Họ là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, có nhiều tác phẩm đạt giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, của Uỷban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật
Trang 15 Phương pháp nghiên cứu
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO THƠ CA DÂN TỘC THÁI
1.1 Thơ ca dân tộc Thái trước năm 1945
THƠ CA DÂN TỘC THÁI THỜI KỲ HIỆN ĐẠI
Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc- quê hương của người dân tộc Thái 55Hình ảnh con người được khắc hoạ chân thực và cảm động 65Những nét phong tục, tập quán đậm đà bản sắc Thái 72
CHƯƠNG III
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA THƠ CA DÂN TỘC THÁI THỜI KỲ HIỆN ĐẠI
Sự ảnh hưởng của truyện thơ dân gian trong thơ ca Thái hiện đại 92
Sự vận dụng sáng tạo và hiệu quả vốn tục ngữ, ca dao Thái 100Một số đặc điểm ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ ca Thái hiện đại 104
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO Vietluanvanonline.com Page 1
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một bộ phận hợp thành của nền văn học Việt Nam, thơ ca các dân tộcthiểu số đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển chung của nềnthơ ca Việt Nam hiện đại Điều này đã được Nghị quyết Trung ương V (khoá
VIII) đánh giá “văn học các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể Đội ngũ
những nhà văn hoá người dân tộc thiểu số phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, đã có những đóng góp quan trọng vào hầu hết các lĩnh vực văn học nghệ thuật” Thực tế cho thấy, thơ ca các dân tộc thiểu số đã trở thành một
phần không thể thiếu được trong nền thơ ca dân tộc, và diện mạo của nền thơ
ca Việt Nam hiện đại chỉ có thể được nhìn nhận một cách trọn vẹn trong mộtchỉnh thể thống nhất mà đa dạng, phong phú bao gồm trong đó có thơ ca cácdân tộc thiểu số
Với nền tảng là kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng, các dântộc thiểu số đã xây dựng một nền văn học hiện đại đa sắc, đa màu, có nhiềuthành tựu cả về đội ngũ và tác phẩm Nhiều dân tộc đã có những tác giả tiêu
biểu đại diện cho tiếng nói và bản sắc văn hoá của dân tộc mình như: dân tộc
Dao có Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn ; dân tộc Tày có Nông Quốc Chấn, Y
Phương, Dương Thuấn ; dân tộc Thái có Cầm Biêu, La Quán Miên, Lò Cao Nhum ; dân tộc Giáy có Lò Ngân Sủn ; dân tộc Mông có Ma A Lềnh, Mùa
A Sấu; dân tộc PaDí có Pờ Sảo Mìn… ; dân tộc Mường có Vương Anh, Đinh Lăng Lượng ; dân tộc Chăm có Inrasara
Là một thành viên của đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Thái
có địa bàn cư trú chính ở vùng thượng lưu sông Thao (nậm Tào), sông Đà (nậm Tè), sông Mã miền Bắc Việt Nam Người Thái tự hào có nền lịch sử,
văn hoá lâu đời, có chữ viết cổ, nền văn học phong phú, trong đó nổi tiếng với
Trang 3Vietluanvanonline.com Page 3
Trang 4các truyện thơ Xống chụ xôn xao, Khum lú- Nàng Ủa, Tản chụ xiết sương, hay sử thi Chương Han, Khun Chưởng, Táy pú xấc…Dân tộc Thái đã góp
phần vào sự hình thành những giá trị về nhiều mặt cho đời sống văn hoá dântộc, trong đó có những sáng tác văn học độc đáo mang nét đặc trưng riêngcủa người Thái
Cùng với đội ngũ nhà văn của các dân tộc anh em khác, các nhà thơ, nhàvăn dân tộc Thái đã góp phần đưa tiếng nói tâm hồn của dân tộc vượt qua núicao, sông sâu để hoà nhịp vào sự phát triển của nền thơ ca hiện đại như CầmBiêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó, Lò Văn Cậy, Vương Trung, Cầm Hùng,
La Quán Miên, Sa Phong Ba, Cầm Bá Lai, Lò Cao Nhum, Cà Thị Hoàn…Họ
là các thế hệ nhà văn song hành cùng các thời kỳ phát triển của văn học dântộc Thái Trong đó, có người vừa sáng tác thơ, vừa viết tiểu thuyết, vừanghiên cứu sưu tầm, giới thiệu văn học dân gian, vừa viết truyện, ký Và ởlĩnh vực nào họ cũng có những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, thơ là một địahạt thành công và có giá trị hơn cả của văn học dân tộc Thái thời kỳ hiện đạitrên cả phương diện đội ngũ và tác phẩm Có thể kể đến các nhà thơ dân tộcThái tiêu biểu như: Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Lò Văn Cậy, Vương
Trung, Lò Vũ Vân (Sơn La), La Quán Miên (Nghệ An), Lò Cao Nhum (Hoà
Bình) Họ là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, có nhiều tác phẩm đạt giải
thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, của Uỷban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam hay của HộiNhà văn Việt Nam…
Mặc dù so với các nhà thơ dân tộc Kinh, đội ngũ các nhà thơ dân tộcThái còn khiêm tốn nhưng họ đã góp một tiếng nói riêng đối với nền thơ caViệt Nam hiện đại nói chung, thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng Theo khảosát của chúng tôi, số lượng các nhà văn, nhà thơ dân tộc Thái đông thứ hai
trong số các nhà thơ, nhà văn người dân tộc thiểu số (sau dân tộc Tày) Có
Trang 5Vietluanvanonline.com Page 5
Trang 6nhiều cây bút đã gắn liền với sự hình thành và phát triển của văn học các dântộc thiểu số Việt Nam, có nhiều tác giả, tác phẩm của dân tộc Thái đã đượcgiới nghiên cứu, phê bình và bạn đọc yêu mến, khẳng định.
