Thiên chúa giáo là một trong những tôngiáo như thế... Kitô hữu tin rằng Giêsu là con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người DoThái như đã được tiên báo trong Ki
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, tôn giáo không chỉ đơn thuần chỉ là sự kiện củacuộc sống tâm linh, mà cùng một lúc tôn giáo được coi là sự kiện lịch sử, sự kiện xãhội, sự kiện văn hóa và sự kiện tâm lý nữa Là sự kiện lịch sử bởi lẽ mỗi tôn giáo đềulà sản phẩm của một thời đại lịch sử nào đó, lên đương nhiên tôn giáo phản ánh nhữngvấn đề của thời đại lịch sử đã tác động tới nó, tham gia tiến trình của nó, và cũng giốngnhư các sự kiện lịch sử khác, tôn giáo cũng biến đổi theo thời gian và không gian Nộidung lịch sử cơ bản được phản ánh trong tôn giáo là vấn đề then chốt nhất của lịch sửđó là: lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp Có khi hoàn cảnh sinh ra tôn giáo đó mất
đi, nhưng tôn giáo vẫn tồn tại và phát triển Thiên chúa giáo là một trong những tôngiáo như thế
Ở Việt Nam, Thiên chúa giáo có vị trí đặc biệt Đó là một tôn giáo độc thần docác giáo sĩ rất nhiều quốc tịch khác nhau truyền vào nước ta từ cuối thế kỉ XVI, trongđó chủ yếu là các giáo sĩ của hội truyền giáo Thừa sai Pari
Cái phức tạp của vấn đề ở chỗ, quá trình truyền giáo rất nhanh chóng đã đi liềnvới làn sóng thực dân Nhiều giáo sĩ phương Tây đã thỏa hiệp với chủ nghĩa thực dân,đưa đường chỉ lối cho họ xâm chiếm thuộc địa Hoàn cảnh lịch sử ấy khiến cho vấn đềThiên chúa giáo không thuận lợi trong việc truyền bá, đặc biệt là thái độ của vươngtriều phong kiến nước ta đối với Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc từ thế kỷ XVIIđến thế kỷ XIX
Mọi người đều biết rằng trong lịch sử chính trị của nước ta đã từng diễn ra mộtsự kiện nổi bật, đó là cuộc ngăn cấm sự truyền bá đạo Thiên chúa vào nước ta – gọi tắt
là “cấm đạo” của các triều đình phong kiến Đây là vấn đề hết sức phức tạp và tế nhị
liên quan tới quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam và mục đích của quátrình truyền bá
Lịch sử, nói một cách đơn giản là cái đã diễn ra trong quá khứ và kim đồng hồkhông quay ngược trở lại nên chúng ta không thể xóa đi để làm lại từ đầu Mà hiện naynghiên cứu lại lịch sử chính là vì nhu cầu của cuộc sống, mặt khác chính vì sự pháttriển của xã hội ngày hôm nay cho phép ta đi nghiên cứu lại lịch sử một cách sâu sắc
hơn Vì vậy, với đề tài “Chính sách của nhà nước phong kiến đối với đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX ”, sẽ giúp chúng
Trang 2ta đi sâu vào tìm hiểu bản chất thực của việc truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam,
cũng như có thể rút ra một vài nhận định, đánh giá về chính sách “cấm đạo” của các
vương triều phong kiến Việt Nam Việc nghiên cứu đề tài trên giúp chúng ta nâng caosự hiểu biết về tôn giáo và có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về nó Mặt khác, thấyrõ hơn vị thế của tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo đối với sự phát triển lịch sửnước ta trong thế kỷ XIX – thế kỷ mà nước ta chịu sự tác động mạnh mẽ của chínhsách bành trướng thuộc địa của thực dân Pháp Mặc dù không lạ gì đạo Thiên chúa,song vì chịu ơn sâu của thực dân Pháp nên đầu thế kỷ XIX Trong khoảng những 20năm Gia Long ở ngôi, đạo Thiên chúa giáo ở Việt Nam phát triển khá bình yên, nhưng
từ thời Minh Mạng trở về sau đã tiến hành những chính sách “cấm đạo” càng làm cho
thực dân Pháp phẫn lộ, chúng tăng cường truyền đạo và đẩy mạnh quá trình xâm lượcnước ta
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Thiên chúa giáo ở Việt Nam là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu trongnước và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu Có rất nhiều công trình khoa học củaViệt Nam và thế giới viết về Thiên chúa giáo Việt Nam đã được xuất bản Tiêu biểu là
tác phẩm “sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVII và thế kỷ XIX”
của giáo sự Nguyễn Văn Kiệm – Hội khoa học lịch sử Việt Nam, trung tâm UNESCObảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, xuất bản năm 2001 đã thẳng thắn thểhiện chính kiến của mình trước nhiều sự kiện, nhiều nhân vật quan trọng, kể cả những
vấn đề phức tạp như chính sách “cấm đạo”của các vua Nguyễn từ Minh Mạng tới Tự
Đức, vấn đề văn thân, di sản văn hóa Thiên chúa giáo của nước ta
Tác phẩm “Thập Giá và Lưỡi Gươm” của linh mục Trần Tam Tỉnh xuất bản tại
Canada năm 1973, sau này đã được bổ sung, được Ban Tôn Giáo chính phủ và Ủy BanKhoa học Xã hội xuất bản năm 1988 Tác phẩm đã nêu lên quá trình truyền giáo tại ViệtNam và mối quan hệ của nó với chủ nghĩa thực dân xâm lược từ thế kỉ XVII đến 1975
Tác phẩm: “Lịch sử giáo hội công giáo” của linh mục Bùi Đức Sinh – nhà xuất
bản Chân Lý – Sài Gòn 1972 đã nêu lên toàn bộ lịch sử giáo hội dưới cách nhìn củagiáo hội Tác phẩm cũng đề cập tới Thiên chúa giáo tại Việt Nam
Cuốn “Một số vấn đề lịch sử đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam”
do Viện Khoa học Xã hội và Ban Tôn giáo của Chính phủ ấn hành năm 1988 Nộidung tác phẩm là các bài viết trong hội thảo về vấn đề phong thánh, đã nói lên toàn bộ
Trang 3mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân và tôn giáo ở Việt Nam Đồng thời đánh giánhững cái chứ được và chưa được của việc phong thánh của Vatican tháng 6 /1988.
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết của Phó Giáo sư Đỗ Quang Hưng, Giáo sưĐặng Nghiêm Vạn in trong tạp chí nghiên cứu lịch sử, tuy nhiên trong các công trìnhnghiên cứu về Thiên chúa giáo, các tác giả mới chú ý nghiên cứu về quá trình truyền
bá đạo Thiên chúa ở Việt Nam về những nguyên nhân về những chính sách “cấm đạo” của nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX đó cũng chỉ là những khía cạnh nhỏ trong những
tác phẩm mang nội dung nhiều vấn đề, chứ chưa phải là một vấn đề chuyên biệt
Nghiên cứu lại lịch sử cho phép chúng ta tìm hiểu lại sâu sắc hơn vấn đề lịch sử
diễn ra trong quá khứ Nổi bật nhất là cuốn sách: “Sự du nhập của đạo thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX” của giáo sư Nguyễn Văn Kiệm đã viết khá
sâu sắc về quá trình truyền đạo Thiên chúa giáo của các nước phương Tây vào Việt
Nam, ngoài ra là 10 tập trong số 38 tập “Đại Nam Thực Lục” của nhà xuất bản khoa
khoa học xã hội Hà Nội năm 1974, cũng có đề cập tới vấn đề trên
Những tài liệu trên, nhìn chung chưa có tài liệu nào đi sâu vào và trình bày có
hệ thống, đầy đủ vấn đề “Chính sách của nhà nước phong kiến đối với đạo Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX” Nhưng
tất cả đều là những tài liệu quý giá giúp chúng tôi tham khảo để hoàn thành bài nghiêncứu tốt hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: “Chính sách của nhà nước phong kiến đối với Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX”
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: trên toàn đất nước Việt Nam
Về thời gian: Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
4 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu chuyên sâu về “Chính sách của nhà nước phong kiến đối với Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX”, đặc biệt là
chính sách “cấm đạo” của các nhà vua Nguyễn từ Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức Trên cơ sở đó tôi phân tích những nguyên nhân của chính sách “cấm đạo” và đánh giá
mặt tích cực cũng như mặt hạn chế trong chính sách đó
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu.
- Tuân thủ nguyên tắc trong nghiên cứu khoa học lịch sử tôi luôn vận dụngquan điểm đường lối của Đảng và nhà nước vào việc nghiên cứu lịch sử, đảm bảo tìnhĐảng, tính khoa học và tính hiện đại Mặt khác đứng trên lập trường quan điểm chủnghĩa Mác – Lênin về tôn giáo để đánh giá chính xác khách quan các sự kiện, tư liệulịch sử Từ đó rút ra nhận định chung cho vấn đề mình nghiên cứu
- Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp sưu tầm tài liệu, chúng tôi tiến hành tập hợpcác tư liệu lịch sử Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các vấn đề, giữa các sự kiện lịch sử để làmsáng tỏ vấn đề mình nghiên cứu và rút ra kết luận xác đáng do khóa luận đề ra
6 Bố cục đề tài
Ngoài mở đầu và kết luận, phần nội dung khóa luận tôi chia làm 3 chương như sau:Chương 1: Đạo Kitô và bối cảnh truyền bá đạo Kitô vào Việt Nam
Chương 2: Chính sách của nhà nước Phong kiến đối đạo Thiên chúa giáo (từ thế kỷ XVII đến đầu XIX)
Chương 3: Chính sách của nhà nước phong kiến đối với đạo Thiên chúa thế kỷ XIX
Trang 5Chương 1: ĐẠO KITÔ VÀ BỐI CẢNH TRUYỀN BÁ ĐẠO KITÔ
VÀO VIỆT NAM 1.1 Khái quát về đạo Kitô
Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ đốc giáo (thuật ngữ Hán-Việt) là mộttrong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham,Abraham là tổ phụ của dân Do Thái và dân ẢRập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồi giáo), đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chếttrên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu như được kí thuật trong Kinh thánh TânƯớc Kitô hữu tin rằng Giêsu là con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người DoThái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước Là độc thần giáo hầu hết Kitôhữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong 3 thân vị (tiếng
Hi Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với cácdị biệt văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau Trải qua hai thiên niênkỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo Roma, Chính Thống giáo Đông
phương và Kháng Cách (Protestantism) Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với
hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới)
Từ “Kitô” xuất phát từ chữ Khristos trong tiếng Hi Lạp, nghĩa là “Đấng được xức dầu”, dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew Từ “Kitô hữu” (Christian) có nghĩa là “người có Chúa Kitô hiện hữu (ở trong)”, hay “người thuộc về Chúa Kitô”.
Trong tiếng Việt, bên cạnh “Kitô” (như Kitô giáo) có gốc từ tiếng Hy Lạp như trên, và thường được sử dụng bởi tín đồ Công giáo, còn có “Cơ Đố” (như Cơ Đốc
giáo) có nguồn gốc từ và thường được những người theo đạo Tin Lành sử dụng Trong
khi người Công giáo dùng chữ “Kitô” để chỉ Giêsu, người Tin Lành thường dùng chữ
“Christ” Ngoài ra, Thiên Chúa giáo cũng thường được sử dụng bởi những người
ngoài Kitô giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung
heo Kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài trong ngàyvà ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi Ông Adam và bà Eva là tổ phụ của loài người, không
nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của “cây biết điều thiện điều ác” (trái cấm) nên bị
Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông,nguyên tội) cho con cháu là loài người Bởi loài người mang tội, Thiên Chúa đã giángsinh cứu rỗi cho loài người để loài người được về lại thiên đàng cùng Thiên Chúa
Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Chúa Giêsu, do đó trọng tâm củacuộc sống Kitô hữu là niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa giáng trần, là
Trang 6Đấng Messiah, và là Chúa Kitô Danh hiệu “Messiah” có nguồn gốc từ tiếng Hebrew, nghĩa là “đấng được xức dầu”, Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên
Chúa xức dầu để tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên trivề Đấng Messiah trong Cựu Ước Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết vàphục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhậnlãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời
Trong khi những tranh luận thần học về bản thể của Giêsu vẫn đang tiếp diễn,
thì phần lớn Kitô hữu tin rằng Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu “là Thiên Chúa và là con người” trong ý nghĩa trọn vẹn của cả hai bản tính Vì Chúa Giêsu là
người nên phải trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người bình thường,nhưng không hề phạm tội Vì là Thiên Chúa, Chúa Giêsu đánh bại quyền lực sự chếtvà sống lại từ kẻ chết Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại từcõi chết, đặt Chúa Giêsu ngồi bên hữu của Chúa Cha và Ngài sẽ trở lại để làm ứngnghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah như sự phục sinh, sự phán xét sau cùng và sự thiếtlập Vương quốc của Thiên Chúa
Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Chúa Giêsu đượcgọi là Kitô hữu tại thành Antioch (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), nơi họ đến để lánhnạn và định cư sau những cuộc bức hại đầu tiên tại xứ Judea Nền thần học của Kitôgiáo sơ khai được thành lập và truyền bá bởi sứ đồ Phaolô và các sứ đồ khác
Theo Tân Ước, Chúa Giêsu tự xưng mình là Đấng Messiah mà dân Do Thái vẫnhằng mong đợi, nhưng đã bị nhóm lãnh đạo Tôn giáo và Dân sự cũng như dân chúngchối từ và bị xem như là chống lại Đền thờ và luật lệ thời đó Ngài cũng bị buộc tộiphạm thượng do dám gọi Thiên Chúa là Cha và bị kết án tử hình bởi chính quyền LaMã vào năm 30 Tuy nhiên Giêsu được Pontius Pilate, tổng đốc người La Mã, gọi là
“Vua của dân Do Thái”.
