Nội dung nghiên cứu Để có thể đạt được một kết quả khả quan cho đề tài, việc đầu tiên của chúng tôi trong khóa luận này là tiến hành sưu tầm, điều tra và khảo sát các thành ngữ, quán ng
Trang 1Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời
hiện đại, những giá trị biểu trưng
Nguyễn Thị Nguyệt Minh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn: GS.TS Lê Quang Thiêm
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Trình bày cơ sở lý luận về thành ngữ, quán ngữ và quan niệm của các nhà
ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ Nghiên cứu toàn cảnh thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại: cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại; thành ngữ có cấu trúc
so sánh; thành ngữ có kết cấu cụm từ; thành ngữ có kết cấu câu Tìm hiểu ngữ nghĩa thực tại của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của chúng
Keywords Ngữ nghĩa; Thành ngữ; Quán ngữ; Tiếng Việt
Có thể nói thành ngữ, quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các quán ngữ và đặc biệt là các thành ngữ mới, chúng xuất hiện cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội
và phản ánh chân thực nhất những nét mới, sự thay đổi trong đời sống xã hội của người Việt
Vì những lý lẽ trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài luận văn: Khảo sát ngữ
nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, những giá trị biểu trƣng
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, thành ngữ, quán ngữ là những bộ phận chiếm
số lượng lớn, rất đa dạng và phong phú về mặt nội dung Trong khảo sát bước đầu chúng tôi tạm chọn giới hạn là thời hiện đại
Trang 2Trên thực tế, số lượng thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại là rất phong phú Song
do những đơn vị này chưa được tập hợp trong các văn bản chính thức và thời gian nghiên cứu của chúng tôi không cho phép nên việc thu thập thành ngữ, quán ngữ của chúng tôi còn rất hạn chế
3 Mục đích nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nguồn ngữ liệu mà chúng tôi điều tra khảo sát, mục đích chính của luận văn này là cung cấp cho người đọc một vốn ngữ liệu liên quan đến thành ngữ, quán ngữ mới
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để có thể đạt được một kết quả khả quan cho đề tài, việc đầu tiên của chúng tôi trong khóa luận này là tiến hành sưu tầm, điều tra và khảo sát các thành ngữ, quán ngữ mới trong sách báo cũng như trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân
Từ đó dựa trên những đơn vị, thành ngữ quán ngữ mới đã được thu thập, chúng tôi tiếp tục đào sâu nghiên cứu, khảo sát bình diện nội dung ngữ nghĩa của những đơn vị này đặc biệt là giá trị biểu trưng của nó
4 Phương pháp nghiên cứu
Với mong muốn có được một bộ phận thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại cũng như những nhìn nhận ban đầu về chúng, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp điều tra, khảo sát ngữ liệu và tư liệu, phương pháp phân tích ngữ nghĩa, phương pháp miêu tả…
5.Nguồn ngữ liệu khảo sát
Thành ngữ, quán ngữ tiếng Việt ra đời từ đầu thế kỷ 20 và đặc biệt từ năm 1945 đến nay được coi là một bộ phận thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại Theo chúng tôi bộ phận này chưa được mấy ai tập hợp hoặc mới chỉ tập hợp được một phần Bởi vậy chúng tôi tiến hành khảo sát thu thập ngữ liệu và phân tích những đặc điểm về hình thức, nội dung của bộ phận thành ngữ, quán ngữ này
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lịch sử vấn đề, cơ sở lý luận
1 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ
Trang 32 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ
Chương 2: Toàn cảnh thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
1 Một số khuynh hướng phân loại và tiêu chí phân loại của luận văn
2 Cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
Chương 3: Ngữ nghĩa thực tại của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của chúng
1 Quan niệm về nghĩa của từ, nghĩa của thành ngữ, quán ngữ
2 Quan niệm về nghĩa biểu trưng, nghĩa biểu tượng và giá trị biểu trưng, biểu tượng của thành ngữ, quán ngữ
3 Ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của chún
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ
Từ lâu thành ngữ đã là vấn đề dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngôn ngữ học Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thành ngữ ở tất cả các phương diện hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa Có thể nói nhìn một cách tổng thể, các tác giả đã có rất nhiều đóng góp quý báu, họ đã có công lớn trong việc khai phá những vấn đề có liên quan đến thành ngữ và có nhiều phát hiện bất ngờ thú vị
Về phía quán ngữ, có thể thấy trong hàng chục đầu sách nghiên cứu về từ vựng hiện đại chỉ có độ vài ba tác phẩm viết vài dòng về quán ngữ mà thôi Nổi bật có các tác giả như Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu
Có thể nói từ trước tới nay, các công trình nghiên cứu về thành ngữ, quán ngữ tương đối nhiều song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại cũng như những giá trị biểu trưng của nó Chính vì vậy thiết nghĩ việc khảo sát thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của nó là việc hết sức cần thiết
1.2.Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ
1.2.1 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ
Việc sưu tập và nghiên cứu thành ngữ lâu nay đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm tới Điều đó cũng thể hiện ở sự đa dạng trong quan niệm về thành ngữ: quan niệm của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Như Ý, Kiều Văn
Trang 4Theo quan điểm của chúng tôi, thành ngữ thời hiện đại là tổ hợp từ trước hết phải mang những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tức là tính ổn định về thành phần từ vựng
và cấu trúc, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Thành ngữ thời hiện đại là những tổ hợp từ cố định được dùng đi dùng lại nhiều lần do thói quen của người sử dụng, chúng là đơn vị xuất từ đầu thế kỷ hai mươi trở lại đây, phản ánh phẩm chất đạo đức, tư duy lối sống và cách nhìn của nhân dân trong thời cuộc mới
1.2.2 Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về quán ngữ
Trong khi các hiện tượng khác thuộc ngữ cố định được nghiên cứu một cách vừa
hệ thống vừa truyền thống thì quán ngữ mới chỉ được đề cập đến với những nhận định ban đầu
Tuy vậy trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu quan niệm quán ngữ theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Tu Đó là những từ tổ rất gần với từ tổ tự do nhưng tương đối ổn định về mặt kết cấu, được quen dùng mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính chất độc lập, có khi một từ có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của từ tổ được thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ, thành tố của chúng Sở dĩ có thể quy những từ tổ này vào từ tổ cố định vì so với các loại từ tổ tự do, quan hệ giữa các từ tương đối cố định Theo truyền thống, những từ trong từ tổ này gắn bó với nhau và được quen dùng Những
từ tổ này được gọi là những quán ngữ
Tiểu kết
Như vậy trên đây chúng tôi vừa điểm lại lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ cũng như các quan điểm khác nhau của các nhà Việt ngữ học về vấn đề này Có thể thấy vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại cũng như giá trị biểu trưng của chúng vẫn chưa dành được sự quan tâm nhiệt tình của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam Do vậy đi sâu vào vấn đề này sẽ giúp cho chúng tôi có thể cung cấp cho người đọc một vốn ngữ liệu liên quan đến thành ngữ, quán ngữ mới cũng như hiểu được những biến chuyển trong đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 bởi đây là thời kỳ biến động trong lịch sử nước nhà Đồng thời đưa ra một số lời giải thích mang tính chất gợi mở về vấn đề này
Chúng tôi cũng quan niệm rằng thành ngữ thời hiện đại là tổ hợp từ trước hết phải mang những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tức là tính ổn định về thành phần từ vựng
và cấu trúc, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Thành ngữ thời hiện đại là những tổ hợp từ cố định được dùng đi dùng lại nhiều lần do thói quen của người sử dụng, chúng là
Trang 5đơn vị xuất hiện trong khoảng khoảng mấy chục thập kỷ trở lại đây, phản ánh phẩm chất đạo đức, tư duy lối sống và cách nhìn của nhân dân trong thời cuộc mới Còn về phía quán ngữ, chúng tôi coi quán ngữ là một bộ phận của thành ngữ Do đó chúng tôi đi đến quyết định sẽ ghép thành ngữ, quán ngữ lại thành một bộ phận và từ đó sẽ đi tới phân loại chúng cũng như nêu ra đặc điểm ý nghĩa và giá trị biểu trưng của những thành ngữ, quán ngữ mới này
CHƯƠNG 2: TOÀN CẢNH THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ
THỜI HIỆN ĐẠI
2.1 Một số khuynh hướng phân loại và tiêu chí phân loại của luận văn
Dựa trên quan điểm riêng của mình, các nhà Việt ngữ học đều có cách phân loại thành ngữ, quán ngữ riêng Trong luận văn này như đã nói ở trên chúng tôi quan niệm quán ngữ là một bộ phận của thành ngữ nên dự định sẽ phân loại cấu tạo thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại thành những kiểu cấu tạo như sau dựa trên quan điểm của các nhà ngôn ngữ học đi trước
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc đối xứng
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc so sánh
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc cụm từ
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc câu
2.2 Cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
2.2.1 Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc đối xứng
Thành ngữ có cấu trúc đối xứng là loại thành ngữ phổ biến nhất trong thành ngữ tiếng Việt Có thể nói đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đang xét
là có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ Thành ngữ đối xứng có hai vế đối xứng với nhau Mỗi vế gồm hai yếu tố Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thành ngữ được thiết lập nhờ vào những thuộc tính nhất định
về ngữ pháp, ngữ nghĩa giữa các yếu tố được đưa vào trong hai vế đó Phép đối xứng được xây dựng trên cả hai bình diện, bình diện đối ý và bình diện đối lời
Nếu ta gọi A là yếu tố đầu của vế thứ nhất, B là yếu tố đầu của vế thứ hai, X là yếu tố thứ hai của vế thứ nhất, Y là yếu tố thứ hai của vế thứ hai thì ta có mô hình tổng quát sau:
Trang 6AXBY
Ví dụ: Ăn no ngủ kỹ
Có thể thấy hai vế của thành ngữ đối xứng thời hiện đại có sự đối xứng về cấu trúc, từ loại và nghĩa nên khi xét cấu tạo, chúng tôi chỉ xét một vế và coi đó là phương thức cấu tạo của cả hai vế cũng như của cả thành ngữ
2.2.1.1 Vế của thành ngữ có cấu tạo theo cấu trúc: Cụm danh từ
Ở kiểu cấu trúc này chúng tôi nhận thấy có 29/87 thành ngữ và có thể phân chia thành những cấu tạo nhỏ hơn:
Danh từ + định tố
Định tố là danh từ (Xd, Yd)
Má văn công, mông bộ đội
D Xd D Yd Định tố là động từ (Xđ, Yđ))
Bom rơi đạn nổ
D Xđ D Yđ
2.2.1.2.Vế của thành ngữ có cấu tạo theo cấu trúc: Cụm động từ
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có 29/87 thành ngữ có cấu trúc này Cấu trúc này có thể chia thành những cấu tạo nhỏ hơn như dưới đây:
Động từ + Bổ ngữ (Xd, Yd)
Bổ ngữ là danh từ
Bó chân bó tay
Đ Xd Đ Yd
2.2.1.3.Vế của thành ngữ có cấu tạo theo kiểu: Cụm số từ
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận ra có 10 /87 thành ngữ thuộc kiểu này Cấu tạo này chia thành những cấu tạo nhỏ hơn như sau:
Số từ + danh từ
Nhất muối tiêu nhì Việt kiều
S Xd S Yd
2.2.1.4.Vế của thành ngữ có cấu trúc theo kiểu: Cụm tính từ
Có 7/87 thành ngữ được cấu tạo theo kiểu này
Tính từ + danh từ
Chắc tay súng vững tay cày
Trang 7T Xd T Y Ngoài ra có một số thành ngữ đối xứng được cấu tạo theo cấu trúc cụm tính từ:
Mạnh vì gạo, bạo vì tiền
2.2.1.5.Thành ngữ được cấu tạo theo cấu trúc: Chủ ngữ + Vị ngữ
Qua quá trình nghiên cứu có thể nhận thấy có 12/87 thành ngữ được cấu tạo theo cấu trúc: Chủ ngữ + Vị ngữ
Đồn là nhà biên cương là tổ quốc
C V C V
2.2.2 Thành ngữ có cấu trúc so sánh
Thành ngữ có kết cấu so sánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so
sánh với nghĩa biểu trưng kiểu: Nhảy như loi choi; Như cá nằm trên thớt… Những thành
ngữ này đã được các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt tới như Trương Đông San, Hoàng Văn Hành… Ở đây, bên cạnh việc tiếp thu quan điểm của các nhà Việt ngữ học, chúng tôi cũng coi những tổ hợp từ được dựng theo quan hệ so sánh hơn kém cũng
có thể là thành ngữ có kết cấu so sánh bởi những kiểu thành ngữ này cũng là một tổ hợp
từ bền vững, được xây dựng trên một khuôn mẫu nhất định và nghĩa của chúng cũng mang đậm giá trị biểu trưng
2.2.2.1.Thành ngữ so sánh theo quan hệ ngang bằng
Thành ngữ so sánh theo quan hệ ngang bằng là thành ngữ sử dụng những phương tiện so sánh “như, tựa như, tày, tày như…”chủ yếu là sử dụng từ so sánh như Trong công trình nghiên cứu khoa học của mình, tác giả Hoàng Văn Hành chia thành ngữ so
sánh ra làm hai loại: t như B (như B biểu thị mức độ của t: Rách như xơ mướp; Vui như
Tết… và như B biểu thị thể cách của t: Nhảy như choi choi; Chạy như bay….) và như B
(Biểu thị thuộc tính của A)
Thành ngữ so sánh dạng: t nhƣ B
+ như B biểu thị mức độ của t:
Buồn như con chuồn chuồn
t B
như B biểu thị thể cách của t
Bám chuồng lợn như bộ đội bám địch
t B
Thành ngữ so sánh dạng nhƣ B
Trang 8Như bom nổ chậm
B
2.2.2.2.Thành ngữ so sánh theo quan hệ hơn kém
Thành ngữ có kết cấu so sánh theo quan hệ hơn kém là thành ngữ sử dụng các từ
so sánh “bằng, không bằng, hơn” Có 15 thành ngữ thuộc loại này từ kết quả khảo sát và chúng có một số khuôn hình cấu tạo cố định như sau:
Trang 9Cách phân loại của chúng tôi chủ yếu là tổng hợp từ cách phân loại của các tác giả đi trước Điều quan trọng chúng tôi nhấn mạnh quan tâm là mối quan hệ cấu tạo hình thức và cấu tạo ngữ nghĩa của thành ngữ Sở dĩ thành ngữ dễ nhớ, dễ thuộc là ở mối quan hệ này
Song phải lưu ý rằng bên cạnh việc cấu tạo theo 4 kiểu trên, thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại còn có một số kết cấu khác còn cần được nghiên cứu cụ thể chi tiết hơn trong các công trình sau về vấn đề này
Trang 10CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA THỰC TẠI CỦA THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ THỜI
HIỆN ĐẠI VÀ GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG
CỦA CHÚNG
3.1.Quan niệm về nghĩa của từ, nghĩa của thành ngữ, quán ngữ
3.1.1.Quan niệm về nghĩa của từ
Nghĩa của từ là một khái niệm quan trọng nhưng phức tạp và khó xác định Vì vậy
có thể thấy cho đến nay đã có hàng trăm cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ trên thế
giới Tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng: “Nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng
tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công
cụ của giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong văn bản, diễn ngôn Nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải được xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu đặc biệt là ở dạng cụ thể trừu tượng của các hình thức thể hiện tín hiệu Nghĩa là một thực thể tinh thần do con người và bởi con người cấu tạo, sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng thể hiện qua văn cảnh Trong phạm vi nghĩa từ vựng là các loại chức năng từ vựng ngữ pháp Trong phạm vi ngữ pháp, ngữ dụng cũng là khái quát loại chức năng ngữ pháp và ngữ dụng Nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp, ngữ nghĩa học ngữ dụng” [30, 86]
3.1.2 Quan niệm về nghĩa của thành ngữ, quán ngữ
Có thể nhận thấy trong các công trình nghiên cứu về từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt nói chung, về thành ngữ tiếng Việt nói riêng, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đi đến một số điểm khá thống nhất căn bản về nghĩa của thành ngữ Phần lớn các tác giả trong những công trình nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa nói chung đều ghi nhận nghĩa của thành ngữ là một chỉnh thể được khái quát từ nghĩa của các thành tố cấu tạo Nghĩa khái quát được tạo lập không phải bằng phép cộng giản đơn nghĩa của các thành tố trong thành ngữ
Trang 11Qua tìm hiểu về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có thể thấy, nghĩa của các thành ngữ là một chỉnh thể hoàn chỉnh, không phải do nghĩa các yếu tố tạo nên nó cộng lại, nó biểu thị phản ánh khái niệm và có tính bóng bẩy, gợi cảm
3.2.Quan niệm về nghĩa biểu trƣng, nghĩa biểu tƣợng và giá trị biểu trƣng, biểu tƣợng của thành ngữ, quán ngữ
3.2.1 Quan niệm về nghĩa biểu trưng, nghĩa biểu tượng
3.2.1.1 Một số quan niệm về biểu trưng, biểu tượng
Nghĩa là nghĩa biểu tượng là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa những từ mà hình thức ngữ âm (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô phỏng cấu hình) như
có liên hệ đến nội dung được biểu hiện của từ Đó chính là các từ tượng thanh, tượng
hình như: meo meo, ha hả, ào ào…
Còn nghĩa biểu tượng là phần nội dung có được do hình dung, tưởng tượng của con người Mà trí tưởng tượng thì vô cùng phong phú và kỳ lạ, không theo một quy tắc nào cả Cho nên, để nắm bắt được tầng nghĩa này, người nghiên cứu phải tìm cách đi vào thế giới tưởng tượng ấy mà tìm ra những đặc điểm, tính chất của thế giới viễn tưởng mà người nói đã gán vào nội dung tín hiệu
3.2.1.2 Tính biểu trưng của thành ngữ, quán ngữ
Tính biểu trưng trong thành ngữ như chúng ta đã biết đã được nhiều nhà Việt ngữ học đề cập đến Hoàng Văn Hành (1976), Phan Xuân Thành (1992) …
3.3 Ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trƣng của chúng
Khi tìm hiểu về thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, chúng tôi nhận thấy thành ngữ, quán ngữ trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21phản ánh những vấn đề sau:
- Thành ngữ, quán ngữ phản ánh cuộc sống vất vả của người dân Việt Nam
- Thành ngữ, quán ngữ thể hiện công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
- Thành ngữ, quán ngữ thể hiện những tiêu cực của xã hội
3.3.2 Thành ngữ, quán ngữ phản ánh cuộc sống vất vả của người dân Việt Nam
Khi bị thực dân Pháp đô hộ nước ta sau đó phát xít Nhật nhảy vào dây máu ăn
phần, cuộc sống của người dân Việt Nam lúc đó quả là “một cổ hai tròng”, bị đè nén, áp
bức nặng nề Điều đó đã được thể hiện trong những sáng tác văn học của nước ta thời bấy giờ Đến thời kỳ bao cấp, cuộc sống của người dân vất vả, đạm bạc, chỉ có hai bữa chính thì đều phải ăn cơm độn với khoai, sắn và ngô Chính cuộc sống vất vả như vậy đã khiến cho người dân Việt Nam mỗi lần ra nước ngoài học tập hay công tác phải thường