Được nuôi dưỡng từ nôi văn hoá giàu bản sắc, thơ ca dân tộc Thái thời
kỳ hiện đại đã từng bước khẳng định vị trí của mình trong sự phát triển củanền thơ ca Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, cho đến nay việc nghiên cứu, đánhgiá về thơ văn dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Thái nói riêng vẫnchưa xứng đáng với tầm vóc và thành tựu của nó Nhà thơ Lò Ngân Sủn nói
đến tình trạng “bất cập, hẫng hụt” trong đời sống phê bình văn học các dân tộc thiểu số qua bài viết “Viết về văn học các dân tộc thiểu số - một công việc
ít được quan tâm” Riêng đối với việc nghiên cứu, phê bình thơ ca dân tộc
Thái thời kỳ hiện đại thì cũng nằm trong tình trạng “bất bình đẳng” như vậy:
“việc tổ chức, sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu chưa được tiến hành liên tục,
rộng khắp” [52, tr.12] Vì thế, việc nghiên cứu đặc điểm thơ ca dân tộc Thái
thời kỳ hiện đại dưới góc độ khoa học sẽ góp phần khẳng định những đónggóp về mặt nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thơ ca dân tộc Thái,
mặt khác cũng làm xoá đi tâm lý “chiếu cố” (Lâm Tiến) khi nghiên cứu văn
học dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Thái nói riêng
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ ca dân tộc Thái hiện đại, luận văn chỉ ramột số đặc điểm cơ bản của thơ ca dân tộc Thái về nội dung và hình thứcnghệ thuật Đó là hình ảnh thiên nhiên, quê hương, con người, bản mườngcùng với những phong tục, tập quán giàu bản sắc của dân tộc Thái Vẻ đẹphoang sơ, kỳ vĩ, thơ mộng của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc; Sự dung dị,chân thành, nhân ái, khéo léo và tài hoa của con người miền núi theo cáchcảm nhận riêng của những nhà thơ Thái Bên cạnh việc chỉ ra một số đặcđiểm nội dung cơ bản, luận văn cũng khẳng định nét riêng độc đáo về nghệthuật trong thơ Thái hiện đại, đó là những tác phẩm có sự kết hợp, kế thừanhững lời thơ giàu hình ảnh, nhạc lý của văn học và văn hóa dân gian Thái
Trang 7Vietluanvanonline.com Page 7
Trang 8với cá tính sáng tạo mới mẻ, hiện đại của các nhà thơ Thái Từ đó góp phầnkhẳng định vị trí và những đóng góp độc đáo của thơ Thái hiện đại đối vớinền thơ ca các dân tộc thiểu số nói chung một cách khách quan, thuyết phục.Ngoài ý nghĩa khoa học, đề tài có tính thực tiễn quan trọng, đó là gópthêm một tiếng nói vào việc gìn giữ, bảo tồn những nét đẹp của bản sắc vănhoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đang bị mai một dần qua việc nghiên cứumột cách hệ thống, toàn diện về thơ ca dân tộc Thái hiện đại (cũng như một
số các dân tộc khác), bởi đây là một công việc cụ thể, có ý nghĩa cho nhữngngười có ý thức về sự hiện diện và vai trò của thơ ca các dân tộc thiểu số ViệtNam hiện đại như ý kiến của nhà thơ, nhà nghiên cứu dân tộc thiểu số Dương
Thuấn “Hiện nay đã có một vài tác giả người dân tộc thiểu số làm công việc
phê bình nghiên cứu nhưng còn yếu và lẻ tẻ Nên nghiên cứu theo hướng đi sâu vào từng tác giả, từng dân tộc hơn là nghiên cứu chung chung như hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu từng tác giả, từng dân tộc sẽ đánh giá một cách
hệ thống từng tác giả hoặc từng vùng văn học” [35].
Ngoài ra, luận văn còn phục vụ trực tiếp cho việc học tập, nghiên cứukhoa học và góp phần vào việc giảng dạy văn học dân tộc thiểu số ở trườngtrung học phổ thông, cao đẳng, đại học
2 Lịch sử vấn đề
Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với thơ ca của dân tộc Kinh nhưng thơ cacác dân tộc thiểu số đã có một quá trình phát triển và đã đạt được một số
thành tựu nhất định “Chúng ta đã có một nền văn nghệ dân tộc thiểu số thực
sự trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại Tuy còn non trẻ nhưng đã có lực lượng, thành tựu qua mấy chục năm phát triển” [9] Song
việc phê bình, nghiên cứu văn học các dân tộc thiểu số hiện nay ở nước ta còn
nhiều hạn chế, còn đang lâm vào tình trạng “rời rạc, lẻ tẻ, chắp vá ” [69,
tr.27] Vì vậy, nhiều tác giả, tác phẩm chưa được chú ý, nhiều thực tế phong
Trang 9Vietluanvanonline.com Page 9
Trang 10phú chưa được tổng kết, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được xem xét, nghiên cứu cặn kẽ, thấu đáo.
