LÊ GIANG LINHTHỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018 Chuyên ngành : Quản
Trang 1LÊ GIANG LINH
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN
TÂM THẦN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ KHẮC LƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm về chất thải y tế 3
1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.2.1 Phân loại chất thải y tế 4
1.2.2 Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam 5
1.3 Thực trạng kiến thức, thực hành về xử lý chất thải rắn y tế 8
1.3.1 Kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế trên thế giới 8
1.3.2 Kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế tại Việt Nam 10
1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế: 13
1.5 Đặc điểm của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 18
2.3 Đối tượng nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu 19
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 20
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 20
2.6 Một số tiêu chuẩn đánh giá, phân loại trong nghiên cứu 25
2.6.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế 25
2.6.2 Tiêu chuẩn phân loại theo thời gian công tác 26
2.7 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 26
2.7.1 Đánh giá kiến thức của cán bộ y tế 27
2.7.2 Đánh giá thực hành của cán bộ y tế 27
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 28
2.9 Sai số và cách khắc phục sai số 29
Trang 4Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Kiến thức quản lý về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế 32
3.3 Quan sát thực hành về phân loại chất thải rắn y tế 33
3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phân loại và thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 36
3.4.1 Kiến thức về phân loại, thu gom CTRYT tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 36
3.4.2 Thực hành về phân loại, thu gom CTRYT tại bệnh viện tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 38
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 40
4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 40
4.2 Kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 40
4.3 Thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 40
4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành trong quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 40
DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 1.1 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên
địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2010 11
Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số nghiên cứu 20
Bảng 3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Kiến thức cơ bản về chất thải y tế 32
Bảng 3.3 Kiến thức về mã màu, dán nhãn túi, thùng đựng CTRYT 33
Bảng 3.4 Kiến thức về tiêu chuẩn, yêu cầu của dụng cụ đựng CTYT 33
Bảng 3.5 Kiến thức về quy trình phân loại, thu gom CTY T tại các khoa, phòng 34
Bảng 3.6 Quan sát thực hành về phân loại CTRYT khi thực hiện quy trình tiêm truyền 35
Bảng 3.7 Tuân thủ thực hành chung thu gom CTRYT 35
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thứcvề quản lý CTYT .36 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với kiến thức về quản lý CTYT 36
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa giới tínhvới kiến thức về quản lý CTYT 36
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa bộ phận công tác với kiến thức về quản lý CTRYT 37
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức về quản lý CTYT .37 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tham gia các khóa đào tạo với kiến thức về quản lý CTYT 37
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với thực hành về phân loại CTRYT 38
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thực hành về phân loại CTRYT 38
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa giới tính với thực hành về phân loại CTRYT 38
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa bộ phận công tác với thực hành về phân loại CTY 39 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thâm niên công tác với thực hành về phân loại CTYT 39 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tham gia các khóa đào tạo với thực hành về phân loại CTYT 39
Bảng 3.20 Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT 39
Trang 6Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu 18
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu chăm sóc sức khoẻ củangười dân càng ngày càng được nâng cao Để đáp ứng nhu cầu đó, các cơ sở y
tế cũng gia tăng một cách nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô Tính đến
2012, trên cả nước có 35 226 cơ sở y tế (trong đó có 1065 bệnh viện, 1081trung tâm y tế, 998 phòng khám đa khoa và ngoài ra còn có các trạm y tế) [1]
Từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, lượng rác thải y tếphát sinh tại đây cũng ngày càng tăng theo thời gian Theo thống kê, mức tăngchất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm Ước tính đến năm 2020 lượng chất thảirắn y tế (CTRYT) phát sinh sẽ là 800 tấn/ngày Trong đó có từ 10 - 25% làchất thải nguy hại [2], nó chứa các tác nhân vi sinh, chất phóng xạ, hóa chất,các kim loại nặng và các chất độc gây đột biến tế bào là dạng chất thải có thểgây những tác động tiềm tàng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, đặc biệt
là cán bộ y tế, nhưng người phải tiếp xúc trực tiếp hàng ngày[1]
Tại Việt Nam, nhận thức của cộng đồng nói chung và cán bộ y tế nóiriêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn kém Phươngtiện thu gom, vận chuyển chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạttiêu chuẩn, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy khi vận chuyểnchất thải y tế nguy hại [3]
Bệnh viện tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập và đi vào hoạt động
từ năm 2006 Năm 2017, bệnh viện đã khám, điều trị cho 12000 lượt bệnhnhân, trong đó có 11000 bệnh nhân nằm nội trú Đồng thời bệnh viện thườngxuyên tổ chức các chương trình y tế cộng đồng tới 137 xã, phường, thị trấn,trên 5000 bệnh nhân Hiện nay, bệnh viện đang tập trung phát triển chuyênmôn, nâng cấp cơ sở hạ tầng của các khu điều trị, nên nên trang bị và cơ sở