Theo các sách Phúc âm, người La Mã buộc tội Giêsu vì muốn xoa dịu sự bấtbình của giới cầm quyền Do Thái, nhưng một số học giả cho rằng đó là cách mà Đếchế La Mã trừng phạt những người chống đối họ Kitô hữu tin rằng Cựu Ước đã tiênbáo cái chết và sự sỉ nhục mà Giêsu phải chịu như đã chép trong Tân Ước Sách Isaiangụ ý rằng Giêsu bị vả, nhổ, đấm vào mặt, cũng như bị sỉ nhục
Kitô hữu xem sự phục sinh của Giêsu là nền tảng của đức tin và là biến cố quantrọng nhất trong lịch sử nhân loại Theo Tân Ước, Giêsu là tâm điểm của Kitô giáo, bị
Trang 7đóng đinh trên thập tự giá, chết và chôn trong mộ, đến ngày thứ ba thì sống lại Theoký thuật của Tân Ước, sau khi sống lại, Giêsu, trong những lần khác nhau tại nhữngđịa điểm khác nhau, đã đến gặp mười hai sứ đồ và các môn đồ, trong đó có lần xuấthiện trước sự chứng kiến của “hơn năm trăm người”, sau đó thì về trời.
Các sứ đồ của Giêsu là nhân chứng về cuộc đời, lời giảng và sự sống lại của Giêsu.Ngoài ra còn có nhiều môn đồ (đến 70 người) trong đó có Giacôbê, Mark, Luca, MaryMagdalene , những người này theo Giêsu trong các chuyến du hành và họ chứng kiến khiGiêsu giảng dạy và làm nhiều phép màu Sau khi Giêsu bị đóng đinh, các sứ đồ và các mônđệ khác công bố rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và họ khởi sự rao giảng thông điệp mới.Các sứ đồ và môn đệ này đã viết các sách Phúc âm và các Thư tín
Trong số 27 sách của Tân Ước, nhiều quyển được viết bởi Phaolô Ông là tácgiả của mười bốn thư tín và một số truyền thuyết cho rằng ông cũng là tác giả của Thưgửi tín hữu Do Thái Phúc âm Luca và sách Sách Công vụ Tông đồ được viết bởiLuca, người chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phaolô Phaolô là môn đồ của Gamaliel, mộtnhân vật có thanh thế trong toà công luận Phaolô được xem như là nhà truyền giáoquan trọng nhất rao giảng thông điệp Kitô cho thế giới bên ngoài
Vào thiên niên kỷ thứ hai, Kitô giáo phát triển đến hầu hết thế giới phươngTây, Trung Đông, các vùng Châu Phi và bắt đầu tiếp cận vùng Viễn Đông Dù vẫn nảysinh một số bất đồng về thần học và đều được giải quyết tại các công đồng, Kitô giáo đãduy trì được sự đồng thuận về các giáo lý nền tảng trong suốt thời kỳ này Tuy nhiên, trongthiên niên kỷ sau, các bất đồng về thần học và sống đạo ngày càng trở nên trầm trọng.Cuộc Đại ly giáo năm 1054 chia cắt Hội thánh thành giáo hội phương Tây và giáo hộiphương Đông Trong khi giáo hội phương Tây dần dần được củng cố với quyền lực tập
trung vào La Mã thì giáo hội phương Đông với danh xưng “Chính thống” cam kết bảo tồn
các truyền thống và đề kháng với mọi thay đổi Cho đến nay giáo hội phương Đông vẫnduy trì lập trường không đặt giáo hội dưới quyền cai trị của một giám mục duy nhất Giáohội phương Đông công nhận Thượng phụ thành Constantinople là “người đứng đầu nhưng
bình đẳng” với các giám mục khác đang cai quản các giáo hội tự trị trong gia đình
Chính Thống giáo
Tại châu Âu, chịu ảnh hưởng từ Cuộc Cải cách Kháng Cách (Protestant
Reformation) vào thế kỷ XVI nhiều giáo hội đã từ chối thần phục Vatican vì họ chorằng có sự lạm dụng trong cơ cấu quyền lực được tập trung vào ngai Giáo hoàng cũng
Trang 8như bên trong cấu trúc quyền lực này đã nảy sinh nhiều sai lạc về thần học và sốngđạo Các vấn đề mấu chốt trong cuộc tranh luận đã được tóm tắt trong năm mệnh
đề sola nổi tiếng (Xem Năm Tín lý Duy nhất):
Sola Scriptura: Duy Thánh Kinh - thẩm quyền của giáo hội chỉ dựa trên Kinh
Thánh được giải thích cách đúng đắn và chuẩn xác chứ không được tách rời khỏi KinhThánh[21]
Sola Fide: Duy đức tin – con người được cứu rỗi chỉ bởi tin Đấng Christ(Chúa Kitô) chứ không phải bởi công đức hay là nhờ giáo hội và các thánh lễ
Sola Gratia: Duy ân điển – Sự cứu rỗi được ban cho từ Thiên Chúa, bởi ânsủng của Ngài, con người không thể làm gì để được cứu
Solus Christus: Duy Chúa Kitô - Chúa Giêsu là đấng trung bảo duy nhất giữa
Thiên Chúa và loài người chứ không phải là giáo hội hay các chức sắc
Soli Deo Gloria: Vinh hiển chỉ dành cho Thiên Chúa - mọi vinh hiển vì
sự cứu rỗi nhân loại chỉ dành cho một mình Thiên Chúa chứ không phải giáo hội haycác chức sắc
Từ cuộc cải cách khởi phát một cuộc tranh chấp dữ dội nhằm thu phục người dân Âu châu Các cuộc tranh luận giữa người Công giáo và người Kháng Cách dẫn đến những cơn bách hại cũng như các cuộc chiến, kể cả các cuộc nội chiến
Đức tin Công giáo và Kháng Cách đặt chân đến Bắc Mỹ (và sau đó là Châu Úc)bởi các di dân đến từ Châu Âu
Không theo mô hình trung ương tập quyền như người Công giáo, cũng không tổchức bộ máy giáo hội trên qui mô quốc gia, các tín hữu Kháng Cách tập trung trong hàng
trăm, và sau này hàng ngàn giáo phái (denomination) độc lập với nhau Đức tin Công giáo
và Kháng Cách cũng đến Nam Mỹ và Châu Phi cùng lúc với người Âu châu đi chiếmthuộc địa, đặc biệt là từ thế kỷ XVI đến thế ky XIX Vào thế kỷ XVIII Chính Thốnggiáo du nhập vào vùng Alaska thuộc Bắc Mỹ qua các di dân đến từ Nga, về sau, vào cuốithế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, số lượng di dân người Nga còn đông hơn nhiều
Bắt đầu từ thế kỷ XIX, nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng Kitô giáo, đặc biệttại Tây Âu, ngày càng trở nên thế tục
Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính từ 1,5tỉ đến 2,1 tỉ người xưng nhận niềm tin Kitô giáo; theo sau là Hồi giáo với 1,3 tỉ; số
Trang 9người theo Phật giáo là 1,2 tỉ người và số người vô thần là 1,1 tỉ; Ấn Độ giáo là 900triệu; tôn giáo cổ truyền Trung Hoa là 394 triệu.
Kitô giáo chia ra nhiều nhánh, bao gồm 1,1 tỉ người Công giáo, 510 triệungười Tin Lành cùng với 84 triệu tín hữu Anh giáo, 216 triệu người Chính thống giáo,con số các tín hữu độc lập (không gia nhập giáo phái nào) là 158 triệu và những giáohội “ngoại vi” (Chứng nhân Jehova, Cơ Đốc Phục lâm, Mormon ) có khoảng 31,7triệu tín hữu Các giáo phái này tự nhận mình thuộc Kitô giáo nhưng họ không đượccông nhận bởi cộng đồng Kitô giáo vì cớ các học thuyết không chính thống của họ
Tuy Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới và đang duy trì bộ máy truyền giáokhổng lồ, lại không đạt được mức tăng trưởng như các tôn giáo khác cũng như khôngtheo kịp tốc độ gia tăng dân số thế giới Trong khi dân số toàn cầu tăng 1,25% mỗinăm thì mức tăng trưởng của Kitô giáo chỉ khoảng 1,12%
Không phải mọi người xưng nhận mình là Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) đều chấpnhận tất cả, hoặc ngay cả hầu hết, các quan điểm thần học của giáo hội của họ Giốngnhư người Do Thái giáo, Kitô hữu nhân phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắcbởi Phong trào Khai sáng vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII Có lẽ sự thay đổiquan trọng nhất đối với họ là nguyên tắc phân ly giáo hội và nhà nước, chấm dứt tậptục của một Kitô giáo được nhà nước bảo hộ đã hiện hữu lâu đời tại nhiều nước ở Âuchâu Ngày nay một người, như là một công dân tự do, có quyền bất đồng với giáo hộicủa mình về các vấn đề khác nhau và có quyền rời bỏ giáo hội tuỳ thích Trong thực tế,nhiều người đã bỏ giáo hội và phát triển các hệ thống đạo giáo khác như Thần giáo,Duy nhất thần giáo, nhiều người khác chọn lựa trở nên vô thần hay bất khả tri hoặc lànhân bản
Một số người ở lại Hội thánh lập ra phong trào Tự do bên trong nền thần họcKháng Cách Tân phái vào cuối thế kỷ XIX khuyến khích các hình thức tư duy và trìnhbày mới không theo truyền thống của giáo hội
Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, trào lưu thần học tự do góp phần phát triền tinh thầnthế tục trong toàn xã hội Nhiều Kitô hữu ngưng thực hành các bổn phận tôn giáo, mỗinăm chỉ đến nhà thờ vài lần vào những dịp lễ hội, hoặc hoàn toàn không bước chânvào nhà thờ Nhiều người trong số họ vẫn nhắc đến lòng sùng đạo của ông bà, nhưnghọ lớn lên trong những gia đình, nơi mà các giá trị Kitô giáo không còn được xemtrọng Bên trong họ là một tình cảm pha trộn đối với đức tin Kitô Giáo Một mặt họ
Trang 10tiếp tục buộc mình vào các giá trị cổ truyền vì lý do bản sắc, mặt khác ảnh hưởng củatinh thần thế tục phương Tây, áp lực từ cuộc sống hằng ngày và từ những người xungquanh bứt giật họ ra khỏi ảnh hưởng còn sót lại của Kitô giáo truyền thống Hôn nhângiữa Kitô hữu và người không phải Kitô hữu, từng là điều cấm kỵ, nay đã trở nên phổbiến Tại một số quốc gia có truyền thống Công giáo, nhiều người trở nên tín đồ củathuyết bất khả tri.
Vào đầu thế kỷ XIX, trào lưu tự do phát triển mạnh tại Âu châu và Bắc Mỹ, đếnthập niên 1960, kiểm soát nhiều giáo phái lớn tại Hoa Kỳ và Canada Dù vậy, ngàynay trào lưu này đã thoái trào Vào đầu thế kỷ XXI, tuy thế giới thế tục, đặc biệt là cácphương tiện truyền thông vẫn xem các nhà thần học tự do như là đại biểu và phát ngônnhân cho Kitô giáo, các nhà thờ theo khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần Một phầnlà do những nỗ lực truyền bá Phúc âm, phần khác là vì nhiều người trong số họ đangtrở lại với các giá trị Kitô giáo truyền thống
Một vấn nạn của Kitô giáo là họ đánh mất khả năng chuyển giao các giá trị Kitôgiáo cho thế hệ kế tiếp Trong khi các giáo phái lớn tại Hoa Kỳ, ngoại trừ Baptist Namphương, đang thoái trào thì các định chế tôn giáo theo khuynh hướng Tin Lành đangphát triển mạnh, đặc biệt là vào hạ bán thế kỷ XX Tạp chí Thế kỷ Kitô giáo cókhuynh hướng tự do đang thu hẹp dần để bị thay thế bởi đối thủ đang lớn mạnh cókhuynh hướng Tin Lành, tạp chí Kitô giáo Ngày nay
Tại phương Đông Phong trào Khai sáng không tạo lập được nhiều ảnh hưởng.Đối diện với nhiều áp lực từ các xã hội thế tục, giáo hội phải bám trụ vào các xác tíntruyền thống để tồn tại, dù vậy, số lượng tín hữu cứ bị bào mòn dần
Ngày nay, tại Đông Âu và Nga, đang diễn ra tiến trình hồi sinh Sau nhiều thậpkỷ hưng thịnh của thuyết vô thần, nhiều người bắt đầu quan tâm đến Kitô giáo cũngnhư các tôn giáo khác Nhiều nhà thờ và tu viện Chính thống giáo được trùng tu vàđược lấp đầy bởi các tín hữu và tu sĩ Các giáo phái Kháng Cách cũng tìm đến đểtruyền bá Phúc âm và thành lập giáo hội Giáo hội Công giáo tiết lộ họ đã từng có cácgiáo phận bí mật và nay đang tiến hành các bước nhằm công khai hỗ trợ các nhà thờtại đây
Tại Nam Mỹ và Châu Phi, các giáo phái Tin Lành và Ngũ Tuần đang tăngtrưởng mạnh và bắt đầu gởi các nhà truyền giáo đếnChâu Âu và Bắc Mỹ Tình trạngtương tự cũng đang xảy ra tại một số nước châu Á
Trang 11Hạ bán thế kỷ XX chứng kiến thần học tân phái phát triển thành chủ nghĩa tiêudùng Xảy ra cùng lúc nhưng theo hướng ngược lại là sự phát triển của hiện tượng ĐạiGiáo đoàn - tập chú vào tính linh động của các phương pháp trình bày thông điệp Kitôcho người đương thời Giáo trình Alpha là một điển hình cho trào lưu mới này củaKitô giáo.
