Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIVAIDS còn cao nhưng không thể phủ nhận rằng trong những năm qua Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc điều trị và phòng chống HIVAIDS. Đó là những thành quả của của các ngành, các cấp, các đoàn thể và của toàn xã hội, bao gồm của cả người nhiễm HIVAIDS và thành viên trong gia đình họ. Đặc biệt, ngành y tế luôn có vai trò quan trọng, nòng cốt và phải gánh vác trách nhiệm nặng nề trước Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc chiến đầy cam go này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kỳ số liệu, văn bản, tài liệu đã được Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường đại học khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừa nhận
Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu từ hội đồng phê duyệt đề cương Khoa Y tế công cộng số…… kí ngày.….//…//…
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Hướng dẫn 1 :TS BS Trịnh Thị Hoàng Oanh
Hướng dẫn 2: BS Trần Thị Kim Tú
Trang 4MUC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Một số khái niệm, định nghĩa 5
1.2 Bệnh học HIV 5
1.2.1 Đường lây truyền 5
1.2.2 Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV 5
1.2.3 Dự phòng lây nhiễm HIV 6
1.3 Tình hình nhiễm và hệ thống giám sát, phòng ngừa HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam 7
1.3.1 Thế giới 7
1.3.2 Việt Nam 8
1.4 Các nghiên cứu liên quan 11
1.4.1 Thế giới 11
1.4.2 Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2 Thời gian-địa điểm 21
2.3 Đối tượng nghiên cứu 21
2.3.1 Dân số mục tiêu 21
2.3.2 Dân số chọn mẫu 21
2.3.3 Cỡ mẫu 21
Trang 52.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu 21
2.3.5 Tiêu chí đưa vào và loại ra 22
2.3.6 Kiểm soát sai lệch lựa chọn 22
2.4 Thu thập dữ kiện 22
2.4.1 Phương pháp 22
2.4.2 Công cụ 23
2.4.3 Kiểm tra sai lệch thông tin 23
2.5 Xử lý dữ kiện 23
2.5.1 Liệt kê và định nghĩa biến số 23
2.5.2 Thống kê phân tích 39
2.5.3 Kiểm soát nhiễu 39
2.6 Y đức 40
2.7 Tính khái quát và ứng dụng cụa nghiên cứu Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 41
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 41
3.2 Kiến thức HIV của NVYT 43
3.3 Thái độ với người nhiễm HIV 48
3.4 Thực hành với người nhiễm HIV 49
3.5 Các mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành với thông tin nền 50
3.6 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành 64
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 21
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 21
4.2 Kiến thức về HIV 22
4.3 Thái độ với người nhiễm HIV 24
Trang 64.4 Thực hành với người nhiễm HIV(+) 26
4.5 Mối liên quan giữa KAP với đặc tính nền 27
4.5.1 Mối liên quan giữa đặc tính nền với kiến thức về HIV cùa NVYT 27
4.5.2 Mối liên quan giữa đặc tính nền với thái độ của NVYT với người nhiễm HIV(+) 28
4.5.3 Mối liên quan giữa đặc tính nền với thực hành của NVYT với người nhiễm HIV (+) 29
4.6 Mối liên quan kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT 29
4.7 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 32
4.7.1 Điểm mạnh của nghiên cứu 32
4.5.2 Điểm yếu của nghiên cứu 32
4.8 Điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 32
4.8.1 Điểm mới của nghiên cứu 32
4.8.2 Tính ứng dụng của nghiên cứu 32
PHỤ LỤC 4
CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU 5
Trang 7DANH MUC BẢNG
Bảng 3.1.1 Đặc điểm về giới tính, nghề nghiệp, số năm làm việc, trình độ học vấn,
nhóm tuổi, dân tộc, đào tạo về HIV của cán bộ tham gia nghiên cứu (n=105 ) 41
Bảng 3.2.1 Kiến thức đúng về đường lây truyền HIV (n=105) 43
Bảng 3.4.1 Thái độ của NVYT với bệnh nhân HIV(+) (n=105) 48
Bảng 3.5.1 Thực hành c ủa NVYT với người nhiễm HIV (+) (n=105) 49
Bảng 3.6.1 Mối liên quan gi ữa kiến thức đường lây truyền HIV với đặc tính mẫu (n=105) 50
Bảng 3.7.1.1 Mối liên quan giữa kiến thức đường lây truyền HIV với thái độ của NVYT với người nhiễm HIV (+) (n=105) 64
Bảng 3.8.1.2 Mối liên quan giữa kiến thức đường lây truyền với thái độ của NVYT với người nhiễm HIV (+) kiểm soát đa biến theo các biến số đặc tính nền (n=105) 64
Trang 8WHO World Health Organization World Health Organization
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS được xem như một đại dịch thế kỷ trên toàn quốc [12],[39] Mặc dù, trong thời gian qua, thế giới đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong cuộc chiến với đại dịch AIDS, tuy nhiên dịch AIDS vẫn còn khá nặng nề [17].Còn riêng Việt Nam, hơn 20 năm qua đang phải đương đầu với đại dịch HIV/AIDS, một đại dịch nguy hiểm, tàn phá sức khỏe, kinh tế và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội của nước ta [2] và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật tại nước ta hiện nay [5]
Thống kê của WHO, trên toàn thế giới đã có khoảng 78 triệu người nhiễm HIV, trong đó ước tính 50% đã tử vong [3] Chỉ tính riêng trong năm 2014, có khoảng 1,2 triệu người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV và khoảng 36,9 triệu người sống chung với HIV, trên 2 triệu người mới bị nhiễm HIV trong năm trên toàn cầu [35]
Tại Việt Nam, năm 2014 với hơn 220.000 người nhiễm HIV, đây là quốc gia có
số người nhiễm HIV đứng thứ 5 trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương[16] Đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV còn sống, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong Ước tính, cả nước hiện
có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 14.000 trường hợp mới nhiễm HIV [5]
12.000-Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS còn cao nhưng không thể phủ nhận rằng trong những năm qua Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc điều trị
và phòng chống HIV/AIDS Đó là những thành quả của của các ngành, các cấp, các đoàn thể và của toàn xã hội, bao gồm của cả người nhiễm HIV/AIDS và thành viên trong gia đình họ Đặc biệt, ngành y tế luôn có vai trò quan trọng, nòng cốt và phải gánh vác trách nhiệm nặng nề trước Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc chiến đầy cam go này [6]
Tuy vậy, sự thiếu kiến thức, kinh nghiệm trong tư vấn, chẩn đoán, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ở một bộ phận NVYT có thể làm giảm hiệu quả trong các công tác phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng [ ] Nghiên cứu từ 20 bệnh viện Jordania cho thấy các y tá có kiến thức yếu về bệnh học, biểu hiện HIV, phương thức lây truyền cũng như biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn HIV [28] Một nghiên cứu khác tại
