơ gửi KBNN một lần bao gồm:
- Đối với khoản chi có tính chất đầu tư:
+ Hồ sơ thuộc giai đoạn chuẩn bi đầu tư gồm:
Dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt;
Văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;
Hợp đồng kinh tế
+ Hồ sơ thuộc giai đoạn thực hiện đầu tư gồm:
Dự án đầu tư và quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền;
Văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;
Hợp đồng kinh tế;
Dự toán và quyết định phê duyệt dự toán của cấp có thẩm quyền đối với từng công việc, gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu hoặc tự thực hiện và các công việc thực hiện không thông qua hợp đồng
- Đối với khoản chi có tính chất thường xuyên gồm:
Dự toán năm được cấp có thẩm quyền giao;
Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;
Trang 28Quyết định giao quyền tự chủ của cấp có thẩm quyền (đối với đơn vị sự nghiệp thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
Các chủ dự án lập và gửi KBNN các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán
có liên quan theo quy định: Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư, Giấy rút vốn đầu tư, Giấy rút dự toán và các hồ sơ khác tùy theo tính chất của từng khoản chi
* Tiến hành kiểm soát chi: Công chức được giao nhiệm vụ kiểm soát chi tiến hành kiểm tra các điều kiện chi trên cơ sở các hồ sơ, tài liệu và chứng từ chi của chủ dự án gửi cơ quan KBNN, cụ thể như sau:
- Kiểm tra, đối chiếu khoản chi với dự toán, đảm bảo các khoản chi đã có trong dự toán được duyệt và phải phù hợp với điều kiện của hợp đồng (đối với khoản chi có hợp đồng)
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm chấp hành đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với những khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN, thì KBNN căn cứ vào dự toán được duyệt để kiểm tra, kiểm soát
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của lệnh chuẩn chi đã được thủ trưởng của chủ dự án hoặc người được uỷ quyền quyết định chi
Khi kiểm soát hồ sơ giải ngân, KBNN phải kiểm tra lệnh chuẩn chi của thủ trưởng cơ quan được giao chủ dự án hoặc người được ủy quyền (gọi chung là chủ tài khoản) đối với bất kỳ khoản chi nào Chuẩn chi của chủ tài khoản được thể hiện khi có đầy đủ chữ ký và dấu của chủ tài khoản, kế toán trưởng của đơn vị trên lệnh chuẩn chi (Giấy rút vốn đầu tư, Giấy rút dự toán); Mẫu dấu, chữ ký phải phù hợp với mẫu dấu, mẫu chữ ký đã đăng ký tại cơ quan KBNN
Trang 29- Kiểm tra sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ có liên quan Các hồ sơ, chứng từ của chủ dự án gửi đến KBNN là căn cứ pháp lý
để KBNN kiểm tra, kiểm soát, vì vậy mỗi khoản chi đều phải được lập đúng theo biểu mẫu quy định (đối với trường hợp quy định phải lập đúng biểu mẫu)
và hồ sơ chứng từ thanh toán, tạm ứng kèm theo phải bảo đảm đầy đủ và hợp pháp, hợp lệ KBNN có trách nhiệm kiểm tra sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ trước khi giải ngân cho đối tượng thụ hưởng
- Kiểm tra các yếu tố liên quan đến hạch toán (Mục lục ngân sách), tùy theo từng nội dung, từng khoản chi mà chủ dự án ghi mã CTMTQG, mã chương, mã ngành kinh tế, mã nội dung kinh tế cho phù hợp trên chứng từ kế toán
* Quyết định sau kiểm soát chi: Sau khi kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ của chủ dự án, nếu đủ các điều kiện như nêu trên thì KBNN thực hiện giải ngân (thanh toán, tạm ứng) cho đối tượng thụ hưởng theo quy định Trường hợp không đủ điều kiện chi, thì cơ quan KBNN làm thủ tục thông báo từ chối thanh toán, từ chối tạm ứng, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình Các công đoạn trên gọi là kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG Từ đó
có thể thấy thực chất của nội dung công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG của KBNN là kiểm soát sự đáp ứng các điều kiện nêu trên đối với từng khoản chi cụ thể của chủ dự án, căn cứ vào hồ sơ, chứng từ do chủ dự án gửi đến cho KBNN
1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG
Kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG là hoạt động thuộc về lĩnh vực quản