Một phong trào có ảnh hưởng lớn và đang phát triển mạnh, đặc biệt ở phươngTây và Hoa Kỳ là Phong trào Tin lành Họ có mặt và hoạt động tích cực trong hầu hếtcác giáo phái Kháng Cách, trong một số trường hợp họ là thành phần đa số Những
người Tin Lành thường chủ trương “xuyên giáo phái”, họ thích tạo lập các mối quan
hệ chính thức hoặc không chính thức với những người Tin Lành trong các giáo pháikhác hơn là quan hệ với những người không Tin Lành trong vòng giáo phái của họ.Tín hữu Tin Lành nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có kinh nghiệm qui đạo của mỗi cánhân và tin Chúa Giêsu là Cứu Chúa và Thiên Chúa Họ tin vào sự tái lâm của ChúaKitô, tính chân xác của Thánh Kinh và tin vào phép mầu
1.2 Bối cảnh truyền bá đạo Kitô vào Việt Nam
1.2.1Tình hình thế giới
Thế kỉ XV với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu, đã thúc đẩy nền kinhtế hàng hóa phát triển mạnh mẽ Nền kinh tế tư bản manh nha ấy đang đỏi hỏi một sự
“ tích lũy nguyên thủy tư bản” để định hình Sự tước đoạt tư liệu sản xuất cũng như lợi
nhuận thương mại trong vùng chỉ đáp ứng một cách chậm trễ nhu cầu trên Mặt khác,những lục địa châu Âu thì hẹp và bị cạnh tranh mạnh nên các thương nhân đua nhautìm cách mở rộng thị trường và mở về phương Đông – nơi có mỏ vàng bạc và hươngliệu phục vụ cho cuộc sống ăn chơi xa xỉ của giới quý tộc phong kiến nhằm đưa lại lợinhuận cao, nhanh và xúc tiến sự định hình của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và nângcao địa vị thống trị chính trị của giai cấp tư sản
Nhiều tác phẩm hồi kí về phương Đông ở các thế kỉ trước, đã mô tả rằng nơiphương Đông xa xôi, có mặt trời mọc, có suối vàng, bể bạc, có những đống hồ tiêuchất cao như núi Phương Đông được miêu tả như một thiên đường càng làm châu Âu
mơ tưởng đến một nơi bồng lai tiên cảnh, giàu sang đến tột cùng đó Trạng thái kinhtế, nhu cầu cuộc sống lại bùng lên khi một trong những con đường buôn bán chủ yếucủa châu Âu với phương Đông là con đường Địa Trung Hải, sau cuộc thập tự chinh,nằm trong tay người Ý Một số thành thị nước Ý đã đạt được cơ sở phồn vinh trên
Trang 12thương lộ này Tuy nhiên họ vẫn phải nhờ vào môi giới của người Arập, vì vậy ngườiArập hầu như đã kiểm soát toàn bộ con đường buôn bán phía Nam sang Ấn Độ hoặc điqua Ai Cập và Hồng Hải, hoặc đi theo sông Tigơrơ và Ơphơrát đến vịnh Ba Tư Người
A rập đã dựng lên một hàng rào bất khả xâm phạm giữa Ấn Độ và châu Âu, khiến chokhông một tàu buôn nào được phép qua đó Người A rập trở thành kẻ lũng đoạn hànghóa Ấn Độ, châu Âu phải mua lại hàng hóa đối với giá đắt gấp 8 đến 10 lần
Một con đường buôn bán khác là con đường xuyên qua đại lục địa châu Á tớiTrung Quốc cũng đã mất hết tác dụng do bị dân du mục của nước Ápganxixtan thaynhau chiếm giữ Tuy nhiên một trong những việc buôn bán với phương Đông, nguy cơbế tắc chủ yếu vẫn là việc người Thổ Nhĩ Kì chiếm lĩnh mất con đường qua Hắc Hải,vịnh Ba Tư Năm 1453, khi đế quốc Bidăngtium diệt vong, người Thổ Nhĩ Kì chiếmlĩnh Côngxtăngtinôp rồi chiếm luôn Tiểu Á và bán đảo Ban Căng Năm 1475 họchiếm Crimê Hắc Hải trở thành biển của họ, từ đó về sau Hắc Hải và những vùng đấtngười Thổ Nhĩ Kì chiếm lĩnh hoàn toàn và trở lên khốc liệt do chính sách kinh tế tànbạo của người Thổ Họ đã cướp đoạt ruộng đất thương nhân ở đây một cách vô lý,khiến cho con đường buôn bán này của châu Âu với phương Đông trở lên tuyệt vọngrồi phải tìm một con đường khác để tới phương Đông
Lúc này công nghệ đóng tàu và kĩ thuật hàng hải của nhiều nước như Bồ ĐàoNha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp đều có nhiều tiến bộ rõ rệt nên càng thúc đẩy côngviệc đi tìm những vùng đất mới Đó là cuộc thám hiểm của Vascôde Gama ( người BồĐào Nha) vào năm 1497, đã khám phá ra đường đi sang Ấn Độ bằng cách đi qua mũiHảo Vọng (cực Nam châu Phi), mở ra cho châu Âu khả năng buôn bán trực tiếp vớiphương Đông Cũng trong khoảng thời gian này, Christophe Côlômbô đã tìm ra châuMĩ Cùng với những cuộc phát kiến địa lý và khoa học kĩ thuật thì hàng loạt cácngành văn hóa khác phát triển theo các cuộc phát kiến cũng đử viết lên một cuốn sáchBách Khoa Toàn Thư về thế giới mênh mông, phong phú hiện ra trước mắt người châu
Âu Chính vì lý do trên nó đã thúc đẩy các nước phương Tây đua nhau đi xâm chiếmthuộc địa, phân chia thị trường thế giới
Trong các cuộc thám hiểm và chạy đua xâm lược thuộc địa đó, không chỉ cómặt các thương nhân, các nhà chinh phục mà còn xuất hiện của các giáo sĩ phươngTây với sứ mạng truyền bá đạo Thiên chúa
Trang 13Bấy giờ giáo hội Thiên chúa là một thế lực mạnh nhất ở châu Âu đã vạch ra conđường phát triển cho hai nước: Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, quy định những khu vựcảnh hưởng của hai nước đó Theo sắc chỉ Inter Coctera, quy định một đường ranh giớitừ Bắc cực xuống Nam cực chạy qua một trăm dặm ở phía Tây các đảo Acores: phíaĐông đường ranh giới đó thuộc độc quyền truyền giáo của Bồ Đào Nha, phía Tâythuộc quyền truyền giáo của người Tây Ban Nha Riêng ở vùng Viễn Đông thì ViệtNam, Trung Quốc, Nhật Bản đều thuộc lĩnh vực truyền bá của Bồ Đào Nha Goa và
Áo Môn là hai trung tâm truyền giáo quan trọng nhất của Bồ Đào Nha tại châu Á
Sang thế kỷ XVI, hàng loạt các thế lực tư sản Tây Âu xuất hiện và mạnh lên.Đặc biệt đáng chú ý là Pháp vì nước này vẫn nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Tòa
Thánh La Mã Vua Pháp, do sức ép của thế lực tư sản đã phẫn lộ tuyên bố: “mặt trời chiếu sáng cho ta cũng như cho những kẻ khác Ta rất muốn biết xem điều khoản nào trong Thánh kinh đã gạt ta ra ngoài sự phân chia thế giới” Sau đó Pháp đã gây ra sức
ép buộc giáo hoàng Clément V cho Pháp được hưởng quyền chiếm đất thực dân vàtruyền giáo như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Từ đó, Pháp được bước vào vòng đuachen với hai nước trên trong cuộc chạy đua với hai nước thực dân và truyền giáo Đólà bối cảnh lịch sử cho sự ra đời ngày càng nhiều của các công ty thương mại và giáođoàn ở Pháp để cạnh tranh với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trong đó có Hội thừa saiParis và công ty Đông Ấn nhằm hoạt động ở vùng Viễn Đông
Ý định của các thế lực thực dân phương Tây đã rõ ràng và thực chất đây lànguy cơ cho các dân tộc ở châu Á Người phương Tây khi tìm thấy và đặt chân lênmảnh đất này ý đồ của họ không chỉ đơn thuần là trao đổi mậu dịch hay truyền bá đạoThiên chúa Đằng sau tất cả các việc làm của họ đều ẩn chứa mưu đồ muốn thôn tính,xâm lược những quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi và giàu tài nguyên này làm thuộc địalâu dài
Có thể nói suốt mấy nghìn năm cái cách mà cư dân châu Á lựa chọn nói chunglà đóng cửa, bế quan tỏa cảng đối với các nước xung quanh là có hiệu quả và đem lại
an toàn cho an ninh quốc gia Nhưng lần này có lẽ đóng cửa chưa hẳn đã là một biệnpháp tốt, vì đối tượng muốn xâm nhập vào lúc này là một lực lượng lớn mạnh cả vềkinh tế, quân đội Điều quan trọng hơn là họ đang ở một trình độ phát triển hơn hẳn sovới các phương Đông phong kiến
Do vậy các dân tộc ở châu Á lúc đó đứng trước những nguy cơ:
Trang 14Thứ nhất: mất quyền độc lập tự chủ, chính quyền các nước sẽ rơi vào tay đế
quốc thực dân
Thứ hai: nền văn hóa, văn minh lâu đời từ mấy nghìn năm, với những giá trị
truyền thống bền vững sẽ bị xâm lấn, thế chỗ và bị bào mòn bởi những giá trị văn hóangoại lai mới
Thứ ba: chắc chắn trong quá trình thực hiện việc mà người phương Tây vẫn quen gọi theo cách biện minh khéo léo rằng đó là “sứ mạng khai hóa văn minh cho các dân tộc man rợn hơn” Và kết quả tất yếu là người dân châu Á sẽ phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề từ các cuộc chiến tranh mà họ không hề muốn diễn ra, haynhững hậu quả, những di chứng xã hội lâu dài hơn nữa những vết sẹo trong lòng củalịch sử mỗi nước mà cho đến nhiều thế kỷ sau chưa chắc đã xóa nhòa được
Cho đến nửa đầu thế kỷ XVII, Bồ Đào Nha đã bước vào thời kì suy yếu tới mứckhông còn khả năng tiếp tục phát triển công cuộc thực dân và truyền giáo Các giáo sĩthừa sai dòng Jésuites của Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã lâm vào tình trạng khốn khó vàbất động Giáo sĩ Pháp – Alexandre de Rhodes thuộc dòng này đang có mặt ở Ma Caođã về Pháp và sang La Mã đề xuất với Tòa thánh La Mã vấn đề nước Pháp thay thếquyền Padoroado của Bồ Đào Nha ở Viễn Đông Cuộc vận động này của A.Rhodes bịgiáo hội Bồ Đào Nha phản ứng quyết liệt Sống nhờ sự ủng hộ nhiệt tình của Giáo hộivà nhà nước Pháp, cuối cùng đề nghị trên của nước Pháp được giáo hội chấp nhận Hộithừa sai Pari được chính thức thành lập năm 1669, được phép truyền giáo ở Viễn Đôngmà không phụ thuộc quyền Padoroado của Bồ Đào Nha Hội được nhà nước và tầnglớp quý tộc, tư sản Pháp bảo trợ, chu cấp tiền bạc, phương tiện Mục đích của Hội làđào tạo các giáo sĩ thừa sai đi truyền đạo ở Phương Đông Và qua hoạt động truyềnđạo để phát triển thế lực của nước Pháp ở phương Đông, nơi mà Pháp chưa có thế lựckinh tế, chính trị gì đáng kể
Sang thế kỷ XVII, giáo hội Thiên chúa giáo La Mã bị trào lưu tư tưởng triết họcmới của giai cấp tư sản phương Tây đả kích mạnh mẽ, rồi sau đó lại bị tấn công dữ dộitrong cách mạng tư sản Pháp 1789 Hầu hết các giáo đoàn Thiên chúa giáo bị giải thể,khiến cuộc truyền giáo trên thế giới bị chậm một thời gian Chỉ đến sau thỏa hiệp kíkết giữa Napôlêông I với Tòa thánh La Mã năm 1801 và cùng với nó là tác phẩm
“tinh thần cơ đốc giáo” xuất bản năm 1802 – ca ngợi tính nhân văn của tôn giáo này,
vị thế của Thiên chúa giáo đã được phục hồi, các dòng tu, giáo đoàn được hoạt động
Trang 15trở lại, việc truyền bá ra ngoài châu Âu tiếp tục được đẩy mạnh Số giáo dân theo đạoThiên chúa, cùng với các giáo sĩ, nhà nhờ và trường học ở cả ba miền Bắc, Trung,Nam ngày một nhiều Thiên chúa giáo lúc này đã trở thành một tôn giáo lớn, có tín đồđông nhất thế giới.
