1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính

31 501 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàm cơ sở bán kính RBF: 1.1.1 Nội suy dữ liệu rời rạc: Trong nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật cần giải bài toán: Cho tập dữ liệu gồm các kết quả đo đạc và vị trí thu được những kết quả đó

Trang 1

Trần Đức Thụ

HÀM RBF VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG

TRONG ĐỒ HỌA MÁY TÍNH

Chuyên nghành: Khoa học máy tính

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 : So sánh phương pháp trực tiếp và phương pháp nhanh 26 Bảng 2.2: So sánh việc khớp hàm RBF và thời gian tính toán trên máy tính PIII tốc độ 550MHz Ram 512 33 Bảng 2.3: So sánh yêu cầu lưu trữ của việc nội suy bằng RBF và các

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Khớp hàm RBF và phục hồi lưới bằng RBF 15

Hình 2.6: Thuật toán tham lam cho việc khớp RBF 25

Trang 2

Hình 3.4: Bề mặt với các đường pháp tuyến 45

Hình 3.5: Bề mặt với các đường pháp tuyến có đô dài < 0,5mm bị loại

Hình 3.6: Bề mặt sau khi khớp không có sự rút gọn tâm 48

Hình 3.7: Bề mặt sau khi khớp có sự rút gọn tâm 49

1.1.5 Nội suy với độ chính xác đa thức và hàm xác định dương có điều kiện

7

1.2 Bài toán khôi phục và biểu diễn các đối tượng 3D 11

Chương 2: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HÀM RBF VÀO CÁC BÀI TOÁN KHÔI PHỤC VÀ BIỂU DIỄN CÁC ĐỐI TƯỢNG 3D

Trang 3

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, con người

đã ứng dụng những thành tựu của nó trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau Máy tính đã trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho con người trong việc xử lý

dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác

Đồ họa máy tính là một lĩnh vực của khoa học máy tính nghiên cứu các phương pháp và kỹ thuật biểu diễn và thao tác các dữ liệu số hóa của các vật thể trong thực tế Lĩnh vực này được phát triển dựa trên nền tảng của hình học họa hình, hình học tính toán, hình học vi phân cùng nhiều kiến thức toán học của đại số và giải tích, cũng như các thành tựu của phần cứng máy tính

Thuật ngữ "đồ họa máy tính" (computer graphics) được đề xuất bởi một chuyên gia người Mỹ tên là William Fetter vào năm 1960 Khi đó ông đang nghiên cứu xây dựng mô hình buồng lái máy bay cho hãng Boeing William Fetter đã dựa trên các hình ảnh 3 chiều của mô hình người phi công trong buồng lái để xây dựng nên mô hình buồng lái tối ưu cho máy bay Boeing Đây là phương pháp nghiên cứu rất mới vào thời kỳ đó

Trong đồ họa máy tính bài toán khôi phục và biểu diễn các đối tượng 3D

là một trong các bài toán cơ bản Công cụ quan trọng để giải quyết bài toán này là lý thuyết nội suy hàm số nhiều biến Để nội suy hàm số từ một tập điểm đã biết thông thường người ta sử dụng các hàm ghép trơn (spline) và các biến dạng của nó Từ khoảng hai chục năm nay người ta đã và đang phát triển một kỹ thuật nội suy mới có độ chính xác cao Đó là nội suy bởi hàm cơ

sở bán kính (radial basis functions) viết tắt là RBF Phương pháp nội suy này

đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của CNTT như xử lý tín hiệu, xử lý ảnh

và lý thuyết điều khiển Một số phần mềm về hàm RBF và các ứng dụng cũng

đã được phát triển

Luận văn gồm có ba chương:

Trang 4

Chương 1: Trình bày một số kiến thức cơ bản về hàm RBF Những tính

chất của hàm RBF được áp dụng cho bài toán nội suy dữ liệu rời rạc Đây là

những kiến thức cơ sở rất quan trọng Tìm hiểu về bài toán khôi phục và biểu

diễn các đối tượng 3D

Chương 2: Nghiên cứu ứng dụng hàm RBF vào bài toán khôi phục và biểu

diễn các đối tượng 3D

Chương 3: Tiến hành khai thác phần mềm FASTRBF

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo PGS.TS Đặng Quang

Á đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này Em cũng xin chân

thành cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, Khoa Công nghệ

Thông tin – Đại học Thái Nguyên và Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt

Đức (Thái Nguyên) đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập và

1.1 Hàm cơ sở bán kính (RBF):

1.1.1 Nội suy dữ liệu rời rạc:

Trong nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật cần giải bài toán: Cho tập dữ liệu (gồm các kết quả đo đạc và vị trí thu được những kết quả đó), yêu cầu tìm một quy tắc cho phép suy diễn thông tin từ những kết quả đã có Vì vậy ta mong muốn tìm một hàm “đủ tốt” phù hợp với tập dữ liệu đã có Có nhiều cách để quyết định thế nào là tốt và một trong các tiêu chuẩn là muốn hàm xấp xỉ có giá trị chính xác với những kết quả đo đạc được tại những vị trí đã cho – Đáp ứng tiêu chuẩn này gọi là bài toán nội suy Và nếu những vị trí mà đã cho kết quả đo đạc không nằm trên một lưới chuẩn thì tiến trình trên gọi là nội suy dữ liệu rời rạc Chính xác hơn ta có:

Bài toán 1.1 Cho tập dữ liệu x , j y j, j1, ,n với x j Rs

, y jR Tìm một hàm (liên tục) P f thỏa mãn:

 j j

f x y

Ý tưởng chung để giải quyết bài toán nội suy là tìm hàm P f dưới dạng

tổ hợp tuyến tính của hệ hàm cơ sở  n

c 1, , ;  T

n

y y

y 1, ,

Trang 5

Bài toán 1.1 sẽ được đặt đúng, nghĩa là tồn tại và duy nhất nghiệm, khi

và chỉ khi ma trận A không suy biến

Trong trường hợp một chiều, ta luôn xây dựng được đa thức nội suy

bậc n – 1 cho n điểm nội suy phân biệt tùy ý Tuy nhiên khi s ≥ 2, ta có kết

quả phủ định sau:

, s ≥ 2 chứa một điểm trong thì trong không tồn tại không gian Haar các hàm liên tục, trừ trường

hợp không gian một chiều

Trong đó, không gian Haar được định nghĩa như sau:

Gọi B1,B2, ,B n là một cơ sở của B Khi đó B được gọi là không gian

Haar trên nếu det A 0với mọi tập các điểm phân biệt x1 ,x2 , ,x n

Ở đây ma trận A là ma trận được xây dựng bởi A j,kB k x j ; j,k1, ,n

Sự tồn tại của không gian Haar đảm bảo tính khả nghịch của ma trận

nội suy, nghĩa là tồn tại duy nhất nghiệm của bài toán nội suy 1.1 Không

gian các đa thức một biến bậc n 1 chính là không gian Haar n chiều với

tập dữ liệu x , j y j, j1, ,n , x jR, y j R Cơ sở chính tắc của không

3 2

1  1 ,  ,  , ,  n

n x B x B x B

Định lý trên cho thấy, để giải quyết bài toán nội suy dữ liệu rời rạc

trong không gian nhiều chiều chúng ta không thể xây dựng trước tập các

hàm cơ sở không phụ thuộc dữ liệu Để giải quyết vấn đề không suy biến

của ma trận A, ta cần một phương pháp khác để xây dựng hàm nội suy

Thay vì sử dụng biểu diễn tuyến tính thông qua một hệ hàm cơ sở không

phụ thuộc dữ liệu, ta biểu diễn tuyến tính thông qua một hàm đơn phụ

thuộc dữ liệu đã cho, có tính khoảng cách, đối xứng với tâm nào đó của dữ

liệu tương ứng Phương pháp này được đề xuất bởi R.L Hardy năm 1971

và được gọi là phương pháp hàm cở sở bán kính

1.1.2 Ma trận và hàm xác định dương:

Định nghĩa 1.2 Ma trận giá trị thực, đối xứng A được gọi là nửa xác định

dương nếu dạng toàn phương tương ứng là không âm:

k jk k

c 1, , Rn

Nếu dấu bằng chỉ xảy ra khi và chỉ khi  T

c 0 , , 0

thì ma trận A được gọi là xác định dương

Tính chất quan trọng của ma trận xác định dương là nó có tất cả các giá trị riêng đều dương và không suy biến

Nếu hệ hàm cơ sở  n

B 1 trong khai triển (1.2) làm cho ma trận nội suy

xác định dương thì bài toán nội suy được đặt đúng Hàm xác định dương được định nghĩa như sau:

k

k j k

Trang 6

  j j k

k

Tuy nhiên giải bài toán nội suy sẽ trở nên khó khăn trong không gian

nhiều chiều Do đó, thay vì sử dụng hàm đa biến  x (độ phức tạp sẽ tăng

lên theo số chiều), chỉ làm việc với hàm một biến  cho tất cả số chiều s

Với rx và . là một chuẩn nào đó trong Rs (thường dùng chuẩn

Euclidean) Hàm tương ứng gọi là hàm cơ sở bán kính Ta nói hàm

xác định dương (chặt) khi và chỉ khi hàm là xác định dương (chặt)