Trang 10Nigeria cho thấy chỉ có 68,2% NVYT có thái độ tốt và 51,2% NVYT có thực hành tốt với người nhiễm HIV(+) [24] Còn tại Việt Nam, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào khái quát chung về kiến thức, thái độ, và thực hành của các NVYT với bệnh nhân HIV/AIDS mà chỉ có những nghiên cứu riêng biệt về kiến thức, thái độ, thực hành trên đối tượng bác sĩ [32] hay những nghiên cứu về thái độ kỳ thị trên các NVYT[15], kiến thức thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử trên đối tượng sinh viên y khoa[31] Mặt khác, các chỉ số đánh giá này cũng thay đổi từ giai đoạn này qua giai đoạn khác, nên việc áp dụng kết quả từ các nghiên cứu khác trên thế giới hay các nghiên cứu trong nước có thể dẫn đến những sai lệch nhất định
Vì tất cả những lý do kể trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại Thành phố
Hồ Chí Minh nơi có tỷ nhiễm HIV cao đứng thứ 2 trên toàn quốc [18] với đại diện là bệnh viện Trưng Vương, một bệnh viện đa khoa hạng I của thành phố Hồ Chí Minh [1]
và cũng là 1 trong 16 bệnh viện tuyến cuối phía Nam[20] nhằm tìm hiểu thực tế kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT với người nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tìm hiểu thực tế kiến thức HIV, thái độ cũng như thực hành của NVYT đối với bệnh nhân HIV, để từ đó có cơ sở đề xuất xây dựng kế hoạch nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe đối với bệnh nhân HIV/AIDS, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng
Trang 11CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỉ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng của NVYT với người nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Trưng Vương năm 2016 là bao nhiêu? Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành, thông tin nền hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3 Xác định tỉ lệ thực hành đúng của NVYT đối với người nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Trưng Vương năm 2016
4 Xác định mối liên quan giữa đặc tính mẫu nghiên cứu với kiến thức, thái độ , thực hành của NVYT tại bệnh viện Trưng Vương năm 2016
5 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành với nhau của NVYT tại bệnh viện Trưng Vương năm 2016
Trang 12DÀN Ý NGHIÊN CỨU
Thông tin nền
Tuổi Giới tính Trình độ học vấn Khoa phòng làm việc
Kiến thức kỳ thị
và phân biệt đối
xử HIV
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Một số khâi niệm, định nghĩa
HIV lă chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “ Human Immunodeficiency Virus” lă
vi rút gđy suy giảm miễn dịch ở người, lăm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại câc tâc nhđn gđy bệnh [11]
AIDS lă chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome” lă hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gđy ra, thường được biểu
hiện thông qua câc nhiễm trùng cơ hội, câc ung thư vă có thể dẫn đến tử vong [11]
Kỳ thị người nhiễm HIV lă thâi độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khâc
vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm [11]
1
1.2 Bệnh học HIV
1.2.1 Đường lđy truyền
- Lđy truyền qua đường tình dục: xảy ra khi câc dịch thể (mâu, dịch sinh dục) nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) xđm nhập văo cơ thể bạn tình không nhiễm HIV vă tất
cả câc hình thức quan hệ tình dục (dương vật - hậu môn, dương vật - đm đạo, dương
vật - miệng) với một người nhiễm HIV đều có nguy cơ lđy nhiễm HIV [4]
- Lđy truyền HIV qua mâu vă chế phẩm của mâu: HIV có mặt trong mấ toăn phần vă câc chế phẩm từ mâu như khối hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương vă câc yếu tố đông mâu, dùng chung bơm kim tiím, tiếp xúc vời mâu người nhiễm qua da, niím mạc, vết thương trầy xước[4].
- Lđy truyền HIV từ mẹ sang con: trong quâ trình mang thai, khi sinh, cho con bú [4]
1.2.2 Xĩt nghiệm chẩn đoân nhiễm HIV
Nhiễm HIV ở người lớn được chẩn đoân trín cơ sở xĩt nghiệm khâng thể HIV Một người được xâc định lă nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dương tính cả ba lần xĩt nghiệm khâng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khâc nhau với nguyín lý phản ứng vă phương phâp chuẩn bị khâng nguyín khâc nhau (theo quy định của Bộ Y tế) [21]
Trang 14Đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV cao (như người tiêm chích ma tuý, người có hành nghề mại dâm, nam có quan hệ tình dục đồng giới, người bệnh nhân bị lao,…) cần phải đi xét nghiệm HIV thường xuyên [21]
Xét nghiệm kháng thể HIV: Là loại xét nghiệm được tiến hành phổ biến nhất, gián tiếp chỉ ra sự có mặt của HIV thông qua việc phát hiện kháng thể kháng HIV [21] Xét nghiệm trực tiếp: Phát hiện chính bản thân HIV, bao gồm các xét nghiệm kháng nguyên (p24), nuôi cấy HIV và phản ứng chuỗi polymerase (PCR) [21]
Xét nghiệm đếm số lượng tế bào CD4 trong máu: giúp đánh giá mức độ suy giảm miễn dịch Bình thường số lượng tế bào CD4 ở người khoẻ mạnh vào khoảng 800-1000/mm3 máu Nếu số lượng tế bào CD4 < 200/mm3 tức là bị suy giảm miễn dịch nặng [21]
Xét nghiệm đo tải lượng virus HIV: Là xét nghiệm hiện đại cho phép xác định số lượng bản sao (copies) của virus HIV/1 ml huyết tương của bệnh nhân [21]
1.2.3 Dự phòng lây nhiễm HIV
Phòng lây nhiễm HIV qua đường tình [21]
- Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đều chưa bị nhiễm HIV
- Áp dụng các biện pháp an toàn trong quan hệ tình dục với người chưa rõ có bị nhiễm HIV hay không
Phòng lây nhiễm HIV qua đường máu [21]
- Không tiêm chích ma tuý
- Phải coi máu và tất cả các dịch sinh học đều có nguy cơ lây nhiễm HIV Chỉ truyền máu và các chế phẩm máu khi thật cần thiết, và chỉ nhận máu và các chế phẩm máu
đã xét nghiệm HIV Đảm bảo 100% các chai máu được sàng lọc HIV trước khi truyền, cũng như kiểm tra tình trạng nhiễm HIV của những người cho máu trước khi lấy máu
- Hạn chế tiêm chích trên người có HIV Chỉ sử dụng bơm kim tiêm vô trùng dùng 1 lần Sử dụng dụng cụ đã tiệt trùng khi phẫu thuật, xăm, xỏ lỗ, châm cứu
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với các dịch cơ thể của người nhiễm HIV Khi tiến hành các thao tác có liên quan đến máu và dịch đều phải đeo găng tay Rửa tay sạch sẽ bằng
Trang 15xà phòng sau khi thay chiếu, chăn, quần áo hoặc sau khi tiếp xúc với dịch tiết của cơ thể người bệnh
- Dùng riêng đồ dùng cá nhân: dao cạo, bàn chải răng, bấm móng tay,
Phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con [21]