Bước sang thế kỷ XVIII các nước tư bản phương Tây đã có những thay đổiđược đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp, sử dụng máy hơi nước trong sảnxuất, quá trình này đã làm thay đổi cách thức sản xuất, từ lao động bằng tay sang laođộng bằng máy móc
Kết quả là dẫn tới những biến động lớn về đời sống xã hội, giai cấp tư sản côngthương và giai cấp vô sản công nghiệp ra đời gắn liền với nó là sự thôi thúc mạnh mẽ hơnnữa là làn sóng thôn tính châu Á ào ạt, chiếm thuộc địa ở Đông Á và Đông Nam Á
Đứng trước làn sóng xâm lược ồ ạt của phương Tây và cuộc cách mạng côngnghiệp đã làm ảnh hưởng sâu sắc tới hầu hết các vùng đất ở châu Á Trong khi đóbước sang thế kỷ XVIII chế độ phong kiến của hầu hết các quốc gia đã rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng trầm trọng Nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng nàychính là sự suy thoái từ bên trong, sự suy thoái về kinh tế xã hội ở nhiều nước saunhiều thế kỷ đã tận dụng tiềm năng của mình để phục vụ cho nhu cầu của các vươngtriều Như vậy việc xây dựng các đền đài, năng tẩm, huy động lực lượng cho các cuộcchiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến hay là sự bóc lột quá mức đối với nhân dântrong nước mà không chú ý tới việc đổi mới cải cách đất nước
Điểm lại một loạt các nước trong khu vực Đông Nam Á từ Thái Lan,CamPuChia, Lào, Miến Điện, Inđônêsia trong giai đoạn này là sự phát triển chững lạicủa nền kinh tế, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt, nhà nước phong kiếnkhông còn đủ sức thực hiện những đòi hỏi của sự thay đổi về kinh tế xã hội
Tư bản phương Tây sau khi đã lần lượt tìm đến châu Á bằng con đường biểnlàm quen và thăm dò trong suốt hai thế kỷ XVI - XVII Sang đến thế kỷ XVIII chuyểnsang chính sách xâm lược, biến các nước châu Á nói chung thành thuộc địa Lúc đầuchúng thuê hay dùng vũ lực để chiếm lấy một vùng đất thuận lợi cho buôn bán, thườnglà các địa điểm trên đường giao thông thủy, bộ làm thương điếm Tại đây chúng xâydựng các kho tàng, cửa hàng, được hưởng nhiều quyền lợi trong hoạt động kinh doanhvà mở rộng dần thương điếm của mình Tiếp đó chúng độc chiếm, toàn quyền sử dụngvùng đất của thương điếm và nộp cho vua chúa địa phương một số thuế, lệ phí nhất
Trang 16định Đây là thời kì thống trị của các công ty thương mại, thế lực của chúng không giớihạn về mặt kinh tế mà còn mở rộng trên các mặt chính trị, quân sự Các công tythương mại phương Tây không những chỉ gây nên sự phản kháng của phong kiến vàcuộc đấu tranh của nhân dân địa phương mà còn làm cho mâu thuẫn giữa các công tyvà chính phủ nước mình cũng ngày càng trở lên gay gắt.
Chính sách bóc lột của những công ty này là tận dụng triệt để nguồn tài nguyên,khoáng sản, triệt để nguồn nhân lực rẻ tiền hoặc không mất tiền của địa phương đểgiàu nên nhanh chóng Sự giàu sang của thực dân phương Tây được xây dựng trênxương máu của nhân dân các nước phương Đông
Sang thế kỷ XVIII các nước tư bản phương Tây đã bộc lộ rõ bộ mặt xâm lượccủa mình đối với các nước châu Á bằng việc chiếm lấy một số địa điểm trọng yếu, hayxúc tiến phân chia thị trường đối với các nước phương Đông Sang thế kỷ XVIII âmmưu của các nước tư bản phương Tây đã bộc lộ rõ ràng , phân chia châu Á thành nhiềumảnh và cuộc tranh chấp thị trường giữa các nước tư bản với nhau cũng ngày càngquyết liệt
12.2 Tình hình Việt Nam
Chính trị
Vào thế kỷ XV, đạo Thiên chúa đã được các giáo sĩ và thuyền buôn phươngTây truyền bá vào nước ta Khi đến Việt Nam họ bắt gặp một đất nước với cuộc chiếntranh phong kiến diễn ra liên miên, xung đột Nam - Bắc triều rồi đến Trịnh – Nguyễn
phân tranh kéo dài gần 200 năm: “xương chất thành đống, máu chảy thành sông” chia
cắt đất nước ta thành hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài
Quan hệ Đàng Ngoài và Đàng Trong hết sức căng thẳng và chiến tranh diễn ralien mien Chúa Trịnh cũng như chúa Nguyễn ra sức liên hệ với người nước ngoài,mua sắm vũ khí phục vụ cho chiến tranh mà không màng tới việc xây dựng phát triểnkinh tế, dẫn tới tình trạng đói khổ cùng cực
Đàng ngòa kinh tế chế độ “Vua Lê – chúa Trịnh” mà thực quyền nằm trong tay
phủ chúa, vua Lê tồn tại chỉ là hư vị Quan lại chủ yếu được chọn chủ yếu bằng khoacử Hình thức đề cử được chúa Trịnh nhiều lần sử dụng, việc nộp thóc để được bổdụng làm quan cũng được chúa Trịnh thực hiện
Trang 17Chế độ ban thưởng, lương bổng của quan lại cũng thay đổi Có thể nói bộ máynhà nước thời Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội bộ giữa haidòng họ cũng như giữa quan lại và nhân dân
Đàng Trong: với ý đồ Đàng Trong độc lập với chính quyền ở Đàng Ngoài, cácchúa Nguyễn đã tích cực trong quá trình Nam tiến Cho đến năm 1757, vùng đất Thủychân Lạp, đã hoàn toàn thuộc quyền hành của chúa Nguyễn Thế kỷ XVIII các chúaNguyễn cũng xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở học tập mô hình ở ĐàngNgoài, dù các chúa Nguyễn có cố gắng song Đàng Trong vẫn có những đặc trưngriêng so với Đàng Ngoài về nhiều mặt
Tuy nhiên, đầu thế kỷ XVIII bộ máy quan lại ở Đàng Trong và Đàng Ngoài đãkhông còn như trước nữa Tệ thuế khóa nặng nề, quan lại tham những đã làm cho đờisống nhân dân vô cùng khổ cực, dẫn đến khủng hoảng xã hội trầm trọng Tệ mua quan
bán tước thường xuyên diễn ra, tình trạng “sinh đồ ba quan” rất phổ biến tệ tham
nhũng ngày càng trầm trọng, bọn cường hào, địa chủ mặc sức hà hiếp, đục khoét nhândân không ai ngăn cản được
Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến diễn ra trên phạm vi cả nước chứngtỏ xã hội đã bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng
Trong vòng 50 năm đầu thế kỷ XVIII đã có tới 400 cuộc chiến tranh, khởinghĩa nông dân lớn nhỏ bùng lên rầm rộ ở khắp Đàng Trong và Đàng Ngoài Nổi bậtnhất là cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa giải quyếtđược nhiệm vụ quan trọng của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ đó là:
Thứ nhất: đánh đổ chính quyền của chúa Nguyễn (1777, 1782, 1783), Nguyễn
Ánh thất bại nặng nề phải bỏ chạy sang Xiêm cầu cứu vua Xiêm Năm 1785: chiếnthắng 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm và Xoài Mút, khẳng định quyền làm chủ xứngđáng của nghĩa quân Tây Sơn với đất Đàng Trong
Thứ hai: lật đổ chính quyền Lê – Trịnh: Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn
Huệ kéo đại quân ra Thăng Long lật đổ chính quyền của họ Trịnh Cuối năm 1787 đemquân ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống bỏ chạy Sau hơn 15 năm khởi nghĩađánh Nam dẹp Bắc, quân Tây Sơn hoàn thành nhiệm vụ to lớn, đánh đổ 3 tập đoànphong kiến Nguyễn, Trịnh, Lê làm chủ đất nước
Thứ ba: kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh: Lê Chiêu Thống cầu
cứu Mãn Thanh (11 - 1788), 19 vạn quân Thanh ồ ạt kéo vào nước ta (12 - 1788)
Trang 18Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế kéo quân ra bắc Nghĩa quân Tây Sơn đã làm lên mộttrang sử rạng danh với những chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa Trong vòng chưa đầy
5 ngày đêm vừa hành quân thần tốc, vừa chiến đấu quyết liệt, dũng cảm sang tạo ta đãđập tan mộng tưởng xâm lược của quân Thanh
Mặc dù tồn tại không lâu nhưng vương triều Quang Trung đã thực hiện đượcmột số chế độ chính trị - xã hội có tính chất tiến bộ, củng cố trật tự an ninh đất nước,ngoại giao hòa hiếu
Nhưng diến biến lịch sử đột ngột diễn ra, khi Quang Trung qua đời năm 1792,Quang Toản không đủ sức tiếp tục Nhân cơ hội này được sự giúp đỡ của thực dânPháp Nguyễn Ánh đã tấn công và giành lại chính quyền về tay mình
Sang thế kỷ XIX quan hệ tiếp xúc Đông – Tây đã chuyển từ hướng thương mạitự do sang đối đầu Thay vì thăm dò, tôn trọng chủ quyền để thiết lập quan hệ ngoạigiao buôn bán như trước đây, Đông - Tây đã chuyển sang quan hệ đối địch Nhiềunước trong khu vực đã chọn lối đi riêng của mình để đối mặt với hiểm họa xâm lượccủa phương Tây
Trong bối cảnh đó nhà Nguyễn được thành lập 1802 đã tỏ ra lúng túng, chỉ locủng cố vai trò địa vị của dòng họ, không bắt kịp với xu thế thời đại, làm cho đất nướcngày càng trí tuệ, tụt hậu
Nhà Nguyễn chú trọng việc sắp xếp lại tổ chức hành chính từ trung ương tới địaphương cho phù hợp với hoàn cảnh mới Lấy Phú Xuân làm kinh đô chia địa phươngthành các cấp quản lý trực thuộc khác nhau tuy vị trí xa hay gần kinh đô Những địaphương nằm kề Phú Xuân được gọi là trực doanh nằm dưới sự cai quản của triều đình.Ở hai đầu của đất nước, Gia Long đặt hai kỳ Bắc Nam, giao quyền cho hai quan Tổngtrấn lúc đó gọi lag Bắc Thành và Gia Định thành
Chính sách của nhà Nguyễn với phương Tây đầu thế kỷ XIX chủ yếu là mấyđời vua đầu tiên cũng thể hiện rõ ràng Trước khi nên nắm quyền Nguyễn Ánh sau nàylà Gia Long đã có mối quan hệ mật thiết và nhiều năm với giáo sĩ người Pháp nhất làvới Bá Đa Lộc Vì chịu ơn Bá Đa Lộc nên Nguyễn Ánh buộc phải để giáo sĩ truyềnđạo nên giai đoạn này quá trình truyền đạo khá thuận lợi Nhưng từ thời Minh Mạng,
Thiệu Trị và Tự Đức đã đưa ra chính sách “cấm đạo” và được tiến hành gay gắt Nhất
là thời Minh Mạng, các giáo sĩ bị sát hại rất nhiều, tuy quá trình truyền đạo lén lútnhưng vẫn đạt được kết quả khá khả quan
Trang 19 Kinh tế
Thế kỷ XVI – XVII kinh tế hàng hóa Đại Việt rất phát triển, sự giao lưu buônbán diễn ra ở hầu khắp các hải cảng trong cả nước sự phát triển kinh tế công thươngtuy chưa thực hiện rầm rộ đến mức có thể tự do, đạt đến trình độ tự mình vươn lênthành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như phương Tây Nhưng về cơ bản chính sựphát triển đó đã vượt ra khỏi rào cản của chế độ phong kiến ở một mức độ nhất định.Cho đến thế kỷ XVIII trên đà đó kinh tế hàng hóa vần còn rất thịnh đạt, các thươngnhân Anh và Pháp thiết lập quan hệ buôn bán với Đàng Trong chủ yếu ở Hội An ỞĐàng Ngoài, Thăng Long (kẻ chợ) vẫn còn có nhiều thương nhân qua lại buôn bán,nhưng do cuối thế kỷ XVIII cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ nên các hoạt động buônbán cũng bị ngừng trệ Hơn thế nữa, lúc này người Pháp váo Việt Nam xin buôn bánchủ yếu là để thăm dò tình hình ở trong nước nên chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũnghạn chế và trục xuất các giáo sĩ đồng thời là thương nhân ra khỏi Đại Việt Cuối thế kỷXVIII, việc buôn bán với nước ngoài hầu như chấm dứt Đầu thế kỷ XIX trước tìnhhình dân phiêu tán quá nhiều dẫn đến nền kinh tế khó khăn, ruộng đất bị bỏ hoang, nhàNguyễn tiến hành công cuộc khẩn hoang lập làng, khuyến khích nông dân phiêu tán vềquê cũ làm ăn Việc sản xuất thủ công nghiệp truyền thống trong dân gian, nhàNguyễn cũng cho xây dựng các quan xưởng, trong chính quyền cũng được hình thànhnhững Ty chuyên trách nhiều lĩnh vực Những máy móc được chế tạo theo kiểu châu
Âu đã ra các quan xưởng dưới triều đại Minh Mạng
Xã hội
Do cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến cưới thế kỷ XVIII đã làm cho đờisống nhân dân vô cùng cực khổ, họ bị bóc lột một cách nặng nề Làng mạc, ruộngvườn bị chiến tranh tàn phá, nhân dân phiêu bạt khắp nơi, ruộng đất bỏ hoang, cỏ dạimọc um tùm như rừng Người ăn xin đầy đường, đầy chợ Đã vậy, để phục vụ chiếntranh, phục vụ cuộc sống ăn chơi xa xỉ, giai cấp thống trị đã không từ bất cứ thủ đoạnnào, mà biện pháp cố hữu là tăng thuế Cộng với đó là nạn lụt lội, mất mùa liên miênxảy ra Không còn con đường nào khác, để mưu cầu cuộc sống, quần chúng nhân dânđã liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa
Trang 20Thế kỷ XVII được mệnh danh là thế kỷ nông dân khởi nghĩa, mà đỉnh cao làphong trào nông dân Tây Sơn Trong lúc chúa Trịnh phải đối phó với nhiều cuộc nổiloạn ở các vùng dân tộc, những cuộc khởi nghĩa nông dân, thì ở Đàng Trong, chúaNguyễn đã tìm mọi cách củng cố và phát triển thế lực ở phía Nam Nhưng cuộc khởinghĩa Tây Sơn bùng nổ đã làm thay đổi cục diện, phong trào này đã lật đổ các tập đoànthống trị Trịnh – Nguyễn, thống nhất đất nước Phong trào đã có công trong chiếnthắng chống giặc ngoại xâm oanh liệt (chống quân Xiêm, chống quân Thanh) Nhưngtriều đại Tây Sơn chỉ tồn tại được một thời gian ngắn thì sụp đổ Nhà Nguyễn lên thay,không những không giải quyết được những vấn đề lớn của xã hội mà còn đưa đất nướcvào con đường bế tắc trì trệ, bảo thủ về mọi mặt Và cuối cùng để nước ta rơi vào taythực dân Pháp.