1.1.4 Hàm xác định dương và đơn điệu hoàn toàn:

Trong phần này trình bày kết quả quan trọng xây dựng một số hàm bán

kính thỏa mãn tính khả nghịch của ma trận nội suy tương ứng, dựa trên

tính chất của hàm đơn điệu hoàn toàn

Định nghĩa 1.5 Hàm C R0 được gọi là đơn điệu hoàn toàn khi và

chỉ khi   1l l t  0 (1.9)

với mọi l0,1, , với mọi t

Việc xây dựng hàm bán kính xác định dương thông qua hàm đơn điệu

hoàn toàn dựa vào kết quả sau, được đưa ra bởi Schoenberg năm 1938

với mọi tập điểm hữu hạn phân biệt từng đôi một x1 ,x2 , ,x n Rs

Tương tự, hàm (t) = (t + 2

), , > 0 cũng là hàm đơn điệu hoàn

toàn Hàm cơ sở bán kính (r) = (r 2 + 2

), , > 0 được gọi là hàm

Inverse Multiquadric (IMQ)

Theo định nghĩa hàm đơn điệu hoàn toàn, ta có (t) ≥ 0, (t)  0, … Tuy nhiên nếu có  đơn điệu hoàn toàn ((t) ≥ 0,  (t)  0, …) ta vẫn có thể sử dụng được hàm  đảm bảo ma trận không suy biến

Định lý 1.3 Cho  C[0,+) là hàm thỏa mãn  đơn điệu hoàn

toàn, khác hằng số Giả sử thêm rằng (0) ≥ 0 Khi đó ma trận nội suy không suy biến với (x) = (||x||) = (r2)

Trong trường hợp tổng quát, nếu với giả thiết yếu hơn về tính đơn điệu hoàn toàn của , nghĩa là (k)

, k ≥ 1 là hàm đơn điệu hoàn toàn thì cần các

điều kiện nào để sử dụng được  (theo định nghĩa ma trận nội suy tương

ứng không suy biến)? Vấn đề này đã được Micchelli (1986) nghiên cứu và đưa ra những kết quả quan trọng về hàm xác định dương có điều kiện 1.1.5 Nội suy với độ chính xác đa thức và hàm xác định dương có điều kiện:

Trang 7

s (đa thức thuộc không gian các đa thức s biến có bậc

m – 1) Nếu đẳng thức chỉ xảy ra với c = 0 thì gọi là xác định dương

chặt có điều kiện

Điều quan trọng là có thể sử dụng hàm xác định dương có điều kiện bậc

m để nội suy nếu ta cộng vào biểu thức (1.6) một đa thức đa biến bậc

m 1 triệt tiêu trên tập dữ liệu đã cho Cụ thể, hàm nội suy với độ chính

xác đa thức được cho dưới dạng:

m x

c

x p x x c

Khi thay điều kiện nội suy ta được hệ phương trình Ac = y Để xác định

hệ số của p(x) ta sử dụng các điều kiện 

Vậy ta được hệ n + 3 phương trình n + 3 ẩn Từ đó có thể tìm được P f (x,y)

Trong trường hợp tổng quát, bài toán (1.10) sẽ dẫn tới hệ đại số tuyến tính sau:

k dr r

d1

1

toàn Hơn nữa, với mọi m, m ≥   , (– 1)m(m)

(r) cũng là hàm đơn điệu

Trang 8

hoàn toàn Vì vậy, hàm bán kính Multiquadric (MQ) tổng quát

1 2 2

 vì vậy (–1) / 2  / 2 (r) là

hàm đơn điệu hoàn toàn Hơn nữa, với mọi m, m ≥ / 2 hàm

  1mm r cũng là hàm đơn điệu hoàn toàn Vì vậy, hàm Năng lượng

3 Hàm Thin plates spline (TPS) (r) = (– 1) k+1 r 2k lnr, kN

Là các hàm xác định dương chặt có điều kiện bậc m ≥ k+1 Thật

vậy: Xét hàm (r) = (– 1) k+1 (r) k lnr Khi đó, đào hàm cấp l, l k của

(r) là: (l)

(r) = (–1) k+1 k(k – 1)…(k – l +1)r k-l lnr + p l (r), trong đó p l (r)

là đa thức bậc k – l Vì vậy, đạo hàm cấp k sẽ là: (k)

(r) = (–1) k+1 k! lnr +C, và đạo hàm cấp k + 1 là r

k

) 1 (

) 1 (    

) 2 9

2 2

và tập tâm trùng với tập điểm nội suy

Xây dựng hàm nội suy P j =

- Sai số tương đối:      

2 1

2 2

1

1 2

f P n f P

n

j

j j

max

Bảng 1.1 Sai số nội suy hàm Frank với  = 3

1.2 Bài toán khôi phục và biểu diễn các đối tượng 3D:

Ngày nay, nhờ sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật – công nghệ mà loài người đã có những bước tiến lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau Và một trong số đó là vấn đề khôi phục và biểu diễn các đối tượng 3D