Tuy nhiên, đến nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu, đánh giá vềvăn học các dân tộc thiểu số, trong đó có văn thơ Thái hiện đại như trong các
cuốn: Đường chúng ta đi (NXB Việt Bắc, 1972), Một vườn hoa nhiều hương
sắc (NXB Văn hoá, 1977), Chặng đường mới (NXB Văn hoá, 1985) của
Nông Quốc Chấn; Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số Việt Nam
1945-1985 (NXB Văn hoá, 1981); 40 năm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam của Phong Lê (NXB VHDT, 1985), Văn học các dân tộc- từ một diễn đàn (1999) của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (NXB VHDT,1995), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (NXB VHDT, 1997), Về một mảng văn học dân tộc (NXB VHDT, 1999), Văn học và miền núi (NXB VHDT, 2002) của
Lâm Tiến, Hoa văn thổ cẩm (NXB VHDT, 1999), Thơ của các nhà thơ dân
tộc thiểu số (NXB VHDT, 2001), Vấn đề đặt ra với các nhà thơ dân tộc thiểu
số (NXB VHDT, 2002) của Lò Ngân Sủn, Nhà văn các dân tộc thiểu số- Đời
và văn (NXB VHDT 2003) của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
Việt Nam, Văn hoá các dân tộc thiểu số- Từ một góc nhìn (NXB VHDT
2004) của Vi Hồng Nhân…và một số bài viết về văn học các dân tộc thiểu số
đăng rải rác trên các báo, tạp chí như: Văn học thiểu số trước thềm thế kỷ XXI của Mai Liễu, Bản sắc dân tộc- Nỗi lo của người cầm bút của Triệu Kim Văn; Để văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có chất lượng
ngang tầm với văn học nghệ thuật cả nước và Tôi muốn văn học các dân tộc thiểu số nổi lên của Lò Ngân Sủn; Nét mới của văn học các dân tộc thiểu số
của Dương Thuấn (đăng trên Tạp chí Văn hoá dân tộc); Văn học các dân tộc
thiểu số trong quá trình đổi mới của Đỗ Kim Cuông (Báo Đảng Cộng sản
Việt Nam); Nhìn lại văn nghệ các dân tộc thiểu số của Nông Quốc Bình (Báo Nhân dân); Kế thừa và phát huy vốn văn hoá dân tộc trong sáng thơ của các
Trang 11Vietluanvanonline.com Page 11
Trang 12tác giả dân tộc thiểu số hiện nay của Vương Anh (Tạp chí xứ Thanh) hay Văn học các dân tộc thiểu số còn một khoảng trống của Trần Thảo (Báo Khoa
học và Đời sống)…
Có thể nói rằng, văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng đãthu hút được sự quan tâm nhất định của các nhà nghiên cứu, phê bình vănhọc, tuy nhiên, so với số lượng các công trình nghiên cứu đồ sộ về thơ ca, vềvăn học Việt Nam hiện đại nói chung thì số lượng tác phẩm, công trình tổngkết, đánh giá về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam còn rất khiêm tốn,trong đó, số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu, phê bình về thơ cadân tộc Thái lại càng ít ỏi Những công trình, chuyên đề, bài viết trên đây đãnêu lên được những thành tựu, những đóng góp của văn học các dân tộc thiểu
số trong đó ít nhiều có đề cập đến thơ dân tộc Thái hiện đại nhưng mới chỉdừng lại ở mức độ sưu tầm, giới thiệu một cách khái quát về thơ dân tộc Thái
như “Dân tộc Thái với các gương mặt thơ: Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Lương
Quy Nhân, Vương Trung, Lò Cao Nhum, Cầm Bá Lai…Với những bài thơ, truyện thơ dạt dào cảm xúc, giàu bản sắc, đầy ắp chất trữ tình và đôi khi có những triết luận, sắc sảo, độc đáo…” [65]; hoặc là sự ghi nhận những gương
mặt tiêu biểu của văn học các dân tộc thiểu số nói chung trong đó có nhà văn
dân tộc Thái “Thơ dân tộc thiểu hiện đại đang có những đại diện xứng đáng
như Y Phương, Dương Thuấn (Tày), Lò Ngân Sủn (Giáy), Vương Anh (Mường), Triệu Kim Văn (Dao), Lò Cao Nhum (Thái) Họ đã góp phần làm nên diện mạo thơ Việt Nam hiện đại” (Nguyễn Thị Thu Hiền- Chúng ta đã có
một nền văn nghệ dân tộc thiểu số); hay việc giới thiệu những tác phẩm tiêu
biểu: “Thơ dân tộc thiểu số đã từng có tác phẩm đỉnh cao: Muối Cụ Hồ (Bàn
Tài Đoàn), Em là con gái Châu Yên (Cầm Giang), Ing éng (Vương Trung), Đất, Dốc, Núi (Lương Quy Nhân), Hoa trong Mường (Vương Anh), Đi tìm bóng núi, Cực tình (Dương Thuấn), Rượu núi (Lò Cao Nhum)…” [71].
Trang 13Vietluanvanonline.com Page 13
Trang 14Ngoài ra, việc lấy văn hoá Thái làm đối tượng nghiên cứu bước đầu
cũng được quan tâm, thể hiện ở một số công trình, bài viết như: “Người Thái
gửi gắm tâm hồn mình vào lời ca, điệu khắp Chính những bài khắp, điệu pí
đó đã nâng họ vượt lên bề mặt cuộc sống vốn gian lao, vất vả, tiếp thêm sức mạnh cho họ bay bổng vươn lên” [29, tr.250]; “Thẩm mỹ Thái qua trang phục biểu hiện một tâm hồn tinh tế, một sự rung cảm sâu xa của cộng đồng trong giới tự nhiên và chính bản thân con người” [29, tr.294]; “Nhà sàn Thái là biểu tượng cho sự tài hoa của con người, vừa đậm tính thẩm mỹ cao vừa kết hợp hài hoà vẻ đẹp tự nhiên với đất trời” [45, tr.24) Ngoài ra còn có một số
công trình, bài nghiên cứu có liên quan như: Lễ “Khửn cẩu”- nét đẹp văn
hoá truyền thống của người Thái của Tô Hợp [22]; Ẩm thực Thái- Sự giao hoà với thiên nhiên- dân tộc và thời đại của Tố Minh [50]; “Người Thái cúng vật nuôi ngày tết” của La Quán Miên [47]; “Cách làm đẹp của các cô gái Thái” của Hà Lâm Kỳ, “Tục cúng vía của người Thái đen” của Hoàng Hạnh
[33] …Những bài viết, công trình này chủ yếu đề cập tới những phong tục tậpquán của dân tộc Thái và nhấn mạnh đến nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Tháichứ không đi sâu vào bình diện nội dung hay nghệ thuật thơ dân tộc Thái.Một số các tác giả người dân tộc Thái đã được giới phê bình chú ý và có
những đánh giá như: “Cầm Biêu vẫn giữ được phong cách của một người