Trải qua nhiều thế kỷ, người Việt Nam, không còn cơ sở để đặt niềm tin vào bộmáy cai trị của nhà nước phong kiến, vì giai cấp thống trị cầm quyền, ăn chơi, xa xỉ,chia bè kéo cánh, đánh giết lẫn nhau Trong khi đó quần chúng nhân dân bị bóc lộtnặng nề đã liên tục nổi dậy khởi nghĩa với mong muốn xây dựng một cuộc sống mớitốt đẹp hơn, xong các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều thất bại Và một tâm trạng hoangmang bế tắc không có đường ra là một sự thực phổ biến trong nhiều tầng lớp nhân dânlao động bấy giờ
Mặt khác, do sự suy thoái của chế độ quân chủ chuyên chế, trung ương tậpquyền, sự tranh chấp giữa các thế lực, phe phái phong kiến và do ảnh hưởng ngày càngtăng của quan hệ sản xuất hàng hóa tiền tệ, ý thức hệ Nho giáo cũng ngày càng suyđồi, tôn ty trật tự xã hội không còn như trước nữa Bộ máy quan lại bị đồng tiền chiphối ngày càng sâu sắc Bên cạnh đó, Phật giáo lại được phục hồi, nhưng không cònthịnh đạt như thời Lý - Trần, các nhà chùa không là trung tâm vừa để giảng dạy, vừacó một nền kinh tế phong phú Tuy nhiên thì nó không còn đáp ứng được tư tưởng củanhân dân trong xã hội lúc bấy giờ
Phải nói rằng, trước sự khủng hoảng, phần nào học thuyết mới, dù cho đó làđược bên ngoài đưa vào cũng có một sức hấp dẫn nhất định với lời giáo huấn củaChúa Đạo Thiên chúa đến với họ như nước uống đến với người đang khát Họ bỗngcó một đức Chúa để được cứu rỗi, và sẽ có được một cuộc sống tốt đẹp nơi nước Chúa– trên thiên đường – điều đó đem lại cho họ một sự an ủi tinh thần to lớn
Trang 21Như vậy, các nước phương Tây với tham vọng tìm kiếm thị trường, tranh giànhthuộc địa để chia nhau ảnh hưởng, giai cấp tư sản thấy cần phải có một đội ngũ nhữngngười tri thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, lại ít gây ra sự hoàinghi và phản ứng của người bản xứ Vào thời điểm ấy, những con người như thế chỉtìm thấy ở các giáo sĩ được đào tạo công phu trong các nhà Dòng của Giáo hội Thế là,ở các nước Tây Âu sớm phát triển như Bồ Đào Nha, Pháp đua nhau thành lập các giáođoàn, tập hợp và đào tạo các thầy tu thành các giáo sĩ Thừa sai để đáp ứng cho yêu cầunói trên.
Về mặt hình thức thì các tổ chức tôn giáo và các nhà truyền giáo có nhiệm vụthực hiện lời dạy của chúa Jésus để truyền bá đức tin và mở rộng nước Chúa Tầng lớpthương nhân, các giáo sĩ và quân đội viễn chinh đi xâm lược lại gặp nhau trong ý đồ vàmục đích cuối cùng của họ Vì vậy, thực dân và giáo hội đã cấu kết với nhau để thựchiện âm mưu xâm lược nước ta
Thay vì việc truyền bá đạo Thiên Chúa bằng con đường truyền thống của thờinguyên thủy đó là họ ra sức dạy cho dân chúng giáo lý chính thống, những tư tưởngmà đạo Thiên chúa giáo sẵn có Mà người ta đã thực hiện sự cải giáo bằng phươngthức cưỡng bức đồng loạt, dựa vào bạo lực nhằm chinh phục dân bản xứ về phần hồnđể tạo tiền đè cũng như củng cố cho sự chinh phục toàn diện, nghĩa là biến nhữngngười dân bản xứ thành kẻ nô lệ cho chính quốc và, trong cuộc chinh phục phần hồnnày các giáo sĩ Thừa sai đã nhận được sự bảo trợ của nhà nước và sự phân phối nhịpnhàng của các thương nhân cũng như những người đi chinh phục các miền đất nước
Đội ngũ giáo sĩ sẵn sàng “mở nước chúa”, thực hiện vai trò bước đầu là truyền đạo,
còn bước sau là làm tốt chức năng ổn định về tư tưởng về lớp sống cho người dân bảnxứ, để cuối cùng, chủ nghĩa thực dân và các giáo sĩ Thừa sai cùng chia nhau hưởng lợi
cho một xứ thuộc địa mênh mông “chiếu cố”, “khai hóa văn minh” Đây là những
tiền đề dẫn tới sự du nhập và truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam, cũng như nhữngđối sách của nhà nước phong kiến đối với Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc ViệtNam từ thế kỷ XVI - XIX
Trang 22Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN ĐỐI VỚI ĐẠO THIÊN CHÚA GIÁO ( THỪ THẾ KỶ XVII – ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX) 2.1 Quá trình du nhập và truyền bá đạo thiên chúa vào Việt Nam
Mỗi tôn giáo sau khi được định hình, đương nhiên phải truyền bá tôn giáo đó vàtiếp tục công việc mỗi khi có cơ hội và điều kiện Đó là lý do khiến nó có thể tồn tại vàphát triển, đạo Thiên chúa cũng không nằm ngoài quy luật đó
Kể từ khi ra đời ở thế kỷ I đầu công nguyên, trải qua những bước thăng trầmcủa lịch sử, chỉ đến năm 312 và năm 313 hoàng đế Constantin I mới quyết định côngnhận Kitô giáo là tôn giáo của quốc gia và ban sắc chỉ cho phép dân chúng tự do theođạo, còn bản thân thì chính thức cải giáo vào năm 323 Từ đó Kitô giáo ngày càng pháttriển, củng cố và có địa vị cao trong xã hội Các nhà truyền giáo cũng luôn phải có
nhiệm vụ thực hiện lời dạy của Chúa Jiêsu là: “các con hãy ra đi dạy đạo và rửa tội cho mọi quốc gia nhân danh Cha, Con và Thánh Thần ” đặc biệt, sau cuộc phát kiến
địa lý vào thế kỷ XV giáo hội Thiên chúa giáo mà đầu não là Tòa thánh La Mã thấyhiện ra trước mắt mình những vùng đất bao la để mở rộng nước Chúa Song, giáo hộiThiên Chúa chỉ có thể thực hiện được với sự hỗ trợ vật chất của các quốc gia với nềnkinh tế tư bản sớm phát triển như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp Vì vậy các giáosĩ phương Tây cùng với thương nhân dong thuyền đi tới Viễn Đông, trong đó có ViệtNam để cùng thực hiện một mục đích là làm lợi cho quốc gia Tuy nhiên, khi đặt chântới Việt Nam các giáo sĩ cũng như các giáo lý của nhà thờ Thiên Chúa giáo đã vấpphải những khó khăn, nhưng cũng có những thuận lợi
Bắt đầu vào thời kì Cận đại, Việt Nam còn là “vùng đất vô chủ” đối với các
nước phương Tây đi xâm lược Thương nhân và nhà truyền giáo cũng tranh nhau vào nước
ta Những cuộc thăm viếng, mua đi bán lại của họ đã mở đường cho các nhà truyền giáo Độiquân truyền giáo với những giáo lý mới mẻ đến Việt Nam vấp phải một xã hội cổ truyền có
lịch sử lâu đời và một “đạo” nhà “bền vững” Đạo nhà đó được gia cố bằng chất men của
đạo Phật và quy tắc hóa chặt chẽ của học thuyết Khổng – Mạnh
Vậy mà Thiên chúa giáo đã đem đến cho xã hội cổ truyền này một Đức Chúa
trời xa lạ, thay thế cho vua chúa vì thế, trong con mắt của vua chúa, đây là “tà đạo”,
trong con mắt của người dân là một sự quái dị xa lạ Song, theo thời gian đạo Thiênchúa qua quá trình du nhập và truyền bá đã ngày một phát triển trong lịch sử dân tộcViệt Nam
Trang 23Sử cũ đã ghi lại sự kiện vào năm 1533, Nguyên Hoà I, đời Lê Trang Tông đã ramột chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa Chỉ dụ ấy cho biết: có một giáo sĩ tên Inêkhu (Ignatio)đã lén lút theo đường biển và giảng đạo tại xã Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyệnNam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định Đến nơi nào Ignatio cũngđều mang tiền và thuốc phát cho dân chúng nhằm mục đích phục vụ cho việc truyền báđạo Thiên chúa vào nước ta.
Hai năm sau, vào năm 1535, một người phương Tây là Antônie de Pariađã vàocửa sông Hàn Đà Nẵng để truyền đạo Thiên chúa, nhưng không biết kết quả ra sao
Từ năm 1550 – 1612, công cuộc truyền giáo vẫn tiếp tục được triển khai tạinước ta Nhưng nhìn chung không thu được kết quả gì đáng kể
Như vậy, vào thế kỉ XVI, đạo Thiên chúa đã bắt đầu được truyền bá vào ViệtNam Song các giáo sĩ vẫn chưa thực sự quan tâm, họ mới chỉ dừng ở mức độ thăm dò,thử nghiệm nên ở những nơi các giáo sĩ đặt chân đến chưa thu được kết quả nhiều, chỉduy nhất ở vùng An Trường – Thanh Hóa còn ghi nhận đã được một số người rửa tộivà có lẽ đây là những người theo đạo Thiên chúa đầu tiên ở Việt Nam
Phải đến những năm sau thế kỷ XVII cụ thể là từ năm 1615 trở đi, khi trung tâmtruyền giáo của Bồ Đào Nha cử hai giáo sĩ Francois Bujomi và Diego Carvalho sang HảiPhố thuộc Quảng Nam, việc truyền bá đạo Thiên chúa ở nước ta mới thực sự bắt đầu và đạtkết quả cụ thể Ngay trong năm 1615, các giáo sĩ nhanh chóng xúc tiến thành lập Hội truyềngiáo xứ Đàng Trong Đây là tổ chức truyền giáo đầu tiên được xây dựng trên đất nước vàcũng từ đây, dòng Tên của đạo Thiên chúa xuất hiện ở Việt Nam
Từ khi Hội truyền giáo Đàng Trong được thành lập thì công cuộc truyền bá đạoThiên chúa giáo được phát triển liên tục trong các năm tiếp theo, nhiều giáo sĩ được cửsang Việt Nam, chỉ trong vòng 10 năm, từ 1615 – 1625 số lượng các nhà truyền giáoDòng Tên lên tới 21 người Trong đó có 17 linh mục, 4 thầy cả Nhận thấy việc truyềnbá Đàng Trong có nhiều thuận lợi, các giáo sĩ đã liều lĩnh để đẩy mạnh việc gây cơ sởtruyền đạo ra Đàng Ngoài
Tháng 12 – 1624 A.de Rhodes vào Việt Nam Phải nói rằng A.de Rhodes làngười có năng khiếu đặc biệt trong việc học các thứ tiếng nước ngoài Sau 19 ngày đặtchân lên Việt Nam, giáo sĩ này đã miệt mài và say xưa học tiếng địa phương Và chỉđúng 6 tháng sau ông đã có thể giảng đạo ở tỉnh Chàm Tại Huế, họ đã truyền đạo chomột phụ nữ, có thể là vợ lẽ của Nguyễn Hoàng Bà ta đã dọn một nơi trong nhà riêng
Trang 24của mình để làm chỗ cho các giáo sĩ ở và giảng đạo Giáo sĩ A.de Rhodes đã áp dụngthành công phương pháp tiếp cận với các vua chúa, quan lại, những gia đình quyềnquý bằng những lễ vật quý để qua họ lôi kéo thêm nhiều người theo đạo Nhờ đó việcgiảng đạo của A.de Rhodes rất thuận lợi Năm 1629 trước khi rời Đàng Ngoài thì ở HàNội và các vùng lân cận đã có 3.500 giáo dân Vùng truyền giáo đầu tiên ở ĐàngNgoài được ghi nhận là làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc – Thanh Hóa Và thời giannhững người theo đạo đầu tiên ở làng này trùng với khoảng thời gian mà linh mụcRhodes ra ngoài Bắc giảng đạo.