- Nếu phụ nữ mang thai không bị nhiễm HIV thì không thể truyền HIV sang cho con của họ được Để tránh lây truyền HIV, thanh niên trong độ tuổi sinh đẻ không nên quan hệ tình dục trước hôn nhân, chung thuỷ một vợ - một chồng và sử dụng bao cao
su đúng cách khi quan hệ tình dục Tất cả phụ nữ có thai cần đến cơ sở y tế để được khám thai và tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện
- Khoảng 30% các trẻ sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV sẽ bị lây từ mẹ Nếu được uống thuốc dự phòng, tỷ lệ lây này sẽ giảm chỉ còn 0,3% Thông thường đứa trẻ sinh ra phải sau 18 tháng mới có thể xét nghiệm để biết có lây từ mẹ hay không
- Nếu phụ nữ đã bị nhiễm HIV, cần phải phòng tránh mang thai ngoài ý muốn Nếu vẫn muốn sinh con thì họ sẽ được NVYT tư vấn về chăm sóc thai nghén, dùng thuốc ARV vào thời điểm thích hợp và áp dụng biện pháp sinh đẻ an toàn (mổ đẻ, không cho con bú) tránh lây truyền cho con
1.3 Tình hình nhiễm và hệ thống giám sát, phòng ngừa HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 16khoa học đã thống nhất tên gọi của hai loại virus này là HIV [7]
Dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ đầu năm 1980 nhưng đã nhanh chóng lan
ra toàn cầu HIV tấn công mọi đối tượng nhưng chủ yếu là thanh niên, phụ nữ, trẻ em[7] Tình hình nhiễm:
Kể từ khi khởi đầu của đại dịch, trên thế giới khoảng 80 triệu người đã bị nhiễm virus HIV và khoảng 40 triệu người đã chết vì HIV tính đến năm 2014 [19]
Tỷ lệ người chung sống với HIV qua các năm từ 2012 đến 2014 tăng lên Năm
2012 là 35,3 triệu người, 2015 là 35 triệu người, đến năm 2014 là 36,9 triệu người Tuy nhiên số người nhiễm mới HIV và số người chết do AIDS giảm dần từ 2012 đến năm
tỷ lệ nhiễm HIV đang tiếp tục gia tăng trong nhóm nghiện chích ma túy, mại dâm, người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và bắt đầu gia tăng trong nhóm tân binh, phụ nữ có thai Điều đó chứng tỏ HIV có xu hướng đang lan dần vào cộng đồng [8]
Trong năm 2015 cả nước xét nghiệm phát hiện mới 10.195 trường hợp nhiễm
Trang 17HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 6.130, số bệnh nhân tử vong 2.130 trường hợp [5]
Trong năm 2015 các tỉnh triển khai rà soát lại người nhiễm HIV, có thêm 5524 trường hợp HIV, 10.144 bệnh nhân AIDS và 13.254 người tử vong trong nhiều năm trước nay được báo cáo bổ sung Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong Trong số 227.154 người được báo hiện nay đang còn sống, nhưng có 24.717 người nhiễm HIV không xác định được trên thực tế, những người này có thể trùng với những người quản lý được nhưng thông tin cá nhân không chính xác nên không loại trừ được, hoặc sợ kỳ thị họ cung cấp thông tin chưa đúng cho NVYT, do đó số quản lý được theo dõi được ở các tỉnh chỉ có 202.437 Theo ước tính, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 12.000-14.000 trường hợp mới nhiễm HIV Như vậy ước tính hiện nay có khoảng 80% người nhiễm HIV biết được tình trạng HIV của họ [5]
Hệ thống giám sát phòng ngừa
Hệ thống giám sát trọng điểm huyết thanh học HIV được bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ năm 1994, và tính đến nay đã có 10 tỉnh có báo cáo về tỷ lệ nhiễm hiện HIV ở
cả sáu nhóm đối tượng đích [10]
Từ năm 1996 hệ thống giám sát trọng điểm HIV đã được triển khai ở 20 tỉnh/thành phố, đến năm 2001 triển khai tại 30 tỉnh/thành phố và từ năm 2003 tăng lên 40 tỉnh/thành phố [10]
Các quần thể được giám sát bao gồm người tiêm chích ma túy, nữ giới bán dâm, bệnh nhân đến các cơ sở điều trị lây nhiễm qua đường tình dục (STI) và cơ sở điều trị lao, phụ nữ mang thai đến khám ở các cơ sở sản khoa và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa
vụ quân sự Việc bổ sung thêm các nhóm đối tượng khác để thực hiện giám sát trọng điểm sẽ do chính quyền địa phương quyết định [10]
Từ năm 2011, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới đã được đưa vào là một trong các nhóm đối tượng đích trong giám sát trọng điểm ở một số tỉnh/thành phố [10]
Chiến lược quốc gia
Trang 18Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3% năm 2020, giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể như sau [22]:
- Tăng tỷ lệ người dân trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi có hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS đạt 80% vào năm 2020
- Tăng tỷ lệ người dân không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV đạt 80% vào năm 2020
- Giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vào năm
2015 và 80% vào năm 2020 so với năm 2010
- Giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV do lây truyền HIV qua đường tình dục vào năm 2015 và 80% vào năm 2020 so với năm 2010
- Giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và dưới 2% vào năm 2020
- Tăng tỷ lệ người nhiễm HIV được điều trị thuốc kháng vi rút HIV đạt 80% trên tổng
số người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị vào năm 2020
Trang 19Điều 19: Vi phạm quy định về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV: phạt từ 1 -15 triệu
Điều 22: Vi phạm quy định khác về phòng, chống HIV/AIDS: phạt từ 2- 20 triệu [14]
1.4 Các nghiên cứu liên quan
1.4.1 Thế giới
Theo nghiên cứu cắt ngang mô tả về thái độ và thực hành của NVYT với bệnh nhân HIV tại trung tâm y tế liên bang Owo Ondo nước Nigeria đăng tải năm 2014 trên tạp chí y tế công cộng Nam Mĩ được thực hiên trên 261 NVYT gồm các bác sĩ , y tá và dược sĩ, xét nghiệm và các NVYT khác Kết quả nghiên cứu cho thấy 68,2% NVYT có thái độ tốt với người nhiễm HIV(+) Không có mối liên quan giữa tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tôn giáo với thái độ đối với người nhiễm HIV NVYT có thực hành tốt với người nhiễm HIV(+) chiếm 51,2% và không có mối liên quan giữa tuổi, tôn giáo, tình trạng hôn nhân với thực hành chăm sóc người nhiễm HIV Tuy nhiên, có mối liên quan giữa giới tính và chuyên ngành làm việc của NVYT với thực hành đối với người nhiễm HIV(+)[24] Nghiên cứu đã sử dụng nguồn tài liệu tham khảo từ các nguồn (Scholar, PubMed / Medline, các bài tóm tắt xã hội học, tìm kiếm các tài liệu học tập hàng đầu, các bài nghiên cứu toàn văn và các báo cáo chính phủ của các quốc gia ) từ đó
có thể thấy nghiên cứu đã tìm kiếm và sử dụng những tài liệu tham khảo một cách nghiêm ngặt, đáng tin cậy Với phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn và chia theo tỉ lệ số NVYT
ở bảy nhóm gồm bác sĩ, y tá, xét nghiệm, dược sĩ, vật lý trị liệu, phục hình răng và cán
bộ quản lý thông tin, bên cạnh đó nghiên cứu có cỡ mẫu tương đối lớn (261 NVYT) Do