Trang 8vật chất, hạ tầng phục vụ quản lý CTRYT còn nhiều hạn chế như: Kho lưugiữ chất thải chưa được đảm bảo; các thùng đựng chất thải còn thiếu về màusắc Vẫn còn tồn tại tình trạng CBYT chưa thực hiện đúng quy định về quản
lý chất thải như: Phân loại sai; xử lý ban đầu chưa đúng; thu gom, vận chuyểnchưa đảm bảo Trong khi đó, các khoa lâm sàng là nơi trực tiếp khám và điềutrị cho bệnh nhân, môi trường khám chữa bệnh cần phải đảm bảo sạch sẽ, vệsinh, không lan truyền Xử lý chất thải y tế tốt sẽ góp phần giảm thiểu được
sự lãng phí về kinh tế cho bệnh viện và đồng thời giảm được nguy cơ rủi docho CBYT liên quan Để xử lý chất thải y tế tốt thì CBYT cần có kiến thức,thực hành tốt về vấn đề đó Vậy câu hỏi đặt ra là thực trạng kiến thức, thựchành của CBYT trong bệnh viện về xử lý CTYT ra sao? Có những y tế tố nàotác động đến kiến thức, thực hành của CBYT về vấn để đó Để trả lời cho câu
hỏi đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiến thức, thực hành của cán bộ y tế trong xử lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018”.Với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành của CBYT trong xử lý chất thải rắn tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành của CBYT trong xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm về chất thải y tế
Chất thải (CT): Là những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình
hoạt động sản xuất, ăn uống, sinh hoạt của con người
Chất thải rắn (CTR): Là tất cả chất thải không phải nước thải và khí thải Chất thải y tế (CTYT): Là tất cả vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải
ra từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa chất thải y tế là tất cả các loại chất thảiphát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm cả các trung tâm nghiên cứu, phòngthí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà
Chất thải rắn y tế (CTRYT): Là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các
hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liênquan…bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại
Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải chứa yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chấtthải này không được tiêu hủy hoàn toàn Chất thải y tế nguy hại chiếm 10-25%tổng lượng chất thải y tế [4]
Chất thải y tế thông thường: Là chất thải không gây ra những vấn đề
nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường Chất thải thôngthường được coi là tương đương với chất thải sinh hoạt và thường phát sinh ởcác khu hành chính từ các hoạt động lau dọn, vệ sinh hàng ngày của các bệnh
Trang 11viện Chất thải y tế thông thường chiếm từ 75-90% tổng lượng chất thải y tế[5], [6].
1.2 Phân loại chất thải y tế
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách phân loại với các quan điểmkhác nhau của các nhà quản lý.Tuy nhiên tất cả các cách phân loại đều dựavào tính chất vật lý, hóa học, sinh học nguy hại của chất thải gây ảnh hưởngtới sức khỏe và môi trường sống
1.2.1 Phân loại chất thải y tế
Chất thải y tế được phân làm 7 loại
- Chất thải nhiễm trùng: Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, virút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm
+ Môi trường nuối cấy từ phòng thí nghiệm
+ Rác từ phòng mổ nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng.+ Rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng
+ Súc vật được tiêm truyền trong phòng thí nghiệm
+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm
+ Chất thải sắc nhọn có thể rách hoặc làm tổn thương da như: dao mổ,kim tiêm…
- Thuốc thải loại: Gồm thuốc quá hạn, vắcxin huyết thanh kể cả chai lọđựng chúng…
- Chất thải có độc tính với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quáithai như các thuốc chống ung thư
- Hóa chất có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí
- Rác chứa kim loại nặng, độc như chì, thủy ngân
Trang 12- Các bình chứa khí nén: Bình Oxy…
- Chất phóng xạ: như tia Xquang…[7],[8]
1.2.2 Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam
* Phân loại theo dạng tồn tại của chất thải
Tùy theo dạng tồn tại, CTYT được chia thành 3 loại:
Chất thải rắn y tế
Nước thải y tếChất thải khí y tế
- Chất thải rắn y tế:
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạtđộng chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan…bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại
Chất thải rắn y tế sau khi phát sinh tại các nguồn được phân loại, thugom, sau đó được vận chuyển nội bộ đến nơi lưu giữ tại các cơ sở y tế Tiếptheo tùy vào tính độc hại, chất thải sẽ được xử lý tại chỗ hoặc vận chuyển đếncác cơ sở có khả năng xử lý an toàn và cuối cùng sẽ được tiêu hủy
- Nước thải y tế : Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các hoạt độngchăm sóc và sinh hoạt tại các cơ sở y tế
- Chất thải khí y tế: Chất thải khí y tế là khí phát sinh từ các phòng xétnghiệm, kho hóa chất, dược phẩm, các thiết bị sử dụng khí hóa chất độc hạitại các cơ sở y tế và lò đốt chất thải rắn y tế
* Phân loại theo thành phần và tính chất nguy hại
Căn cứ vào đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại,chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
Trang 13Chất thải lây nhiễm;
Chất thải hóa học nguy hại;
Chất thải phóng xạ;
Bình chứa áp suất;
Chất thải thông thường
- Chất thải lây nhiễm
Chất thải lây nhiễm là loại chất thải chứa các mầm bệnh (vi khuẩn,virus, kí sinh trùng hoặc nấm) có khả năng gây bệnh cho con người
Chất thải lây nhiễm được phân thành 4 loại, bao gồm:
+ Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải chọc thủng hoặc gây ra cácvết cắt, có thể nhiễm khuẩn, gồm: Bơm kim tiêm, lưỡi dao mổ, các ốngtiêm… và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải thấm máu,thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất phát sinh từ buồng bệnh cách li: dâytruyền máu, dịch cơ thể và chất bài tiết của người bệnh, băng gạc… găng taycao su đã qua sử dụng