Ở Đàng Trong, Thiên chúa giáo đã được truyền bá rộng rãi ở các tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Thuận Hóa, Quảng Bình với số giáo dân khoảng 50.000 người
Song, cũng vào thời điểm này, thế lực người Bồ bị suy yếu ở trong nước và trêntrường quốc tế, họ không đủ khả năng để thúc đẩy thêm việc truyền giáo nữa, để thoátkhỏi sự kiềm chế của triều đình và giáo sĩ Bồ Đào Nha; A.de Rhodes và các giáo sĩPháp sau này đã tích cực vận động cho việc thành lập Hội truyền giáo ngoại quốc ởParis ( năm 1658) tuyển mộ giáo sĩ đi truyền đạo ở phương Đông trong đó có sự chú ýđặc biệt đến Việt Nam Hội được nhà vua Pháp Louis XIV và các nhà quyền quý đỡđầu, ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần, chính thức ra mắt vào ngày 27/10/1663 Đâylà sự kiện đánh dấu một bước ngoặt lớn của cuộc truyền bá đạo Thiên chúa vào ViệtNam Hội này dần dần mở rộng cùng với sự bành trướng về thương mại của Tư bảnPháp Phạm vi và hệ thống toàn quốc của Hội truyền giáo ngoại quốc ngày càng ưu thế
so với các cơ sở dòng Tên của linh mục người Bồ Đào Nha và các cơ sở dòng DominiCainl và Phêrô của các giáo sĩ Tây Ban Nha Kể từ đây, nước Pháp nắm độc quyềntruyền giáo cũng như sự bành trướng thế lực ở đây
Tháng 7/1699, Lambert cùng Thừa sai Banger và một Thừa sai khác ra kinh lýĐàng Ngoài và truyền chức thêm 7 thầy cả, 20 thầy bổn, 20 thầy chịu phép cắt tóc,được coi như sự khởi đầu cho hàng giáo sĩ Đàng Ngoài Tiếp đó, vào ngày 14/2/1670Lambert triệu tập cộng đồng Nam Định nhằm lập lại kỉ luật trong địa phận như cáchthức chăm sóc con chiên, chọn lựa và đào tạo thầy giảng, phân chia các xứ, bầu trùmtrưởng và chức dịch trong các xứ Đây là một hình thức tổ chức sinh hoạt mang dángdấp của một trường học sơ khai
Từ nửa sau thế kỷ XVII, các vùng truyền giáo lớn được chia thành đại phận,gần các tỉnh giáp ranh nhau, đi lại thuận tiện Mỗi một địa phận do một giám mục cai
Trang 25quản và một hệ thống các chức sắc để điều hành việc đạo Bởi vậy, việc truyền giáo ởnước ta thời gian này đã có nề nếp và tổ chức chặt chẽ.
Vào cuối thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII, mặc dù lệnh cấm đạo của cácvương triều Đàng Ngoài, Đàng Trong diễn ra thường xuyên, chiến tranh và sự khủnghoảng của chế độ phong kiến là những trở ngại lớn đối với quá trình du nhập và truyềnbá đạo Thiên chúa vào Việt Nam Nhưng mỗi khi có cơ hội thuận lợi, Thiên chúa giáolại được đẩy mạnh và tiến triển đần dần do hoạt động tích cực của các giáo sĩ Nhưngcũng vì muốn sự tăng trưởng trong giáo dân của dòng mình, nên đã dẫn tới tranh giànhảnh hưởng giữa các dòng với nhau, nội bộ Thiên chúa giáo ở Việt Nam bị khủnghoảng, mâu thuẫn Các giáo sĩ ở Việt Nam lúc này lại thuộc nhiều các quốc tịch khácnhau nên thường không phục nhau, luôn có sự đố kị bất đồng Vào tháng 5/1739 TổngHội truyền giáo cử cha Achaids de la Baume cùng ba giáo sĩ khác đến Đàng Trong đểgiàn xếp và ra quyết định phân chia cụ thể khu vực truyền giáo của mỗi dòng Chínhsự phân chia này đã thúc đẩy thêm các giáo sĩ ở các dòng hoạt động mạnh hơn, khẩntrương hơn để gây thêm ảnh hưởng, tăng uy tín cùng số lượng giáo dân dòng mìnhđược đông đảo
Tuy vậy, do ảnh hưởng hơn 10 năm tha cấm dưới thời chúa Ninh Vương (1721
- 1737) nên ở Đàng Trong, việc truyền đạo vẫn tiến triển vào năm 1793 ở địa phận
Đàng Trong có “300 nhà thờ, 70.000 bổn đạo với 29 linh mục ngoại quốc và 200 thầy giảng Riêng ở Huế có 5 nhà thờ” Nói chung, cuộc truyền giáo ở Đàng Trong trong
khoản ba thập kỉ cuối thế kỉ XVIII hầu như không phát triển bao nhiêu Tuy nhiên, từnăm 1789 trở đi, sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, phản công quân TâySơn thì ở những vùng Nguyễn Ánh kiểm soát việc truyền đạo lại được phục hồi trở lại
và sự phát triển đạo Thiên chúa vẫn thu được những kết quả khả quan: “tính đến đầu thế kỉ XIX đã có 50.000 giáo dân, 15 linh mục bản xứ, 5 thừa sai và một giám mục Thế diện Tòng tòa”.
Sự phát triển đạo Thiên chúa ở Đàng Ngoài đã được thực hiện trong bức thư
của giáo sĩ Larbartlettes gửi cho bạn: “không bao giờ ta thấy nhân dân lại sẵn sàng theo đạo Thiên chúa như bây giờ những con chiên trước khi bị bắt giam vì không chịu nổi những hành hạ của quan quân phải “ bội giáo” Bây giờ những người ấy cũng đã trở về vói chúng ta Và những người mới theo đạo cũng mỗi ngày một đông ” Riêng Đàng ngoài, năm 1671 có 5.300 người được cải giáo Từ thế kỉ XVII –
Trang 26XVIII, do chính sách cấm đạo của các vương triều, nên các giáo sĩ có đôi khi lén lút việchành đạo rất khó khăn Tuy nhiên, vào năm 1800 cuộc truyền giáo ở đằng ngoài cũng đặtđược kết quả khả quan “ ở cả hai phận Đông – Tây có 10 giáo sĩ thừa sai ngoại quốc,260.000 giáo sĩ Cộng với số liệu Đàng Trong, Đàng Ngoài thì cả nước có 3 giám mục , 15giáo sĩ thừa sai ngoại quốc, 119 linh mục bản xứ và 310.000 giáo dân”.
Như vậy từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, đạo Thiên chúa giáo xâm nhậpvào nước ta từng bước một không ồ ạt, nhưng bám rễ khá chắc chắn, ngoài ra các chacố dựa vào giáo dân xây dựng được một hệ thống trường Dòng đào tạo thầy cả ở ĐàngNgoài và Đàng Trong (Kẻ Sở - Thanh Trì - Hà Nội, Bình Trị Thiêm, Kẻ Chàm ) nếuvào những ngày đầu theo các tàu buôn, các giáo sĩ chỉ mới đặt chân và truyền đạo ởmột số vùng ven biển mà kết quả không thu được là bao thì đến thế kỉ XVIII, họ đãmang đạo Thiên chúa thâm nhập được vào hầu hết các địa phương từ Bắc chí Nam.Các giáo sĩ đã tận tuỵ, khôn khéo tìm mọi cách, lợi dụng những cơ hội có thể truyềnđạo vào Việt Nam, họ đã vận dụng cả chữ Hán, chũ Nho và học tiếng việt để thâmnhập vào đời sống xã hội Việt Nam
Tóm lại, vào thời gian này, đạo Thiên chúa đã dặt được nền móng truyền giáotại nước ta, để tới thế kỷ XIX, Thiên chúa giáo tại Việt Nam còn trải qua bởi nhữngbước thăng trầm của lịch sử
Sang đầu thế kỷ XIX, dưới triều đại Gia Long (1802-1820), Thiên chúa giáo ởViệt Nam trong thời kì sóng yên bể lặng, bởi do chịu ơn Bá Đa Lộc mà Nguyễn Ánhđã không có một chính sách cấm đạo nào Dù vậy, Thiên chúa giáo cũng không pháttriển bao nhiêu mà chỉ là thời gian giáo hội Việt Nam củng cố và ổn định tổ chức Vìtrong những năm nay, giáo hội Pháp vừa qua cơn bão táp cách mạng tư sản, không đủcung cấp cho Việt Nam số giáo sĩ cần thiết Năm 1812 ở phía Bắc chỉ có giám mụcLonger với vài giáo sĩ Thừa sai Pháp gia yếu ở giáo phận Tây và mấy giáo sĩ Đa Minhở giáo phận Đông Ở phía Nam chỉ có giám mục Labartette, cha chính địa phận Taortvà Thừa sai Audemar
Chỉ đến tời Minh Mạng, mặc dù ông vua triều Nguyễn này đã liên tiếp đưa racác sắc dụ cấm đạo vào các năm 1825,1833,1838 với các sắc dụ cấm đạo này đã khiếnhàng trăm giáo dân, 20 linh mục bản xứ, 9 linh mục ngoại quốc và 4 giáo mục tử đạo.Tuy bị thiệt hại nhưng trong khoảng thời gian 20 năm 1820 - 1840 lực lượng truyềngiáo vẫn được tăng cường chủ yếu là những giáo sĩ Thừa sai có năng lực như giám
Trang 27mục Labartette, Taberd, Havard Chính bởi dựa vào sự khéo léo của các giáo mục,các Thừa sai và lòng trung kiên của các giáo hữu, Thiên chúa giáo không yếu đi màvẫn đứng vững và vẫn đạt được mức độ khả quan nhất định.
Vào năm 1840, trên toàn quốc có “3 giáo mục, 2 phí giám mục, 24 Thừa sai,
144 linh mục bản xứ và 420.000 giáo dân” Sang thời Thiệu Trị (1841 - 1847) chủ
trương không giết các giáo sĩ nước ngoài, mà chỉ tạm thời giam lại Thừa dịp đó cácgiáo sĩ đã hoạt động tích cực và thậm chí đã sử dụng cả tiền bạc để có thể mở rộngviệc truyền giáo trong cả nước, đó là trường hợp của giáo mục Retort Khi gặp khókhăn hay có giáo sĩ bị bắt, Retort đều lo lót bằng tiền bạc trót lọt Đặc biệt do việc tang
ma của Thiệu Trị kéo dài đã tạo cơ hội cho các giáo mục, các giáo sĩ Thừa sai côngkhai giảng đạo, rước lễ linh đình, đeo thánh giá đi lại ở cửa biển
Việc phát triển ở Trung và Nam kỳ diễn ra rất khả quan, các xứ đạo được mởrộng một nhà nguyện đã được lập ở làng Kon Ko Long Bởi vậy năm 1844 các địaphận được chia lại và ở mỗi địa phận đều có một giám mục chịu trách nhiệm đã tạođiều kiện cho sự phát triển, ganh đua nhau giữa các địa phận trong quá trinh truyên báđạo Thiên chúa vào Việt Nam
Bước sang thời Tự Đức (1848 -1883) các chỉ dụ cấm đạo liên tiếp được banhành do bộ mặt thật của các giáo sĩ đã được phơi bày Các giáo sĩ Thừa sai Pháp vàmột bộ phận giáo dân thiếu sáng suốt đã công khai tỏ thái độ ủng hộ quân Pháp, TâyBan Nha, viện cớ bảo vệ giáo sĩ, giáo dân, đòi tự do truyền giáo, để nổ súng xâm lượcĐà Nẵng (1858) Đến năm 1862 trước sức ép của Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã kỹvới thực dân Pháp hòa ước Nhâm Tuất, trong đó ở điều thứ 2, Tự Đức phải thừa nhận
sự tồn tại của Thiên chúa giáo trên đất nước mình Điều 2 Hoà ước quy định “quý quốc cùng nước Y-Pha-Nho đặt truyền giáo Thiên chúa ở nước tôi, phàm người nước nam không kể hạng người nào, ai muốn theo được tùy tiện, ai không tình nguyện thì không bắt ép” Đến đây thái độ của triều đình bớt gay gắt hơn và khi triều đình Huế ký
điều ước 1874 thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Bộ thì Thiên chúa giáo được bảovệ, và một điều tất nhiên khi Thiên chúa giáo được thừa nhận thì những giáo phận ởNam kì được hoàn toàn yên tĩnh, phát triển với những trại cô nhi, nhà thương, trườngdạy học được mở để phát huy thanh thế của đạo Ngay cả ở Trung kỳ và Bắc kỳ mặcdù gặp nhiều khó khăn trong thời gian thi đến đây cũng thực sự được bình an
Trang 28Mặc dù nhiều khó khăn sóng gió trên bước đương du nhập và truyền bá đạo Thiênchúa vào Việt Nam thì đến thế kỉ XIX trở đi, Thiên chúa giáo đã tìm cho mình một chỗ đứngvững chắc va đạt được những thành tựu khả quan Rất nhiều tòa giám mục ở địa phận đượcxây dựng Nếu như năm 1890 tòan quốc chỉ có 310.000 giáo dân, hơn 100 linh mục ngươiViệt, thì đến năm 1910 số giáo dân đã là 9550.000 người, 10 giám mục địa phận, 371 linhmục người nước ngoài, 44 linh mục người Việt, 207 thầy giảng.