Trang 9

Khôi phục đối tượng 3D đã trở thành một nhu cầu cần thiết trong các

lĩnh vực khác nhau như: Tạo ảnh trong y học, các ứng dụng mỹ thuật, thiết

kế sản phẩm, tạo nguyên mẫu nhanh và trong các phạm vi khác Việc tạo

mô hình 3D bằng phương pháp thủ công tốn nhiều thời gian và do vậy chi

phí sẽ đắt đỏ Vì lý do đó, các kỹ thuật đã và đang tiếp tục được nghiên

cứu, các kỹ thuật này cho phép khôi phục tự động các đối tượng 3D Các

kỹ thuật này có thể chia thành 2 phương pháp: phương pháp chủ động và

phương pháp bị động [25] Nhược điểm của các phương pháp chủ động là

quá trình khôi phục có thể trở thành một công trình ngân sách cao Vì lý

do đó, cách tiếp cận được giới thiệu thuộc về các phương pháp bị động, nó

yêu cầu ít thiết bị hơn và có thể áp dụng một cách tổng quát hơn

Các phương pháp khôi phục các đối tượng 3D truyền thống không thực

hiện tốt ở hai hướng:

- Thứ nhất: Chúng không thể xử lý các trường hợp có độ phức tạp cao

được tìm thấy trong tự nhiên (Ví dụ: các bộ phận của con người hay

các ảnh cực nhỏ của mô)

- Thứ hai: Chúng không đưa dữ liệu bề mặt vào một định dạng làm cho

gọn và thích hợp để mô phỏng, hiển thị hoặc định vị

Có 5 trường hợp khôi phục các đối tượng 3D [26] Trường hợp đầu tiên

là với các ảnh được chụp bằng máy ảnh không định cỡ, làm việc với loại

ảnh này có thể khôi phục lại đối tượng so sánh với các phép biến đổi ảnh

xạ Hai là, khôi phục từ các máy ảnh định cỡ làm việc với loại ảnh này có

thể khôi phục lại đối tượng so sánh với các phép biến đổi đồng dạng Ba

là, các thuộc tính đại số của các hàm đa tuyến tính và các lý tưởng phát

sinh bởi chúng được nghiên cứu Trường hợp thứ tư sử dụng kỹ thuật khôi

phục Ơ-clít khi một số thông tin của các máy ảnh được đưa ra Trường hợp

cuối cùng là khôi phục một ảnh của một đối tượng hoặc bản vẽ nét được biết tới là mảnh 2 chiều

Như vậy có thể thấy rằng bài toán khôi phục và biểu diễn các đối tượng 3D là một bài toán có ý nghĩa rất lớn và quan trọng

Trang 10

Chương 2: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HÀM RBF VÀO BÀI TOÁN KHÔI

PHỤC VÀ BIỂU DIỄN CÁC ĐỐI TƯỢNG 3D

Chúng ta sử dụng hàm cơ sở bán kính đa điều hòa (RBFs) để khôi phục lại

các bề mặt nhẵn, đa tạp từ tập các điểm dữ liệu tập trung và phục hồi các lưới

điểm không đầy đủ Một bề mặt của đối tượng được định nghĩa hoàn toàn

giống như một tập hợp số 0 của một hàm cơ sở bán kính phù hợp với dữ liệu

bề mặt đã cho Các phương pháp nhanh cho việc khớp dữ liệu và tính giá trị

hàm RBF cho phép chúng ta mô hình các tập hợp dữ liệu lớn, bao gồm hàng

triệu các điểm bề mặt, bằng một hàm RBF đơn trước một bài toán khó giải

Một thuật toán tham lam trong quá trình khớp dữ liệu làm rút gọn số lượng

các tâm RBF yêu cầu để biểu diễn một bề mặt và các kết quả ở dạng nén đáng

kể và hơn nữa là thuận lợi cho tính toán Đặc trưng cực tiểu hóa năng lượng

của các hàm ghép trơn đa điều hòa dẫn đến nội suy trơn nhất Đặc trưng tỷ lệ

điều hòa này là đủ thích hợp để khôi phục các bề mặt từ dữ liệu mẫu không

đều Các lỗ là sự khớp dữ liệu nhẵn và sự ngoại suy nhẵn các bề mặt Chúng

ta sử dụng một phép xấp xỉ không nội suy khi dữ liệu là nhiễu Sự biểu diễn

hàm thực ra mà nói là một mô hình đặc, có nghĩa là độ chênh lệch và chuẩn

bề mặt có thể được phân tích rõ ràng Sự hỗ trợ này sinh ra các lưới đều và

chúng ta thấy rằng sự biểu diễn RBF có các lợi ích cho việc rút gọn lưới và

sự áp dụng lại lưới

Hình 2.1: (a) Khớp một hàm RBF vào một tập hợp các điểm dữ liệu tập trung 438.000 điểm (b) Sự phục hồi lưới tự động sử dụng hàm RBF song điều hòa