đó mang tính đại diện cao Nghiên cứu còn đưa ra được thái độ cũng như thực hành tốt của NVYT người nhiễm HIV (+) và mức độ phản ứng của NVYT đối với các biện pháp chống kỳ thị với người nhiễm HIV(+) Tuy nhiên, bênh cạnh những mặt tích cực của nghiên cứu thì cũng có những điều đáng lưu ý Mặc dù nghiên cứu sử dụng những nguồn
Trang 20tài liệu tham khảo đáng tin cậy, nhưng có một số nguồn tài liệu khá lâu ( nghiên cứu những năm 1993, 1994, 1998…), chưa đánh giá được thực trạng thái độ và thực hành của NVYT với bệnh nhân HIV hiện tại, ngoài ra còn có thể có những sai lệch thông tin,
sai lệch lựa chọn mà tác giả chưa đề cập đến
Một nghiên cứu cũng thực hiện tại Nigeria nhưng tại miền Nam về kiến thức, thái
độ, niềm tin liên quan đến HIV và nguồn kiến thức của những NVYT chuyên nghiệp Nghiên cứu được tiến hành trên 426 NVYT gồm y tá, xét nghiệm, bác sĩ từ ba bệnh viện gồm bệnh viện đại học, bệnh viện chính phủ và các trạm y tế tuyến xã Kết quả nghiên cứu cho thấy có 46% NVYT có kiến thức đúng trên 50% các câu hỏi trong bộ câu hỏi nghiên cứu Kiến thức cao nhất ở các bác sĩ và thấp nhất ở các nhân viên phòng thí nghiệm Tuy nhiên không có sự khác biệt giữa các NVYT ở các bệnh viện khác nhau Riêng về thái độ, có những quan điểm cũng như cảm xúc tiêu cực của NVYT với người nhiễm HIV, cụ thể như 100% các NVYT tại xã có thái độ tiêu cực trong chăm sóc bệnh nhân HIV, bệnh viện chính phủ chiếm 85,1% và bệnh viện đại học chiếm 83% [36] Nhìn chung nghiên cứu nghiên cứu sử dụng những tài liệu tham khảo từ các trang wed pubmed, tài liệu quốc gia…đáng tin cậy, tiêu chí đưa vào mẫu nghiên cứu đại diện ở các cấp từ đại học, chính phủ và tuyến xã với cỡ mẫu lớn (426 NVYT do đó mang tính đại diên cao) Tuy nhiên, chưa thấy tác giả nêu ra phương pháp lấy mẫu Một số tài liệu tham
khảo khá lâu ( từ những năm 1992, 1997…)
Nghiên cứu cắt ngang về kiến thức, thái độ của y tá đối với bệnh nhân HIV được tiến hành trên 922 y tá từ 20 bệnh viện tại Jordania trong năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, các y tá có mức độ kiến thức yếu về các nhóm đại cương và miễn dịch học (37,8%), biểu hiện HIV (26,6%) , phương thức lây truyền (32,6) và biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn HIV (33,87) Riêng chỉ có nhóm những nguy cơ rủi ro phơi nhiễm
có thể xảy ra là các y tá có kiến thức tốt (47,35%) Hơn 2/3 y tá (84%) từ chối chăm sóc cho những bệnh nhân HIV /AIDS dương tính và có hơn 2/3 y tá Jordania đã có một thái
độ tiêu cực đối với HIV /AIDS, cụ thể như thái độ tiêu cực trong chăm sóc trực tiếp (97%), sự kỳ thị xã hội (78%), sợ lây lan (75,2%), và giáo dục và tư vấn (72,9%) và 58,8% y tá có thái độ tiêu cực đối với bệnh nhân tử vong là do HIV/AIDS [28] Nghiên
Trang 21cứu được tiến hành trên cỡ mẫu lớn (922 y tá) từ 20 bệnh viện miền Bắc, Nam, Đông, Tây của Jordan và khu vực Amman đã cho thấy mức đại diện của kiến thức, thái độ, thực hành của các y tá Với công cụ thu thập là bộ câu hỏi được thiết kế dành cho y tá phát triển bởi Eckstein (1987) đã được sử dụng để đánh giá kiến thức và thái độ của y tá đối với bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS với phần kiến thức, thái độ có hệ số Cronbach alpha lần lượt 0.67 và 0,95 Cách tính điểm theo thang điểm likert rõ ràng, cụ thể từ đó có thể thấy kết quả nghiên cứu có tính tin cậy cao Tài liệu tham khảo từ WHO, UNAIDS, các trang wed chính thống có tính giá trị cao Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng một số tài liệu tham khảo đã lâu ( từ những năm 1993, 1994…) và HIV là một vấn đề khá nhạy cảm do
đó có thể có những sai lệch thông tin khi sử dụng phương pháp phỏng vấn mặt đối mặt
Còn nghiên cứu kiến thưc, thái độ, thực hành của y tá đối với bệnh nhân HIV/AIDS tại Sicily trên 107 y tá tại một bệnh viện đại học Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn số người được hỏi đều biết ý nghĩa của các từ viết tắt AIDS (87%) và ý nghĩa của một xét nghiệm huyết thanh dương tính (78%), biết cách loại bỏ HIV ở môi trường bên ngoài như lau các dịch tiết, máu (79%) Ngược lại, một tỷ lệ tương đối thấp
số người biết "giai đoạn cửa sổ" (62%) và phương thức lây truyền HIV (65%) Về thái
độ và hành vi cho thấy 98% y tá chưa từng từ chối khi được phân công chăm sóc bệnh nhân HIV / AIDS Các y tá lo ngại có nhiều nguy cơ nhiễm HIV cao hơn người bình thường (41%) và chỉ có vài y tá (9%) điều trị tất cả các bệnh nhân nhiễm HIV dương tính Phần lớn các y tá (82%) y tá nói rằng nếu họ có bạn bè hoặc thành viên gia đình bị nhiễm HIV họ sẽ có thái độ tiêu cực [30] Trong nghiên cứu, mặc dù cách chọn mẫu theo
tỷ lệ đa dạng từ các khoa như phòng mổ, khoa sản , bệnh truyền nhiễm, khoa nội, bệnh
hô hấp và phòng thí nghiệm Tuy nhiên, với cỡ mẫu tương đối nhỏ (n=107) do đó có thể chưa mang tính đại diện cho toàn bệnh viện Bên cạnh đó, HIV là một vấn đề khá nhạy
và do tự khai báo của NVYT mà chưa có những quan sát thực tế do đó thông tin thu
được chưa đầy đủ, chính xác
Một nghiên cứu cắt ngang về HIV liên quan đến kiến thức, thái độ, thưc hành của nhân viên y tế tại Montenegro của Zorana Gledović và các cộng sự thực hiện vào năm
2009 trên 422 NVYT bao gồm các bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên phòng xét nghiệm và
Trang 22nhân viên các chuyên ngành khác Kết quả nghiên cứu cho thấy các NVYT vẫn còn thiếu kiến thức về đường lây truyền HIV Cụ thể, hầu hết tất cả NVYT đều trả lời HIV có thể lây qua đường máu, trong khi đó chỉ có khoảng 2/3 cho rằng HIV có thể lây qua tinh dich, dich tiết âm đạo Chỉ có 36,0% NVYT đã trả lời một cách chính xác HIV và AIDS khác nhau Riêng về thái độ và thực hành, có 64,7% số người tham gia nghiên cứu cho rằng tất cả các bệnh nhân nhập viện cần được xét nghiệm HIV, 6% NVYT sẽ từ chối cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Đa số những người được hỏi (82,0%) cho rằng họ nên biết về tình trạng HIV (+) của bệnh nhân để có biện pháp bảo
vệ thích hợp [27] Nghiên cứu thực hiện với phương pháp lấy mẫu ở tất cả các khoa
phòng chia thành 3 nhóm: phẩu thuật (phẫu thuật chung, chỉnh hình, sản phụ khoa, cấp cứu, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật nha khoa, tiết niệu…), phòng thí nghiệm ( phòng thí nghiệm chẩn đoán, bệnh lý và pháp y), không phẩu thuật (bệnh truyền nhiễm, huyết học, truyền máu, thận, gây mê, hồi sức, điều trị giảm đau) với cỡ mẫu lớn (422 NVYT hoàn thành bộ câu hỏi) nghiên cứu đã cho thấy kết quả mang tính đại diện cao Nghiên cứu dụng bộ câu hỏi đã được đánh giá cronbach α=0,74, do đó kết quả nghiên cứu có tính tin cây nội bộ khá tốt Tuy nhiên, nghiên cứu có một số hạn chế vì đây là nghiên cứu đầu tiên về kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT với bệnh nhân HIV tại Montenegro và số liệu thu thập dựa trên tự nhận thức và tự báo cáo của NVYT, trong