Dưới chế độ thực dân, Thiên chúa giáo được ưu đãi về nhiều mặt, được tạo điềukiện phát triển Về chính trị các giám mục người Pháp được ngang hàng với thượngthư, cố tây ngang hàng với tri phủ, linh mục ngang hàng với tri huyện, giáo dân đượcnhồi nhét tư tưởng nhớ ơn người Pháp vì đã cứu mình và cứu đạo
Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng sự hiện diện của đạo Thiênchúa đã góp phần làm cho đơi sống tâm linh của một bộ phận quần chúng thêm phongphú, một niềm tin tôn giáo mới Thiên chúa giáo với những giáo lý chặt chẽ, giàu tínhnhân văn, gần gũi với đạo lý đời thường mang tính chất quy phạm và thống nhất rấtcao, tạo nên trong mỗi người giáo hữu một cuộc sống tinh thần ổn định, thăng bằng,tin vào cuộc sống hiện tại cũng như sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nơi thế giới bên kia.Trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam suy tàn, phân rã, đồng tiền là thước đođạo lí dân chúng đã mất niềm tin vào chính quyền, họ đang tuyệt vọng thì một cuộcsống như cuộc sống của cộng đồng Thiên chúa giáo chẳng khác gì một ốc đảo xuấthiện trên sa mạc khô cằn để rồi một bộ phận không nhỏ trong dân chúng đã tin theo vàhòa mình vào giới giáo lí của một tôn giáo mới
Người phương Tây kiêu hãnh bởi những thành tựu văn minh của mình trongcác lĩnh vực khoa học tự nhiên của ngành in hiện đại, của nghệ thuật kiến trúc nhà thờhay những hoạt động từ thiện xã hội của giáo hội Thiên chúa, đã cùng với các giáo sĩthương nhân du nhập vào Việt Nam Chúng ta sẽ thật là thiếu sót nếu không nói đếnnhững đóng góp về văn hóa, giáo dục của việc truyền giáo và đặc biệt là sự tạo thànhchữ quốc ngữ, để cuối cùng chiếm địa vị tuyệt đối, nghĩa là trở thành chữ viết chínhthức của dân tộc Chúng ta cũng cần phải thừa nhận rằng quá trình thu nhập và truyềnbá đạo Thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX đã chuyển tải vàoViệt Nam một nền văn minh phương Tây tiến bộ, khoa học, cho dù mục đích sâu xanhất của nó là phục vụ cho việc truyền bá đạo Thiên chúa mang màu sắc thực dân
Trang 292.1.1 Thuận lợi
Sau cuộc phát kiến địa lý là sự xuất hiện của những thương nhân Bồ Đào Nha,Hà Lan, Pháp và người Anh đã lần lượt kéo đến buôn bán và thành lập thương điếm ởnước ta
Trong hoạt động buôn bán này, phần nhiều các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã đếnđây trước và làm mối lái cho họ Các giáo sĩ này đi khắp nơi vừa truyền đạo, vừa tìmmua các thứ hàng hóa như hồ tiêu, trầm hương cất vào một nơi chờ khi tầu lái buônđến thì giao nộp và nhận tiền Trong nhiều trường hợp, các giáo sĩ còn đứng ra canthiệp với nhà nước để xin buôn bán hoặc tự mình kiêm luôn công việc buôn bán Chonên, lúc bấy giờ thật khó mà phân biệt ai là thương nhân, ai là giáo sĩ, bởi vì truyềnđạo và buôn bán vẫn thường là hai công việc của cùng một người Vì thế, các vua chúaViệt Nam đã có sự ngộ nhận về vai trò của các giáo sĩ Thừa sai đối với việc điều hànhcác chuyến thuyền buôn
Để có được mọi sự thuận lợi, các giáo sĩ đã chấp nhận mọi quy định, kể cả cácyêu sách của nhà nước phong kiến Vả lại, ở điểm này các chúa Đàng Trong và ĐàngNgoài trong cuộc chạy đua quyền lực, sự tham lam, ham muốn được có, được sử dụngcác sản phẩm công nghệ có chất lượng cao: vũ khí, đạn dược, để tăng thêm sức mạnhquân sự Chính bởi điều này đã khiến vua chúa, quan lại, liên hệ ngày càng nhiều vớicác thương nhân nước ngoài Các giáo sĩ Thừa sai cũng nắm bắt được nhu cầu này,nên mỗi khi tới giảng đạo, họ thường tới những chiếc tàu có chở súng đạn hoặc nhữngtặng vật, ví như ở Đàng Ngoài vào lúc Hiền Vương đang nổi cơn thịnh lộ đối vớingười Công giáo, ra lệnh triệt hạ các nhà thờ thì được tin từ Ma Cao chở súng đạn đếncho ngài Hiền Vương vội vàng rút lại ngay lệnh đó Hay vào năm 1627 A.de.Rhodescùng một số giáo sĩ Bồ Đào Nha là MacKê đến cửa Bạng ( Thanh Hóa), nhân gặpTrịnh Tráng đi qua, họ đã biếu một đồng hồ và một quyển sách toán đẹp, Trịnh Trángđã đưa họ về Thăng Long giảng đạo Nhờ đó A.de.Rhodes đã làm lễ rửa tội được hàngnghìn người, lúc ấy, nếu có giáo sĩ lên bờ mang theo lễ vật quý, thường được sự chophép ở lại một nơi nào đó để giảng đạo Thời gian các giáo sĩ được ở lại dài hay ngắnlà tùy thuộc vào việc có hay không sự xuất hiện của các thuyền buôn nước ngoài.Ngược lại, nếu các tàu buôn lâu không đến hoặc tới mà chỉ mang các đồ đạo, ảnhtượng thì cuộc cấm đạo có thể trở nên gay gắt, các giáo sĩ sẽ bị trục xuất bởi những lý
do nội bộ
Trang 30Mặc dù vậy, các giáo sĩ đã biết tận dụng những cơ hội ấy một cách triệt để choviệc mở rộng sự truyền bá đạo Thiên chúa trong dân chúng.
Tình hình Việt Nam lúc bấy giờ đã tạo cơ hội thuận lợi cho đạo Thiên chúa dunhập vào Những cuộc chiến tranh giành quyền lực của chúa Trịnh và chúa Nguyễn đãđể lại nhiều hệ quả xấu trong xã hội và sự can thiệp của nhà nước phong kiến đi sâuvào trong các lĩnh vực kinh tế làm cho nền kinh tế bị kìm hãm một cách nặng nề, hệ tưtưởng phong kiến ngày càng thêm bế tắc Ở bất cứ nơi đâu mà diễn ra các cuộc chiếntranh khốc liệt đó chính là điều kiện để cho các loại hình tôn giáo có cơ hội để du nhậpvào Ở Việt Nam nổi bật nên là đạo Thiên chúa giáo đã du nhập và ra sức cạnh tranhvới tôn giáo như Lão, Phật, Nho đang hiện diện trong tâm linh người Việt
Phải nói rằng: học thuyết mới, dù cho đó được đưa từ bên ngoài vào cũng cómột sức hấp dẫn nhất định Và không lạ gì khi những người dân chất phác, các tầnglớp trung gian, thậm chí cũng có một số quan lại cùng với binh lính của chế độ phongkiến đương thời, cả một số người trong cung đình cũng theo đạo Chính sự bất mãn vớixã hội, với cuộc sống đã đưa người dân tìm đến cây thánh giá, tìm đến và hy vọng ở sựcứu rỗi của Đức Chúa Trời không chỉ ở một phần hồn mà còn cả phần vật chất của nềnvăn minh phương tây Không chỉ khai thác những điều kiện thuận lợi có sẵn, các giáosĩ Thừa sai còn chủ động tạo cơ hội cho việc truyền giáo Đó là trường hợp giám mụcBá Đa Lộc cưu mang và hỗ trợ Nguyễn Ánh đánh quân Tây Sơn trong cả nước Dohàm ơn Bá Đa Lộc nên việc truyền bá đạo Thiên Chúa được tiến hành hoàn toàn tự dovào những năm đầu của thế kỷ XIX Đó là cơ hội hết sức quý báu để các giáo sĩ Thừasai mở rộng truyền giáo củng cố về tổ chức nhân sự
Như vậy, cuộc sống khổ cực, bần hàn của nhân dân vì chiến tranh, đói kém,quan lại nhũng nhiễu và Nho giáo ngày càng xuống cấp đã là miếng đất màu mỡ chosự nảy mầm của Thiên chúa giáo vào Việt Nam, một tôn giáo với giáo lý về Chúa cứuthế, về tình thương và sự an ủi, về sự bình đẳng của mỗi người trước Chúa, lại tìmcách cứu giúp người nghèo khổ, để che đi mục đích chính trị xấu xa Vì vậy số lượnggiáo dân ngày càng tăng lên, số nhà thờ, giáo sĩ cũng lên đã tạo cho Thiên chúa giáomột cây cột trụ vững chắc chắn bắt đạo ngày càng gay gắt của nhà nước phong kiến
Chúng ta không thể phủ nhận sự làm việc tận tụy, tinh tế, mạnh mẽ và tận dụng
mọi cơ hội có thể để “mở rộng nước Chúa” tại Việt Nam của các giáo sĩ trong quá
Trang 31trình truyền giáo tại nước ta Dù cho có những khó khăn trở ngại, song Thiên chúagiáo vẫn đứng vững, phát triển và ngày càng được củng cố.
2.1.2 Khó khăn
Trước khi các giáo sĩ xuất hiện, giai cấp phong kiến nước ta đã có hàng thế kỷthời gian để tập nhiễm giáo lý Khổng – Mạnh Từ lâu, Nho giáo đã là vũ khí chính trịvà tư tưởng cực kỳ lợi hại của giai cấp phong kiến Dù suy hay thịnh, giai cấp phongkiến bao giờ giai cấp phong kiến bao giờ cũng lấy Nho giáo là duy nhất Nho giáo làkho tri thức, là nền tảng của công danh, là tiêu chuẩn để xét đoán thế sự, là cán cân củamọi quan hệ xã hội Hay nói cách khác, nhà nước phong kiến đã định hình từ nhiều thếkỷ với những thể chế kinh tế, chính trị cùng một đời sống văn hóa tinh thần tương đốiổn định Vì vậy, đạo Thiên Chúa vào Việt Nam trong thời gian này đã vấp phải sựkhác biệt sâu sắc giữa tín ngưỡng tôn giáo, nếp sống văn hóa, ý thức hệ bản địa với tôngiáo mới du nhập
Đạo Thiên Chúa là một tôn giáo xa lạ, trái với phong tục tập quán của ngườiViệt, đụng chạm đến uy quyền của nhà vua (giáo sĩ thay mặt Chúa Trời, trong khi vua
là Thiên tử (con trời), quan niệm “Tam cương ngũ thường” đã ăn sâu vào máu thịt của
con người Việt Nam Người Việt Nam từ ngàn xưa luôn tự hào có đạo đức khoan dungcủa tôn giáo trên cơ sở tổ chức gia đình là tế bào kinh tế, tế bào xã hội Truyền thốngthờ cúng tổ tiên phổ biến khắp nơi, nó được kết hợp hài hòa với đạo Phật, đạo Lão,đạo Nho từ ngoài du nhập vào Người Việt Nam đi chùa lễ Phật, đọc sách Thánh hiền,người Việt Nam thờ cúng cha mẹ tổ tiên, đều cùng nhau dựng nước và giữ nước
Trong đời sống tâm linh của người Việt, thần hộ mệnh của mỗi gia đình là tụcthờ cúng tổ tiên, họ có niềm tin vào sự bất tử của linh hồn những người đã chết – mộtniềm tin hầu như phổ biến của con người từ buổi ban sơ Sinh hoạt tâm linh ấy ăn sâuvào máu thịt của mỗi người, không kể giàu – nghèo, sang hèn, từ thế hệ này đến thế hệkhác không hề phai nhạt trước bất cứ biến cố lịch sử, kinh tế hay xã hội nào
Bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt còn thờ cúng các vị thần của
cộng đồng làng xã (Thành Hoàng), các vị anh hùng dân tộc đó là biểu hiện “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” một điều đáng chú ý khác trong đời
sống tôn giáo của người Việt là kết cấu đa nguyên chồng xếp: Phật, Nho, Đạo, và tínngưỡng dân gian tồn tại trong gia đình, làng xã nhưng lại hòa hợp, bổ sung cho nhau.Đời sống văn hóa tinh thần của người Việt mang đậm tinh thần nhân văn và hướng
Trang 32thiện Đó là sự biết ơn sâu sắc đối với ông bà tổ tiên, là sự hiếu thảo trong gia đình,tinh thần thân ái, đoàn kết và cưu mang lẫn nhau trong cộng đồng Tinh thần tôn trọngphép nước và trật tự xã hội của các thể chế chính trị hiện hành Một sự tích hợp nhuầnnhuyễn của các yếu tố tích cực, của tín ngưỡng truyền thống với những yếu tố tích cựccủa các tôn giáo lớn ngoại nhập.