làm thơ dân tộc trước đây ông luôn luôn có ý thức dùng hình thức thơ ca truyền thống để thể hiện con người và cuộc sống hôm nay ” [84, tr.132];
“Thơ Cầm Biêu xứng đáng là chiếc cầu nối cho các dân tộc anh em trong đất nước ta đến với nhau ” [11, tr 361]; “Những bài thơ hay của các tác giả dân tộc thiểu số thường là ngắn, có khi rất ngắn, các bài thơ của Cầm Bá Lai cũng vậy: Bài Con tép- 5 câu, Buồn- 7 câu, Chim bìm bịp- 7 câu, Rượu- 15 câu ” [65, tr.96]; “Lò Cao Nhum vừa xuất hiện đã có thể đứng ngang hàng với mọi bậc đàn anh ” [ 28, tr.413]…hay là việc phân tích, bình giảng một
tập thơ hoặc một số bài thơ của các nhà thơ dân tộc Thái như: “Hạt muối hạt
tình (Lò
Trang 15Vietluanvanonline.com Page 15
Trang 16Văn Cậy) nảy nở cùng cách mạng, cùng với sự đổi đời của dân tộc, được khơi gợi từ cuộc sống, chiến đấu, lao động và từ những áng văn học dân gian dân tộc” [65, tr.18]; “Đời đời nhớ ơn Bác (Lương Quy Nhân) diễn đạt tình cảm mộc mạc, chân thành như đời sống vốn có của người dân miền núi, khái quát một giai đoạn đồng bào dân tộc Tây Bắc đi theo Đảng, Bác Hồ làm cách mạng ” [3]; “Không thể nói thơ Lò Vũ Vân là một giọng thơ vui, hào sảng nhưng nó vẫn lóng lánh niềm tự hào về quê hương, đất nước, về dân tộc và con người Tây Bắc ”[40, tr.16]…Có thể nhận thấy, những công trình, bài
viết trên đây mới chỉ dừng lại ở phạm vi bình giảng, phân tích một (hoặc mộtsố) bài thơ tiêu biểu của một số tác giả mà chưa đi sâu vào phân tích, bình giánhững đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ ca dân tộc Thái hiện đại nóichung
Theo sự khảo sát của chúng tôi, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu về đặc điểm thơ ca dân tộc Thái hiện đại một cách thấu đáo và
hệ thống Đó vừa là thuận lợi nhưng cũng là khó khăn, thách thức đối vớichúng tôi khi nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu.
3 1 Mục đích
Văn học các dân tộc thiểu số là một bộ phận khăng khít, độc đáo và đặcsắc của nền văn học Việt Nam Sự phát triển phong phú, đa dạng của nó đã cónhững đóng góp đáng kể vào diện mạo chung của văn học Việt Nam hiện đại
Do đó muốn tìm hiểu những đặc điểm của thơ ca Việt Nam hiện đại, khôngthể không nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của bộ phận thơ ca các dân tộc thiểu
số Việt Nam, trong đó có thơ ca dân tộc Thái
Ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của thơ ca các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại, thơ ca dân tộc Thái đã dần khẳng định vị trí và chỗđứng của mình trên thơ đàn Việc tìm hiểu, nghiên cứu một số những đặc
Trang 17Vietluanvanonline.com Page 17
Trang 18điểm của thơ ca dân tộc Thái hiện đại từ năm 1945 đến nay góp phần tìmhiểu, soi sáng một bộ phận văn học trong bức tranh văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam, từ đó có cái nhìn tương đối đầy đủ, toàn diện về những đặcđiểm nổi bật, độc đáo của thơ ca dân tộc Thái trên các bình diện nội dung vàhình thức nghệ thuật
Từ việc nghiên cứu “Một số đặc điểm thơ ca dân tộc Thái thời kỳ hiện
đại từ năm 1945 đến nay” luận văn khẳng định những đóng góp về nội dung
cũng như về nghệ thuật thơ dân tộc Thái trong quá trình phát triển của thơ cacác dân tộc thiểu số nói riêng và sự phong phú, đa dạng của nền thơ ca ViệtNam hiện đại nói chung
- Một số tài liệu về lý luận, lý thuyết có liên quan đến đề tài
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cố gắng làm sáng tỏ và đi đến khẳng định những đặc điểm nổibật của thơ dân tộc Thái hiện đại ở hai phương diện cơ bản:
Tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên, quê hương, conngười và những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Thái được
Trang 19phản ánh và xây dựng trên cảm hứng trữ tình, ngợi ca của các nhà thơ Tháihiện
10
Vietluanvanonline.com Page 19
Trang 20đại Từ đó đi đến khẳng định những nét đặc điểm riêng của thơ ca dân tộc Thái hiện đại (so với các sáng tác của các nhà thơ dân tộc anh em khác).
Nghiên cứu một số hình thức nghệ thuật được sử dụng một cách đặc sắc
và hiệu quả như ngôn ngữ, hình ảnh…qua đó thấy được sự kế thừa và kếthợp những tinh hoa của văn hoá dân gian Thái với sự sáng tạo, cách tân củacác nhà thơ dân tộc Thái thời kỳ hiện đại
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của thơ dân tộcThái từ sau năm 1945 đến nay, luận văn đi đến khẳng định những thành công,những đóng góp của thơ dân tộc Thái đối với thơ ca các dân tộc thiểu số nóiriêng và nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương phápnghiên cứu chính sau:
5 1 Phương pháp phân tích, khái quát hoá:
Để tìm hiểu đặc điểm nội dung hay nghệ thuật của thơ ca dân tộc Tháihiện đại cần phải dụng phương pháp phân tích, khái quát hoá Từ việc phântích những tác phẩm thơ ca của một số nhà thơ tiêu biểu sẽ giúp người nghiêncứu tổng hợp và khái quát được những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệthuật của thơ ca Thái hiện đại
5 2 Phương pháp đối chiếu, so sánh:
Việc sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh nhằm tìm hiểu sự ảnhhưởng, tiếp thu có chọn lọc của các nhà thơ dân tộc Thái hiện đại với các tácphẩm của nền văn học dân gian Thái, giữa các sáng tác của dân tộc Thái vớicác nhà thơ dân tộc anh em , từ đó đi đến khẳng định những đặc điểm nổi bậtcủa thơ văn dân tộc Thái hiện đại
5 3 Phương pháp thống kê, phân loại
Trang 21Vietluanvanonline.com Page 21
Trang 22Để việc phân tích, lý giải, đối chiếu, so sánh có kết quả, cần phải thựchiện công việc thống kê, phân loại.