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinhtrong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnhphẩm, túi đựng máu, hống cầu, huyết tương
Chất thải phát sinh từ buồng bệnh nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm:Mọi chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách li (bệnh nhân SARS, cúm A…)
+ Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô bệnh phẩm của cơ thể(dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn); Các cơ quan, bộ phận cơ thểngười; Rau thai, bào thai
- Chất thải hóa học nguy hại
Trang 14+ Chất thải dược phẩm bao gồm: Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất
không còn khả năng sử dụng, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, các loại huyếtthanh, vắc xin sống giảm độc lực cần thải bỏ…
+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như: Các hóa chất khửkhuẩn sử dụng để làm sạch và khử trùng thiết bị… Các chất quang hóa học,hóa chất vô cơ
+ Chất thải chứa chất gây độc tế bào: Thuốc gây độc tế bào được sửdụng trong quá trình điều trị ung thư và ghép tạng Các chất gây độc tế bào cóthể tồn tại trong nước tiểu, phân, nôn từ các bệnh nhân được xét nghiệm hoặcđiều trị ít nhất 48h cho đến 1 tuần sau khi tiêm thuốc Các chất gây độc tế bàorất nguy hiểm có thể gây đột biến gen, quái thai và ung thư
+ Chất thải chứa kim loại nặng: Là những hóa chất nguy hiểm, có độctính cao như thủy ngân, chì hay một số thuốc có chứa thạch tín
- Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phátsinh từ các hoạt động liên quan đến bệnh nhân trong quá trình sử dụng hạtnhân, phóng xạ để chẩn đoán và điều trị như các chất bài tiết, nước rửa tay;các đồ dùng cá nhân như cốc, quần áo…
- Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng Oxy, bình ga, bình khí dung Đặc điểm chung củacác bình chứa áp suất là tính trơ, ở điều kiện thường không gây nguy hiểm,nhưng dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt hay bị thủng
- Chất thải y tế thông thường
Chất thải y tế thông thường phát sinh từ các khu hành chính với cáchoạt động lau dọn, vệ sinh hàng ngày của cơ sở y tế Chất thải y tế thôngthường gồm:
Trang 15+Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnhcách ly).
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọthủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xươngkín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa họcnguy hại
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu,vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi ni lông, túi đựng phim…
+ Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.3 Thực trạng kiến thức, thực hành về xử lý chất thải rắn y tế
1.3.1 Kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế trên thế giới
Trên thế giới, công tác quản lý, xử lý CTYT được nhiều quốc gia quantâm và tiến hành một cách triệt Về quản lý, xử lý CTYT họ có một loạtnhững chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loạichất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định vềloại chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải y tế cũng đã được công nhận
và thực hiện hầu hết các quốc gia trên thế giới bởi CTYT có nguy cơ tiềm ẩn
có thể gây hại tới môi trường và con người
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học vềlĩnh vực chất thải y tế như quản lý nguồn phát sinh, phân loại, thu gom, vậnchuyển và xử lý chất thải y tế, hay các biện pháp làm giảm thiểu, tái sử dụngchất thải y tế [9]
Tại một cơ sở giảng dạy nha khoa ở Ấn Độ, khi đánh giá kiến thức vànhận thức việc quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế (NVYT) và sinh viên
y khoa cho thấy không có nhiều người chú ý đến việc quản lý chất thải nhưnghầu hết các đối tượng đồng ý với thực tế rằng việc tiếp xúc với chất thải y tế
Trang 16nguy hại có thể gây bệnh hoặc nhiễm trùng Các kết quả kiểm tra cho thấykiến thức và trình độ nhận thức của các đối tượng là không đầy đủ và có sựthay đổi đáng kể trong thực tế quản lý liên quan đến chất thải y sinh khi được
hỗ trợ về kiến thức Vì vậy việc cung cấp kiến thức quản lý chất thải y sinh làmột nhu cầu rất lớn để tiếp tục giáo dục và đào tạo trong các chương trình tạicác cơ sở giảng dạy y khoa
Theo Sarma RK, Shyama S Nagarajan và cộng sự khi nghiên cứu khác
về thái độ và hành vi xử lý chất thải y tế viện khoa học y tế Ấn Độ cho thấy:Kiến thức đạt của nhà khoa học 86%, y tá 80%, nhân viên vệ sinh 71% Thái
độ đúng của nhà khoa học 95%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 76% Thựchành tốt của nhà khoa học 82%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 48% [10]
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của phân loại chất thải ysinh học trong cán bộ y tế của bệnh viện cấp đại học ở Ấn Độ do Sanni vàcộng sự năm 2005 cho thấy: Kiến thức đúng của bác sỹ là 61%, điều dưỡng là57%, thái độ đúng của bác sỹ là 70%, điều dưỡng là 98%, thực hành đúng củabác sỹ là 77%, điều dưỡng là 100% [11]
Kết quả nghiên cứu của Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg về Kiếnthức, thực hành của các bác sỹ và y tá do Basu Debashis, Ramokate Tuduetso[12] cho thấy: Kiến thức đạt 98,5%, thực hành tốt đạt 95%
Một nghiên cứu khác của Kishose J và cộng sự năm 2014 với đối tượng
là cán bộ y tế tại 116 viện dưỡng lão ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn
Độ đã cho thaasy41,7% CBYT có kiến thức đúng về thu gom RTYT để đảmbảo sức khoẻ, ngăn ngừa lây nhiễm cho cộng đồng Nghiên cứu phân tích sâu
về kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế đối với thu gom rác thải [13]
Một nghiên cứu kiến thức, nhận thức và thực hành tiêm an toàn và quản lý,
xử lý chất thải y tế trong giảng dạy nhân viên bệnh viện ở phía Đông nam Nigeria
Trang 17do Enwere, Diwe [14] cho thấy: Chỉ có 45% vẫn đậy nắp kim tiêm sau sử dụngnhưng không phân loại, 54% đã nghe hoặc nhìn thấy mầu hoặc mã thùng Chỉ có25% với chấn thương châm kim có điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.