2.1 Các bề mặt ẩn:

Bài toán khôi phục hoặc biểu diễn bề mặt có thể phát biểu như sau:

Bài toán 2.1 Cho n điểm phân biệt    n

i i i

i y z

x, , 1trên một bề mặt M trong không gian R 3

, tìm một bề mặt M’ là gần đúng hợp lý với M

Phương pháp của chúng ta là mô hình bề mặt ẩn bằng một hàm f(x,y,z) Nếu một bề mặt M gồm có tất cả các điểm (x,y,z) thỏa mãn phương trình:

0),,

thì chúng ta nói rằng hàm f xác định không tường minh bề mặt M Mô tả

các bề mặt ẩn với rất nhiều loại hàm là một kỹ thuật nổi tiếng [10] Trong hình học kiến thiết vật thể (CSG) một mô hình ẩn được tạo thành từ các hàm sơ cấp đơn giản nhờ sự kết hợp của các phép toán Boolean (phép hợp, phép giao vv ) và các hàm trộn Các kỹ thuật CSG thích hợp cho việc thiết kế các đối tượng trong CAD hơn là phục hồi các đối tượng từ dữ liệu mẫu Các mặt đại số bậc thấp từng mẩu, đôi khi được xem như là các miếng vá ẩn hoặc các tập nửa đại số, cũng có thể được sử dụng để định nghĩa các bề mặt ẩn

Chúng ta mong muốn mô hình được toàn bộ đối tượng với một hàm đơn liên tục và khả vi Sự mô tả hàm đơn có một số ưu điểm thông qua các

Trang 11

bề mặt giới hạn từng mẩu và các miếng vá ẩn Nó có thể tính toán ở mọi

nơi để sinh ra một lưới đặc biệt, nghĩa là sự biểu diễn một bề mặt đa tạp có

thể được tính toán với cách giải mong muốn khi được yêu cầu Hiếm khi,

các bề mặt mẫu không đều có thể mô tả một cách đơn giản và bài toán

tham số hóa bề mặt kết hợp với việc khớp từng mẩu các miếng vá hàm

ghép trơn bậc ba là nên tránh

Carr et al [11] sử dụng hàm cơ sở bán kính để khôi phục các bề mặt

hộp xương sọ bằng việc nội soi 3D CT Dữ liệu xung quanh các lỗ lớn

không đều trong hộp sọ được nội suy sử dụng hàm xác định dương chặt

RBF Tấm titan được đúc trong khuôn của bề mặt thích hợp để tạo thành

một hộp sọ giả Tài liệu đó khai thác các đặc điểm nội suy và ngoại suy

của hàm RBF hợp lý như các đặc tính vật lý cơ bản của hàm xác định

dương chặt Tuy nhiên, phương pháp chỉ giới hạn mô hình các bề mặt mà

có thể biểu diễn rõ ràng như một hàm 2 biến Trong luận văn này chúng tôi

chứng minh được rằng bằng cách sử dụng các phương pháp nhanh, hàm

RBF có thể khớp các tập dữ liệu 3D gồm có hàng triệu điểm không có các

giới hạn trên cấu trúc liên kết bề mặt – loại tập dữ liệu cơ bản của các ứng

(  là các điểm nằm trên bề mặt Để tránh trường hợp nghiệm

tầm thường mà f là 0 ở mọi nơi, các điểm ngoài bề mặt được bổ sung vào

dữ liệu vào và chúng đưa ra các giá trị khác 0 Việc này mang đến một vấn

đề nội suy hữu ích hơn: Tìm hàm f như sau:

n i z

y x

N n i d

z y x

Điều này vẫn mang đến một bài toán tạo ra các điểm ngoài bề mặt

 N i

i z y x

1

,,(

và giá trị d i tương ứng

Một sự lựa chọn hiển nhiên cho hàm f là một hàm khoảng cách điểm, với giá trị d i được chọn là khoảng cách tới điểm gần nhất trên bề mặt Các điểm bên ngoài đối tượng được gán các giá trị dương, trong khi các điểm bên trong được gán giá trị âm Theo Turk &O‟Brien những điểm ngoài bề mặt được sinh ra bởi phần nhô ra dọc theo các đường pháp tuyến bề mặt Các điểm ngoài bề mặt có thể được gán với mỗi mặt của bề mặt như được minh họa trong hình 2.2

Đẳng mặt

f(x) = 0

f(x) > 0

f(x) < 0

Trang 12

Hình 2.2: Một hàm khoảng cách điểm được xây dựng từ dữ liệu bề mặt bằng

việc định rõ các điểm ngoài bề mặt dọc theo các đường pháp tuyến bề mặt

Những điểm này có thể được định rõ ở mỗi phía của bề mặt hoặc không ở

phía nào cả

Hình 2.3 Sự khôi phục của một bàn tay từ đám điểm có và không thông qua

các độ dài pháp tuyến

Kinh nghiệm cho thấy rằng tốt hơn hết là bổ sung tại một điểm dữ liệu

hai điểm ngoài bề mặt, mỗi điểm nằm trên một phía của bề mặt Trong

hình 2.3 các điểm bề mặt nhận được từ việc quét laser của một bàn tay

được biểu thị bằng màu xanh Các điểm ngoài bề mặt được mã hóa màu

theo khoảng cách của chúng xuất phát từ điểm được liên kết trên bề mặt

của chúng Màu nóng (màu đỏ) mô tả các điểm dương nằm ở bên ngoài bề

mặt trong khi màu lạnh (xanh) nằm ở bên trong Có hai bài toán cần giải

Các điểm pháp tuyển ngoài bề mặt

Đưa ra một tập hợp các pháp tuyến bề mặt, phải thận trọng khi đưa ra các điểm ngoài bề mặt dọc theo các pháp tuyến để đảm bảo rằng chúng không cắt các phần khác của bề mặt Điểm chiếu là được vẽ ra do đó điểm

bề mặt gần nhất là điểm bề mặt sinh ra nó Miễn là điều kiện ràng buộc này thỏa mãn, bề mặt được xây dựng lại là tương đối không nhạy với khoảng cách hình chiếu Hình 2.3(c) minh họa cho tác động của các điểm ngoài bề mặt nhô ra các khoảng không thích hợp dọc theo các đường pháp tuyến Các điểm ngoài bề mặt đã lựa chọn nằm cách một khoảng cố định

tính từ bề mặt Bề mặt kết quả, với f bằng 0 bị biến dạng trong vùng lân

cận của các ngón tay ở chỗ mà các véc tơ pháp tuyến đối lập đã cắt nhau

Trang 13

và đã sinh ra các điểm ngoài bề mặt với giá trị khoảng cách tới bề mặt

không đúng, cả về điểm và độ lớn Trong hình 2.3(a) và (b) giá trị của các

khoảng cách ngoài bề mặt và hình chiếu động đã đảm bảo rằng các điểm

ngoài bề mặt sinh ra một miền khoảng cách nhất quán với dữ liệu bề mặt

Hình 2.4 là một mặt cắt qua các ngón tay của bàn tay Hình ảnh minh họa

cách hàm RBF xấp xỉ một hàm khoảng cách gần giống bề mặt của đối

tượng Các đẳng đường tại +1, 0 và -1 ở phần trên của hình và hình dáng

hàm tương ứng bên dưới, minh họa việc làm thế nào các điểm ngoài bề

mặt sinh ra một hàm với một đại lượng chênh lệch gần bằng 1 gần bề mặt

Hình 2.4: Mặt cắt qua các ngón tay của một bàn tay được khôi phục từ tập điểm

tập trung trong hình 2.3 Đẳng đường tương ứng với +1, 0 và -1 được hiển thị

(trên đỉnh) cùng với một mặt cắt nghiêng của hàm cơ cở bán kính (bên dưới) dọc

theo đường thẳng xuất hiện

2.3 Nội suy hàm cơ sở bán kính

Cho một tập các điểm bề mặt có giá trị bằng 0 và các điểm ngoài bề mặt khác 0 bây giờ chúng ta có một bài toán nội suy dữ liệu tán xạ: chúng

ta muốn xấp xỉ hàm khoảng cách điểm f(x) bằng một hàm nội suy s(x) Bài

toán có thể được phát biểu như sau:

Bài toán 2.2 Cho một tập hợp các nút riêng biệt  N

i

x

X 1 R3 và một tập hợp các giá trị hàm  N 

i

f 1 R, tìm một hàm nội suy: R3 → R như sau: .

, , 1 , )

Chú ý rằng chúng ta sử dụng ký hiệu X(x,y,z) cho các điểm x  R3

Hàm nội suy sẽ lựa chọn từ BL(2) (R3), không gian Beppo-Levi các hàm suy rộng trên R3

với bình phương đạo hàm cấp hai khả tích Không gian này là đủ lớn để có nhiều lời giải cho bài toán 2.2 và vì vậy chúng ta có thể định nghĩa không gian affin của các phép nội suy:

S = {s BL(2) (R3

) : s(x i ) = f i , i = 1,…,N} (2.3) Không gian BL(2) (R3

) được trang bị bởi nửa chuẩn bất biến xoay định nghĩa bởi

) 2 ) 2

) ( 2 ) )

)