Ba phương pháp trên đây được sử dụng và phối hợp chặt chẽ với nhautrong quá trình nghiên cứu Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu tổng hợp khác
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung được triển khai theo 3
chương:
Chương I Một vài nét về diện mạo thơ ca dân tộc Thái
Chương II Những mạch nguồn cảm hứng nuôi dưỡng và phát triển thơ
ca dân tộc Thái thời kỳ hiện đại
Chương III Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ ca dân tộc Thái thời kỳhiện đại
Trang 23Vietluanvanonline.com Page 23
Trang 24PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I MỘT VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO THƠ CA DÂN TỘC THÁI
So với một chặng đường dài hình thành, phát triển văn học viết của
người Kinh thì “văn học viết các dân tộc thiểu số Việt Nam mới chỉ hình
thành và phát triển vào thế kỷ XX” [84, tr.138].
Trước đó, ở thế kỷ XVII, dân tộc Tày ở Cao Bằng đã có Bế Văn Phủng
và Nông Quỳnh Văn viết bản trường ca “Tam nguyên luận” và “Lượn tứ
quý”, còn vào cuối thế kỷ XIX, dân tộc Thái cũng có Ngần Văn Hoan viết
“Lời hát nền Văn Hoan” tuy nhiên, sự xuất hiện đó còn ở dạng “lẻ tẻ, không
có sự chắp nối, chất lượng tác phẩm còn mang đậm dấu vết của văn học dân gian” [81, tr.139] nên chưa đủ điều kiện hình thành một nền văn học các dân
tộc thiểu số bên cạnh nền văn học của người Kinh
Tác giả Nông Quốc Bình trong bài viết “Nhìn lại văn học nghệ thuật các
dân tộc thiểu số” [2] và tác giả Đỗ Kim Cuông trong bài “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam trong qúa trình đổi mới” [12] đều khẳng định:
Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời cùng cuộc
cách mạng tháng 8/ 1945 PGS-TS Phan Đăng Nhật trong cuốn “Văn học các
dân tộc thiểu số Việt Nam” [59] cũng lấy năm 1945 để làm mốc phân chia
giữa văn học dân gian và văn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam.Đồng nhất với các ý kiến trên, nhà nghiên cứu, phê bình văn học các dân tộc
Trang 25Vietluanvanonline.com Page 25
Trang 26thiểu số Lâm Tiến nhận định “Thơ các dân tộc thiểu số hiện đại hình thành
và phát triển từ sau năm 1945” [81, tr.94], ông thừa nhận, dù mầm mống của
văn học hiện đại các dân tộc thiểu số đã có trước cách mạng tháng 8/ 1945nhưng nó thực sự chỉ ra đời từ sau cách mạng tháng 8/1945 và ông cũng
khẳng định “thơ là thể loại xuất hiện đầu tiên” của nền văn học các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại
Như vậy, việc lấy năm 1945 là mốc ra đời của nền văn học các dân tộcthiểu số Việt Nam hiện đại là quan niệm chung nhất, phổ biến nhất của cácnhà nghiên cứu hiện nay
1.1 Thơ ca dân tộc Thái trước năm 1945
Trước cách mạng tháng 8/ 1945, văn học các dân tộc thiểu số chủ yếu làvăn học dân gian Cũng giống như nền văn học dân gian của người Kinh, vănhọc dân gian các dân tộc thiểu số gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dânlao động Nó ra đời từ trong những câu nói, lời ca, tiếng hát, trong khi lên rẫy,làm nương, quay xa, dệt vải, đánh bắt cá hoặc trong những lời tỏ tình của
nam thanh, nữ tú, trong những trò chơi hoặc giao lưu ở sân chơi “Hạn
khuống” Dọc suốt chiều dài của đất nước, ở các bản, làng, buôn, sóc đều
đã từng diễn ra mọi hình thái văn học dân gian “khi thì kín đáo ẩn nấp dưới
các mái nhà, tỉ tê bên bếp lửa gia đình, khi thì ào ạt lôi cuốn hàng mấy trăm người vào những ngày hội, ngày lễ nhộn nhịp sôi nổi” [11, tr.63].