Với một nghiên cứu về kiến thức và thái độ, thực hành của nhân viên y
tế hướng tới quản lý chất thải tại Bệnh viện Đại học Cairo do tác giả Hakin,Mohsen, Bakr [15] kết quả cho thấy: Y tá có điểm thực hành đạt 84%, bác sỹ63% Nghiên cứu nhận thức và thực hành về quản lý chất thải chăm sóc sứckhỏe giữa các nhân viên bệnh viện tại một bệnh viện Đại học y tế Bangalore
do Suwarna, Madhukumar, Ramesh và cộng sự [16] kết quả cho thấy: Nhậnthức đạt của bác sỹ 76,8%, của y tá 81,9%, nhận thức chung đạt là 95,8%
Nghiên cứu phát triển một giao thức quản lý chất thải dựa trên đánh giá
về kiến thức và thực hành của nhân viên y tế tại các khoa phẫu thuật doMostafa, Shaly, Sharief [17] kết quả cho thấy: Chỉ có 27,4% y tá, 32,1% quảngia và 36,8% các bác sỹ có kiến thức thỏa đáng Liên quan đến thực hành18,9% của các y tá, 7,1% của các quản gia và không ai trong các bác sỹ đãthực hành đầy đủ
Các kết quả của việc xem xét hiện tại cho thấy kiến thức và trình độnhận thức của các đối tượng là không đầy đủ và có sự thay đổi đáng kể trongthực tế và quản lý, xử lý chất thải giữa các nghiên cứu khác nhau Quản lý antoàn và hiệu quả chất thải không chỉ là một điều cần thiết hợp pháp mà là mộttrách nhiệm xã hội Tiếp tục chương trình giáo dục và đào tạo các khóa họcngắn hạn về lây nhiễm chéo và quả lý chất thải y sinh học là phương tiệnthích hợp của việc nâng cao kiến thức Quản lý chất thải y sinh học phải đượcthực hiện nghiêm túc và giám sát có hệ thống
Trang 181.3.2 Kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Việc quản lý chất thải y tế ngày càng được xã hội quan tâm đặc biệt làcác chất thải có chứa mầm bệnh.Chất thải y tế nếu khôngđược quản lý, xử lýtốt sẽ là nguồn lây nhiễmnguy hiểm cho con người Để quản lý hiệu quản chấtthải y tế, cần thực hiện đồng bộ nhiều khâu từ khi chất thải phát sinh cần đượcphân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý ban đầu và xử lý triệt để chất thải y
tế Việc thu gom, phân loại ngay tại nguồn phát sinh chất thải và xử lý banđầu, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại sẽ giảm thiểu được nguy cơ lây bệnhcho NVYT và tiết kiệm rất lớn chi phí cho các cơ sở y tế Để thực hiện đượcđiều này, giải pháp hiệu quả là tăng cường nhận thức và thực hành của nhânviên y tế trong quản lý và xử lý chất thải y tế
Thời gian gần đây qua thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhànước về môi trường đã phát hiện một số bệnh viện chưa làm tốt công tác quản
lý, xử lý đã để một số nhân viên lợi dụng sơ hở đưa một số vật tư y tế đã qua
sử dụng bán ra bên ngoài để tái sử dụng dẫn đến không đảm bảo chất lượng,
vệ sinh gây ra những hậu quả khôn lường cho người tiêu dùng… Để xảy rađiều này là do nhân viên y tế một phần do lợi ích cá nhân trước mắt, công tácquản lý CTYT chưa được chặt chẽ, vấn đề tuyên truyền phổ biến chính sáchpháp luật về quản lý chất thải y tế cho cán bộ công nhân viên bệnh viện chưađược thường xuyên Để tăng cường công tác quản lý chất thải y tế trong bệnhviện Bộ Y tế đã ra chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 6/7/2015 về việc tăng cườngquản lý chất thải y tế trong bệnh viện
Một nghiên cứu gần đây của Sở y tế Hà Nội tiến hành từ năm 2009 đến
2010 với 74 bệnh viện tại Hà Nội về thu gom, phân loại chất thải y tế cho thấy,nhìn chung phần lớn các bệnh viện đều đã triển khai theo yêu cầu của quy chế