lý Nhà nước Kết quả đầu ra của công tác là giải ngân được một khoản chi NSNN, kết quả này mang nhiều tính chất định tính Do đó cần lựa chọn các tiêu chí có thể xác định được, từ đó kết hợp các tiêu chí để phân tích, tổng hợp để đánh giá được đầy đủ hơn về công tác kiểm soát chi Những tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá như sau:
Trang 30- Tổng kế hoạch, dự toán nguồn vốn CTMTQG trong năm kế hoạch: Tổng kế hoạch, dự toán giao cho các CTMTQG trong năm cho thấy được quy
mô hoạt động của công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG Đối với góc
độ cơ quan KBNN nó giúp đánh giá được mức độ phù hợp của nguồn lực cho công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG
- Tỷ lệ giải ngân nguồn vốn CTMTQG trong năm kế hoạch: Tỷ lệ giải ngân là chỉ tiêu giúp phân tích, đánh giá năng lực của các chủ dự án trong việc triển khai các CTMTQG, cũng như những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai chính sách của Nhà nước Đối với góc độ cơ quan KBNN nó giúp cho việc xác định các nội dung chi cần được chú trọng để nâng cao chất lượng công tác KSC
- Số lượng hồ sơ KBNN giải quyết trước hạn, đúng hạn, quá hạn: Trong công tác kiểm soát chi ngoài việc bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, đúng quy trình, thì cũng phải bảo đảm sự thông thoáng, rút ngắn thời gian kiểm soát chi, do vậy KBNN phải có biện pháp bố trí, sắp xếp giải quyết thanh toán cho đơn vị giao dịch kịp thời, theo đúng thời gian quy định Nếu tỷ lệ hồ sơ giải quyết bị quá hạn cao, KBNN cần phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến thời gian xử
lý kiểm soát chi để tìm biện pháp khắc phục
- Số món và số tiền KBNN chối cấp phát, thanh toán qua công tác KSC: Tiêu chí này thể hiện được mức đóng góp của KBNN trong việc phát hiện, ngăn chặn kịp thời các khoản chi vi phạm chế độ của Nhà nước Đồng thời phản ảnh được ý thức tuân thủ, chấp hành luật pháp của chủ dự án trong việc
sử dụng kinh phí NSNN Tuy nhiên tiêu chí này còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Sự đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán của quy trình, các quy định liên quan như chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi của Nhà nước; trình độ, năng lực của cán bộ kiểm soát chi; chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực chi NSNN Vì vậy, khi xem xét, đánh giá kết quả của tiêu chí này cần xem xét toàn diện các
Trang 31yếu tố ảnh hưởng, không nên máy móc chỉ dựa vào kết quả từ chối, thanh toán để đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát chi của KBNN
- Kết quả kiểm toán chi nguồn vốn CTMTQG của Kiểm toán Nhà nước khi thực hiện kiểm toán tại các chủ dự án: Kiểm toán Nhà nước chỉ kiểm toán các chủ dự án theo kế hoạch hằng năm được duyệt hoặc theo yêu cầu của Nhà nước Vì vậy, không phải tất cả các chủ dự án đều được kiểm toán hàng năm Tuy vậy, kết quả kiểm toán tại một số chủ dự án được kiểm toán cũng phản ánh được khách quan hơn chất lượng công tác kiểm soát chi của KBNN Một khoản chi NSNN của chủ dự án trước khi được thanh toán cho đơn vị hưởng đều trải qua hai cửa kiểm soát chi, đó là: Kiểm soát của chủ dự án trước khi quyết định chuẩn chi và kiểm soát của cơ quan KBNN trước khi thanh toán cho đơn vị hưởng Nếu chủ dự án được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước thì một lần nữa khoản chi đó được kiểm soát sau khi đã được thanh toán Nếu Kiểm toán Nhà nước phát hiện khoản chi CTMTQG đó vi phạm chế độ quản
lý tài chính thì chứng tỏ tại khâu kiểm soát của chủ dự án và của cơ quan KBNN còn sai sót Tùy thuộc vào nội dung, mức độ vi phạm của các khoản chi mà phân tích, đánh giá được chất lượng công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG của KBNN
Trang 32b Công tác lập, phân bổ dự toán, kế hoạch vốn hàng năm
Việc phân bổ dự toán, kế hoạch vốn hàng năm nếu sát với tiến độ thực hiện dự án và nguồn vốn bảo đảm sẽ có nhiều thuận lợi cho công tác kiểm soát chi và ngược lại
e Sự phát triển của khoa học công nghệ
Cũng n
đảm
f Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán
Nếu công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán được tiến hành nghiêm túc
và duy trì thường xuyên, sẽ kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót, đồng thời phát hiện những bất cập để kịp thời có kiến nghị, đề xuất với cấp có thẩm quyền trong việc quản lý, triển khai các CTMTQG
Trang 331.3.2 Nhân tố bên trong
a C