Có thể nói, văn học dân gian các dân tộc thiểu số cũng rất đa dạng vàphong phú không kém gì nền văn học dân gian của người Kinh, những đỉnhcao của nền văn học dân gian Việt Nam cũng có sự góp mặt của văn học dân
gian các dân tộc thiểu số, có thể kể đến: Dân tộc Mường có sử thi Đẻ đất, Đẻ
nước, có dân ca Thường- Rang, Bọ- Mạng, có truyện thơ Út Lót - Hồ Liêu, Huỳ Nga - Hai Mới; Hai dân tộc Tày-Nùng có trường ca Khảm Hải- Vượt Biển, truyện thơ Nam Kim - Thi Đan, Đính Quân; Dân tộc Dao có trường ca
Trang 27Vietluanvanonline.com Page 27
Trang 28Bàn Hộ; Dân tộc Mông có Tiếng hát mồ côi, Tiếng hát làm dâu, Nàng Dơ Chà Tăng, người Chăm có Ariya Bini - Cam, Bini - Chăm; Các dân tộc ở Tây
-Nguyên có trường ca Đam San, Sinh Nhã, Kinh Dú, dân tộc Khơme có Sĩ
Thạch, Tum Tiêu, đồng bằng Sông Cửu Long có truyện cổ, dân ca…
Trong đó, dân tộc Thái cũng có những tác phẩm văn học dân gian phongphú, đa dạng, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn học dân gian cácdân tộc thiểu số nói riêng và nền văn học dân gian Việt Nam nói chung Ngônngữ dân tộc Thái thuộc ngữ hệ Tày - Thái, sớm có chữ viết và có sự ghi chépnhững sáng tác văn học dân gian trên lá, thân cây, viết bằng bút hoặc bằngmũi gai, điều đó cho thấy người Thái sớm có ý thức lưu truyền vốn văn hoádân gian và có nền văn học dân gian khá phát triển Tuy nhiên, cũng giốngnhư các dân tộc thiểu số khác, văn học dân gian của dân tộc Thái trước cáchmạng tháng 8/1945 được lưu truyền chủ yếu bằng phương thức diễn xướng,truyền miệng
Trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số, ngoài ca dao, dân
ca, tục ngữ, dân tộc Thái nổi tiếng với truyện thơ, sử thi Đây là hai loại hìnhtiêu biểu của văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Thái
nói riêng Nếu như sử thi có âm hưởng anh hùng ca, thể hiện khát khao xây
dựng cuộc sống thái bình, thịnh trị của cộng đồng dân tộc Thái trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ bản, mường thì truyện thơ mang giọng điệu trữ tình
đằm thắm, thể hiện khát vọng hạnh phúc trong cuộc sống và tình yêu lứa đôicủa người dân tộc Thái
Cùng với một số sử thi tiêu biểu như Đam San, Xinh Nhã, Đăm Đơ roăn của dân tộc Êđê, Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường, Đăm roi của dân tộc Bana , dân tộc Thái có hai sử thi nổi tiếng là Táy pú xấc” và Chương Han.
Trang 29Vietluanvanonline.com Page 29
Trang 30Táy pú xấc là tác phẩm sử thi lớn của dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Tác
phẩm có độ dài hàng ngàn câu thơ, kể chuyện “ông cha chinh chiến”, khai phá, mở mang, xây dựng bản, mường Táy pú xấc diễn tả dòng chảy lịch sử,
khắc sâu những sự kiện hào hùng nên vừa mang chất sử liệu vừa mang chất
anh hùng ca Táy pú xấc thể hiện “tư tưởng, tình cảm, tâm tư, tâm hồn của
cộng đồng dân tộc Thái đối với lịch sử” [97, tr 24].
Sử thi Chương Han còn được gọi là Khun Chưởng gồm 2940 câu, chia
thành 11 chương được lưu truyền ở vùng Tây Bắc Việt Nam Giá trị và ýnghĩa của tác phẩm tập trung ở nhân vật Chương Han- nhân vật anh hùngchiến đấu
Với sức mạnh vô song, Chương Han đã dẹp tan các bộ lạc, thống nhấttoàn bộ địa bàn cư trú và đem lại cuộc sống đời thái bình, thịnh trị cho ngườiThái:
Từ đó Chương Han được ung dung ngự trị cõi đời Mãi mãi là chúa tể đỉnh trời bao la bát ngát
Chẳng còn bầy giặc lớn nào dám về đánh phá Cả trần gian yên ổn, đẹp dạ thoả lòng
(Sử thi Chương Han)
Sử thi Chương Han không đề cập đến bi kịch của từng số phận cá nhân
mà nó đã đề cập một vấn đề của cả dân tộc, của cộng đồng Mặc dù lịch sửđương thời chưa hoàn toàn đúng với hiện thực được miêu tả trong sử thi
nhưng với tính chất lãng mạn lịch sử, sử thi Chương Han đã khái quát một vấn đề có tính chất lớn lao, đó là “Người Thái phải đoàn kết và tập hợp lại
dưới ngọn cờ của một anh hùng trong gia đình các dân tộc Việt Nam” [11,
tr.145] Chương Han là sử thi tiêu biểu, thể hiện khát khao về một cuộc sốngthái bình, thịnh trị của dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc- Việt Nam
Trang 31Vietluanvanonline.com Page 31
Trang 32Một bản anh hùng ca nổi tiếng khác của dân tộc Thái là Khun Chưởng.
Đây là một trong bộ ba anh hùng ca của người Thái ở Thái Lan, Lào và Việt
Nam Bộ ba đó là Thạo Hùng- Thạo Chương được lưu truyền ở Thái Lan, Lào; Chương Han lưu truyền ở vùng Tây Bắc Việt Nam và Khun Chưởng
lưu truyền ở vùng Nghệ An
Nếu như Thạo Hùng-Thạo Chương được đánh giá là “có tầm cỡ có thể
xếp vào trong hàng những kiệt tác văn chương thế giới, tương đương với anh hùng ca của Hy Lạp ” [59, tr.2] thì Khun Chưởng cũng được đánh giá
như “một di sản quý báu” của dân tộc Thái ở Việt Nam mà tác giả cuốn sách
“Khun Chưởng-Anh hùng ca Thái” - PGS.TS Phan Đăng Nhật đã dùng thuật
ngữ anh hùng ca để chỉ tác phẩm Khun Chưởng cũng với dụng ý đánh giá
Khun Chưởng là một kiệt tác, có thể sánh ngang với anh hùng ca nổi tiếngcủa Hy Lạp
Bên cạnh sử thi- anh hùng ca, văn học dân gian Thái có những đóng gópkhông nhỏ cho nền văn học dân gian Việt Nam nhờ những truyện thơ đạt đến
độ mẫu mực như Tản chụ xống xương (Tâm tình tiễn thương) và Khun
Lú-nàng Ủa (Chàng Lú-Nàng Ủa) và đặc biệt là Xống chụ xôn xao (Tiễn dặn
người yêu)
Xống chụ xôn xao gồm 1846 câu thơ, kể về hai nhân vật “Anh yêu” và
“Em yêu” từ khi còn trong bụng mẹ Họ được sinh ra gần như cùng một giờ,
một ngày và ở một bản Từ thủa bé thơ, họ cùng chơi bên nhau, đến tuổi hoaniên, đôi trẻ cùng ở sàn hoa Nhưng vì tục lệ hà khắc của lễ giáo phong kiến,
tình yêu của họ bị ngăn cản, “Em yêu” bị gả bán và phải sống những chuỗi ngày sóng gió Giá của “Em yêu” ngày nào đáng “vàng thoi, bạc nén”, bây giờ chỉ bằng một “cuộn lá dong” Họ gặp lại nhau trong hoàn cảnh hết sức éo le: “Anh yêu” đã có gia đình, còn “Em yêu” trở thành món hàng bị rao bán ở chợ Nhờ tiếng “đàn môi” quen thuộc, họ đã nhận ra nhau và cuối cùng họ
cũng đến được với nhau, được đoàn tụ và hạnh phúc:
Trang 33Vietluanvanonline.com Page 33
Trang 34Đôi ta lấy nhau không hề chi phận
lỡ, Không quản chi tình ế, duyên ôi
Em của anh đây vẫn mãi đẹp tươi!