đó có một số câu hỏi khá thực tế hỏi về những phơi nhiễm trong quá trình làm việc của NVYT những năm trước đó, do đó có thể kết quả khai báo số trường hợp phơi nhiễm không chính xác Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng một số tài liệu tham khảo khá
lâu ( từ những năm 1993, 1995…) do đó chưa phản ánh được thực tế hiện nay
Theo một nghiên cứu cắt ngang về kiến thức, niềm tin và thái độ của những nhà cung cấp dịch vụ trong chăm sóc sức khỏe về HIV /AIDS tại trường cao đẳng y tế và bệnh viện Govt, Miraj, Maharashtra đăng trên tạp chí khoa học sức khỏe và nghiên cứu quốc tế năm 2012 Nghiên cứu được tiến hành trên 395 NVYT gồm các bác sĩ, điều dưỡng, xét nghiệm, NVYT khoa lâm sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy 90.13% NVYT
có kiến thức đúng về tác nhân gây bệnh, tuy nhiên có 24,56% nhân viên hỗ trợ trong bệnh viện không chắc chắn về đường lây truyền qua vết muỗi cắn NVYT có kiến thức
Trang 23tổng thể về triệu chứng của bệnh đúng là 74,94% và 87,34% có hiểu biết đúng về dự phòng sau phơi nhiễm, trong khi 66,67% trong số họ có thể có thể cho biết các loại thuốc chính xác được sử dụng trong dự phòng sau phơi nhiễm và 90,89% cho biết một cách chính xác về biện pháp phòng ngừa an toàn phổ quát Kiến thức đúng về chẩn đoán HIV/AIDS của NVYT là 96,96% Có 89,11% NVYT biết HIV/AIDS không thể chữa được và 96,2% có kiến thức đúng về công tác phòng chống HIV / AIDS Về thái độ có 39,24% NVYT sợ nhiễm trong quá trình làm việc của họ và 25.57% nói rằng bệnh nhân AIDS cần được ở một nơi tách biệt với các bệnh nhân khác và 12,66% NVYT nghĩ rằng bản thân có quyền từ chối chăm sóc cho bệnh nhân HIV[33] Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn (395 người) từ các khoa phòng lâm sàng do đó mang tính đại diện cao Nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng kiến thức và thái độ cụ thể của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế Tuy nhiên, một số tài liệu tham khảo trong nghiên cứu đã lâu (từ những năm
1995, 1996) do đó khó so sánh với số liệu thực tế hiện nay
Nghiên cứu cắt ngang về kiến thức và quan điểm rủi ro của NVYT trong chăm sóc bệnh nhân HIV tại bệnh viện trường cao đẳng Nghiên cứu được tiến hành trên 450 NVYT gồm các bác sĩ, y tá, xét nghiệm và các nhân viên khác Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các NVYT có kiến thức lây truyền tốt chiếm 95,7% Tuy nhiên vẫn còn 13,2% cho rằng ho và hắt hơi có thể lây truyền HIV/ AIDS Có 72% nhân viên y tá biết các biện pháp phòng ngừa phổ quát có thể dự phòng lây truyền, nhưng 73% có quan niệm rằng chăm sóc một bệnh nhân HIV dương tính có nguy cơ lây nhiễm HIV và 13,2% NVYT khẳng định sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV khi bị dính máu chứa virus HIV/AIDS và viêm gan B trong quá trình chăm sóc cho bệnh nhân Chỉ 64% NVYT cho rằng dự phòng phơi nhiễm là có hiệu quả trong khi có đến 16% cảm thấy nó không hiệu quả Gần 95% NVYT cảm thấy rằng tất cả bệnh nhân phẫu thuật và sản khoa nên được kiểm tra thường xuyên lây nhiễm HIV và 4,1% NVYT nghĩ rằng họ nên được phép từ chối để chăm sóc cho những người có HIV / AIDS [34] Nghiên cứu được tiến hành với
cỡ mẫu lớn (450 NVYT) mang tính đại diện cao, đưa ra được tỷ lệ khái quát kiến thức của NVYT với HIV Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng một số tài liệu tham khảo khá lâu (
từ những năm 1987, 1999…) do đó khó có thể so sánh được với số liệu thực tế hiện nay
Trang 24Một nghiên cứu cắt ngang về sự hiểu biết HIV liên quan đến kỳ thị của các y tá Inđônêxia được tiến hành trên 396 người đồng ý tham gia từ 4 bệnh viện công giáo theo đạo Bali Hindu Kết quả nghiên cứu cho thấy Kiến thức những người tham gia trả lời đúng với điểm trung bình 12,5 dao động từ 4-18 câu trả lời đúng trong tổng số 18 câu hỏi liên quan đến kiến thức HIV Điểm số kỳ thị trung bình tương đối thấp (2,45 trong tổng số 30) tại nơi làm việc Tuy nhiên tại bệnh viện đa khoa và bệnh viện Hồi giáo có thái độ kỳ thị là cao với điểm trung bình 78,6 (44-110) [38] Nghiên cứu được tiến hành bằng cách lấy mẫu cụm từ 4 bệnh viện, với cách lấy mẫu này giúp nghiên cứu tiến hành nhanh và đơn giản hơn, kích thước cỡ mẫu tăng lên và được dàn đều ở 4 bệnh viện nên mang tính đại diện cao Đây là nghiên cứu đầu tiên tiến hành trên các y tá về thái độ của
họ có liên quan đến vấn đề tôn giáo và công việc, và trong nghiên cứu này tôn giáo là yếu tố rất quan trọng liên quan đến vấn đề kỳ thị Nghiên cứu sử dung một số tài liệu tham khảo từ pubmed, Unaids, tài liệu quốc gia đáng tin cậy Bên cạnh những ưu điểm trên, nghiên cứu có một số hạn chế như tài liệu tham khảo sử dụng khá lâu (từ năm 1997 1988…) khó so sánh với thực tế hiện nay, một số NVYT có thể trả lời chưa chính xác vì đây là một vấn đề khá nhạy cảm, người tham gia sợ cách nhìn nhận của mọi người về
thái độ kỳ thị của bản thân với người nhiễm HIV
Nghiên cứu cắt ngang của Maria L Ekstrand và các cộng sự về tỷ lệ và sự kiểm soát của sự kỳ thị HIV trong cơ sở y tế trong đô thị Ấn Độ vào năm 2009 Nghiên cứu tiến hành trên 305 bác sĩ, 369 y tá và 346 cán bộ phường Kết quả nghiên cứu cho thấy các NVYT đồng ý với việc phụ nữ nhiễm HIV không nên sinh con (55- 80%), nên kiểm tra bắt buộc đối với phụ nữ mại dâm (94-97%) và bệnh nhân phẫu thuật (90- 99%) và họ cho rằng những người nhiễm HIV do quan hệ tình dục hoặc dùng thuốc " đó là những điều họ đáng phải nhận" chiếm (50-83%) Ngoài ra, 89% của các bác sĩ, 88% của các y
tá và 73% cán bộ phường nói rằng họ sẽ phân biệt đối xử người nhiễm HIV trong công việc liên quan đến khả năng phơi nhiễm cao với các dịch tiết [25] Nghiên cứu chọn cỡ mẫu lớn (n=1020), có tính đại diện cao, bên cạnh đó nghiên cứu đã cho thấy được các vấn
đề về mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và các mối liên quan đối với kỳ thị Nhóm nghiên cứu tiến hành lấy mẫu với cách phỏng vấn mặt đối mặt, thời
Trang 25gian phỏng vấn mỗi người trung bình là 1 tiếng đồng hồ, với phương pháp này người hỏi