Trang 19quản lý chất thải y tế về việc sử dụng bao bì, túi, thùng đựng theo mã màu quyđịnh, một số bệnh viện chưa thực hiện với lý do: nguồn kinh phí hạn chế…
Bảng 1.1 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện
trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2010
(%)
Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
Kết quả nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiếnthức, thực hành của NVYT Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 doHoàng Thị Thúy và cộng sự [19] cho thấy: Kiến thức chung đạt về quản lýchất thải 86.6% Thực hành tốt phân loại chất thải 82.4%.Những người cókiến thức tốt hơn thì thực hành tốt hơn
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT trongquản lý và xử lý chất thải y tế tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc do NguyễnVăn Chuyên và cộng sự năm 2012 cho thấy: Kiến thức đạt chiếm 79,4%, tỷ lệnày ở bác sỹ là 82,4%, ở điều dưỡng là 76,8% Thái độ đúng chiếm 75,6%, tỷ
lệ này ở bác sỹ là 79,2%, ở điều dưỡng 72,4% Thực hành đạt là 71,9%, trong
đó ở bác sỹ là 76,8%, điều dưỡng là 67,8% [20]
Trang 20Theo nghiên cứu của Trần Thị Kiệm năm 2012 về đánh giá thực trạngthu gom và phân loại CTRYT tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòngcho thấy 91,7% CBYT thực hành phân loại CTRYT, 91,6% thực hành đúng
về thu gom rác thải [21]
Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành của điềudưỡng, hộ lý trong công tác phân loại và thu gom CTRYT tại bệnh viện IILâm Đồng của tác giả Hoàng Trung Lập và cộng sự năm 2013 cho thấy:Kiến thức đạt của điều dưỡng là 99,4%, hộ lý là 97,4% [22]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Điệp năm 2013 vềthực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan đến kiến thức,thực hành của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh cho thấy:98,3% các khoa, phòng phân loại chất thải theo đúng quy định của Bộ Y tế,96,7% thực hiện thu gom chất thải y tế đạt Toàn viện chỉ có 13,3% sử dụngdụng cụ bao bì đạt, 61% nhân viên hiểu được các khâu phân loại, 76,4% thựchành phân loại đạt [23]
Qua kết quả nghiên cứu kiến thức, thực hành về phân loại, thu gom chấtthải rắn y tế của cán bộ điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm
2014 của tác giả Hoàng Thị Định cho thấy 84% và 78,3% cán bộ điều dưỡng
có kiến thức và thực hành đạt về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế [24]
Theo nghiên cứu của Chu Thị Luyến tại bệnh viện Tim Hà Nội chothấy có 89,5% CBYT có kiến thức đạt về quản lý chất thải nhưng chỉ có81,5% thực hành đúng về phân loại rác thải khi tiêm, thay băng, có 6,9% thựchành đúng khi phân loại chai, lọ đựng thuốc và chỉ có 75% CBYT thực hànhđúng thu gom chất thải [25]
Theo thông tin từ Cục quản lý môi trường - Bộ Y tế đưa ra tại Hội nghịtập huấn công tác Quản lý chất thải y tế (tháng 4/2015) Theo đó tại 35 bệnhviện tuyến Trung ương thì có 22 bệnh viện có hợp đồng với Công ty xử lýchất thải rắn, còn 13 bệnh viện (37%) tự xử lý, có 6 bệnh viên chưa có hệ
Trang 21thống xử lý nước thải mà xả trực tiếp ra môi trường đặc biệt số bệnh viện nàyđều nằm trong nội thành và ở nơi đông dân cư ẩn họa trong đó là rất nhiềumầm bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân.