(Tiễn dặn người yêu)
Có thể nói Xống chụ xôn xao là truyện thơ tiêu biểu của dân tộc Thái, đã chắt lọc được những tinh hoa của dân ca dân tộc Thái:“Bao nhiêu lời thương
nhớ, lời tự tình trai gái, đến cả lời vè, lời văn trôi cửa miệng của nhân dân dân tộc Thái đều hợp nhất vào đây” [11, tr.3] Xống chụ xôn xao là bản tình
ca ca ngợi tình yêu thuỷ chung, bất diệt của con người, là tiếng nói tâm hồn,mang cách cảm, cách nghĩ và khát vọng của người dân tộc Thái về tình yêuđôi lứa, về hạnh phúc cá nhân của con người
Với kết cấu độc đáo, tràn đầy kịch tính, ngôn ngữ kể chuyện được gọt
giũa thành lời thơ, những câu thơ gợi cảm, nhiều hình ảnh Xống chụ xôn xao xứng đáng là “một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong kho tàng thơ ca
trữ tình cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam” [11, tr.169] Sức sống và sự
truyền cảm của Xống chụ xôn xao còn ảnh hưởng lớn đến các nhà thơ dân tộc
thiểu số hiện đại mà ở chương tiếp theo chúng tôi sẽ có điều kiện để nói đến.Như vậy, dân tộc Thái vốn có một kho tàng văn học dân gian phongphú, phát triển trong đó truyện thơ, sử thi là hai loại hình tiêu biểu và có nhiều
tác phẩm đạt đến đỉnh cao Cũng có kết cấu (gặp gỡ – ly tan - đoàn tụ) của
truyện thơ hay âm hưởng ngợi ca, thủ pháp phóng đại của sử thi trong vănhọc dân gian Việt Nam, nhưng sử thi, truyện thơ dân tộc Thái còn có nhữngđặc điểm mang những nét đặc trưng tiêu biểu cho tư duy, cách diễn đạt củangười Thái
Ngoài việc thể hiện khát khao xây dựng một cuộc sống thanh bình, giàu
mạnh (sử thi Chương Han, Táy pú xấc ) và khát vọng tự do trong tình yêu, hôn nhân gia đình (truyện thơ Tản chụ xống xương, Xống chụ xôn xao ) thì
sử thi và truyện thơ dân tộc Thái còn phản ánh rất rõ những phong tục, tập
Trang 35Vietluanvanonline.com Page 35
Trang 36quán, lễ nghi của người Thái, đó là nét sinh hoạt văn hoá đời thường (ma
chay, cưới xin, lễ hội ) hay những phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng (cúng phúc thọ, cúng Mường, cúng xên cha ) của tộc người Thái.
Các loại hình văn học dân gian như sử thi, truyện thơ, ca dao, tục ngữcủa người dân tộc Thái không tách rời với những sinh hoạt văn hoá của cộngđồng người Thái Nếu như trong lao động thường nhật: trồng lúa, dệt vải,đan chài, bắt cá bà con nông dân Thái giao lưu với nhau bằng lời hát vè, ca
dao, tục ngữ , thì những bản anh hùng ca như Khun Chưởng, Chương Han hay Táy pú xấc được sử dụng rộng rãi trong lễ nghi lớn như cúng cầu thọ, cúng “xên bản”, “xên mường”, còn những truyện thơ như Tản chụ xống
xương, Tản chụ xiết xương, Xống chụ xôn xao được nam thanh, nữ tú thi tài,
hát giao duyên trong sân chơi “Hạn khuống” Như vậy, có thể thấy rằng văn
học dân gian dân tộc Thái đã phản ánh đời sống sinh hoạt và đời sống tâmhồn phong phú, đa dạng của cộng đồng dân tộc Thái với những phong tục, tậpquán, tín ngưỡng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Thái
Sử thi Thái đã thu hút cả tri thức và các sáng tạo nghệ thuật ngôn từ củadân tộc Thái: Từ những lời tục ngữ, vần, vè ngắn gọn đến các bài ca nghi lễcúng thần; từ những bài ca tục lệ trong cộng đồng đến những bài dân ca đốiđáp nam, nữ Ngôn ngữ sử thi sinh động về hình tượng, hài hoà về nhạc điệu,đối lập và kịch tính tạo nên sử thi anh hùng Đó là phong cách kỳ vĩ hoá củaphương pháp lãng mạn, thông qua các biện pháp cường điệu, phóng đại, ngoa
dụ rất phổ biến trong cách xây dựng tính cách nhân vật, miêu tả thiên nhiên.Truyện thơ được phô diễn bằng những lời thơ mang sắc thái ngôn ngữ
độc đáo của dân ca, những lời thơ giàu nhạc điệu của điệu “khắp” Cách giải
quyết thiên về phong cách lãng mạn trong kết thúc của truyện thơ không lấn
át được không khí hiện thực mang nặng tâm tư buồn tủi của lứa đôi bị trắctrở trong tình duyên dưới chế độ cũ nhưng chính không khí hiện thực mang
Trang 37nặng tâm tƣ đó đã tạo nên phong cách trữ tình đậm đà, sâu lắng cho truyệnthơ.