Truyền thống thờ cúng tổ tiên cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo Phật,đạo Lão, đạo Nho đã ăn sâu vào máu thịt con người Việt và khó có thể thay đổi Tưtưởng này đã tồn tại và phát triển cùng với sự thăng trầm của lịch sử, từ thời dựngnước và quá trình giữ nước Còn đạo Thiên chúa giáo khi vào tới Việt Nam đã coi dân
tộc ta là “mọi rợ”, là “đứa trẻ con” không biết gì Họ tự cao, kiêu hãnh về một nền
văn minh vật chất của phương Tây, về tính ưu việt và hoàn vũ của Kitô giáo Vì vậy,họ cho rằng mọi tín ngưỡng và tôn giáo bản địa là mê tín, dị đoan và thấp kém, cầnphải khai hóa văn minh phương Tây cho người dân nơi đây bằng đạo Thiên Chúa Nhưvậy, họ đã trực tiếp công khai xâm phạm nền văn hóa dân tộc, hay nói cách khác đó làsự xâm lược văn hóa
Như trên đã đề cập đến, đó là sự kết hợp chặt chẽ nhịp nhàng của các thế lựcphương Tây với nhà thờ thiên chúa giáo mà đại diện là các giáo sĩ để cùng thực hiện
âm mưu xâm hại, độc lập dân tộc của thực dân và biến nước ta thành thuộc địa Nhànước phong kiến Việt Nam đã sớm nhận rõ bộ mặt thật được hóa trang bởi tấm áo tôngiáo của các giáo sĩ phương Tây khi truyền giáo ở nước ta Không có một ông vua nàochịu khoanh tay ngồi nhìn hay thờ ơ trước mối đe dọa mất nước lớn lao ấy Bởi vậy, từthế kỷ XVII, XVIII và đặc biệt là thế kỷ XIX, các triều đại nối tiếp nhau đưa ra nhữngchính sách và thực hiện những chính sách cấm đạo gay gắt, ngày càng quyết liệt Đâychính là trở ngại lớn nhất đối với việc truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam
Thêm nữa, khi đạo Thiên Chúa được truyền bá vào nước ta thì xã hội Việt Namđang ở thời kỳ chứa đầy bi kịch và nghịch lý Việc chia cắt đất nước đã làm cho việc
đi lại của các Thừa sai từ Đàng Trong và Đàng Ngoài, từ vùng này sang vùng khác rấtkhó khăn và nguy hiểm Nhiều họ đạo, xứ đạo được thành lập, nhưng lại tan rã ngay
do bị chiến tranh tàn phá, giáo dân bị huy động đi phục vụ chiến tranh hay có ngườicòn lo chạy loạn, lo kiếm miếng ăn, lo giữ gìn mạng sống đã không còn tâm trí đâu mànghĩ đến chuyện hành đạo
Trang 33Bên cạnh đó, là sự suy yếu về kinh tế của Bồ Đào Nha ở thế kỷ XVII đã không đápứng được cơ sở vật chất cho các giáo sĩ dòng Jésuites đang thực hiện công cuộc truyền giáotại Việt Nam Vì vậy, về truyền giáo ở Việt Nam hoạt động kém hiệu quả hơn.
Trên đây là những khó khăn, trở ngại của Thiên chúa giáo khi tiến hành công
cuộc truyền giáo tại Việt Nam Bởi vậy văn hóa Việt Nam vốn “dị ứng” trước những
biểu hiện ngoại lai đột biến Và trên cùng một vùng đất mới, các thành tố văn hóa vừamới manh nha bản sắc thì sự cận trọng là điều tối cần thiết Một khi Phật giáo đã thănghoa, được chọn làm hệ tư tưởng chính thống, xã hội lấy mô hình Nho giáo làm kỉcương, giềng mối, cùng bao tập tục, lễ nghi truyền thống phụ trợ thì quan điểm biểuhiện khác lạ khó lòng xâm nhập, bám rễ vào trong đời sống xã hội
2.2 Chính sách của nhà nước phong kiến ( từ thế kỷ XVII đến đầu XIX)
2.2.1 Ở Đàng ngoài
Đạo Thiên chúa được truyền bá vào nước ta năm 1533 nhưng phải đến 38 nămsau tức là vào ngày 15/8/1591 Kavolot và đồng nghiệp đã bị Trịnh Tùng ( 1570-1623)trục xuất khỏi nước ta Đây là phản ứng đầu tiên của việc cấm đạo ở Việt Nam, mởđầu việc cấm đạo của các triêu đại phong kiến Việt Nam Tuy nhiên đã có những lúcđạo công giáo gây được thiện cảm ngay trong triều đình Dưới thời Trịnh Tráng cácThừa sai người ngoại quốc được tự do ra vào triều đình hầu như cơn bữa Các Thừa sainày đã có thể giảng đạo và rửa tội cho một số phụ nữ trong triều đình Có thể nói đâylà thời vàng son của giáo hội Nhưng các thương nhân và giáo sĩ đều đã vừa buôn bánvà truyền đạo vừa tìm cách can thiệp vào nội tình chính trị nước ta, lợi dụng nhữngmâu thuẫn và tranh chấp giữa các phe phái phong kiến Trịnh - Nguyễn để thu lợi chomình Họ giúp cho bên này chống lại bên kia, hoặc giúp cho bên kia chống lại bên này.Chính sự chia nhau can thiệp vào nội tình nước ta giữa các thương nhân và giáo sĩ cácnước mà nhiều khi không thực hiện lời hứa giúp đỡ cùng với sự tranh chấp quyền lợi,tố cáo lẫn nhau giữa các hội truyền giáo đã dẫn đến sự bất bình và nghi kị của các tậpđoàn phong kiến thống trị Việt Nam vốn đã không ưa giáo lí Thiên chúa Kết quả làvào thập kỷ đầu của thế kỷ XVII đã có nhiều vụ cấm đạo xảy ra 1630 chúa Trịnh ralệnh trục xuất Alexandre De Rhodes,
Triều Cảnh Trị (1663-1671) chính thức ra lệnh cấm đạo “mùa đông tháng 10/1663 cấm người ta học đạo Hoa Lang Trước đây có người Hoa Lang vào nước ta lập
ra đạo lừa phỉnh dân ngu, đàn ông, đàn bà ngu dốt nhiều người tin mê, chỗ nhà giảng dạy
Trang 34người ở hỗn tạp, trai gái không phân biệt Trước đó người ta đuổi người giảng đạo đi rồi
mà sách và nơi giảng hãy còn, thói lệ chưa đổi, đến đây lại nghiêm cấm”.
Cho dù triều đình đã ra lệnh “cấm đạo” nhưng Thiên chúa giáo vẫn tiếp tục
phát triển Năm 1665 riêng Đàng Ngoài đã có 35.000 giáo dân, 200 giảng đường, 75nhà thờ hay phòng họ Vì vậy tháng 4/1669 dưới thơi Trịnh Tạc cuộc cấm đạo trở nêngay gắt, Trịnh Tạc ra lệnh triệt phá nhà thờ
Sang thời Chính Hòa ( 1680-1705) triều đình lại hạ lệnh nghiêm cấm “tả đạo Gia Tô” ra lệnh “Tra bắt người truyền đạo Hoa Lang trong hai xứ đuổi hết đi”
Nhưng điều dễ nhận thấy là chính sách cấm đạo mới chỉ nhằm vào việc trục xuất các giáosĩ phương tây ra khỏi nước ta không có sự giải thích rõ ràng, cụ thể về nguyên nhân củachính sách cấm đạo mà chỉ dừng chân ở việc trừng trị, phá nhà thờ, đốt kinh sách
Mặt khác từ nửa cuối thế kỷ XVII trở đi các giáo sĩ càng dấn sâu vào việc đờihơn, càng gắn công việc truyền giáo với vấn đề chính trị Trong tình hình này cácthương nhân và giáo sĩ đều buôn bán, vừa truyền đạo, vừa dòm ngó nước ta, thăm dòđiều tra tình hình Đàng Ngoài và cư dân, tìm cách đặt căn cứ, chuẩn bị cho sự xâmlược mà họ đang theo đuổi Hành động của công ty Đông Ấn của Anh đánh chiếm đảoCôn Lôn năm 1702 là một dẫn chứng Trước tình hình trên, từ 1627 – 1786, riêng chúaTrịnh ở Đàng Ngoài đã ban hành 17 sắc chỉ nghiêm cấm, nhưng đạo Thiên chúa vẫnphát triển Dưới thời Trịnh Cương (1709 - 1729) đã cho thi hành chính sách cấm đạoquyết liệt và tàn khốc hơn các triều đại trước, song hiệu quả thực tế của chính sách
cấm đạo rất hạn chế, “triều đình đã nhiều lần ra lệnh cấm đạo Gia Tô, nhưng quan và dân sở tại ham của đút lót, che dấu lẫn nhau, nên đạo ấy lan ra làm người ta mê hoặc mỗi ngày một sâu rộng Vì thế triều đình lại ngăn cản nhưng không sao ngăn cản được” Vì thế trên thực tế nhiều giáo sĩ phương Tây và giáo sĩ Việt Nam thoát được
lệnh cấm, sau một thời gian ẩn náu lại công khai hoặc lén lút hoạt động và số giáo dântheo đạo ngày càng đông Bởi vậy, dưới thời Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm,chính sách cấm đạo vẫn tiếp tục được ban hành gắt gao và quyết liệt hơn, nhiều giáo sĩdòng Đa Minh bị cầm tù và xử tử có lẽ không thu được hiệu quả là mấy khiến ít nămsau Lê-Trịnh lại phải tuyên bố lệnh cấm đạo gồm 4 điều sau:
Chỗ nào thấy có người tà giáo Tây Âu là lấy đầu ngay, không phải tra cứu:
1 Làng nào dung nạp giáo sĩ sẽ bị trừng phạt rất nặng
2 Từ đây về sau hễ các người theo đạo còn tụ tập nhau sẽ trị tội rất nặng
3 Tất cả nhà thờ bị phá trong hạn 15 ngày
Trang 35Như vậy, dưới thời vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, thế kỉ XVII-XVIII, cáctriều đại kế tiếp nhau đưa ra và thi hành những chính sách cấm đạo ngày càng khắt khehơn Sở dĩ có tình trạng này là do sự dấn thân vào việc đời một cách không đúng đắncủa giáo sĩ các nước Lẽ dĩ nhiên cũng không thể bỏ qua nguyên nhân dẫn đến nhữngvụ cấm đạo Một phần do chính sách nghiệt ngã của các tập đoàn phong kiến và sựthấm nhuần giáo lí Khổng Mạnh, tục thờ cúng tổ tiên đã có từ ngàn xưa, mà theo như
Trịnh Tạc thì “đạo công giáo là không có nền tảng mà lại tai hại lố bịch vì dạy người
ta không được thờ trời đất” Nhưng có lẽ các nguyên nhân sâu xa như trên đã nói đó là
sự dấn thân vào việc đời một cách đúng đắn của giáo sĩ các nước Vì thời gian đầu vua
Lê chúa Trịnh rất có mối thiện cảm đối với Thiên chúa giáo, ngay như Trịnh Tráng đãtin rằng người công giáo là người ngay thật và đã có lúc ông còn nghe những bài thánh
ca Nhưng có lẽ chính nguyên nhân trên mà vua Lê chúa Trịnh đã liên tiếp ra chỉ dụcấm đạo, có điều ngay từ đầu chính sách cấm đạo của triều đình Đàng Ngoài hết sứcphiếm diện, nửa vời, nặng về chê bai mạt sát, vì vậy những điều ban bố đó không đượcthực hiện một cách triệt để, kết quả không thu được là mấy Đạo Thiên chúa vẫn tiếptục phát triển và ngày càng gây ảnh hưởng mạnh mẽ như trong đời sống chính trị ởnước ta
2.2.2 Ở Đàng trong
Ở Đàng Trong, cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII, tín đồ Thiên chúa giáo vào đâyngày một nhiều, chủ yếu là giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp Donghi ngờ về sự cấu kết giữa người công giáo với người Bồ Đào Nha để thôn tính ĐàngNgoài, nên ngay từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã ra lệnh cấm đạo đầu tiên ởĐảng Trong
3/7/1645 chúa Nguyễn Phúc Lan ra lệnh cấm đạo trục xuất giáo sĩ dòng Tênnhưng linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes lại được tín nhiệm Trước đó một năm
1644 chúa Nguyễn đã ra lệnh hành hình người thanh niên tín đồ Thiên chúa giáo 19tuổi là AndreTrung Cuối năm 1645 Alexandre de Rhodess bị kết án hành hình vàđược nhiều quan lại Việt Nam quen biết cứu, được tha tội chết để trục xuất về La Mã
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Nguyễn Phúc Lan chính sách cấm đạochủ yếu là nhằm vào trục xuất giáo sĩ Đàng Trong nên thực tế công việc truyền đạovẫn phát triển vào những năm cuối thế kỉ XVII và giáo phận Thiên chúa ở Huế- Đà