Việc xử lý chất thải y tế đòi hỏi người đứng đầu cơ sở y tế phải có tráchnhiệm lớn trong việc ra quyết định xây dựng bể xử lý nước thải hay hợp đồngvới các công ty xử lý chất thải y tế Việc tập huấn, nâng cao kiến thức, thựchành trong công tác xử lý ban đầu cũng rất cần thiết
1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế:
Hầu hết các bệnh viện 90,9% chất thải rắn được thu gom hàng ngày, một
số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gây khó khăn trong việc thiết kế lối điriêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vậnchuyển trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải cómái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải
* Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo
Quá trình phân loại, thu gom, xử lý CTYT ở các bệnh viện chị ảnhhưởng rất nhiều từ sự quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo bệnh viện Khi có sựquan tâm, ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện thì việc đề xuất các khóa học, tậphuấn, việc trang bị những phương tiện làm việc cùng với trang bị bảo hộ laođộng được đầu tư hơn Từ đó đảm bảo đầy đủ về nhân lực, vật lực và chi phí
để đảm bảo công tác xử lý đó sẽ đảm bảo đạt kết quả cao
Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn bệnhviện xây dựng đường lối, chính sách phát triển và vận hành hệ thống xử lý rácthải tại bệnh viện Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn với các thành viên phầnlớn là cán bộ điều dưỡng trưởng các khoa, phòng có nhiệm vụ giám sát, đềxuất các biện pháp quản lý chất thải y tế…
Trang 22* Công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra giám sát có vai trò quan trọng trong công tác xử lýrác thải tại bệnh viện Việc giám sát phải diễn ra liên tục và thường xuyên, từnơi phát sinh, phân loại, thu gom và xử lý Bộ phận được giao giám sát làmtốt sẽ đảm bảo quá trình xử lý đó được diễn ra thuận lợi và hiện quả KhoaKiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện có nhiệm vụ chính trong công tác kiểmtra, giám sát Khoa có trách nhiệm phối hợp với điều dưỡng trưởng các khoakiểm tra, giám sát công tác quản lý và xử lý chất thải y tế… định kỳ báo cáolên Sở Y tế theo quy định
Thông qua công tác kiểm tra, giám sát không chỉ làm quá trình thựchiện tốt hơn mà từ đó còn rút ra được những mặt thuận lợi và hạn chế trongcông tác xử lý rác thải để xây dựng kế hoạch tập huấn, bổ sung kiến thức,thực hành nhằm đạt kết quả tốt hơn
* Công tác tổ chức đào tạo, tập huấn
Do đặc thù ngành y tế, việc học tập, cập nhật kiến thức mới trong côngtác luôn được chú trọng và khích lệ Nếu việc đào tạo, tập huấn không hoặcchưa được triển khai sẽ có thể dẫn đến thiếu hụt kiến thức cho nhân viên y tế,cũng như ảnh hưởng đến kết quả điều trị chăm sóc cho bệnh nhân
Bên cạnh đó việc tập huấn kiến thức về phân loại, thu gom và xử lý rácthải cho CBYT mới và các đối tượng học sinh, sinh viên đang học tập và côngtác tại viện cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả công việc xử lý CTYT
* Trình độ học vấn
Trình độ học vấn liên quan đến thời gian học tập và chương trình họctập tại các cơ sở đào tạo về y tế Theo đó, mỗi cấp học, mỗi trình độ học đượctiếp cận với mức độ kiến thức về y học nói chung và kiến thức xử lý CTYT
Trang 23nói riêng Từ đó sẽ ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của CBYT trong việc
xử lý rác thải
Theo nghiên cứu của Trần Thị Kiệm năm 2012 về đánh giá thực trạngthu gom và phân loại CTRYT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòngtrước đây cho thấy, tỷ lệ người trong nhóm có trình độ học vấn từ cao đẳngtrở lên có kiến thức và thực hành đúng trong phân loại, thu gom cao hơnnhóm có trình độ học vấn là trung cấp [21]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Định năm 2015 về kiếnthức, thực hành về phân loại, thu gom CTRYT của cán bộ điều dưỡng Bệnhviện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2014 cho thấy
có sự liên quan rõ rệt giữa trình độ học vấn và kiến thức, thực hành trong xử
lý CYYT [24]
* Giới tính
Do đặc thù, tính chất công việc của nghề điều dưỡng đòi hỏi người cán
bộ y tế phải nhẹ nhàng, tỷ mỉ, chu đáo nên công việc này thường thích hợpvới nữ giới hơn là nam giới
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự năm 2012,nghiên cứu cho thấy nữ giới có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,4 lần nam giới [23]
Trang 24* Thâm niên công tác
Thâm niên công tác trong ngành y tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng đếnkiến thức, thực hành của cán bộ y tế trong công tác phân loại, thu gom CTYT
Theo nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thứcthực hành của nhân viên Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 do HoàngThị Thúy và cộng sự cho thấy: cán bộ y tế có thâm niên công tác trên 10 nămthì có kiến thức không đạt cao gấp 2,08 lần so với cán bộ y tế có thâm niêncông tác từ 10 năm trở xuống [19]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lại Thu Trang về thực trạng và một sốyếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Hữu NghịViệt Tiệp, Hải Phòng năm 2012 cho thấy kiến thức về phân loại, thu gom chấtthải có mối liên quan chặt chẽ tới thời gian công tác tại bệnh viện Người cóthời gian công tác càng lâu thì có kiến thức cao hơn so với những người cóthời gian công tác ít hơn [27]
* Tham gia các khóa đào tạo chuyên môn
Sự tham gia vào các khóa đào tạo, tập huấn về quản lý CTYT dẫn đếnnhững thay đổi về nhận thức, thực hành của cán bộ y tế trong công tác phânloại, thu gom rác thải Các nghiên cứu trước đây đều cho một phát hiện giốngnhau, đó là các nhân viên y tế tham gia các khóa đào tạo thì có kiến thức vàthực hành đạt cao hơn
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự năm
2011 tại 10 bệnh viện khu vực phía bắc trên đối tượng là bác sỹ, dược sỹ, y sỹ
và y tá, hộ lý cho thấy nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thiếu kiến thức,thực hành quản lý và xử lý chất thải y tế sai của nhân viên y tế là trình độ họcvấn, thâm niên công tác, tập huấn, số lần tập huấn và thời gian tập huấn.Những đối tượng có thâm niên công tác lâu năm, trình độ học vấn cao, được
Trang 25tập huấn thường xuyên thì có kiến thức và thực hành về quản lý và xử lý chấtthải tốt hơn [23].