19
Vietluanvanonline.com Page 37
Trang 38Truyện thơ, sử thi dân tộc Thái đã góp phần đánh dấu một bước pháttriển cao và khẳng định vị trí của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Haithể loại này đã đạt được những thành tựu xuất sắc về số lượng cũng như vềchất lượng Truyện thơ, sử thi đã tập hợp được những tinh hoa các thể loạivăn học dân gian, đồng thời cũng có những ảnh hưởng sâu sắc đến các thểloại phát triển sau nó Sức lôi cuốn mạnh mẽ của truyện thơ được người Thái
diễn đạt trong câu ví “Hát tiễn dặn lên, gà ấp phải bỏ ổ, cô gái quên hái rau,
chàng trai quên cày ruộng” [11, tr.168] Và đối với sử thi, với cách nói phóng
đại, cách diễn tả “vượt xa hơn cái mẫu” cùng với sự tổng hợp các hình thức
nghệ thuật dân gian (giống như ở truyện thơ) đã tạo nên bề bộn, rộnglớn góp phần kích thích trí tưởng tượng phong phú của người nghe mà theo
như Gorki đã đúc kết: “Cái đẹp được nhận thức là sự kết hợp nhiều chất liệu
khác nhau, kể cả những âm thanh, màu sắc, từ ngữ, nhờ đó mà con người, nhà thiện nghệ chế tạo nên một hình thái tác động vào cảm xúc và lý trí như một sức mạnh, khiến cho mọi người ngạc nhiên, tự hào và vui sướng với khả năng sáng tạo của mình” [ 32, tr.79].
Nối tiếp kho tàng văn học dân gian phong phú, đa dạng, đến thế kỷ XIX,nghệ nhân người dân tộc Thái là Ngần Văn Hoan đã có những đóng góp rấtlớn vào việc ra đời và hình thành thơ dân tộc Thái hiện đại
Ngần Văn Hoan tên thật là Ngần Văn Hậu, quê ở Chiềng Hạ, xã Mai Hạhuyện Mai Châu-Hoà Bình, ông là một hiện tượng độc đáo của văn học Thái
Ông được nhân dân thêu dệt như một nhân vật “truyền thuyết” gắn với sự
tích đá Cang Lạn: Sự tích nói về cuộc thi tài hát đối giữa nàng Cang Lạn vàVăn Hoan, 3 ngày 3 đêm không phân thắng bại, cuộc thi tài chỉ kết thúc vànàng Cang Lạn chịu thua Văn Hoan khi chàng đưa ra vế đố:
Trên trời có bao ngôi sao sáng nhất Dưới trần gian có bao ngọn núi cao hơn.
Trang 39Vietluanvanonline.com Page 39
Trang 40Nàng Cang Lạn thua và chết hoá thành vách đá Câu chuyện trên có thể
là hư cấu, tưởng tượng của người dân nhưng dù có thật hay không có thậtthì đó cũng là sự ca ngợi, khẳng định sự thông minh, tài giỏi của Ngần VănHoan- một đỉnh cao trí tuệ của tri thức dân gian
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông chính là Lời hát nền Văn Hoan (Khoam
khắp pưn Văn Hoan) dài 2.300 câu thơ, kể về mối tình nên thơ của chàng trai
Sy Ly Nâm Ơi và cô gái Liêng Khăm Mối tình đó được lồng trong khung
cảnh thiên nhiên êm đềm ít nhiều được được “thần tiên hoá” dưới cảm hứng trữ tình lãng mạn của nghệ nhân Văn Hoan Lời hát nền Văn Hoan gần gũi và
thân thuộc với đời sống tình cảm, tâm hồn của người Thái nên được lưutruyền rộng rãi trong đời sống cộng đồng dân tộc Thái
Vì thuộc thể loại “khắp xư” (tức là hát thơ) nên có những đoạn dài trong
tác phẩm, nhân vật Sy Ly và Liêng Khăm chuyện trò với nhau để bày tỏ tâm
sự bằng hình thức của dân ca trữ tình đối đáp như “khắp báo xao” (hát trai
gái)- một loại hình văn nghệ tiêu biểu của đồng bào Thái Trong toàn bộ tác
phẩm, ta thấy dáng dấp trữ tình đằm thắm của các bản tình ca Thái như Xống
chụ xôn xao, Tản chụ xiết xương…
Như vậy, tác phẩm Lời hát nền Văn Hoan đã kết tinh được những tinh
hoa của kho tàng văn học dân gian đồ sộ của dân tộc Thái như truyện cổ tích,truyện thơ, truyện sử thi và sử dụng khéo léo các thể loại ca dao, tục ngữ, dânca nhưng trên tinh thần mở rộng và phát triển hơn Cảm xúc, tâm trạng và ýnghĩ của nhân vật đã được thể hiện sinh động, phong phú, tinh tế và sâu sắc
Có thể thấy “Tác phẩm biểu hiện tri thức dân gian khá sâu sắc nhưng có
đoạn thơ đã mang tính bác học khá cao, đó là cách sử dụng khái quát các vấn
đề văn học Thái” [29, tr.186].
Với Lời hát nền Văn Hoan của nghệ nhân Văn Hoan, dân tộc Thái ghi
tên mình vào chặng đường hình thành, phát triển đầu tiên của văn học viết