có thể linh hoạt các câu hỏi và thu thập được thông tin đầy đủ hơn Nghiên cứu sử dụng tài liệu tham khảo từ các các trang wed đáng tin cậy ( pubmed, usaid, tài liệu quốc gia…) Tiêu chí chọn mẫu rõ ràng (thời gian làm việc của họ ít nhất từ sáu tháng, có tiếp xúc trực tiếp bệnh nhân, từ 18 tuổi trở lên, có thể nói chuyện và đồng ý tham gia nghiên cứu) Tuy nhiên nghiên cứu có một số hạn chế như đây là thiết kế nghiên cứu cắt ngang, do đó chưa thể xác định được nguyên nhân và hậu quả để có biện pháp can thiệp, do đó cần có ngững nghiên cứu xa hơn tìm hiểu về vấn đề này Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu là báo cáo lại từ các NVYT tế mà chưa có những quan sát do đó có thể bị sai lệch thông tin Cách chọn đối tượng tham gia nghiên cứu là những người ở hai thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao, do đó mức độ kỳ thị vẫn chưa thể hiện đại diện được mức kỳ thị chung của NVYT tại các cơ sở có người nhiễm ít hơn
1.4.2 Việt Nam
Theo nghiên cứu cắt ngang của Lien Quach, Kenneth Mayer và các cộng sự về kiến thức, thái độ, thực hành của các bác sĩ đối với bệnh HIV tại Quảng Ninh được đang tải vào năm 2005 trên trang chăm sóc bệnh nhân AIDS và STDs trên 151 bác sĩ Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu như các bác sĩ (95%) đã nhận thức một vợ một chồng, an toàn quan hệ tình dục và kim tiêm tiệt trùng có thể ngăn chặn lây lan HIV cho người khác Tuy nhiên, có những quan niệm sai lầm về phương thức lây truyền HIV cụ thể như HIV
có thể lây khi dùng chung nhà vệ sinh với người sống chung với HIV / AIDS (12,1%), muỗi đốt (6,9%) và 39,9% cho rằng dinh dưỡng tốt có thể bảo vệ việc lây nhiễm HIV / AIDS Chỉ có 41,6% các bác sĩ biết rằng có nhiều hơn một loại HIV Riêng kiến thức về bệnh học khá thấp chỉ từ 5-7 điểm Về thái độ, khoảng 3/4 bác sĩ lo lắng về việc lây nhiễm HIV nhiễm từ bệnh nhân của họ Gần 1/2 số bác sĩ cảm thấy khác biệt khi chăm sóc giữa các bệnh nhân nhiễm HIV so với bệnh nhân bị bất kỳ căn bệnh nào khác và khoảng 40% các bác sĩ cảm thấy hơi khó chịu với bệnh nhân HIV /AIDS trong thời gian kiểm tra, điều trị Hơn 2/3 các bác sĩ đồng ý rằng bệnh nhân AIDS nên được điều trị trong bệnh viện và phòng khám riêng biệt Hầu như tất cả các bác sĩ nói rằng những người chăm sóc sức khỏe nên được phép làm xét nghiệm HIV cho bệnh nhân mà không
Trang 26cần sự đồng ý của họ Hơn 1/3 các bác sĩ cho rằng họ có quyền từ chối chăm sóc và điều trị với bệnh nhân AIDS Chỉ có 37,1% các bác sĩ có thái độ tích cực khi cung cấp dịch
vụ chăm sóc cho bệnh nhân HIV / AIDS Về thực hành, trong số các bác sĩ tiếp xúc bệnh nhân HIV / AIDS trong thực tế của họ, hơn 3/4 trong số họ (78,3%) cung cấp dịch vụ chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân HIV / AIDS, còn lại các bác sĩ thông báo rằng sẽ chuyển bệnh nhân HIV / AIDS cho các chuyên gia [32] Nghiên cứu được tiến hành trên bác sĩ ở các tuyến tỉnh, huyện, và xã tại thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí tại Quảng Ninh trên 151, do đó cỡ mẫu mang tính đại diện cao cho mức độ kiến thức, thái độ, thực hành của các bác sĩ ở tỉnh Quảng Ninh Công cụ thu thập được phát triển dựa trên các chuyên gia ở Hoa Kỳ và Việt Nam sau đó được kiểm tra tại Việt Nam, do đó cụ công nghiên cứu khá nghiêm ngặt Đặc biệt, nghiên cứu cho thấy cái nhìn tổng quát về kiến thức, thái độ, thực hành của các bác sĩ với người nhiễm HIV Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh thì nghiên cứu còn có một số hạn chế cụ thể như nghiên cứu chỉ cho thấy được cái nhìn kiến thức, thái độ, thực hành của các bác sĩ ở Quảng Ninh với người nhiễm HIV chứ chưa đại diện cho các bác sĩ tại Việt Nam, nghiên cứu là việc tự báo cáo của các NVYT với người nhiễm HIV qua việc hồi tưởng lại do đó chưa chính xác, bên cạnh
đó HIV là một vấn đề nhạy cảm nên người tham gia có thể sẽ lo lắng rằng những người khác sẽ chỉ trích kiến thức, thái độ và thực hành của họ với người nhiễm HIV nên kết quả chưa chính xác Nghiên cứu được tiến hành tại một thời điểm do đó kiến thức của
các bác sĩ về HIV có thể thay đổi tại thời điểm nghiên cứu thông qua tập huấn, loa đài…
Nghiên cứu cắt ngang phân tích của Nguyễn Hữu Nghi về “hiệu quả dự án giảm
kỳ thị và phân biệt đối xử lên quan với HIV tại bệnh viện Thốt Nốt năm 2007”trên 177 nhân viên nhằm tìm hiểu kiến thức lây nhiễm HIV, thái độ phán xét đạo đức với người nhiễm HIV, thái độ phân biệt đối xử trong thực hành chăm sóc và thực hành chăm sóc người nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu trước khi can thiệp cho thấy 90% đồng ý với nhận định cho rằng “chính đàn ông chơi bời lăng nhăng là nguyên nhân làm lây truyền HIV”, trên 80% cho rằng chính gái mại dâm, người sử dụng ma túy là nguyên nhân làm lan truyền HIV Nhân viên đồng ý với các phán xét đạo đức có kỳ thị chiếm 20-30%, tỷ lệ cao cho rằng ăn uống vẫn là đường lây, 41% cho rằng người nhiễm phải có bát đũa riêng
Trang 27và 18% không mua thức ăn của người nhiễm HIV, 21% sợ lây HIV khi chạm vào da không tổn thương, 24% sợ phục vụ thức ăn và 49% sợ dùng chung bát đũa với người nhiễm HIV Bên cạnh đó trong quá trình chăm sóc bệnh nhân có 39% nhân viên ghi nhận
có đánh dấu trên đồ vải, 42% nhân viên cho người nhiễm HIV nằm phòng riêng, 24% đánh dấu trên bệnh án và 20% có đánh dấu trên giường Về kiến thức, hầu hết tất cả các nhân viên đều biết rằng HIV có thể lây qua tinh dịch, máu và dịch âm đạo Gần 2/3 (62,7%) biết rằng HIV cũng có thể lây truyền qua sữa mẹ Một tỉ lệ tướng đối cao nhân viên vẫn cho rằng HIV có thể lây qua nước bọt (24%) và nước tiểu (12%) [15]
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả
2.2 Thời gian-địa điểm
Thời gian: tháng 2/2016- tháng 7/2016
Địa điểm: bệnh viện Trưng Vương
2.3 Đối tượng nghiên cứu
n: Là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
α =0,05 (xác suất sai lầm loại 1)
Z =1,96 (trị số từ phân phối chuẩn với độ tin cậy 95%)
P =0,512 (trị số ước lượng tỷ lệ của NVYT có thái độ chung tốt trong nghiên cứu về thái độ và thực hành của NVYT với bệnh nhân HIV tại trung tâm y tế liên bang Owo Ondo nước Nigeria)
d=0,1 (sai số cho phép) [9]
Cỡ mẫu tính được là n=96 NVYT (đã được làm tròn)
Dự trù mất mẫu 10% nên cỡ mẫu đưa vào nghiên cứu là 107 NVYT
2.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu
Trang 29Chọn mẫu theo 2 bước:
Bước 1: Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện: Trong bệnh viện có 17 khoa phòng lâm sàng thì có 6 khoa phòng đồng ý tham gia nghiên cứu bao gồm: khoa khám bệnh, khoa nội tiết tổng hợp, khoa ngoại chấn thương chỉnh hình, khoa xét nghiệm, khoa sản và khoa nhiễm