2 2 2 2

2 2 2 2 2 2 2 2 2 2

2 2 3

dx z y x s z

x x s

y x x s z

x s y

x s x

x s s

, min arg

*

s s

S

s

có dạng đơn giản

Trang 14

với p là một đa thức bậc thấp và hàm cơ sở  là một hàm giá trị thực trong

khoảng [0,), thường không bị chặn và chứng minh không chặt Trong

tình huống này các điểm x i được xem như là các tâm của RBF

Các lựa chọn phổ biến cho hàm cơ sở  bao gồm hàm xác định dương

chặt r) r2 log(r)(cho việc khớp các hàm trơn hai biến), hàm Gauss

 (cho nhiều ứng dụng, trong việc khớp đặc biệt với dữ liệu

định vị) Với các hàm khớp dữ liệu 3 biến, lựa chọn tốt bao gồm hàm ghép

trơn song điều hòa ((r)r,tức là, phương trình (2.5)) và tam điều hòa

0

1 1 1

i

i N

Thông thường hơn, nếu đa thức trong phương trình (2.6) là bậc m thì

điều kiện bổ sung đặt lên các hệ số là:

, cho tất cả các đa thức q bậc cao nhất của m (2.7)

Các điều kiện bổ sung này cùng với các điều kiện nội suy của phương trình (2.2) dẫn đến một hệ tuyến tính để tìm ra các hệ số định rõ hàm RBF

Cho {p 1 ,…,p l } là một cơ sở các đa thực bậc cao nhất là m và cho

c c l

c 1 , , là các hệ số tạo lên p trong cơ sở này Thì phương trình (2.2)

và (2.7) có thể viết dưới dạng ma trận như sau:

f c B c P P

(

, , , 1 , ),

(

l j N i x

P P

N j x

x A

i j iJ

j i iJ

, , , 1 ,

x x

N i

i

i y z

x, , ), ( , , ) ,

1

) , , , (1 2 3 4 T

c c c c

cGiải hệ tuyến tính (2.8) xác định được  và c, và từ đó xác định s(x)

Tuy nhiên, ma trận B trong phương trình (2.8) có các điều kiện không

đáng kể như số lượng các điểm dữ liệu N nhận được lớn hơn Những điều

này có nghĩa là những lỗi chính yếu nhất sẽ dễ dàng đưa vào lời giải chuẩn nào

Thoạt nhìn, bản chất địa phương cơ bản của hàm Gauss, hàm đa bình phương ngược( ) ( 2 2 )  2 )

r c r

 và các hàm cơ sở tựa chặt dường như dẫn đến các đặc tính mong muốn trong hàm RBF Ví dụ ma trận B có cấu trúc đặc biệt (rải rác) có thể khai thác bởi các phương pháp nổi tiếng và sự tính toán của phương trình (2.6) chỉ yêu cầu phép tổng qua các tâm xung quanh

Trang 15

thay cho tất cả các tâm N Tuy nhiên, các hàm cơ sở tựa không chặt là phù

hợp hơn với phép ngoại suy và phép nội suy không đều, dữ liệu lấy mẫu

không cùng kiểu Thật vậy, các thử nghiệm số sử dụng hàm Gauss và các

đa thức từng mẩu tựa chặt cho việc khớp các bề mặt vào các điểm tập

trung đã cho thấy rằng những hàm cơ sở này sinh ra các bề mặt với nhiều

thành phần lạ không mong muốn tại phần thêm vào chỗ thiếu của phép

ngoại suy ngang qua các lỗ

Các thuộc tính tối giản năng lượng của hàm ghép trơn song điều hòa

giúp chúng rất phù hợp để biểu diễn các đối tượng 3D Từ đó hàm cơ sở

tương ứng r)r không tựa chặt và trở lên lớn tùy ý khi r dần tới vô cực,

ma trận tương ứng B của phương trình (2.8) không bị thưa và trừ cấu trúc

cân đối, không có cấu trúc rõ ràng nào có thể khai thác trong việc giải hệ

Lưu trữ tam giác dưới của ma trận B đòi hỏi khoảng trống cho

2)1(

 chỗ lưu trữ Đối với một bài toán với 20.000 điểm dữ liệu đây là

một yêu cầu với xấp xỉ 9

106

1  bytes (1.5GB) bộ nhớ lõi là không thực tế

Hơn nữa, điều kiện không đúng của ma trận B có thể tạo ra bất kỳ kết quả

nào một trong số đó lấy từ một phép tính trực tiếp không đáng tin cậy lắm

Như vậy, rõ ràng các phương pháp trực tiếp không thích hợp cho các bài

toán với N2,000 Hơn nữa, một phép tính đơn trực tiếp của phương trình

(2.6) cần đến các phép tính O(N) Các hệ số này đã dẫn đến nhiều tác giả

kết luận rằng, cho dù hàm cơ sở bán kính thường là phép nội suy được lựa

chọn, chúng chỉ phù hợp cho những bài toán với nhiều nhất vài ngàn điểm

[14,15]