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Văn Tĩnh năm 2012 tại babệnh viện đa khoa: huyện Hòn Đất, huyện Châu Thành, huyện An Biên củatỉnh Kiên Giang cho thấy có mối liên quan giữa tập huấn về CTYT với kiếnthức Những NVYT chưa tập huấn quản lý CTYT có kiến thứckhông đạt caogấp 2,09 lần so với NVYT tham gia tập huấn [26]
1.5 Đặc điểm của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc
Bệnh viện tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo quyết định số:5058/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2003 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.Trải qua nhiều năm khó khăn và chính thức thu dung điều trị người bệnh từngbước đi vào hoạt động từ năm 2006 Năm 2017, bệnh viện đã khám, điều trịcho 12000 lượt bệnh nhân, trong đó có 11000 bệnh nhân nằm nội trú Đồngthời bệnh viện thường xuyên tổ chức các chương trình y tế cộng đồng tới 137
xã, phường, thị trấn, trên 5000 bệnh nhân
Trang 26Kiến thức, thực hành của CBYT trong xử lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan
2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 27Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, khối hành chính và khoa
Dược thuộc Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian nghiên cứu: Từ 1/9/2018 đến 30/6/2019, trong đó thu thập số
liệu từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5/2019
2.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ cán bộ y tế ở các khoa lâm sàng, cận
lâm sàng, khối hành chính của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: CBYT có thời gian công tác tại bệnh viện từ 6tháng trở lên (vì các đối tượng vào làm việc tại bệnh viện thường họcviệc 6 tháng, trong thời gian học việc CBYT đó sẽ được một CBYTkhác hướng dẫn Sau 6 tháng khi thành nhân viên chính thức và đượcgiao phụ trách công việc)
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
CBYT có thời gian công tác dưới 6 tháng
Những CBYT không tự nguyện tham gia nghiên cứu hoặc có tựnguyện nhưng không hợp tác
Người đi vắng mà ba lần tới không gặp
- Các cấp quản lý: Đại diện ban giám đốc, lãnh đạo khoa Kiểm soátnhiễm khuẩn, khoa lâm sàng, khoa cận lâm sàng (phỏng vấn sâu)
- Sổ sách, tài liệu, hồ sơ có liên quan tới quản lý và xử lý chất thải y tế
Trang 28+ Tiêu chuẩn lựa chọn: các sổ sách, tài liệu, bệnh án, bài báo, báo cáo cóliên quan tới nội dung và chủ đề nghiên cứu.
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Tài liệu, thông tin, số liệu không có nguồn gốc rõràng hoặc không có độ tin cậy cao
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Công cụ thu thập thông tin
điền
Bộ câu hỏi tựđiềnCán bộ
quản lý
Chọn chủ đích, đại diện
Ban giám đốc, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, khoa lâm sàng, Cận lâm sàng, Hành chính, Khoa Dược
Thảo luận nhóm
Hướng dẫn thảo luân nhóm
và Biên bản ghi chép/Ghi âm
Sổ sách,
tài liệu,
hồ sơ
Chủ đích Liên quan Thống kê Bảng trống
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Thông
tin Tỷ lệ giới
Số đối tượng nghiên cứu là nam (hoặc nữ)/Tổng số đối Phát vấn
Trang 29Tổng số đối tượng nghiên cứu.
Phát vấn
Trang 30số đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu
Quan sátBảng kiểm
Trang 31Quan sátBảng kiểm
Tổng số ngày quan sát
Quan sátBảng kiểm
Tổng số ngày quan sát có túi,hộp, thùng đựng đúng loạiCTYT theo mã màu/ Tổng sốngày quan sát
Quan sátBảng kiểm
Tổng số ngày quan sát chấtthải y tế vận chuyển đúng,không để chất thải rơi vãi rangoài/Tổng số ngày quan sát
Quan sátBảng kiểm
Tổng số ngày quan sát thùngđựng chất thải được vệ sinhđúng quy định/Tổng số ngàyquan sát
Quan sátBảng kiểm
Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của CBYT trong xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Tâm thần Vĩnh Phúc năm 2018
Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện
đối với công tác quản lý chất thải y tế
Phỏng vấnsâu
Trang 32Công tác kiểm tra, giám sát của
khoa chức năng đối với công tác
kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
và quản lý chất thải y tế
Phỏng vấnsâu
Mối liên quan giữa kiến thức/thực
hành và nhóm tuổi
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa giới (nam/nữ)
với kiến thức/thực hành
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa trình độ với
kiến thức/thực hành
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa nơi công tác với
kiến thức/thực hành
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa tham gia lớp tập
huấn về quản lý chất thải y tế trong
năm qua với kiến thức/thực hành
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa thâm niên công
tác (<5 năm và ≥5 năm) với kiến
thức/thực hành
OR=
(p)
Phát vấnQuan sátMối liên quan giữa kiến thức
Trang 33a: Số đối tượng nghiên cứu có kiến thức/thực hành đạt có mang các yếutốảnh hưởng (nhóm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác,
bộ phận công tác, tham gia lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế…)
b:Số đối tượng nghiên cứu có kiến thức/thực hành không đạt có mangcác yếu tố ảnh hưởng (nhóm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niêncông tác, bộ phận công tác, tham gia lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế…).c: Số đối tượng nghiên cứu có kiến thức/thực hành đạt không mang cácyếu tố ảnh hưởng (nhóm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên côngtác, bộ phận công tác, tham gia lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế…).d: Số đối tượng nghiên cứu có kiến thức/thực hành không đạt không mangcác yếu tố ảnh hưởng (nhóm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niêncông tác, bộ phận công tác, tham gia lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế…)