Bước 2: Chọn mẫu theo phương pháp phân tầng dựa vào tỉ lệ phần trăm mỗi khoa phòng sao cho đủ cỡ mẫu nghiên cứu
mỗi khoa (A)
Tổng cỡ mẫu đưa vào nghiên cứu (n)
Tổng NVYT các khoa đưa vào nghiên cứu (B)
Mẫu mỗi khoa
Tiêu chí loại ra:
NVYT trả lời không quá phân nửa bộ câu hỏi phỏng vấn
2.3.6 Kiểm soát sai lệch lựa chọn
Chọn đối tượng nghiên cứu theo đúng tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra
2.4 Thu thập dữ kiện
2.4.1 Phương pháp
Trang 30Sử dụng bộ câu hỏi cho NVYT tự điền
2.4.2 Công cụ
Bộ câu hỏi soạn soạn sẵn chia làm 4 phần (phụ lục 1)
Phần 1: Đặc tính nền
Phần 2: Kiến thức gồm:
Kiến thức đường lây truyền
Kiến thức về kỳ thị và phân biệt đối xử
Kiến thức về dự phòng HIV
Phần 3: Thái độ kỳ thị HIV:
Thái độ của NVYT với người nhiễm HIV(+)
Thái độ kỳ thị với người nhiễm HIV
Phần 4: Thực hành của NVYT với nguời nhiễm HIV(+)
2.4.3 Kiểm tra sai lệch thông tin
Bộ câu hỏi được thiết kế theo mục tiêu nghiên cứu, rõ ràng, từ ngữ dễ hiểu, đơn
giản, phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Định nghĩa rõ ràng và cụ thể cho từng biến
Tập huấn rõ ràng cho các điều tra viên trước khi đi phỏng vấn
Giải đáp các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu để tránh sai lệch thông tin
Tuổi là biến định lượng không liên tục, đơn vị đo lường là tuổi, được tính bằng cách lấy
năm 2016 trừ cho năm sinh của đối tượng tham gia nghiên cứu
Nhóm tuổi là biến thứ tự gồm 4 giá trị :
- ≥18 đến <30 tuổi
- ≥30 đến <40 tuổi,
Trang 32- Không
Số năm làm việc là biến định lượng không liên tục, đơn vị đo lường (năm)
Phân số năm là việc là biến thứ tự có 2 giá trị:
- ≤ 5 năm
- >6 năm
2.5.1.2 Kiến thức về HIV
a Kiến thức về đường lây truyền về HIV
Kiến thức về đường lây truyền về HIV là biến nhị giá có 2 giá trị , đúng và chưa
đúng:
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: HIV có thể lây qua đường
máu, tinh dịch, âm đạo, sữa mẹ và mẹ truyền sang con và không chọn bất kỳ một
đáp án nào khác
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT chọn ít nhất một trong những nội dung: muỗi đốt,
nước bọt, nước mắt, nước tiểu, thức ăn, chạm vào da không bị tổn thương của người
nhiễm HIV, mồ hôi, không biết hoặc không chọn tất cả các đáp án đúng
b Kiến thức dự phòng
Kiến thức về cách phòng tránh HIV là nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: luôn sử dụng bao cao su mỗi
lần quan hệ tình dục, không dùng chung bơm kim tiêm và truyền máu an toàn
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT chọn ít nhất một trong các đáp án sau: tránh ôm hôn
người có HIV, tránh ăn uống chung với người có HIV, không dùng chung nhà vệ
sinh công cộng, tránh muỗi đốt, không biết hoặc không chọn tất cả các đáp án đúng
Kiến thức về những xét nghiệm khẳng định một người nhiễm HIV là biến nhị giá có
2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn Test nhanh+3 test ELISA với sinh phẩm với nguyên
lý phản ứng và cách chuẩn bị kháng nguyên khác nhau
- Kiến thức chưa đúng khi nhân viến y tế trả lời ít nhất một trong các đáp án sau: chỉ
cần Test nhanh là đủ, test nhanh + 1 test ELISA khẳng định , test nhanh + 2 test
ELISA với sinh phẩm khác nhau, nguyên lý phản ứng và cách chuẩn bị kháng nguyên
Trang 33khác nhau và không chọn tất cả các đáp án đúng
Kiến thức về hiện nay đã có vaccine dự phòng lây truyền HIV là biến nhị giá có 2
giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT trả lời: chưa
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời: có hoặc không biết
Kiến thức về những hoàn cảnh có thể phơi nhiễm HIV nghề nghiệp là biến nhị giá
có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: vết xước/tổn thương ngoài da
tiếp xúc trực tiếp với máu/dịch cơ thể có nguy cơ nhiễm HIV, kim tiêm, dụng cụ y tế
có chứa máu/dịch thể có vi rút HIV đâm vào người, niêm mạc (mắt/mũi/miệng) tiếp
xúc trực tiếp với máu/dịch cơ thể có nguy cơ nhiễm HIV
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả
các đáp án đúng Kiến thức về cách xử trí khi bị phơi nhiễm HIV nghề nghiệp là biến nhị giá có 2 giá
trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: xử lý vết thương tại chỗ, đánh
giá nguy cơ phơi nhiễm, xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm, xét
nghiệm HIV ngay sau phơi nhiễm, kiểm tra xét nghiệm HIV sau 3-6 tháng, điều trị
dự phòng bẳng ARV cho người bị phơi nhiễm, lập biên bản báo cáo lãnh đạo và theo
dõi người bị phơi nhiễm
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả
các đáp án đúng
Kiến thức về những ảnh hưởng của nhiễm HIV lên kinh tế/xã hội là biến nhị giá có
2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: làm giảm tuổi thọ trung bình,
ảnh hưởng tâm lý xã hội cho cá nhân và gia đình, ảnh hưởng về kinh tế, tiêu hao lực
lượng lao động xã hội, gánh nặng cho hệ thống y tế
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả
các đáp án đúng
Trang 34Kiến thức đã từng biết đến chương trình can thiệp giảm tác hại là biến nhị giá có 2
giá trị: có và chưa
- Kiến thức tốt khi trả lời có biết đến chương trình can thiệp giảm tác hại và biết một
trong các hoạt động trao đổi hoặc phân phát bơm kim tiêm, phân phát bao cao su ,
thông tin giáo dục truyền thông, điều trị nghiện heroin thay thế bằng methadone, tư
vấn xét nghiệm tự nguyện HIV, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, điều
trị lao, điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội, điều trị ARV
- Kiến thức chưa tốt khi trả lời là chưa từng biết đến chương trình can thiệp giảm tác
hại
Kiến thức về vai trò của tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV là biến nhị giá có 2 giá
trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: cung cấp kết quả xét nghiệm
HIV, giúp người nhiễm hiểu rõ các dịch vụ hiện có, giảm kỳ thị, giảm hành vi nguy
cơ cho người có xét nghiệm âm tính, tư vấn giảm lây truyền HIV từ người có HIV,
hỗ trợ tâm lý cho người HIV, hỗ trợ tiết lộ tình trạng nhiễm, tăng cường tuân thủ điều
trị
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả các đáp
án đúng
Kiến thức về giai đoạn diễn ra tư vấn trong quá trình xét nghi ệm HIV tự nguyện là
biến nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: tư vấn cả trước và sau xét
nghiệm và tư vấn hỗ trợ liên tục
- Kiến thức chưa đúng khi trả lời ít nhất một trong các đáp án sau: chỉ tư vấn trước xét
nghiệm, chỉ tư vấn sau xét nghiệm, không biết hoặc không chọn tất cả các đáp án
đúng
Kiến thức chung đúng về dự phòng HIV là biến nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức chung đúng khi NVYT trả lời đúng ít nhất 7/9 nội dung được phỏng vấn