Độ chính xác điều chỉnh + các nút nội suy - - - - độ chính xác tính toán

.các điểm tính toán đưa ra khớp bằng RBF

trong hình ảnh cuối cùng

Ngày đăng: 03/08/2016, 19:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]M. D. Buhmann, Radial Basis Functions: Theory and Implementations, Cambridge University Press, Cambridge, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radial Basis Functions: Theory and Implementations
[3] R. K. Beatson, J. B. Cherrie, and C. T. Mouat. Fast fitting of radial basis functions: Methods based on preconditioned GMRES iteration. Advances in Computational Mathematics, 11:253–270, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advances in Computational Mathematics
[4] R. K. Beatson, J. B. Cherrie, and D. L. Ragozin. Fast evaluation of radial basis functions: Methods for four-dimensional polyharmonic splines. SIAM J.Math.Anal., 32(6):1272–1310, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SIAM J. "Math.Anal
[5] R. K. Beatson and L. Greengard. A short course on fast multipole methods. In M. Ainsworth, J. Levesley, W.A. Light, and M. Marletta, editors, Wavelets Multilevel Methods and Elliptic PDEs, pages 1–37. Oxford University Press 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wavelets Multilevel Methods and Elliptic PDEs
[6] R. K. Beatson and W. A. Light. Fast evaluation of radial basis functions: Method for two-dimensional polyharmonic splines. IMA Journal of Numerical Analysis, 17:343–372, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IMA Journal of Numerical Analysis
[7] R. K. Beatson, W. A. Light, and S. Billings. Fast solution of the radial basis function interpolation equations: Domain decomposition methods. SIAM J. Sci Comput., 22(5):1717–1740, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SIAM J. Sci Comput
[2] FastRBF Toolbox, MATLAB Interface, Version 1.4, 4th August 2004, FarField Technology Ltd Khác
[8] R. K. Beatson, A. M. Tan, and M. J. D. Powell. Fast evaluation of radial basis functions: Methods for 3-dimensional polyharmonic splines. In preparation Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Sai số nội suy hàm Frank với    = 3 - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Bảng 1.1 Sai số nội suy hàm Frank với  = 3 (Trang 8)
Hình 2.4 là một mặt cắt qua các ngón tay của bàn tay. Hình ảnh minh họa - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 2.4 là một mặt cắt qua các ngón tay của bàn tay. Hình ảnh minh họa (Trang 13)
Bảng 2.1 : So sánh phương pháp trực tiếp và phương pháp nhanh - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Bảng 2.1 So sánh phương pháp trực tiếp và phương pháp nhanh (Trang 16)
Bảng  2.2  xác  định  lƣợng  thời  gian  khớp  dữ  liệu  và  tính  toán  cho  các - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
ng 2.2 xác định lƣợng thời gian khớp dữ liệu và tính toán cho các (Trang 19)
Hình  2.12 :  Với  việc  lấy  mẫu  đủ,  các  đối  tƣợng  phức  tạp  có  thể  biểu  biễn  với  hàm RBF - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
nh 2.12 : Với việc lấy mẫu đủ, các đối tƣợng phức tạp có thể biểu biễn với hàm RBF (Trang 20)
Hình 2.1(b) và hình 2.11 minh họa ứng dụng việc khớp dữ liệu của hàm - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 2.1 (b) và hình 2.11 minh họa ứng dụng việc khớp dữ liệu của hàm (Trang 20)
Hình 3.1: Dữ liệu 3D đƣợc tải vào. - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.1 Dữ liệu 3D đƣợc tải vào (Trang 23)
Hình 3.2: Lưới thu được sau khi đổi trật tự mảng giá trị và các đối số - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.2 Lưới thu được sau khi đổi trật tự mảng giá trị và các đối số (Trang 24)
Hình 3.3. Hình ảnh của bề mặt đƣa vào  Sau đó xác định các đường pháp tuyến bằng câu lệnh sau: - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.3. Hình ảnh của bề mặt đƣa vào Sau đó xác định các đường pháp tuyến bằng câu lệnh sau: (Trang 25)
Hình 3.6: Bề mặt sau khi khớp không có sự rút gọn tâm - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.6 Bề mặt sau khi khớp không có sự rút gọn tâm (Trang 27)
Hình 3.9: Lưới mới được sinh ra - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.9 Lưới mới được sinh ra (Trang 28)
Hình 3.8: Tính giá trị của bề mặt trên lưới 3D - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.8 Tính giá trị của bề mặt trên lưới 3D (Trang 28)
Hình 3.10: Lưới đa giác 1mm dược sinh ra - Hàm rbf và một số ứng dụng trong đồ họa máy tính
Hình 3.10 Lưới đa giác 1mm dược sinh ra (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w