2.6 Một số tiêu chuẩn đánh giá, phân loại trong nghiên cứu.
2.6.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế
Thang điểm cho các biến số nghiên cứu: Tiêu chuẩn đánh giá dựa trênQuyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y
tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
Dựa theo cách cho điểm của tác giả Nguyễn Văn Tĩnh [37] nhómnghiên cứu đưa ra cách cho điểm kiến thức về quản lý chất thải y tế như sau:
Kiến thức: Mỗi kiến thức đạt sẽ được 1 điểm, kiến thức chưa đạt là 0
điểm Tổng số điểm tối đa là 45 điểm Phân loại:
- Kiến thức đạt: khi đạt từ 70% tổng số điểm trở lên (≥ 32 điểm)
- Kiến thức chưa đạt: khi đạt < 70% tổng số điểm trở xuống (< 32 điểm) Quan sát thực hành:
Trang 34Thực hành phân loại: Quan sát các đối tượng phân loại CTRYT trong
quá trình thực hiện các quy trình tiêm truyền và thay băng
Phân loại đạt: Khi bông, vỏ thuốc, băng gạc, vỏ bao bì đựng các vật
tư… vào túi hoặc thùng theo quy chuẩn phân loại màu sắc (màu đen đựng:chất thải hóa học nguy hại; màu vàng đựng: chất thải lây nhiễm; màu xanhđựng: chất thải thong thường; màu trắng đựng: chất thải tái chế) và không rơivãi ra ngoài Kim tiêm, dao mổ rạch chích vết thương… phải bỏ vào thùnghoặc hộp đựng vật sắc nhọn (đảm bảo đúng tiêu chuẩn, quy định)
Phân loại thu gom đạt: quan sát các nhân viên thu gom rác từ nơi phát
sinh đến các thùng đựng hoặc nhà tập trung rác bằng bảng kiểm Chất thảiđược thu gom vào đúng thùng có màu sắc phù hợp, không vượt quá giới hạncho phép, không rơi vãi ra ngoài Thùng có nắp đậy, có bàn đạp chân, có vạchđịnh mức…
2.6.2 Tiêu chuẩn phân loại theo thời gian công tác
Trong nghiên cứu phân thời gian công tác của CBYT thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm CBYT có thời gian công tác < 5 năm
- Nhóm 2: Nhóm CBYT có thời gian công tác ≥ 5 năm.
2.7 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Đối tương
nghiên cứu
Phương pháp TTTT
phỏng vấn cá nhân
Kiến thức về XLXTR
CBQL Thảo luận nhóm Hướng dẫn TLN
+ Biên bản/ghi âm
- Kiến thức về XLXTR
- Mối liên quan
Sổ sách thông kê Thống kê Bẩng trống Biến độc lập cho
Trang 35tương quan đơn biến
Cá nhân CBYT Quan sát thực
hành
Bảng kiểm Thực hành
XLCTQuy trình xử lý/
Vật cụ thể
2.7.1 Đánh giá kiến thức của cán bộ y tế
Đánh giá kiến thức của cán bộ y tế bằng phương pháp phát vấn: sửdụng bộ câu hỏi tự điền Phiếu trả lời được thu và kiểm tra chất lượng điềnphiếu ngay sau khi các đối tượng nghiên cứu hoàn thành
Quy trình thu thập được tiến hành như sau:
- Điều tra viên là các điều dưỡng - kỹ thuật viên trưởng tại các khoa, phòng.+ Điều tra viên giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, xin ý kiến đồng
ý chấp thuận tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu, hướng dẫn cáchtrả lời cho các câu hỏi, giải đáp thắc mắc của đối tượng tham gia nghiên cứu
+ Điều tra viên giám sát các đối tượng trả lời câu hỏi, phiếu trả lời đượcthu lại và kiểm tra chất lượng điền phiếu ngay sau khi các đối tượng nghiêncứu hoàn thành
2.7.2 Đánh giá thực hành của cán bộ y tế
* Phương tiện phân loại:
- Túi, hộp đựng vật sắc nhọn, các dụng cụ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
+ Túi đựng phải có đầy đủ màu sắc theo quy định, kích thước phù hợpvới lượng chất thải phát sinh
+ Hộp đựng vật sắc nhọn hoặc hộp nhựa để tái sử dụng nhưng phảiđảm bảo đúng quy trình làm sạch, khử khuẩn theo quy định