hợp với thực tế và mục tiêu quản lý của từng thời kỳ, tránh trùng lắp nhưng vẫn kiểm tra, kiểm soát được lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
b Đội ngũ công chức làm công tác kiểm soát chi
Đội ngũ công chức làm công tác kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG nói riêng ngoài yêu cầu có trình độ chuyên sâu
về quản lý tài chính, am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành liên quan, nhất là công tác lựa chọn nhà thầu, công tác quản lý dự án, trình tự triển khai một dự
án đầu tư,… thì đòi hỏi phải có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm đối với công việc được phân công, đặc biệt là phải nhanh nhạy trong việc xử lý các tình huống phát sinh Trong quá trình thực hiện phải kiên quyết loại bỏ nhưng cán bộ yếu về năng lực, không trung thực, có biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu trong kiểm soát chi
Quy trình nghiệp vụ phải bảo đảm thông thoáng, theo hướng cải cách hành chính, tuy nhiên phải bảo đảm chặt chẽ, góp phần tăng cường hiệu lực hiệu quả của Nhà nước
d Cơ sở vật chất và công nghệ hỗ trợ công tác kiểm soát chi
Nơi làm việc, nơi giao dịch sang trọng, lịch sự và được trang bị đầy đủ các thiết bị và phần mềm ứng dụng thích hợp sẽ tạo điều khiện thuận lợi cho công tác kiểm soát chi và ngược lại
e Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Nếu công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ được tiến hành nghiêm túc và duy trì thường xuyên, sẽ kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót trong
Trang 34thực thi nhiệm vụ, đồng thời phát hiện những bất cập, những sơ hở trong cơ chế, trong quy trình nghiệp vụ để đề xuất với cấp trên, với cơ quan có thẩm quyền trong việc triển khai các CTMTQG
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong phần trên, Luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về chi NSNN, kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG; vai trò của KBNN trong việc kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG, các tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát chi và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG,… Đây là cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng công tác quản
lý, kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn Phòng KBNN Đăk Nông trong chương II, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi nguồn vốn CTMTQG thuộc ngân sách tỉnh tại Văn Phòng KBNN Đăk Nông
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG
KBNN ĐĂK NÔNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG
2.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Văn phòng KBNN Đăk Nông
Thực hiện Quyết định số 164/QĐ-KBNN ngày 17/03/2010 của Tổng Giám đốc KBNN quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của tổ chức của các phòng thuộc KBNN tỉnh, theo đó Văn Phòng KBNN Đăk Nông gồm có
Trang 37NSNN, vốn CTMTQG và các nguồn vốn khác được giao quản lý theo quy định
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng KBNN Đăk Nông
a Chức năng của Văn phòng KBNN Đăk Nông
Văn phòng KBNN Đăk Nông là cơ quan đại diện cho Kho bạc Nhà nước Đăk Nông, là cơ quan trực thuộc KBNN, có chức năng thực hiện nhiệm vụ KBNN trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Văn phòng KBNN Đăk Nông có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được
mở tài khoản tại Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại trên địa bàn để thực hiện giao dịch, thanh toán theo quy định của pháp luật
b Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng KBNN Đăk Nông
* Văn phòng KBNN Đăk Nông có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tập trung các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, hạch toán kế toán các khoản thu cho các cấp ngân sách
- Thực hiện chi ngân sách nhà nước, kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật
- Tổ chức huy động vốn theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính và hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước
- Quản lý, điều hoà tồn ngân quỹ Kho bạc Nhà nước theo hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước; thực hiện tạm ứng tồn ngân Kho bạc Nhà nước cho ngân sách địa phương theo quy định của Bộ Tài chính