- Kiến thức chung chưa đúng khi NVYT trả lời đúng ít hơn 7/9 nội dung được phỏng
vấn
Trang 35c Kiến thức kỳ thị và phân biệt đối xử
Kỳ thị là gán cho một người hoặc một nhóm người một sự khác biệt so với mọi người
là nhị giá có 2 giá trị:
- Không đồng ý
- Đồng ý
Phân biệt đối xử thường được miêu tả là sự đối xử không công bằng đối với một người
hoặc một nhóm người là biến nhị giá có 2 giá trị:
- Không đồng ý
- Đồng ý
Kiến thức về những biểu hiện của kỳ thị/ phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là
biến nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: Bị xa lánh, bị từ chối, bị cô
lập, bị bàn tán nói xấu, bị mất dần vị trí trong gia đình và xã hội, bị mất khả năng
giao tiếp và bổ sung thêm những biểu hiện đúng của kỳ thị/ phân biệt đối xử với
người nhiễm HIV
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT không chọn tất cả các đáp án đúng hoặc chọn không
biết
Kiến thức về nguyên nhân của kỳ thị/ phân biệt đối xử đối với người có HIV là biến
nhị giá: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi các NVYT chọn tất cả các đáp án sau: sự thiếu thông tin, thiếu
hiểu biết về HIV, sự sợ hãi với HIV và sự gắn kết HIV với các “tệ nạn xã hội”, người
kỳ thị đôi khi không ý thức được hành động của mình
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả các đáp
án đúng
Kiến thức về ảnh hưởng của kỳ thị/phân biệt đối xử có ảnh hưởng lên bản thân
người có HIV là biến nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: gây ra tự kỳ thị, mất việc hoặc
không kiếm được việc làm, khó tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh và các dịch vụ
hỗ trợ xã hội khác và che dấu tình trạng bệnh (HIV có cơ hội lan truyền hơn)
Trang 36- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả các đáp
án đúng
Kiến thức về ảnh hưởng của kỳ thị/phân biệt đối xử với gia đình người có HIV là
biến nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: Người thân trong gia đình mất
cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh và các dịch vụ hỗ trợ xã
hội khác, kinh tế gia đình do hạn chế các cơ hội việc làm và tăng thu nhập, các thành
viên khác trong gia đình cũng bị kỳ thị và phân biệt đối xử, ảnh hưởng tới các mối
quan hệ trong gia đình và bổ sung thêm những ảnh hưởng đúng của kỳ thị/phân biệt
đối xử với gia đình người có HIV
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả các đáp
án đúng
Kiến thức về ảnh hưởng của kỳ thị/phân biệt đối xử với cộng đồng/xã hội là biến
nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức đúng khi NVYT chọn tất cả các đáp án sau: tăng nguy cơ lây nhiễm HIV
trong cộng đồng, lãng phí nguồn lực do người nhiễm HIV không muốn tiếp cận với
các chương trình can thiệp, phá vỡ các giá trị truyền thống và bổ sung thêm những
ảnh hưởng đúng của kỳ thị/phân biệt đối xử với cộng đồng, xã hội
- Kiến thức chưa đúng khi NVYT trả lời là không biết hoặc không chọn tất cả các đáp án đúng
Kiến thức chung đúng về kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là biến
nhị giá có 2 giá trị: đúng và chưa đúng
- Kiến thức chung đúng khi NVYT trả lời đúng ít nhất 4/5 nội dung được phỏng vấn
- Kiến thức chung chưa đúng khi NVYT trả lời đúng ít hơn 4/5 nội dung được phỏng
vấn
2.5.1.3 Thái độ của NVYT với người nhiễm HIV
A Thái độ với người nhiễm HIV(+)
Với mỗi câu trả lời theo chiều hướng tích cực tính 1 điểm, với những câu trả lời theo
chiều hướng tiêu cực hoặc không biết tính 0 điểm
Trang 37Thái độ của NVYT về việc chất lượng cuộc sống của bệnh nhân HIV có thể được cải thiện khi được tư vấn là biến nhị giá có 2 giá trị: tốt và chưa tốt|
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời là có
- Thái độ chưa tốt khi NVYT trả lời là không hoặc không biết
Thái độ của NVYT với bệnh nhân HIV nên được điều trị ở một phòng riêng trong một bệnh viện hay phòng khám riêng là biến nhị giá có 2 giá trị: tốt và chưa tốt
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời là không
- Thái độ chưa tốt khi NVYT trả lời là có hoặc không biết
Thái độ của NVYT về việc họ có thể từ chối điều trị bệnh cho bệnh nhân HIV để bảo vệ bản thân và gia đình tôi là biến nhị giá có 2 giá trị: tốt và chưa tốt
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời: không
- Thái độ chưa tốt khi NVYT trả lời là có hoặc không biết
Thái độ của NVYT về điều trị nhiễm trùng cơ hội cho các bệnh nhân HIV/AIDS là một sự lãng phí là biến nhị giá có 2 giá trị: tốt và chưa tốt
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời: không
- Thái độ chưa tốt khi NVYT trả lời là có hoặc không biết
Thái độ của NVYT về điều trị kháng virut cho bệnh nhân HIV (+) là một sự lãng phí là biến nhị giá có 2 giá trị: tốt và chưa tốt
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời: không
- Thái độ chưa tốt khi NVYT trả lời là có hoặc không biết
Thái độ chung đúng khi NVYT với người nhiễm HIV (+) là biến nhị giá có 2 giá trị:
tốt và chưa tốt
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời đúng tất cả 5/5 nội dung phỏng vấn
- Thái độ tốt khi NVYT trả lời dưới 5/5 nội dung phỏng vấn
Trang 38Điểm (chỉ số kì thị) sẽ được tính dựa vào giá trị tổng của 21 tiêu chí liên quan đến thái độ, bao gồm 12 biến liên quan đến thái độ phán xét đạo đức với người nhiễm HIV và 9 biến thái độ phân biệt đối xử trong thực hành chăm sóc người nhiễm HIV, mỗi biến có 3 giá trị (có, không và không ý kiến), được tính theo như thanh điểm Likert với các mức điểm (3), (2), (1) Với những biến là thái độ tiêu cực thì cho 3 điểm “đồng ý”, 1 điểm “không đồng ý” và 2 điểm với câu trả lời “không thể nói” Tương tự với những biến là thái độ tích cực thì cho 1 điểm với câu trả lời “đồng ý”, 3 điểm với “không đồng ý” và 2 điểm với câu trả lời “không thể nói” [37]
Tổng số điểm ở 21 tiêu chí sẽ dao động từ cực tiểu 21 điểm đến cực đại 63 điểm với mức điểm càng cao thì chỉ số kỳ thị càng cao[37]
Các tiêu chí (21 tiêu chí) đã được đánh giá tính tin cậy nội bộ α=0,742 (Theo nghiên cứu giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến AIDS tại các bệnh viện Ấn Độ)[37]
Những người sống chung với HIV/AIDS có quyền quyết định ai sẽ biết về tình trạng nhiễm HIV của họ là biến danh định có 3 giá trị:
Trang 39Nếu bạn biết rằng một người bán thức ăn bị nhiễm HIV/AIDS bạn vẫn sẽ mua thức
ăn từ anh ấy/cô ấy HIV là biến danh định có 3 giá trị:
- Đồng ý
Trang 40Nếu bạn phát hiện ra rằng một đồng nghiệp đã nhiễm HIV / AIDS, bạn sẽ sẵn sàng
để làm việc với họ là biến danh định có 3 giá trị: