Cái nhìn thấusuốt, thực tại, sự khám phá sâu sắc quá trình vận động của cuộc sống, khuynh hướngsáng tác luôn tìm tòi, phát hiện những vấn đề thuộc bình diện tư tưởng và vẻ đẹp tinhthần c
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong số các cây bút văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nguyễn Khải là nhà văn cónhiều tài năng, thường có mặt ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn học của dân tộc.Suốt hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật miệt mài, tận tụy, không ngơi nghỉ, ông đãcho ra đời hơn 50 truyện ngắn, 8 cuốn tiểu thuyết, trên 60 tác phẩm ký, tạp văn, thểloại nào cũng được đông đảo bạn đọc hào hứng đón nhận Bằng năng lực quan sát tinh
tế và trí thông minh sắc sảo, Nguyễn Khải đã khám phá những vấn đề cơ bản của thờiđại, những kiểu nhân vật phong phú, đa dạng, hấp dẫn, những con người tiền tiến giàutình cảm và trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cái nhìn thấusuốt, thực tại, sự khám phá sâu sắc quá trình vận động của cuộc sống, khuynh hướngsáng tác luôn tìm tòi, phát hiện những vấn đề thuộc bình diện tư tưởng và vẻ đẹp tinhthần cao quý, lối viết văn vừa truyền thống vừa hiện đại… tất cả đã làm cho các tácphẩm của Nguyễn Khải ngày càng trở nên gần gũi với bạn đọc Nhìn một cách tổngquát, tác phẩm của Nguyễn Khải thường mang tính vấn đề - những vấn đề của hômnay và từ đó rút ra những ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời,
cuộc sống, con người Ông đã từng tâm sự: "Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, đó mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ"
[16,77] Có thể nói, trong suốt chặng đường sáng tạo gắn liền với những bước đi củađất nước, sáng tác của Nguyễn Khải bao giờ cũng nhằm thẳng vào đời sống hiện tại.Ông luôn luôn muốn hướng vào những vấn đề của hiện tại để thức tỉnh người đọc cùngvới mình suy nghĩ Dù ở mỗi chặng đường, trong phương hướng bám sát những vấn đềthời sự hôm nay, đề tài có thay đổi, thế giới nhân vật cũng có nhiều đổi khác nhưngbao giờ trái tim Nguyễn Khải cũng thấm đẫm cảm hứng trước những vấn đề cơ bảncủa cuộc sống, của dân tộc, của thời đại, những nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng DoNguyễn Khải có vị trí, vai trò quan trọng như vậy, cho nên việc nghiên cứu, tìm hiểunhững tác phẩm của ông là cần thiết và chắc chắn sẽ rút ra được nhiều bài học bổ ích Các tác phẩm được chọn giảng đều tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nhàvăn, thể hiện rõ nét những chiêm nghiệm, trăn trở suy tư về con người, về cuộc đời…Việc nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Khải sẽ góp thêm một tiếng nói giúp ích choviệc dạy và học tác phẩm của ông ở trong nhà trường
Trang 22 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khải là một tác giả nổi tiếng của Văn học Việt Nam hiện đại Với sốlượng tác phẩm cũng như chất lượng trong sáng tạo nghệ thuật của mình, ông đã đượcgiới nghiên cứu phê bình đánh giá là một cây bút thông minh, sắc sảo trong khám phá
và nắm bắt hiện thực Sự mẫn cảm với những gì đang diễn ra hằng ngày, với những
vấn đề hôm nay đã khiến những trang viết sắc sảo, đầy chất “văn xuôi” của Nguyễn
Khải không chỉ thu hút bao thế hệ độc giả mà còn gợi không ít hứng thú tranh luận, trở
thành nơi “giao tiếp đối thoại” với đông đảo bạn đọc Những tác phẩm của ông sau khi
ra đời thường gây sự chú ý cho công chúng tiếp nhận và tạo ra được nhiều cuộc traođổi, tranh luận trong giới phê bình nghiên cứu
Chúng ta có thể tìm thấy một số lượng khá lớn, khá phong phú những bài nghiêncứu, phê bình được công bố dưới nhiều dạng khác nhau và đề cập đến nhiều phươngdiện trong sáng tác của ông Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác gia, tác
phẩm của Nguyễn Khải có bài viết của Phan Cư Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam
1945 1975 (tập II); của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1945
-1975 (phần tác giả) Ngoài ra phải kể đến "Lời giới thiệu" của Vương Trí Nhàn trong tuyển tập "Nguyễn Khải” (3 tập); bài “Nguyễn Khải - Một thời gắn bó với thời đại và dân tộc” của Bích Thu hay những bài viết của Đào Thủy Nguyên, Nguyễn Thị Bình
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam từsau 1945 Nhưng đặc biệt, những sáng tác từ sau 1975 của Nguyễn Khải đã tạo được
sự chú ý của công chúng độc giả
Có thể nói, người đã dồn nhiều tâm huyết nghiên cứu về con người và văn chương
Nguyễn Khải từ sau 1975 tiêu biểu nhất là Vương Trí Nhàn Với bài viết "Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học Cách mạng từ sau 1945", ông đã giúp người đọc nhận ra nét căn bản trong các sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới là: “Cái nhìn sắc sảo có từ sớm và khao khát có mặt trong ngày hôm nay Đối thoại với chính mình
và sự phát hiện trở lại - một phong cách vừa dân dã vừa hiện đại” [2,114] Trong bài viết, Vương Trí Nhàn cũng chỉ ra rằng: "Những truyện ngắn của Nguyễn Khải viết từ
1988 - 1999 đến thời gian gần đây, khơi vào hai cái mạch chính: Một là cuộc sống hôm nay của những người chung quanh, bạn bè đồng nghiệp quen biết cùng tuổi tác
và tâm sự Hai là số phận những người thân trong gia đình, họ hàng nội ngoại của tác
Trang 3giả, những ông cậu, bà mợ mà tâm tư tình cảm của Nguyễn Khải còn nhiều quyến luyến" [2,116].
Bên cạnh đó, phải kể đến Đào Thủy Nguyên trong cuốn Phương pháp tiếp cận sáng tác của Nguyễn Khải trong giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại [4] đã lưu ý tới
cái nhìn xoáy sâu vào nhiều vấn đề của đời sống con người đương thời: con ngườitrong thời gian và lịch sử, con người trong các khả năng lựa chọn và thích ứng; conngười trong quan hệ gia đình; con người trong mâu thuẫn và tiếp nối các thế hệ Cùng
với đó, có thể kể đến bài viết "Cảm nhận về con người trong sáng tác của Nguyễn Khải những năm gần đây" của tác giả Nguyễn Thị Huệ đăng trên tạp chí diễn đàn văn nghệ Việt Nam, tháng 10/1999 Ở những bài viết này tác giả cũng đã khẳng định: "Con người trong sáng tác của Nguyễn Khải đầu những năm 80 được nhìn nhận ở nhiều tọa
độ, nhiều chiều khác nhau Thái độ đánh giá của nhà văn đối với con người cũng trở nên sâu sắc, phổ quát và tỉnh táo hơn" [16,148].
Như vậy, mặc dù các nhà nghiên cứu đã đề cập đến thế giới nhân vật trong các tácphẩm của Nguyễn Khải nhưng trong phạm vi khảo sát của chúng tôi, hầu như có rất ít
đề tài đi sâu tìm hiểu “Vấn đề nhân sinh trong sáng tác của Nguyễn Khải từ sau 1975” Trên tinh thần tiếp thu, phát triển ý kiến của người đi trước và một số ý kiến cá nhân, chúng tôi xin mạnh dạn góp phần làm sáng tỏ “Vấn đề nhân sinh trong sáng tác của Nguyễn Khải từ sau 1975”.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nhân sinh trong sáng tác của NguyễnKhải sau năm 1975
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VĂN HỌC 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng
12 năm 1930 tại Hà Nội Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiềunơi Lúc ông đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám Trong kháng chiếnchống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộđội, làm y tá rồi làm báo, bắt đầu viết văn từ những năm 1950 Sau năm 1975 NguyễnKhải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh Năm 1988, ông rời quân độivới quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Khải từng là ủyviên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa II, III và là phó tổng thư ký khóaIII Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII Năm 1982, ông nhận giải thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm Năm 2000, nhà văn được phong tặng
giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật Ông mất ngày 15 tháng 01năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh do bệnh tim Ông ra đi để lại một sự nghiệp vănchương phong phú và đa dạng từ thể loại đến hình thức sáng tác
Từ năm 1965 trở về trước: tác phẩm của ông là những khúc tráng ca lãng mạn củacông cuộc xây dựng chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Chủ đề của giai đoạn nàykhá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trongnhững năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã hội - chính trị có tính thời sự vàđời sống tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những biến động phức tạpcủa đời sống Trong đó, Nguyễn Khải để lại dấu ấn qua nhiều tác phẩm tiêu biểu
như: Xây dựng (truyện vừa, 1952), Xung đột (ghi chép nhiều tập, truyện, 1959-1962), Câu chuyện giữa một người đọc và một người chép (Nghiên cứu lý luận, 1959), Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960…
Từ năm 1965 – 1975: Ông chủ yếu viết về người anh hùng trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước Có thể kể đến như: Ra đảo (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1970), Đường trong mây (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1970, Đối mặt (kịch,
Tạp chí Tác phẩm mới, 1974)…
Đặc biệt, từ sau năm 1975: Nguyễn Khải viết nhiều về những miền đất mới, tiêu
biểu như: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người Trong đó, nổi lên là các trang viết rất sâu sắc về Hà Nội như Một người Hà Nội, Người của ngày xưa Ngoài ra, có thể kể
Trang 5đến Tháng ba ở Tây Nguyên (ký sự, NXB Quân đội nhân dân, 1976), Cha và Con và (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1979), Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), Thời gian của người (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), Điều tra về một cái chết (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1986) hay tác phẩm Một cõi nhân gian bé tý (tiểu thuyết, NXB Văn nghệ, 1989), Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức (truyện ngắn, báo Văn nghệ, 1991), Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (tập truyện, NXB Hội nhà văn, 1993), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn,
2003… Cuối đời, ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu trong tùy bút:
Nghĩ muộn (Tùy bút, 2000), Đi tìm cái tôi đã mất (Tùy bút, 2006).
Với những đóng góp to lớn ấy, Nguyễn Khải đã nhận nhiều giải thưởng văn họcnhư: Giải thưởng Văn học Lê Thanh Nghị (Liên khu III, 1951), Giải thưởng Văn nghệViệt Nam (1951-1952), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1982), Giải thưởng HồChí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt II - 2000) và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…Vẫn là cây bút năng nổ, sung sức, Nguyễn Khải liên tục xuất hiện trên văn đàn với
nhiều thể loại: Kịch (Cách mạng, Khoảnh khắc đang sống, Hành trình đến tự do), bút
kí, tạp văn, tiểu luận (Chuyện nghề), truyện ngắn (các tập Một người Hà Nội, Hà Nội trong mắt tôi, Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu…), tiểu thuyết (Cha và Con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Điều tra về một cái chết, Vòng song đến
vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười…)
Nhìn chung, từ 1978 đến nay, qua bảy cuốn tiểu thuyết đã công bố của NguyễnKhải, người đọc nhận ra ở ông sức sáng tạo dồi dào và một phong cách tiểu thuyết rõ
nét Cả bảy cuốn tiểu thuyết đều có dung lượng gọn gàng (ngắn nhất là Một cõi nhân gian bé tí: 131 trang, dài nhất là Thượng đế thì cười: 246 trang) Mỗi tác phẩm có dạng
tiểu thuyết tư liệu, khi là dáng dấp tiểu thuyết vụ án, lúc nghiêng về tự luận, lúc tựthuật – tự trào… Điều này cho thấy tác giả rất có ý thức đổi mới ngòi bút, có nhiềutrăn trở để mở rộng quan niệm về thể loại Vai trần thuật trong đa số các tiểu thuyếtcủa ông ở chặng đường này là nhân vật nhà văn, nhà báo, người mang đậm cái tôi tiểu
sử, cái tôi hoài cổ, cái tôi tác giả Khuynh hướng triết luận nhất quán biểu hiện khá rõqua màu sắc luận đề và lối kết cấu mô hình hoá bằng những tình huống suy lí – giả
định (Gặp gỡ cuối năm, Cha và Con và , Thời gian của người, Thượng đế thì cười).
Có người cho rằng những cái kết của Nguyễn Khải thường đuối vì gượng ép và chỉ là
Trang 6giả định Thực ra tính giả định sẽ đảm bảo cho tác phẩm một độ mở cần thiết, có điều
nó hơi lạ so với kinh nghiệm đọc tiểu thuyết truyền thống
Về truyện ngắn, ở giai đoạn sáng tác thứ hai này, truyện ngắn của Nguyễn Khải
có nhiều khởi sắc, đó là thế giới phong phú những cảnh ngộ cá biệt, những hành trìnhsống đầy nhọc nhằn do bao hệ lụy thường tình, những cuộc vật lộn kiên cường của conngười với hoàn cảnh để bảo vệ một niềm tin cá nhân, những cá nhân với bảng giá trị tự
nó xác lập cho nó Mỗi truyện như một phát hiện cảm động về con người và tất cả đềunhằm trả lời cho câu hỏi khắc khoải suốt cuộc đời cầm bút: Con người là ai? So vớitiểu thuyết, truyện ngắn Nguyễn Khải tính luận đề mờ đi nhiều, khung thể loại hoàntoàn truyền thống nhưng cách nhìn, cách lí giải con người và hiện thực thì ngả hẳn vềtinh thần hiện đại Ông đặt con người vào các mối quan hệ đời thường để quan sát tưcách làm người của nó và nhận ra chính cái đa đoan, đa sự trong bản chất tinh thần củacon người làm nên vẻ đẹp của cuộc sống, nhận ra trong số phận cá nhân, yếu tố may -rủi có vai trò rất lớn Nếu ở truyện ngắn giai đoạn trước, nhân vật của ông hầu hết làtrẻ tuổi, tự tin khẳng định tương lai của mình thì đến giai đoạn này, ông viết nhiều về
những người già, những người thất bại, “lạc thời”, đơn độc, lạc lõng: một người mẹ cả đời hy sinh vì con cái, lúc tuổi già phải sống vạ vật vỉa hè để con không bị “mất thể diện” trước bạn bè (Mẹ và các con); một người vợ sống như nô lệ bên ông chồng gia
trưởng ích kỷ và thực chất vô tích sự mà lúc nào cũng mang mặc cảm mình không
xứng đáng với chồng (Đời khổ); một trí thức vốn là giáo sư dạy văn chương Pháp ở
trường trung học, là cựu sinh viên trường đại học Sorbone danh tiếng mà phải ăn nhờ
ở đậu, bưng bát cơm ăn với vẻ mặt “nhẫn nhục, hãi sợ và thèm thuồng” (Hai ông già
ở Đồng Tháp Mười); một ông lão ăn mày mắc bệnh lao phải trốn chạy khỏi đứa cháu nội duy nhất để cho cháu khỏi mất cơ hội có công ăn việc làm (Ông và cháu); một nhà
báo có công lớn với tỉnh nhà nhưng bị những người lãnh đạo hắt hủi, lạnh nhạt chỉ vì
ông dám phanh phui cái xấu của địa phương họ (Lạc thời); một nhà văn có tài, ôm ấp
dự định viết cuốn sách lớn của đời mình nhưng đến ngoài tuổi 60 vẫn chưa thực hiện
được vì phải lo kiếm tiền mua sữa, mua bột cho cháu (Người kể chuyện thuê)… Một nhà văn vừa thức tỉnh khỏi “cái thời lãng mạn” gặp lại nhân vật của mình năm xưa là anh lính phục viên sáng ngời với bao hoài bão to lớn bất ngờ rơi vào cảnh “gà trống nuôi con”, cuộc gặp gỡ của bao nhiêu ngậm ngùi thấm thía “năm xưa chúng tôi nói chuyện đạo, bữa nay gặp lại nói toàn chuyện đời, một người, đời người đến là luân
Trang 7khổ ải…” (Cái thời lãng mạn) Sau có những người chọn lối sống ẩn dật, cố tách mình
ra khỏi không khí ganh đua sôi sục như Hồ Dzếnh, Kim Lân (Đất kinh kỳ), cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức (truyện cùng tên)… Không phải Nguyễn Khải không còn
quan tâm đến những tính cách mạnh mẽ, lãng mạn, những người luôn chiến thắng
hoàn cảnh, nhưng cả ở trường hợp này, ông cũng chú ý nhiều đến “phía khuất mặt người”, đến những gì thực sự làm nên bản lĩnh, giá trị cá nhân Đó là sự chuyển hướng quan trọng Ông tự bạch: “Bằng sự từng trải của tuổi tác, hắn đã nhận ra vẻ đẹp của đời thường và sự bất biến của những tính cách mới được xác lập trong nửa thế kỷ qua
sẽ thành máu huyết của dân tộc, thành tính cách Việt Nam Nói thì dễ nhưng hiểu được vẻ đẹp của đời thường với riêng hắn cũng phải mất nửa thế kỷ Nhận ra vẻ đẹp một cách nên thơ trong ánh sáng của bình minh thì hắn đã nhận ra từ Mùa lạc, Hãy đi
xa hơn nữa (…) Nhưng nhận ra vẻ đẹp của thất bại, của vất vả trầm luân trong cái quầng sáng vàng úa của hoàng hôn thì phải từ năm hắn đã 50 tuổi, khi hắn viết “Hai ông già ở Đồng Tháp Mười” (Thượng đế thì cười) Như vậy, cùng với kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm thẩm mỹ của nhà văn cũng có nhiều thay đổi Từ chỗ bị hấp dẫnbởi vẻ đẹp của con người chính trị, con người lịch sử, ông dần chuyển niềm say mêsang vẻ đẹp nhân bản của những con người khiêm nhường về phận vị nhưng biết tựtrọng, và dù hoàn cảnh nào cũng không chịu đánh mất niềm khát khao tự hoàn thiện
Có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Khải chặng này chứa đựng nhiều chiêm nghiệm vềnhân thế, hay nói cách khác là cách chắt lọc tính người từ cuộc mưu sinh đầy phồn tạp
Nguyễn Khải đo cái đẹp bằng nhãn quan văn hoá mà tiêu biểu là cái đẹp nữ tính (Mẹ
và con, Chúng tôi và bọn hắn, Người vợ, Đời khổ, Một người Hà Nội, Má đào, Chút phấn của đời, Người của nghề…) và cái đẹp thanh lịch, hào hoa của đất kinh kỳ (tập
truyện Hà Nội trong mắt tôi) Từ góc độ văn hoá, ông đặt ra những vấn đề rất có ý
nghĩa như nhu cầu hạnh phúc của người già (Nắng chiều), nhu cầu tự do cá tính (Lãng
tử, Má đào), sự công bằng đối với con trẻ (Người vợ)… Có một Nguyễn Khải thật sắc
sảo mà cũng thật nhân hậu, khoan hoà trong truyện ngắn
1.2 Sự chuyển biến trong các sáng tác Nguyễn Khải từ sau 1975
Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Khải đã sống trong một gia đình bất hạnh với diềukiện sống vô cùng khó khăn, cơ cực Chính điều đó đã hình thành nên trong con ngườiông một ý chí sống để khẳng định mình Thêm nữa trước khi trở thành một nhà vănông từng làm tuyên huấn và viết báo Điều đó đã giúp ông có sự nhạy cảm và hiểu biết
Trang 8cần thiết trước cuộc đời, tạo cho mình một quan niệm nghệ thuật, một phong cách sángtạo Năm 1975 ông chuyển vào Nam sinh sống và làm việc, chính môi trường mới đãcho ông cái nhìn sâu sắc hơn với những quan niệm đầy đủ hơn về cuộc sống cũng như
con người Như chính ông đã thừa nhận: "Từ 1955 đến 1977 tôi sáng tác một cách Từ
1978 đến nay tôi sáng tác một cách khác” [14] Điều đó cũng đúng như nhận xét của Nguyễn Đăng Mạnh: "Thực ra những biến đổi về tư tưởng và nghệ thuật từ sau 1975 là hiện tượng chung của mọi cây bút chứ đâu chỉ có riêng Nguyễn Khải( ), phải đợi đến Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1986 thì sự chuyển biến của giới cầm bút mới thật sự rõ rệt và có chiều sâu( ) Đại hội IV của Đảng với tinh thần dân chủ và nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật dường như đã đáp ứng nhu cầu tự thân của Nguyễn Khải” Về sau nhà văn Nguyễn Khải giải thích rõ hơn về các giai đoạn sáng tác của mình: "Trong
53 năm làm nghề, do sự phát triển tự thân, tôi đã thay đổi ba lần những quan niệm về tiểu thuyết những đề tài và nhân vật cần phải quan tâm, nghệ thuật kết cấu và ngôn từ Lần thứ nhất vào năm 1957 để có được cuốn tiểu thuyết Xung đột, lần thứ hai vào năm 1987 thì viết được tác phẩm Gặp gỡ cuối năm mở đầu cho năm cuốn tiểu thuyết tiếp theo, có thể còn đọc được trong khoảng mười năm nữa Và lần cuối là năm 1990 với một chuỗi truyện ngắn, khoảng sáu, bảy chục truyện, viết trong mười năm và tuổi thọ của nó xem chừng cũng còn dài" [15].
Trước 1975, mối quan tâm của ông lúc này là các vấn đề thời sự - chính trị Ông
đã hăm hở nhập cuộc với tư cách nhà văn - nhà hoạt động xã hội, dùng sáng tác đểtham dự các cuộc đấu tranh xã hội Tác giả có cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt,luôn khai thác hiện thực trong xu thế xung đột, đối lập cũ - mới, ta - địch, tốt - xấunhằm khẳng định xu thế vận động (từ bóng tối ra ánh sáng) của cuộc sống, con ngườimới Các trang viết của ông tập trung hai mảng đề tài: đề tài nông thôn và công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài chiến tranh cách mạng Trên cơ sở nhận thức về bảnchất và chiều hướng phát triển của xã hội, Nguyễn Khải đi vào những vấn đề phức tạp,những ngóc ngách của cuộc sống, những chuyển biến bên trong phức tạp của tâm tư
con người Nhà văn tập trung vào mối quan hệ giữa "cái tôi" và "chúng ta" Hòa nhập
nhưng đừng để hòa tan vào cái tầm thường của đám đông, đấy là một phát hiện của
Nguyễn Khải Quan tâm đến cá nhân con người trong mối quan hệ "cái tôi" và "chúng ta"
là một việc làm hết sức nhân bản Vì lúc đó người ta hay nhấn mạnh đến sức mạnh,tinh thần tập thể mà dè dặt khi nói đến ý thức trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là vấn đề
Trang 9khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà "cái tôi" chưa được nhìn nhận công bằng, thỏa đáng Cái sự "gặp thời" mà nhà văn Nguyễn Khải vẫn
thường tự nhận đó chính là môi trường lí tưởng để thế hệ của ông đặt những viên gạchđầu tiên tạo dựng nên một thời đại mới Dù giai đoạn trước đây hay sau này, ngòi búttrí tuệ của ông vẫn thống nhất ở niềm khao khát vô tận muốn được có mặt trong cuộc
đời Nói như Vương Trí Nhàn thì: "một chút đanh đá, chua ngoa, pha lẫn một chút ngông nghênh, hiếu thắng, lối nói băm bổ, lối trình bày thẳng tuột những điều người khác chỉ dám nghĩ" [1,94], để cuối cùng nói lên được sự thật Nguyễn Khải khao khát " muốn có mặt trong đời sống" và sự lựa chọn của nhà văn là "thà bị chê bai một chút nhưng luôn luôn có mặt trong ngày hôm nay, được lên tiếng trong ngày hôm nay, còn hơn ngồi đó tu luyện, nói những chuyện cao xa và tạo ra những vẻ đẹp hoàn chỉnh nhưng không thấy liên quan đến cuộc sống" [3] Ông luôn xông xáo tìm tới những
mảnh đất đặc biệt như mảnh đất Điện Biên đang trở thành một trong những vùng kinh
tế mới điển hình của miền Bắc xã hội chủ nghĩa để viết về phong trào hàn gắn vết
thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới (Mùa lạc) Không những thế, ông còn
tìm đến Bùi Chu - Phát Diệm khi vấn đề tôn giáo trong vùng đang diễn ra quyết liệt.Ngay cả thời kì đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, ông lại có mặt ở
những nơi ác liệt nhất (Họ sống và chiến đấu); (Đường trong mây) Hay khi chiến
dịch Hồ Chí Minh toàn thắng vào năm 1975, ông lại vào Sài Gòn Ở đây, ông pháthiện được những khía cạnh sâu của hiện thực cách mạng trong những năm đầu hòabình Đặc biệt là từ những năm sau 1978, ông đã nắm bắt kịp thời những vấn đề nhân
sinh sâu sắc hơn Ông viết về "văn hóa sống" khi đất nước tiến hành đổi mới với những xáo trộn trong nếp nghĩ của người Việt Nam, rồi viết về "Thời gian của người" khi
"những người mặc cái áo quá ngắn khiến mảnh đất họ sinh ra trở nên chật chội" Hay tác phẩm "Một người Hà Nội" nhằm lưu giữ những giá trị tốt đẹp về đạo đức và nhân
cách cho mỗi người
Như vậy, với ý thức đi thẳng vào thực tại, tác phẩm của ông thường gắn vớinhững chuyến đi, những gì tai nghe mắt thấy Thế nên ông luôn trăn trở và băn khoăntrước những vấn đề đặt ra của cuộc sống Có lẽ vì thế mà ở ông đã hình thành đượcnhững cảm hứng về con người đương thời một cách nhất quán và rõ nét; giống như lời
tâm sự của ông: "Tôi thích cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu
đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ " [1,77].
Trang 10CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ NHÂN SINH TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI 2.1 Cuộc sống của những phồn tạp
2.1.1 Sự phồn tạp trong mối quan hệ với xã hội
Ở giai đoạn sáng tác này, truyện ngắn của Nguyễn Khải có nhiều khởi sắc Vớingòi bút sắc sảo của mình, nhà văn Nguyễn Khải đã để cho con người trong những tácphẩm của ông hiện lên một cách tự nhiên và gần gũi nhất Đó là những con người bấthạnh, đáng thương nhưng cũng rất đáng kính thông qua những nghịch cảnh éo le của
xã hội Đó là những nghịch cảnh bởi cơn sóng kinh tế thị trường, là những nghịch cảnhbởi không tìm thấy chỗ đứng của mình trong thời hiện tại
Có thể nói, cuộc sống trong sáng tác của Nguyễn Khải quả là xô bồ Vật chất dầntrở thành thước đo giá trị Vì thế Nguyễn Khải không ngần ngại công khai, lên án nó
Cơ chế thị trường khiến cho những giá trị tưởng như bền vững bị lung lay, bị đảo lộn
Thời buổi mà mọi chân lý vĩnh cửu không còn nữa “Hay dở, tốt xấu, thành bại, đều được đánh giá theo tiêu chuẩn bây giờ Tiêu chuẩn của mọi tiêu chuẩn bây giờ là tiền.
Nó là bản vị của mọi giá trị” [11,264] Vai trò của đồng tiền trong xã hội kinh tế thị
trường có sức mạnh rất to lớn, chi phối mọi mối quan hệ, mọi giá trị cuộc sống Cha
mẹ, anh em, vợ con tất cả đều quay quắt vì đồng tiền Con người quan hệ với nhaukhông phải bằng tình, bằng nghĩa mà bằng những suy nghĩ thiệt hơn và coi đồng tiền
là chất dung môi trong quan hệ cộng đồng
Ông Trắc (Lạc thời) bị bỏ quên trong bữa tiệc vì “quen biết tôi, bầu bạn với tôi các
vị ấy chả được lợi lộc gì Tôi không có tiền lại không có danh, có khi lại gây phiền hà(…)Bây giờ, người ta chỉ nhắm rượu với cái danh cái lợi thôi, với người sang hoặc người có tiền thôi” [12,410] Chỉ vì không có tiền, không có danh mà ông bị bỏ lãng
quên dần trong mắt của bạn bè một thời Không chỉ có ông Trắc mà cô con gái dịudàng nết na của ông cũng vậy Đáng lẽ, với phẩm chất của một người con gái Á Đông,
cô phải được hạnh phúc, được bao bọc bởi một bờ vai vững chãi, một chỗ dựa vữngchắc, cô sẽ là người vợ lí tưởng của người lính ra trận Nhưng thời thế đã đổi thay, nay
là thời bình, cuộc sống xô bồ luôn chạy theo vật chất mà một cô giáo dạy Văn thì làm
sao đáp ứng được những tiêu chuẩn của đàn ông “thời kinh tế thị trường” Do vậy, đã
28, 29 tuổi mà cô vẫn phải chờ bố về ăn cơm, thật tội nghiệp
Trang 11Bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Khải đã đặt ra nhiều vấn đề thời thế hôm nay, với
bao “ngổn ngang, bề bộn” Trong cái thời buổi ấy: "cả già lẫn trẻ đều thèm khát sự sung sướng, thèm khát ăn chơi Mọi mối quan hệ đều tính thành tiền, mọi thành đạt đều đo bằng tiền, chỗ nào cũng thì thào, mua và bán, đổi chác, lừa lọc như công việc của ma quỷ trong bóng tối…"(Sống ở đời), vẫn có một bộ phận không thích ứng được
với thực tại Họ không a dua theo mốt sống hiện hành mà vẫn giữ được bản ngã riêngcủa mình, mặc dầu đôi khi cũng bị dập dìu theo cơn sống gió kinh tế thị trường Thái
(Làm trai) anh sống tự do với những gì mình lựa chọn, một cuộc sống tự do, lãng tử
như những nhánh lan rừng
Anh (Người gặp hằng ngày) là người suốt đời cống hiến cho công việc không lấy
một ngày thảnh thơi Anh lấy công việc làm niềm đam mê chứ chưa bao giờ nghĩ công
việc sẽ mang lại nhiều tiền cho anh và gia đình “Là người giỏi, tổ chức sản xuất kinh doanh đều giỏi, có người còn nói là rất giỏi mà “buôn” có chuyến hành vặt cũng không xong” [12,176] Một người giỏi giang như vậy, đáng lẽ trong thời buổi này, phải
sống thật sung túc lắm Nhưng đây lại trái ngược hoàn toàn, mọi chi tiêu trong gia đình
đều phải nhờ vào bàn tay của vợ Căn hộ của nhà anh thì “dở quá, khác đời quá” bởi
cả dãy phố nhà ai cũng có truyền hình, tủ lạnh, máy khâu… mà nhà anh thì trốngtrơn…
Nhân vật của Nguyễn Khải giai đoạn này đang “bơi ngược” thời thế để buồn cho
thân phận mình đang thất thế, đang lâm vào vận bĩ Họ là những con người cô đơn,chịu nhiều éo le của phận số trước thời cuộc Mặc dù vậy họ vẫn có niềm tin vào cuộcđời, vẫn nhìn thẳng vào sự thật để trở thành người chiến thắng – thắng chính bản thânmình và thắng trước cuộc đời
Hoàn cảnh như một cơn gió lạ đã làm lung lay tới tận gốc rễ cái “gia đình nhỏ bé
và vững chắc” của Tần (Đổi đời) Gia đình vốn yên ấm của Tần nay bị chao đảo, có
nguy cơ tan vỡ trước những đợt sóng ngầm Thủ phạm chính là đồng tiền thời kinh tế
mở cửa Vợ con anh lao vào vòng cám dỗ của đồng tiền Tuyệt vọng, bất lực, anh đãtính đến chuyện giết người Giết chàng rể tương lai vì đó là kẻ đi lừa tình, giết bà vợ
mà theo tần là “thủ phạm của chính bao nhiêu chyện bê bối trong mấy năm qua” và
cuối cùng giết mình để kết thúc câu chuyện Bi kịch của Tần kéo theo nỗi đau nhứcnhối khôn tả: để tồn tại, con người phải chấp nhận cái xấu, nếu không chấp nhận thì
chính nó phải từ bỏ nhân tính, cũng có nghĩa là từ chối sự tồn tại Hóa ra “ tội ác gần
Trang 12gũi và quen thuộc hơn chúng ta nghĩ về nó nhiều Nó có khả năng thâm nhiễm và tiềm phục tận trong đáy sâu của tiềm thức…Khi có cơ hội, thường là bất ngờ” [13,258] Sự
lựa chọn của Tần quyết liệt nhưng bế tắc trong tuyệt vọng
Nhìn chung, nhân vật của Nguyễn Khải luôn trăn trở, suy ngẫm về bản thân, thờicuộc Họ luôn mặc cảm mình đang lầm thời nhưng không vì thế mà họ trở thành
những “kẻ hèn” Họ luôn vượt lên hoàn cảnh để có sự thích ứng với nó Và ta nhận
thấy, dường như trong mọi trăn trở, nỗi day dứt của các nhân vật này đều là nhữngbóng hình xa gần, những suy tư chiêm nghiệm của chính bản thân tác giả
2.1.2 Sự phồn tạp trong mối quan hệ với gia đình
Nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải luôn phải chịu đựng những nghịch cảnh trớ trêu do xã hội mang lại Tuy nhiên, những nghịch cảnh của xã hội ấy lại xuất phát ngay từ trong chính bản thân họ, gia đình họ cũng như những người thân yêu nhất của
họ Từ những nghịch cảnh của xã hội lúc bấy giờ, những nghịch cảnh đã len lỏi vào tận trong những gia đình, những số phận nhỏ bé
Những số phận hẩm hiu trong truyện ngắn Nguyễn Khải phần nào có nét giống sốphận, các nhân vật trong Dì Hảo, Ở Hiền… của nhà văn Nam Cao Một chị Vách trong
Đời khổ, một bà mẹ trong Mẹ và các con… đều để lại trong lòng người đọc nỗi ám ảnh
về những thân phận luôn ở hiền mà chẳng bao giờ gặp lành, về cái sự không “gặp thời” Cả Nam Cao và Nguyễn Khải đều không giấu được niềm xót xa trắc ẩn, có lần tác giả Nguyễn Khải đã bộc bạch: “Cuộc đời của những con người bé nhỏ với những nỗi buồn, lo lắng vặt vãnh ám ảnh tôi suốt một đời Cho đến tận bây giờ những số phận bất hạnh, những cuộc đời ngang trái, những trớ trêu trong nhiều cảnh ngộ luôn quyến rũ tôi” [1] Nhưng nếu qua hồi tưởng của nhân vật, Nam Cao chủ yếu nhằm “tô đậm cái thảm thương” cay cực của những kiếp “sống mòn”, thì Nguyễn Khải lại nhấn
mạnh niềm ham sống cả những số phận bất hạnh trong cuộc đời
Một trong những cuộc đời bất hạnh ấy là hai ông cháu (Ông cháu) Cuộc đời của
người ông trong truyện dằng dặc những nỗi đau và mất mát ngay từ thuở thiếu thờicho đến lúc cuối đời Thời trai trẻ ông cũng là một giáo viên Tiểu học ở Hà Nội Đếnlúc già yếu lại thành ông lão ăn xin, sống không được mà chết cũng không xong Vìcăn bệnh nan y cuả vợ, ông bỏ việc về quê, bán dần tài sản của cải mà vẫn không cứuđược vợ Vợ mất, đứa con trai vừa lấy vợ chưa đầy nửa năm thì đi bộ đội Ông lại âmthầm nuôi đứa cháu và chờ đợi đứa con bặt tin suốt mấy năm trời Ngày con ông trở