- Quản lý quỹ ngân sách tỉnh, quỹ dự trữ tài chính và các quỹ khác được giao quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cấp có thẩm quyền; Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm, quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước
Trang 38- Thực hiện công tác hạch toán kế toán về thu, chi ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính do Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh quản lý, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định
- Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về thu, chi ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính do Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh quản lý
- Quyết toán các hoạt động nghiệp vụ phát sinh tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh và trên toàn địa bàn
- Thực hiện nhiệm vụ tổng kế toán Nhà nước theo kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoạt động Kho bạc Nhà nước trên địa bàn
* Văn phòng KBNN Đăk Nông có quyền hạn sau:
- Trích tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
- Được từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
2.1.3 Kết quả hoạt động chủ yếu của Văn phòng KBNN Đăk Nông trong thời gian qua
KBNN Đăk Nông được thành lập từ năm 2004, là cơ quan trực thuộc KBNN, có chức năng thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN và các quỹ khác của Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật Trong thời gian qua hoạt động KBNN Đăk Nông cùng toàn ngành đã vượt qua khó khăn, từng bước ổn định và phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới và lành mạnh hóa nền Tài chính
Những kết quả cụ thể: Tập thể công chức của KBNN Đăk Nông luôn nỗ lực khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng quản lý ngân sách nhà nước,
Trang 39góp phần đưa số thu NSNN tăng lên qua từng năm KBNN Đăk Nông luôn phối hợp chặt chẽ với cơ quan thu, các Ngân hàng thương mại trên địa bàn phối hợp để tập trung nhanh, đầy đủ các nguồn thu vào NSNN; tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng cho các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước KBNN Đăk Nông cũng luôn thực hiện tốt công tác kiểm soát chi ngân sách, thông qua công tác kiểm soát chi NSNN đã giúp cho các đơn vị sử dụng NSNN quản lý và sử dụng kinh phí một cách tiết kiệm, có hiệu quả; đồng thời KBNN Đăk Nông đã phát hiện và từ chối các khoản chi sai mục đích, sai chế
độ, vượt tiêu chuẩn góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong chi ngân sách Thực hiện tốt các nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư xây dựng
cơ bản; công tác quản lý cấp phát các chương trình mục tiêu của Chính phủ theo đúng luật định Công tác quản lý quỹ, kế toán, thông tin đảm bảo cung cấp thông tin chính xác trong việc thu, chi ngân sách, phục vụ sự chỉ đạo cho
cơ quan cấp trên, chính quyền trong việc quản lý và điều hành quỹ NSNN tại địa phương; góp phần nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng ngân sách, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quản
lý và điều hành tài chính, ngân sách trên địa bàn
Trong thời gian tới KBNN Đăk Nông cùng với toàn ngành phấn đấu với mục tiêu lâu dài mà KBNN đề ra là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các mặt hoạt động để phát triển toàn diện và bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ KBNN phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công và cải cách hành chính quốc gia, xây dựng Kho bạc Nhà nước với nền công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao” Triển khai tốt chiến lược phát triển hệ thống KBNN đến năm 2020
Trang 402.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CTMTQG THUỘC NGÂN SÁCH TỈNH TẠI VĂN PHÒNG KBNN ĐĂK NÔNG
Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội
Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội
Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/2/2009 của Chính phủ về quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình
Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 24/12/2009 của Chính phủ về quản
lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng
Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng
Nghị định số 207/2013/NĐ-CP ngày 11/12/2013 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng