Qua truyện ngắn ấy, Y Ban đã vượt lên trên chính mình, đã thoát khỏi chuyện tình cảm đàn ông, đàn bà để hướng vào thân phận đàn bà chung hơn, lớn lao hơn”.[55] Tác giả Phạm Hồ Thu trong
Trang 1TRẦN THU HÀ
VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA Y BAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên - Năm 2011
Trang 2TRẦN THU HÀ
VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA Y BAN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Đăng Điệp
Thái nguyên, Năm 2011
Trang 3Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý Thầy, Cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn nhà văn Y Ban đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn:
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong
suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cảm ơn tập thể lớp cao học K17 chuyên ngành Ngữ văn trường ĐHSP Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Trần Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
2.1 Đánh giá chung về sáng tác của Y Ban 2
2.2 Về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8
3.1 Mục đích 8
3.2 Nhiệm vụ 8
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 9
4.2 Phạm vi tư liệu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại 9
5.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu 10
5.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 10
6 Đóng góp mới của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỮ QUYỀN VÀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC 11
1.1 Những vấn đề chung về nữ quyền 11
1.1.1 Một cách hiểu về khái niệm “nữ quyền” 11
1.1.2 Chủ nghĩa nữ quyền ra đời như một tất yếu của lịch sử loài người 11
1.1.3 Các bình diện khác nhau của vấn đề nữ quyền 15
Trang 51.2 Nữ quyền trong văn học 17
1.2.1 Văn học nữ quyền thế giới trong sự hình thành và phát triển 17
1.2.2 Cảm hứng nữ quyền trong văn học Việt Nam 23
CHƯƠNG 2: NỮ QUYỀN - VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG SÁNG TÁC CỦA Y BAN 37
2.1 Sự hình thành cảm hứng nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 37
2.1.1 Quan điểm của Y Ban về vấn đề nữ quyền 37
2.1.2 Cảm hứng nữ quyền trong mạch nguồn sáng tạo của Y Ban 41
2.2 Những phương diện thể hiện nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 45
2.2.1 Người phụ nữ luôn được đặt ở vị trí trung tâm và được soi chiếu ở mọi góc cạnh trong chiều sâu bản chất nữ 45
2.2.2 Tư tưởng chống lại thế giới nam quyền và xác lập quyền lực của phái nữ 72
2.2.3 Tình dục như một phương diện để giải phóng bản ngã 89
CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC BIỂU HIỆN VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA Y BAN 96
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ 96
3.1.1 Hình tượng nhân vật đàn bà mang tính khái quát cao 96
3.1.2 Nhân vật tự nhận thức 100
3.1.3 Nhân vật nữ trong mối tương quan với nhân vật nam 108
3.2 Ngôn ngữ 111
3.2.1 Ngôn ngữ thông tục, đời thường, mang âm hưởng dân gian 111
3.2.2 Ngôn ngữ quyết liệt, mạnh, bạo 115
3.3 Giọng điệu 119
3.3.1 Giọng trữ tình, mượt mà 119
3.3.3 Giọng chiêm nghiệm, triết lí 121
3.3.4 Giọng suồng sã, bốp chát 123
PHẦN KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Khi loài người bước sang nền văn minh tiên tiến thì cũng là lúc tiếng nói và quyền sống của người phụ nữ được chú trọng và đề cao Phong trào nữ quyền vì thế đã không ngừng phát triển, vừa lan rộng trên toàn thế giới, vừa thấm sâu vào mọi lĩnh vực xã hội Văn học cũng không nằm ngoài
sự ảnh hưởng to lớn ấy, và trong gần một thế kỷ qua, văn học nữ quyền đã
xuất hiện như tiếng nói đòi bình đẳng của phụ nữ toàn nhân loại
Ở Việt Nam, sóng gió lịch sử cùng bão táp cách mạng suốt thế kỷ XX
từ lâu đã gieo mầm cho văn học nữ tính Nhưng phải đến khi chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào hoà bình, đổi mới, văn học nữ quyền mới thực sự trỗi dậy mạnh mẽ và mang dấu ấn riêng biệt Chủ nhân của nó là những gương mặt nữ sắc sảo, bản lĩnh và đầy cá tính như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê,
Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh và gần đây nhất là Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu… Tất cả họ, với sức sống và nội lực sáng tạo mạnh mẽ, đã làm nên những đột phá mới chưa từng thấy trong nền văn học Việt Nam
1.2 Sớm xuất hiện và thành danh trên văn đàn từ những năm 90 của thế
kỷ trước, Y Ban được đánh giá là một trong những văn sĩ tiên phong của văn
học nữ tính nước nhà Bắt đầu từ truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (1990) đến tập truyện mới xuất bản là Hành trình của tờ tiền giả (2010), nhà văn
được nhắc đến không chỉ bởi những giải thưởng: giải nhất cuộc thi truyện ngắn - tạp chí Văn nghệ quân đội, giải nhì cuộc thi sáng tác về Hà Nội, mà còn bởi sự dũng cảm và táo bạo trong những “bứt phá” khi viết về phái nữ Phụ nữ trong văn Y Ban không dừng lại ở nỗi đau thân phận, ở sự “bé mọn”
Trang 7quanh quẩn với chồng con, cơm cà mắm muối, mà trên hết, đó là những người đàn bà mạnh mẽ, luôn luôn ước mơ và khát khao đi đến tận cùng bản thể Tác giả của nó, con người luôn “đốt lửa trong văn” suốt hơn 20 năm sáng tác, đã không ngừng tạo cho mình độ “chín” và độ “mạnh” trong cuộc tấn công vào thành trì vững trãi của chế độ nam quyền để bênh vực và giải phóng cho phụ
nữ, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam
1.3 Mang đậm tư tưởng nhân văn như thế, nhiều tác phẩm của Y Ban
đã được chú ý nghiên cứu ở nhiều cấp độ Âm hưởng nữ quyền trong văn chị cũng được nhắc tới (một cách không chính thống) trên tạp chí, báo mạng và ít nhiều ở một số luận văn thạc sĩ Thiết nghĩ đã đến lúc phải có một công trình nghiên cứu tập trung, hệ thống về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
Để thông qua đó, ta không chỉ thấy rõ chân dung một nhà văn với diện mạo, phong cách riêng trong dòng văn học nữ tính, mà còn coi đó là dấu hiệu để nhận diện sâu sắc hơn bộ mặt văn học nữ quyền Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Đánh giá chung về sáng tác của Y Ban
Hơn hai mươi năm cầm bút với những thăng trầm trong nghề viết, Y Ban đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng bạn đọc Đến nay, chị đã là tác giả của gần 20 cuốn sách, 200 tác phẩm thuộc các thể loại truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết, tất cả đang được nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Chúng tôi xin trích ra đây một số ý kiến tiêu biểu:
Đánh giá chung về sáng tác của Y Ban, nhiều tác giả đã có những lời phê bình khá sắc sảo Dương Bình Nguyên nhận xét: “Đàn bà viết văn như Y
Ban, cả đời sáng tác từ truyện ngắn đầu tiên Bức thư gửi mẹ Âu Cơ đến cuốn tiểu thuyết Xuân Từ Chiều, vẫn là chuyện đàn bà, yêu, ghen, giường chiếu,
sinh nở, nuôi nấng con cái, chê trách đàn ông, mạnh mẽ như sư tử nhưng cũng
Trang 8lại yếu mềm như rong biển” (Chữ nghĩa đàn bà) [56] Ở bài Một giọng nữ
trầm trong văn chương, Bùi Việt Thắng phát biểu: “Y Ban có lối viết riêng
của mình, chị chú ý khai thác nhiều tâm trạng điển hình của nhân vật trong những tình huống tiêu biểu”.[73]
Xuân Cang trong Y Ban và những thân phận đàn bà lại tập trung lí giải
về cách xây dựng nhân vật nữ của nhà văn: “Y Ban là người phụ nữ viết văn đầy nhạy cảm và chị cảm nhận được những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người” [26]
Gần đây nhất là ý kiến của Dạ Ngân trong một cuộc trả lời phỏng vấn
Bà có nhận xét về phong cách Y Ban ở giai đoạn sau: “Truyện của Y Ban thường thiên về thứ hiện thực gai góc, thô ráp, chát chúa, dễ khiến người ta
nhăn mặt”, “Y Ban ngày xưa đã đáo để lắm rồi với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ
Nhưng bây giờ Y Ban bạo liệt hơn, có những đoạn văn băm bổ Âu cũng là cái tạng viết, tạng người Hãy đọc kỹ hơn nữa Y Ban để thấy sâu xa đây vẫn là cây bút tìm tòi, bứt phá không yên với chính mình” [55]
Bên cạnh báo chí, một số luận văn thạc sĩ cũng đã bảo vệ thành công về
đề tài Y Ban: Đặc điểm văn xuôi Y Ban (Vũ Phương Thảo), Người đàn bà
trong sáng tác của Y Ban (Mai Thị Thu) v.v… Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu trên đã phát hiện khá đầy đủ phong cách, sở trường của Y Ban cũng như cách xây dựng nhân vật và những mảng đề tài quen thuộc của nhà văn Trên tinh thần như thế, nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của chị cũng được thẩm bình khá sâu sát:
I am đàn bà có lẽ là tác phẩm gây được chú ý nhiều nhất với hàng trăm
những bài phát biểu, phê bình trên tạp chí, báo mạng trong và ngoài nước:
Nhà văn Dạ Ngân khi trả lời báo Thể thao & Văn hoá đã nhận xét:
“Đọc I am đàn bà cảm động đến ứa nước mắt, một thân phận phụ nữ nông
Trang 9dân điển hình trong thời đại chúng ta Qua truyện ngắn ấy, Y Ban đã vượt lên trên chính mình, đã thoát khỏi chuyện tình cảm đàn ông, đàn bà để hướng vào thân phận đàn bà chung hơn, lớn lao hơn”.[55]
Tác giả Phạm Hồ Thu trong bài Đọc sách I am đàn bà lại có cái nhìn
toàn diện hơn cho cả tập sách: “Mỗi truyện là một câu chuyện thú vị hoặc là nói về vẻ đẹp đàn bà, hoặc là nói về nỗi đau đớn đàn bà … Đó là bài ca bi luỵ
và ngạo nghễ về thế giới đàn bà trong nỗi khát vọng đi tìm một xã hội hoàn hảo hơn để mỗi người đàn bà đều xứng đáng là một người của phái đẹp”.[81]
Trong khi đó, với bài Tình dục và văn chương nữ giới trong nước,
Nguyễn Mạnh Trinh bên cạnh cái nhìn khá mới mẻ về vấn đề tình dục trong văn chương thì lại coi “truyện của Y Ban cũng đậm đặc dâm tính và chân dung của một người đàn bà được phác hoạ để mô tả bằng những nét đen tràn
ứ cảm giác” [86]
Những nhận xét khác nhau đó chứng tỏ tác phẩm này của Y Ban đã thu hút được đông đảo bạn đọc từ khắp nơi, ở mọi thành phần nghề nghiệp, lứa tuổi Mỗi họ với vốn sống, trình độ hiểu biết và đứng trên bình diện khác nhau nên có cách bình giải khá khác nhau về cùng một tác phẩm
Với Xuân Từ Chiều, tiểu thuyết xuất bản năm 2008, thì sự đánh giá có
thuận chiều hơn:
Hương Thy trong bài Nhà văn Y Ban và cuốn tiểu thuyết không xuống
dòng đã giới thiệu: “250 trang sách là câu chuyện của người đàn bà kể về
những buồn vui sướng khổ của ba người đàn bà mang ba cái tên: Xuân, Từ, Chiều Vẫn với lối viết tưng tửng, nhưng với tiểu thuyết mới này, Y Ban còn đẩy lối viết riêng ấy trở nên khác biệt hơn bằng cách kết cấu tiểu thuyết không xuống dòng Chính xác hơn, cả cuốn sách chỉ một lần xuống dòng vào đoạn cuối khi câu chuyện đã gần kết thúc Cách viết này đã khiến cho người đọc
Trang 10cuốn hút theo từng câu chuyện, từng phận người, từng sự kiện bằng nhịp đọc nhanh…”[84]
Phỏng vấn nhà văn Y Ban, tác giả Hà Linh có lời mở đầu: “Vẫn viết về phụ nữ, cuốn tiểu thuyết mới của Y Ban là câu chuyện của ba người đàn bà bị tạo hóa trêu ngươi Tác phẩm mở ra không gian của một cái chợ đời, nơi nhân vật buôn chuyện buồn số phận, những mong mua lấy chút nhân tình”.[50]
Hành trình của tờ tiền giả là tập truyện ngắn mới xuất bản năm 2010,
và ngay sau đó, nó được đánh giá là “viết theo xu hướng hiện đại” với kiểu
“văn chương không dài dòng, không dùng nhiều chữ”, “vẫn khai thác thế mạnh là khả năng nắm bắt những vấn đề thời sự, những câu chuyện nóng hổi”, tác giả của nó cũng được coi là “nhà văn rất giàu chi tiết và rất táo bạo trong việc đưa chi tiết vào truyện Chị đã nhặt nhạnh chi tiết cho tác phẩm của mình từ trong cuộc sống hằng ngày trong lúc đi làm, lúc đưa con đi học, khi
đi chợ …” (Nhà văn Y Ban và Hành trình của tờ tiền giả - Thuỷ Chi) [30]
Như vậy có thể nói, Y Ban và những sáng tác của nhà văn từ trước đến nay đã liên tục được tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều góc độ, dưới nhiều hình thức Tuy những ý kiến phản hồi có khác nhau xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, cả khoa học lẫn cảm tính nhưng đó đều là những bài viết có giá trị trong việc nhận diện rõ nét gương mặt Y Ban trên văn đàn
2.2 Về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
Như đã nói ở trên, vấn đề nữ quyền trong văn Y Ban đến nay chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, có chăng chỉ là những ý kiến nhỏ lẻ trên báo chí
về một khía cạnh nhất định
Trên những trang web, nhiều tác giả có “động chạm” đến khởi nguồn vấn đề nữ quyền trong văn Y Ban qua việc khắc họa chân dung một nữ nghệ
sĩ đầy cá tính và bản lĩnh
Trang 11Bình Lê trong bài Y Ban, người đàn bà nảy lửa in trên báo An ninh thế
giới đã nhận xét: “Người đàn bà rất đỗi đàn bà trong cái quyết liệt, sắc sảo,
thông minh, trong cái chao chát, đanh đá và chua ngoa và trong cả cái mong
manh yếu mềm trong những lúc vấp váp”.[48] Với bài Lát cắt Y Ban, tác giả
Cao Minh lại dựng lên chân dung một nhà văn bộc trực và thẳng thắn: “Y Ban sẵn sàng đốp vỗ mặt chẳng chút kiêng dè Những chuyện người khác không dám nói hay cố giấu đi thì qua miệng Y Ban, nó thật mạch lạc, đúng bản chất người nghe và thấy thật tự nhiên”.[54]
Khi phỏng vấn Y Ban, nhà báo Hoà Bình trong bài Y Ban, bốp chát và
nữ tính đã giới thiệu: “Vẻ ngoài hầm hố, càng bị dồn nén đến những tình
huống khó khăn, Y Ban lại càng đốp chát sắc sảo Nhưng bên trong, chị vẫn nguyên hình như tuyên bố: I am (tôi là) Đàn Bà.”[25]
Như thế, chúng ta hiểu: tất cả mọi người khi gặp Y Ban đều có cảm nhận chị là một người đàn bà đầy nữ tính: lãng mạn, dễ rung cảm nhưng cũng
vô cùng táo bạo, quyết liệt và đầy tinh thần tranh đấu Điều đó ít nhiều đã đi vào văn chị như là một “mầm mống” ban đầu cho tư tưởng nữ quyền chị đã
ấp ủ và thể hiện
Vẫn là vấn đề quyền của phụ nữ trong văn Y Ban, một số độc giả lại tiếp cận nó ở khía cạnh tính dục
Hoà Bình coi “văn Y Ban tràn ngập yếu tố sex Thẳng thừng và bạo
liệt”(Y Ban: Bốp chát và nữ tính) [25] Còn Ngô Diệu Lan qua bài Yếu tố tình
dục trong văn Y Ban từ góc nhìn văn hoá (viết chung với một số tác giả khác)
đã khẳng định sự mạnh bạo và nhân bản, hướng về quyền sống của người phụ
nữ trong cách nói về tình dục của Y Ban, đặc biệt, trong truyện ngắn Tự: “Tự
đã tạo được một cái nhìn trực diện vào chủ đề tình dục, đặc biệt hơn là tình
dục với phụ nữ… Tình dục ở Tự tuy có phần bản năng nhưng không phản
cảm…, không tách rời nhu cầu tình dục của nhân vật với nhu cầu tình yêu…
Trang 12Riêng ở mảng văn viết về tình dục này, Y Ban sôi nổi, mạnh mẽ theo lối hiện đại, trực tính mang dáng dấp tình dục phương Tây” [62]
Đồng tình với những ý kiến trên, bài viết Tình dục và văn chương nữ
giới trong nước đã đề cập: “Người đàn bà - nhân vật của Y Ban, đều có cái
ham muốn tự nhiên của con người và lúc nào cũng lửng lơ, phân đôi giữa cái muốn và cái ngăn cấm Để rồi những chọn lựa chỉ là bất đắc dĩ của một tâm trạng rất đàn bà”.(Nguyễn Mạnh Trinh) [86]
Không chỉ là tính dục, tư tưởng nữ quyền trong văn Y Ban thể hiện sâu sắc và tập trung nhất khi viết về quyền sống của người phụ nữ Đây cũng là ý kiến của đông đảo bạn đọc và những nhà phê bình, nghiên cứu chuyên nghiệp
Vẫn ở bài Một giọng nữ trầm trong văn chương, tác giả Bùi Việt Thắng
có viết: “Nhân vật truyện ngắn Y Ban tuyệt đại đa số là nữ, người nữ và những nỗi đau, sự vượt lên làm chủ số phận hoặc chí ít thoát khỏi những chớ chêu ám ảnh của cuộc đời.” [73]
Việt Hà trong bài “I am đàn bà” và thế giới “nửa đàn ông là đàn bà”
tỏ ra vô cùng thông cảm với những thân phận nữ: “Nhiều nhân vật nữ của Y Ban khắc khoải, vô vọng trên con đường đi tìm một cuộc sống ấm no, một tình yêu hoàn thiện trong một thế giới “nửa đàn ông là đàn bà” còn biết bao bất trắc”.[38]
Cũng nằm trong ý tưởng như thế, Đào Đồng Diện khi khảo sát các nhân vật nữ trong văn Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Võ Thị Xuân Hà, Y Ban và Võ Thị Hảo, đã cho rằng: “Thông qua “tai nạn” của những cô gái trẻ,
Y Ban không hẳn muốn đả kích hay cảnh giác đàn ông mà chị chỉ muốn gửi
đi một thông điệp rất nhẹ nhàng: đàn bà là thế, muôn đời ngây thơ và cả tin Thất vọng về thế giới đàn ông trong đời thực với nhiều thiếu khuyết, họ muôn
đời phải kiếm tìm, phải khao khát một mẫu hình lý tưởng.” (Phụ nữ - nguồn
cảm hứng sáng tác của văn xuôi thời kì đổi mới) [34]
Trang 13Với bài Chữ nghĩa đàn bà, Dương Bình Nguyên chỉ ra sự vươn lên
mạnh mẽ của các nhân vật nữ: họ có “ý thức mạnh mẽ về bản năng sống và yêu”, dù có thất vọng về thế giới đàn ông thì cũng “chưa bao giờ ngừng yêu
và tỏ ra không cần đàn ông” [56]
Còn Thu Hương ở bài viết Nhà văn Y Ban và những giấc mơ về hạnh
phúc lại quan tâm nhiều đến bí ẩn và khát vọng của người phụ nữ: : “Những
cô gái lỡ dại, những người đàn bà luôn khao khát sự dịu dàng, mải mê kiếm, tìm mẫu đàn ông lí tưởng Bề ngoài, họ tỏ ra gai góc, chấp nhận cuộc sống nhưng ẩn sau đó là những tâm hồn thèm muốn được nâng niu, chiều chuộng” [42]
Qua khảo sát những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề nữ quyền trong văn Y Ban đã được khám phá trên nhiều bình diện, đặc biệt, luôn được phân tích, lí giải xoay quanh hình tượng nhân vật trung tâm trong mỗi tác phẩm, đó là người phụ nữ Việt Nam Họ hiện lên với những biểu hiện về nữ quyền như: ý chí, nghị lực vươn đến tự do, khát khao tình yêu, hạnh phúc, bản năng tính dục và quá trình tự nhận thức Tuy còn sơ lược nhưng những nhận định trên cùng những đánh giá chung nhất về con người và tác phẩm Y Ban
(như đã nói) sẽ là định hướng quan trọng giúp chúng tôi xây dựng đề tài Vấn
đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban một cách hoàn chỉnh, thành công hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Thông qua đề tài, người viết muốn đưa ra một cái nhìn cơ bản, khái quát
về lý thuyết văn học nữ quyền, thấy được cách thể hiện vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban nói riêng và trong văn học đương đại Việt Nam nói chung
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Những vấn đề chung về nữ quyền và nữ quyền trong văn học
Trang 14- Nữ quyền - vấn đề trung tâm trong sáng tác của Y Ban
- Hình thức biểu hiện vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban 4.2 Phạm vi tư liệu
Luận văn khảo sát toàn bộ tác phẩm của nhà văn Y Ban in trong các tập truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết như sau:
7 Đàn bà xấu thì không có quà (tiểu thuyết)
8 Thần cây đa và tôi (truyện vừa)
9 I am đàn bà (truyện ngắn)
10 Xuân Từ Chiều (tiểu thuyết)
11 Hành trình của tờ tiền giả (truyện ngắn)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại
Với số lượng tác phẩm khá lớn, phương pháp này sẽ giúp chúng tôi trong quá trình khảo sát, phân loại các đặc điểm về nội dung, các nhân vật và các phương thức biểu hiện vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
Trang 155.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Tiến hành so sánh tác phẩm của Y Ban với sáng tác của một số nữ nhà văn khác để thấy được những đặc trưng vấn đề nữ quyền trong sáng tác của
Y Ban
5.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi vừa đi sâu tìm hiểu nghiên cứu những đặc điểm về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban, vừa hệ thống, tổng hợp kết quả, từ đó chứng minh cho các luận điểm chính của luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
Tìm hiểu vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó thấy được vị trí, dấu ấn của Y Ban trong dòng văn học nữ quyền Việt Nam cũng như sự vận động trong cảm hứng và tư duy của
văn học Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nữ quyền và nữ quyền trong văn học Chương 2: Nữ quyền - vấn đề trung tâm trong sáng tác của Y Ban Chương 3: Hình thức biểu hiện vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y Ban
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỮ QUYỀN VÀ NỮ
QUYỀN TRONG VĂN HỌC 1.1 Những vấn đề chung về nữ quyền
1.1.1 Một cách hiểu về khái niệm “nữ quyền”
Những năm gần đây, vấn đề “nữ quyền” (feminisme) được nói đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất hiện ồ ạt trong văn chương - nghệ thuật, đi sâu vào mọi lĩnh vực đời sống và chi phối mạnh mẽ tư tưởng cũng như hoạt động của con người nói chung Vậy nữ quyền là gì? Theo cách hiểu
thông dụng nhất, đó là: “quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế,
xã hội và giáo dục… Khái niện “nữ quyền” ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ trong thế tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là “nam nữ bình quyền” Ở cấp độ hẹp thì “nữ quyền” có mối liên quan với các khái niệm như “giới tính”, “phái tính” trong văn học Nếu như giới tính, phái tính là những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam / nữ) thì khái niệm nữ quyền không chỉ dừng lại ở đó mà mục đích của nó hướng tới sự bình quyền của nam nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới.” [82]
Có thể nói, ý thức khẳng định vai trò và quyền lợi của người phụ nữ đã được manh nha từ rất lâu, nhưng nữ quyền với tư cách là một khái niệm chỉ xuất hiện chính thức khi Chủ nghĩa nữ quyền (Nữ quyền luận) ra đời Với ý nghĩa như thế, nữ quyền là sản phẩm của cả một quá trình hình thành, phát triển lâu dài
và luôn luôn được bổ sung những khía cạnh từ nội hàm giá trị của nó
1.1.2 Chủ nghĩa nữ quyền ra đời như một tất yếu của lịch sử loài người
Trên con đường tiến hóa lâu dài để đi đến sự văn minh và phát triển, loài người đã trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi những chuyển biến trong ý thức về giới Chúng ta bắt đầu lịch sử của
Trang 17mình với chế độ mẫu hệ, nhưng dần dần, sức mạnh cơ bắp, những ưu thế về thu nhập kinh tế cùng khả năng hoạt động hướng ngoại, người đàn ông đã nhanh chóng trở thành “kẻ mạnh” mà vươn lên làm chủ gia đình, xã hội Đó
là nguồn gốc đầu tiên của chế độ nam quyền vốn tồn tại và kéo dài rất lâu trên thế giới Trong truyền thống tâm linh của người xưa, đàn bà cũng được coi là
do đàn ông sinh ra: chiếc xương sườn của Ađam là nơi Eva ra đời, Eva là một phần máu thịt của Ađam nhưng cũng phụ thuộc, phục tùng Ađam như một định mệnh không thể nào chối bỏ Như vậy, nam quyền không chỉ được củng
cố bằng các thiết chế xã hội mà còn in sâu vào tâm lí, quan niệm bao đời của nhân loại Sự thống trị của nam quyền một mặt đã có tác dụng tích cực trong việc duy trì sự ổn định và phát triển xã hội, nhưng mặt khác, tính chất tàn bạo,
hà khắc của nó đã gây không ít khó khăn, thậm chí trở thành những ám ảnh nghiệt ngã cho cuộc sống và số phận của người phụ nữ Nho giáo xưa từng yêu cầu nữ nhi phải thực hiện “tam tòng” đầy khổ ải: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Phụ nữ thường bị gán cho là những yêu ma, quỷ quái làm mê hoặc đàn ông, nên hết sức bị khinh rẻ trong xã hội Họ
“không có quyền lựa chọn riêng cho mình cách sống, cách ứng xử hay làm chủ thân xác và tâm lí của mình, không có thiết chế hay luật pháp nào bảo vệ cho họ tránh khỏi số phận bị cướp, bị bắt cóc, bị tuyển mộ hay bị dâng nạp, gả bán cho bọn quan lại vua chúa hay những kẻ lắm tiền nhiều của Những người đẹp thời xưa chỉ là công cụ phục vụ cho ham muốn nhục dục và tham vọng về chính trị của giới chức quyền …” [75]
Tất cả những điều đó đã trở thành tác nhân mạnh mẽ của một loạt những cuộc “nổi loạn” lúc đầu còn âm ỉ, càng về sau càng bùng phát dữ dội của phụ nữ chống lại chế độ nam quyền độc đoán Những cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của họ đã diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau suốt thời trung đại Đến cách mạng tư sản Pháp thời cận đại, nó đã bùng nổ mạnh
Trang 18mẽ, trở thành một phong trào rầm rộ với tên gọi là Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) Từ thời sơ khai cho đến tận ngày nay, chủ nghĩa này luôn được xây dựng, củng cố cả bằng thực tiễn đời sống và những hệ lý thuyết quan trọng
Ngay từ thế kỷ XIX, nhiều cuộc đấu tranh cho nữ quyền đã xuất hiện với sự góp mặt của nhiều tên tuổi nữ, trong đó có người phụ nữ Pháp mang tên Marguerite Durand Năm 1897, bà sáng lập và điều khiển tờ báo La Fronde (sự nổi loạn) Trụ sở tờ báo nằm trên đường Saint - Georges và tất cả các việc trong tòa soạn từ quản lí, viết bài, đến in ấn và phát hành đều do phụ
nữ đảm nhận Tờ báo được nhiều phụ nữ có uy tín làm trợ bút Trong lúc đạo luật năm 1892 cấm phụ nữ làm việc ban đêm thì họ bất chấp cả luật lệ, không
kể đếm gì đến các thanh tra lao động và liên hiệp các đoàn thể làm sách Trong các bài xã thuyết, tờ báo đòi hỏi phụ nữ phải được ghi tên vào danh sách những người được chính phủ Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh, phụ nữ cũng phải được quyền tham dự vào các cuộc tranh cãi tại Quốc hội Marguerite Durand đã cố gắng tổ chức để đưa phụ nữ ra tranh cử vào Quốc hội Pháp trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1910, và cũng là người phụ nữ đầu tiên tham
dự vào nghiệp đoàn chủ nhân các nhật báo Bà tích cực đòi hỏi các quyền lợi của phụ nữ như: quyền được tự do hành nghề, quyền được hưởng lương bằng các nam nhân, làm cùng một công việc, quyền của người vợ được giữ lương
do chính mình làm ra và quyền được bảo vệ trong các công việc trong nhà Trước làn sóng đấu tranh như thế, nhiều hội nghị bàn về vấn đề nữ quyền đã được triệu tập
Nữ quyền thế kỷ XX vẫn tiếp tục với một loạt những cuộc đấu tranh ở các nước phương Tây mà Đan Mạch là nơi nổ ra sớm nhất Năm 1905, phụ nữ
đã được đi bầu Hội đồng hàng tỉnh và thị xã, năm 1910, Hội phụ nữ Đan Mạch KVINFO cùng Viện Goethe của Đức đã “khai sinh” ngày 8 - 3 bằng Hội nghị Copenhaghen, đòi quyền bình đẳng nam - nữ trong chính trị và việc
Trang 19làm Ở châu Mĩ, người phụ nữ cũng đấu tranh đòi quyền bình đẳng bằng cách dấn thân xuống đường lập nghiệp đoàn, giơ cao khẩu hiệu: “Đàn bà là tương lai nhân loại, thế kỷ XXI là thế kỷ đàn bà”
Thực tiễn đời sống sôi động đã trở thành động lực mạnh mẽ cho sự ra đời của nhiều công trình lí thuyết kinh điển về vấn đề nữ quyền Theo các lý thuyết gia, đến nay, nữ quyền luận đã trải qua nhiều giai đoạn
Giai đoạn “tiên phong và nữ quyền nguyên sơ” tương ứng với cao trào
nữ quyền I, tính từ hậu thế chiến II trở về trước Với minh chứng về quyền của phụ nữ (1792), Mary Wollstonecraft được coi là “tổ mẫu” của chủ nghĩa
nữ quyền thông qua luận điểm về bản chất của giới tính được kiến tạo như một lợi thế: viết và nghĩ không thể vượt khỏi thân xác, và không thể loại phụ
nữ ra khỏi vị trí xã hội Tiếp theo, tác phẩm Một căn phòng cho riêng mình
của Virginia Woolf ra đời năm 1929 được coi là “sách vỡ lòng” của phê bình
nữ quyền Từ đây, các tác giả nữ có những khái niệm gợi mở về cách suy nghĩ lùi thông qua người mẹ, về ý kiến của đàn bà, về tinh thần song giới (dung hòa cả hai giới tính)
Giai đoạn tiếp theo tương ứng với cao trào nữ quyền II (thập niên 60 và
70 của thế kỷ XX) là giai đoạn lý thuyết hóa các phong trào đấu tranh cho nữ quyền với đặc điểm chung là phê phán nền văn hóa phụ hệ, nền văn hóa đàn ông đã đẩy người phụ nữ vào giới tính thứ hai Tác giả tiêu biểu là nữ văn sĩ
Pháp Simon de Beauvoir (1908 - 1986) với cuốn sách Giới tính thứ hai (The
secondsex) xuất bản năm 1949, đây có thể coi là công trình đánh dấu sự hiện diện thực sự của chủ nghĩa nữ quyền với tư cách là một phong trào có tuyên ngôn, mục đích và phương châm hoạt động riêng biệt Bản “tuyên ngôn nữ quyền” này đưa ra những lý luận triết học về phụ nữ, xuất phát từ quan điểm nam nữ bình quyền, luận giải về những đặc tính của nữ giới như: tuổi dậy thì, đặc tính tự yêu mình, tình dục, thủ dâm, tiến đến giải phóng phụ nữ…Sử dụng
Trang 20kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau, Beauvoir khẳng định: không ngành khoa học nào đủ khả năng để giải thích định nghĩa phụ nữ là giới thứ hai đối với nam giới Bà quả quyết: phụ nữ có khả năng lựa chọn như nam giới, phụ
nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình bằng cách hướng đi
tự do, tự hào về bản thân mình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hành động giống như nam giới
Giai đoạn thứ ba là cao trào III (thập niên 80 và 90), đây là giai đoạn quan trọng, hình thành và phát triển những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa nữ quyền Lý thuyết nữ quyền luận đi xa hơn: cho rằng giới tính (gender) là khái niệm thuộc về văn hóa, là hệ thống biểu trưng - sản phẩm của chủ nghĩa duy dương vật, đề cập tới đồng tính luận, tiến tới thuyết “lệch pha” Trong đó, tác
phẩm đoạt giải nobel The Golden Notebook (Cuốn sổ tay vàng) của tác giả
người Anh Doris Lessing được coi là “tiên phong cho cái nhìn của thế kỷ XX
về quan hệ nam - nữ”
Quả thật, Phê bình nữ quyền (Feminist criticism), một trường phái phê bình chính trị, xã hội tuy khá mới mẻ nhưng đã phát triển hết sức mạnh mẽ và chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong đời sống tư tưởng của nhân loại
1.1.3 Các bình diện khác nhau của vấn đề nữ quyền
Cách hiểu chung về nữ quyền như trên cho thấy nội dung của khái niệm này gồm rất nhiều phương diện cần tìm hiểu Trên bình diện lý luận, các nhà nữ quyền học đã không ngừng xây dựng một hệ thống lý thuyết khá công phu bắt đầu từ sự đả phá lại quan niệm truyền thống cho rằng: phụ nữ là
“những người đàn ông bất toàn”, tức coi: phụ nữ là một phần của đàn ông, lệ thuộc chặt chẽ vào đàn ông trên mọi lĩnh vực Họ chỉ ra sự khác biệt giữa hai giới tính nam và nữ để qua đó khẳng định mạnh mẽ: phụ nữ là một bộ phận riêng, một thế giới riêng với năng lực, sở trường riêng của mình trước sự phân công của xã hội Nhờ một số đặc điểm riêng biệt về sinh lý như việc có kinh,
Trang 21có thai, có sữa và sinh đẻ, người phụ nữ có quan hệ gần gũi và mật thiết với thế giới vật lý và với hiện thực nói chung hơn hẳn đàn ông Trong khi nam giới, khi chớm có ý thức, đã phải tách ra khỏi mẹ của mình để nhập vào thế giới phụ quyền của bố, phụ nữ, ngược lại, ở mãi với mẹ, xây dựng bản sắc của mình bên cạnh mẹ Những chọn lựa ban đầu này hằn trong vô thức của hai giới những dấu ấn không dễ gì phai nhạt: nam giới hay nghĩ đến quyền, nữ giới hay nghĩ đến trách nhiệm; nam giới thích những sự thay đổi, nữ giới thích sự ổn định; nam giới thích thứ trật tự phân cấp, nữ giới thích sự hài hòa
Về bản chất tự nhiên, nam giới thiên về hướng ngoại, phóng chiếu cái nhìn của mình ra thế giới khách quan và tìm kiếm cái khác để soi chiếu và tìm hiểu chính mình Cái khác đó đi ra từ thuật ngữ “other” và đó là đối tượng thường hằng của nam giới trên hành trình khám phá, chinh phục thế giới bên ngoài,
từ đó, khám phá chính bản thể của mình Ngược lại, nữ giới mang cái nhìn hướng nội, xoay chuyển vào thế giới bên trong bằng hành trình tự khám phá
và nhận thức chính mình Quan niệm những khác biệt về sinh lý giữa hai giới
là điều không thể tránh khỏi, những nhà nữ quyền trong khi nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đã đặc biệt tập trung vào sự bất bình đẳng xuất phát từ văn hóa, gắn liền với những phạm trù giới tính như “nam tính” hay “nữ tính”, để đi đến mục đích cuối cùng là giải phóng người phụ nữ khỏi ràng buộc, hệ lụy từ nam quyền
Từ những căn cứ có thực như thế, họ đã đưa ra những luận đề quan trọng tạo nên nền tảng tư tưởng cho phong trào đấu tranh đòi nữ quyền:
“Một, tất cả những cái gọi là chủ thể tính, bản ngã và bản sắc, bao gồm
cả bản sắc của nữ giới - thường được gọi là nữ tính - không phải là những gì tất định và bất biến, hay nói như Beauvoir: “người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”
Hai, cơ chế tiêu biểu nhất trong việc đàn áp phụ nữ chính là nền văn hóa phụ quyền, hay thỉnh thoảng, với một số nhà nữ quyền, còn được gọi là nền văn hóa duy dương vật
Trang 22Ba, nhiệm vụ của các cây bút nữ không phải chỉ là chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác định một thứ mỹ học riêng của nữ giới, từ đó, thiết lập nên những điển phạm riêng, và cuối cùng, xây dựng những tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học.” [67]
Trên bình diện thực tiễn, nữ quyền thể hiện ở việc thiết lập lợi ích, tạo quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội: quyền có địa vị, quyền được kính trọng, quyền theo đuổi nghề nghiệp, quyền được hưởng những lợi ích giáo dục, quyền bình đẳng trong các vấn đề pháp luật như li dị, phân chia tài sản … Nữ quyền còn tiến tới sự tranh luận, vận động xã hội đảm bảo quyền tự do cho phụ nữ về kinh tế, vận động các thiết chế đảm bảo lợi ích cho phụ nữ, giải pháp tăng cường phụ nữ tham gia vào các cấp chính quyền, nghiên cứu những chính sách nhằm xóa bỏ tục lệ bất bình đẳng, tệ phân biệt đối xử nam - nữ, tạo mọi cơ hội cho phụ
nữ phát triển…
Với hai bình diện lý luận và thực tiễn trong sự phong phú và sâu sắc ở nhiều cấp độ, nữ quyền đã thực sự trở thành vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội loài người trên con đường tiến đến dân chủ, văn minh Lý thuyết
nữ quyền với tư cách là một bộ môn học thuật đang được nghiên cứu, dạy và học trong hầu hết các trường đại học trên thế giới, chủ nghĩa nữ quyền về mặt triết học đã có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ hệ thống tri thức và thiết chế văn hóa loài người Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại một số hạn chế: quá đề cao chính mình, chống lại thế giới đàn ông, ca ngợi tình yêu đồng tính…
1.2 Nữ quyền trong văn học
1.2.1 Văn học nữ quyền thế giới trong sự hình thành và phát triển
Đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề nữ quyền trong văn học:
Trang 23Theo tác giả Lưu Tuệ Anh: không phải tất cả sáng tác của các tác giả nữ đều là văn học nữ quyền và sáng tác của một tác giả nam lại có khi có thể được coi là thuộc dòng văn học này Tiêu chí văn học nữ quyền ở đây không phải là giới tính của tác giả hay giới tính của nhân vật văn học mà là nội dung sáng tác
có liên quan đến việc bảo vệ, bênh vực quyền sống của phụ nữ, giải phóng phụ
nữ “Phê bình và nghiên cứu văn học nữ tính phải trực tiếp đối diện với sáng tác văn học do các nam nữ tác gia sáng tác, suy nghĩ về quan hệ của sáng tác của các tác giả nam nữ đối với sự sinh tồn và giải phóng phụ nữ.” [75]
Nguyễn Giáng Hương lại cho rằng: “Văn học nữ quyền xuất hiện như một dòng văn học phản kháng, văn học dấn thân Dòng văn học này chỉ được viết bởi phụ nữ…Văn học nữ quyền không tồn tại tách biệt với văn học nữ, nó nằm bên trong mảng văn học nữ với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rệt hơn Văn học nữ quyền cùng với phong trào bình đẳng giới là điều kiện để văn học nữ nói chung phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng.”[49]
Như vậy, có thể hiểu: văn học nữ quyền nói chung là khái niệm chỉ dòng văn học viết về phái nữ của cả nam nữ tác giả Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ văn học, nó được thể hiện hết sức khác nhau Trước thời kỳ hiện đại, văn học
nữ quyền viết về người phụ nữ nhưng toàn bộ phẩm chất, giá trị cũng như đời sống tinh thần và thể xác của họ luôn được nhìn bằng đôi mắt của nam quyền Sau này, các vấn đề đó thoát khỏi hệ quy chiếu giá trị và quan điểm nam quyền nên đến đây, văn học nữ quyền mới thực sự xuất hiện theo đúng nghĩa của nó, mà có nhiều người gọi là “văn học nữ tính” Vì những lý do như thế, văn học nữ quyền mà chúng tôi đề cập ở đây cũng chính là cách định nghĩa
của nhà nghiên cứu Lưu Tư Khiêm, đó là: “tinh thần nhân văn hiện đại, lấy
nữ tính làm chủ thể ngôn từ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ.” [35] Hiểu rộng hơn, đây là dòng văn học gắn với quyền sống cơ bản của
người phụ nữ, với thế giới quan về con người của người phụ nữ, đi sâu vào thế giới phức tạp của người phụ nữ nói chung
Trang 24Văn học nữ quyền được biểu hiện trên hai phương diện: phê bình văn học nữ quyền và sáng tác văn chương của những nhà văn nữ
Phê bình văn học nữ quyền, theo Annis Pratt, là loại phê bình “nhằm đến bốn mục tiêu chính: một, cố gắng phát hiện và tái hiện các tác phẩm văn học của phụ nữ; hai, phân tích và đánh giá các khía cạnh hình thức văn bản của các tác phẩm ấy; ba, tìm hiểu xem những tác phẩm ấy đã phản ánh quan
hệ nam nữ ra sao; bốn, mô tả những sự phát triển của các các yếu tố liên quan đến huyền thoại và tâm lý liên quan đến người phụ nữ trong văn học.” Elaine Showaiter bổ sung thêm nhiệm vụ của văn học nữ quyền là: “xác lập cái khung lý thuyết và mỹ học riêng để phân tích các tác phẩm văn học của phụ
nữ, để phát triển những mô hình phê bình dựa trên kinh nghiệm riêng của phụ
nữ hơn là chỉ tiếp nhận những mô hình và lý thuyết do nam giới dựng lên.” [68]
Sáng tác văn học nữ quyền là những tác phẩm văn học thể hiện vấn đề
nữ quyền, mang cảm hứng nữ quyền thông qua việc: lấy người phụ nữ làm đối tượng trung tâm của văn học; đề cao vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người phụ nữ; đòi quyền sống, quyền được hưởng tự do, hạnh phúc của người phụ nữ; phản ánh và lên án tình trạng mất bình quyền nam nữ; lấy cái nhìn của phụ nữ làm căn cứ nhìn nhận và đánh giá hiện thực …
Ra đời và phát triển song song cùng phong trào nữ quyền vốn khởi phát
từ rất lâu trên thế giới, văn học nữ quyền đã sớm hình thành trong nhiều dạng
vẻ nguyên sơ của nó Nhưng phải đến năm 1949, với sự ra đời của tác phẩm
The secondsex (Giới tính thứ hai) của nữ văn sĩ Pháp Simon de Beauvoir, văn
học nữ quyền mới thực sự có mặt theo nghĩa đầy đủ nhất của khái niệm này,
và ngay sau đó đã phát triển mạnh mẽ đầu tiên ở các nước phương Tây với 3 giai đoạn
Trong giai đoạn “tiên phong”, Beauvoir là người đã ghi dấu ấn lớn nhất qua những nhận định mang tính phong phú về hình tượng và ý tưởng Sự nhận
Trang 25thức của bà về cấu trúc xã hội giới tính và bản chất bị áp đặt của các chủ thể mang giới tính đã trở thành cốt lõi của lý thuyết văn học nữ quyền, trở thành luận đề thách thức những giả định của con người về căn cước, tự nhiên và tiến
bộ xã hội, khảo sát thấu đáo sự hình thành có tính huyền thoại của nữ tính và nam tính
Sang giai đoạn “sáng tạo nền phê bình văn học nữ quyền”, những vấn
đề chủ yếu của phê bình văn học nữ quyền đã được hình thành và phát triển:
từ khẳng định các nhà văn và các nhà phê bình nữ đến việc đặt ra những thách thức mà các nhà phê bình nữ quyền da đen, đồng tính và đàn ông ủng hộ nữ quyền phải đối mặt Cùng với nỗ lực làm sống lại những tiếng nói đã mất của các tác giả nữ, phê bình văn học nữ quyền giai đoạn này hình thành những cách tiếp cận văn học của các nữ tác giả da đen, đồng tính nữ, khảo sát quan điểm tách biệt của sự hình thành nữ quyền mang tính học viện, trung lưu, da trắng Do sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hậu thuộc địa, thuyết phân tâm học, thuyết phi giới tính, phê bình văn học nữ quyền lúc này biến chuyển đa dạng, phức hệ, đề ra những cách đọc mới, thậm chí từ khởi thủy là phản kháng nam quyền, nó chuyển qua nghiên cứu nam tính
Giai đoạn tính từ thiên niên kỷ thứ ba đến nay có thể coi là “chuyển đổi
mô hình” trong phê bình văn học nữ quyền với ảnh hưởng của hậu cấu trúc và hậu hiện đại Ý nghĩa của từ “đàn bà”, “phụ nữ”, “nữ giới” không còn tầm quan trọng trong các nỗ lực cấp tiến phá thế bình ổn ở phương Tây nữa “Đàn bà” như một thực thể văn hóa - xã hội đặt định đã bị rắc rối hóa, nghĩ tới đàn
bà là nghĩ tới giới tính; xu hướng chuyển đổi là đặt vấn đề giới tính lên trên cả
nữ tính, nam tính, đồng tính các loại, nữ quyền bắt đầu đặt những câu hỏi căn bản về ngôn ngữ và chủ thể con người Phê bình văn học nữ quyền đồng thời cũng từ đó mà chia tách thành nhiều trường phái, nhiều cách tiếp cận với những hình thức lai tạp khác nhau [47]
Trang 26Đề cập trực diện đến khía cạnh tinh thần quan trọng trong xã hội loài người, chủ nghĩa nữ quyền nói chung và văn học nữ quyền nói riêng đã nhanh chóng lan tỏa từ phương Tây sang phương Đông, từ các nước Âu Mĩ cấp tiến sang các quốc gia châu Á vốn còn lạc hậu về tư tưởng, trong đó không thể không nhắc đến hai nền văn học lớn là Trung Quốc và Nhật Bản
Trung Quốc từ trước đến nay vẫn được mệnh danh là cái nôi văn minh của phương Đông cổ đại với một nền tư tưởng và triết học lớn vào loại nhất nhì khu vực cũng như trên thế giới Sự bao trùm lâu dài của nhiều hệ tư tưởng phong kiến, đặc biệt là Nho giáo đã tạo nên sự thống trị sâu sắc, dai dẳng ở đất nước này chế độ nam quyền độc đoán với những chính sách khắc nghiệt
và tàn bạo dành cho người phụ nữ Song dưới ảnh hưởng của phong trào nữ quyền đang trên đà lan rộng ra toàn thế giới, nền chính trị, văn hóa, xã hội nói chung và văn học Trung Quốc nói riêng đã bắt đầu sôi nổi một dòng văn học
nữ tính khởi thủy từ phong trào Ngũ Tứ và đặc biệt phát triển mạnh vào những năm 90 của thế kỷ trước Năm 2005, bạn đọc châu Á sững sờ tước hiện tượng phái nữ vùng lên trong văn chương Trung Quốc với một loạt những tác
phẩm gây “sốc” như: Điên cuồng như Vệ Tuệ, Quạ đen, Búp bê Bắc Kinh…
của một số cây bút trong dòng văn học Linglei: Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Cửu Đan, Miên Miên, Lâm Bạch… Tất cả như một cuộc đột phá về đạo đức, một thái
độ thách thức của giới trẻ nữ đối với những chuẩn mực đạo đức đậm màu sắc phong kiến Trung Quốc xưa, đồng thời phô bày những đổi thay, rạn vỡ dữ dội của xã hội hiện đại Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Nguyên, các nhà văn
nữ trẻ của Trung Quốc “ly khai” với đời sống chính trị, họ chỉ thể hiện “sự cuồng hoan trong tình yêu tự do, đòi hỏi ngang bằng với nam giới trong chuyện tình dục”, và ở Trung Quốc, “tiểu thuyết thân thể sáng tác là việc tìm kiếm sự tồn tại của xác thịt nữ tính, “nữ tính hóa” một cách cực đoan để đùa bỡn, nhằm đập phá thế giới thẩm mỹ nam tính vốn thống trị từ lâu” [49]
Trang 27Ở Nhật Bản, tư tưởng Nho giáo không có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội như ở Trung Quốc, nhưng hơn nước nào hết, người phụ nữ Nhật lại có cách hành xử đúng điệu tam tòng, tứ đức, được tiếng nhất thế giới về đức tính tùng - thuận, chiều chuộng và nhường nhịn phái nam do bản năng, tình cảm, truyền thống và thông niệm xã hội Ở đây, người đàn bà luôn bước sau đàn ông và bộ áo kimono không cho phép họ bước dài hay mạnh bạo Trong bối cảnh như thế, tiếng nói nữ quyền trong văn học Nhật Bản có những màu sắc riêng: thiên về ta thán hay phản kháng đối với xã hội hiện đại Trong chương
“Khi văn học Nhật Bản nhìn ra thế giới” của bản thảo biên khảo Tổng quan
lịch sử văn học Nhật Bản, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân đã nhận xét:
“Từ năm Shôwa 50 (1975) trở đi, trong bầu không khí của phong trào tìm cách nới rộng quyền sống phụ nữ, các nhà văn phái nữ đã có những hoạt động đáng kể, đó là dòng văn học tranh đấu cho nữ quyền, hay mạnh mẽ hơn nữa, thiên trọng phụ nữ, điển hình là các nhà văn như Kôno Taeko: “từ chối mẫu tính”, đào sâu chủ đề “thế giới của những dục vọng thầm kín và lệch lạc của con người”, hay Tsushima Yuko: “hình ảnh người đàn bà đơn độc nuôi con”…” [77]
Trong những lời phản kháng đó của phái nữ Nhật Bản, ấn tượng nhất, bạo dạn nhất có lẽ là các tác phẩm của Yoshimoto Banana và Ymada Eimi Yoshimoto Banana đưa ra những thân phận hẩm hiu trong xã hội hiện đại, chấp nhận cả những hành vi mà xã hội Nhật Bản lên án hay dè bỉu như ngoại tình, đồng tính luyến ái, vấn đề tính dục… Nhưng trong khi Yoshimoto kín đáo bao bọc lợi khí ấy trong những tư duy trí tuệ thì Yamada Eimi viết sỗ sàng và trâng tráo hơn Nhân vật của bà là những phụ nữ Nhật Bản đeo đuổi tình nhân da đen như một cách vượt qua biên giới tính dục và chủng tộc để khám phá ra chính mình trong một xã hội mà họ liên tục bị áp bức và bất mãn Yamada Eimi lên tiếng thẳng thừng, khiêu khích trực tiếp những thành trì xã
Trang 28hội trọng nam khinh nữ, nhất là trường học Bà được xem là tiếng nói hiếm hoi của nữ quyền trong xã hội Nhật Bản vốn trọng luân thường truyền thống
Như vậy có thể nói, với ưu thế nhiều mặt của mình, văn học nữ quyền
đã phát triển ngày càng mạnh mẽ trên thế giới, lan tỏa nhanh chóng theo chiều rộng và thẩm thấu trong chiều sâu vô cùng của nó Trải dài suốt từ đầu thế kỷ
XX cho đến nay, dòng văn học này đã góp những tiếng nói quan trọng, làm thay đổi phần nào sắc diện của nền văn chương nhân loại
1.2.2 Cảm hứng nữ quyền trong văn học Việt Nam
1.2.2.1 Âm hưởng nữ quyền từ văn học dân gian đến văn học hiện đại
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là đất nước vừa có nền văn hiến lâu đời, vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa Trung Hoa Xã hội phụ hệ cùng sự thống trị ngàn năm của chế độ nam quyền đã tác động không nhỏ đến tư duy sáng tạo văn học nghệ thuật Theo thông lệ, văn chương luôn được coi là món ăn tinh thần cao quý của đấng mày râu mà không có chỗ cho phận “nữ nhi thường tình” Song, bên cạnh những quy ước và chuẩn mực hà khắc ấy vẫn không phải là không có những ngoại lệ, và đôi khi, chính sự ngoại lệ ấy lại làm nên cái “cốt” của cả một nền văn học
Bắt nguồn từ đời sống của người bình dân, văn học dân gian đã để lại cho chúng ta những sáng tác ấn tượng về người phụ nữ Cùng với nam giới,
họ được nhắc đến như một phần không thể thiếu trong cuộc sống gia đình:
Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Nhưng
sống giữa chế độ nam quyền hà khắc, người phụ nữ Việt Nam phải chịu bao
cay đắng, tủi hờn, họ từng cất lên những tiếng xót thương, ai oán: Thân em
như giếng giữa đàng / Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân (Ca dao)
Sự đau đớn, khổ nhục đã biến thành thái độ phẫn uất, hành động phản kháng dữ dội của người đàn bà bấy lâu nhu mì, cam chịu Cao hơn nữa, họ
Trang 29thay đổi, “hạ bệ” cách nhìn đối với người đàn ông qua một loạt những truyện
cười về “anh chàng ngốc”, hay những câu ca như: Chồng người đi ngược về
xuôi / Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo (Ca dao)
Là tiếng nói hồn nhiên nhất, ít bị áp chế bởi tính quy phạm nhất, văn học dân gian, bên cạnh xác nhận vai trò kẻ mạnh của đàn ông, thì đâu đó, vẫn
có những khoảng riêng cho chút suy tư của nữ giới Và, mặc dù còn manh nha, tự phát, âm hưởng nữ quyền trong bộ phận văn học này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến những sáng tác văn chương sau đó
Bước sang thời kỳ trung đại, Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ tư tưởng Nho giáo với sự áp chế độc đoán của xã hội nam quyền: “trong gia
đình, chủ quyền ở trong tay gia trưởng mà đè nén địa vị của đàn bà” (Việt
Nam văn hóa sử cương - Đào Duy Anh) Trong giai đoạn đầu, do đặc điểm
của lịch sử và thời đại, văn học trung đại chịu ảnh hưởng lớn bởi chủ nghĩa yêu nước nên nội dung phản ánh về số phận cá nhân con người, đặc biệt là người phụ nữ chưa thật sự nổi bật Phải đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, ý thức nữ quyền trong văn học mới được thổi bùng lên với sự xuất hiện của một số tác giả nữ như: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân, Sương Nguyệt Ánh cùng với một số tác phẩm của các tác giả nam có ý thức bênh vực cho quyền sống của người phụ nữ như: Nguyễn Du, Tú Xương
Trên mọi thể loại văn học, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với vai trò nhân vật trung tâm, từ người quý tộc, bình dân đến người lao động, thậm chí
có cả tầng lớp thấp hèn là những ca nhi, kỹ nữ Ở thơ Hồ Xuân Hương, vẻ
đẹp hình thể của người nữ không chỉ thể hiện qua ngoại hình bên ngoài: Thân
em vừa trắng lại vừa tròn (Bánh trôi nước), mà còn trong cả những bộ phận
vốn bị “kiêng kỵ”: Hồng hồng má phấn duyên vì cậy / Chúa dấu, vua yêu một
cái này (Vịnh cái quạt 1) Đề cao bộ phận sinh thực khí của đàn bà chính là sự
Trang 30bỡn cợt của Xuân Hương trước những người quân tử Còn Nguyễn Du, với quan niệm “thương thân, xót thân, ngợi ca thân, tôn vinh thân”, đã dụng công
thể hiện một nàng Kiều tài sắc bậc nhất trong văn chương phong kiến: Một
hai nghiêng nước nghiêng thành / Sắc đành đòi một tài đành họa hai Thậm
chí, ông dành cả những vần thơ tuyệt vời để miêu tả vẻ đẹp thân xác, một điều
cấm kỵ trong thơ văn uyên bác trung đại : Rõ ràng trong ngọc trắng ngà /
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên (Truyện Kiều)
Không chỉ đề cao vẻ đẹp, văn học trung đại Việt Nam thời kỳ này đã cất lên những tiếng nói thống thiết về khát vọng, về quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ, lên án xã hội bất công chà đạp lên cuộc đời đau khổ của họ Trong đó, tiếng nói của Hồ Xuân Hương có lẽ là sâu sắc nhất Bà từng bộc bạch nỗi khát khao về một tình yêu có yếu tố thân xác rõ
rệt: Tài tử văn nhân ai đó tá / Thân này đâu đã chịu già tom (Tự tình 2) và lên
án sự bất bình đẳng giới bằng cách khẳng định vai trò, thế mạnh của người
phụ nữ: Ví đây đổi phận làm trai được / Thì sự anh hùng há bấy nhiêu (Đề
đền Sầm Nghi Đống) Có thể nói, Hồ Xuân Hương chính là tác giả nữ đầu tiên đã có ý thức dùng văn học như một phương tiện để đấu tranh cho nữ quyền một cách chủ động, dưới một hình thức táo bạo, quyết liệt nhưng vẫn đậm đà vẻ nữ tính của người phụ nữ Việt Nam
Ở hai thế kỷ XVIII - XIX, văn học trung đại Việt Nam cũng chứng kiến
“những tiếng nói bênh vực nữ quyền của một số nhà Nho - người đàn ông” với
“ba kiểu nhân vật người phụ nữ: người chinh phụ (vợ lính), người cung nữ và
người kỹ nữ.” [75] Nếu người chinh phụ (trong Chinh phụ ngâm của Đặng
Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) được tái hiện bởi những khát khao sâu kín về tình
yêu lứa đôi đầy màu sắc nhục thể thì người cung nữ (trong Cung oán ngâm
khúc của Nguyễn Gia Thiều) hiện lên với cảm giác khoái lạc khi được sùng ái
và sự đau buồn khi mất tình yêu của quân vương Nhưng chỉ với nhân vật Thúy
Trang 31Kiều, văn học nữ quyền của nhà Nho Việt Nam thời trung đại mới thực sự đạt đến đỉnh cao Người con gái có khát vọng mạnh mẽ về tình yêu tự do, bị xã hội đẩy vào thân phận kỹ nữ, đi qua nhà chứa suốt 15 năm mà không chọn cái chết
để bảo toàn trinh tiết đã thực sự là hình tượng mang ý nghĩa phản kháng xã hội nam quyền một cách sâu sắc Cả ba nhân vật phụ nữ trên chứng tỏ: “các nhà nho, những người đàn ông trong bối cảnh văn hóa Tống Nho ở giai đoạn này vẫn có thể tiếp cận chủ nghĩa nữ quyền theo cách riêng của họ, nêu lên những vấn đề mà thực tế cuộc sống và tầm nhìn của họ cho phép” [75]
Như vậy có thể thấy, văn học trung đại đã tiếp tục ý thức nữ quyền trong văn học dân gian trước đó Song, dưới ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến, tư tưởng Khổng giáo “trọng nam khinh nữ”, ý thức nữ quyền đi vào chiều sâu nhân văn hơn: đề cập sâu sắc đến quyền sống của người phụ nữ trong xã hội, tạo tiền đề cho sự bung thoát của văn học nữ quyền Việt Nam những giai đoạn sau
Sang đầu thế kỷ XX, với hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, Việt Nam đã có nhiều biến đổi quan trọng về cơ cấu giai tầng trong xã hội Những hệ tư tưởng cấp tiến từ Tây phương (đặc biệt từ Pháp) ảnh hưởng mạnh mẽ, làm thay đổi lối sống, nếp nghĩ của người dân đất Việt vốn trước đây chỉ quanh quẩn sau lũy tre làng Chủ nghĩa nữ quyền ít nhiều đã du nhập vào Việt Nam và được tiếp nhận cả ở hai bình diện: phê bình và sáng tác Trong số những nhà phê bình nữ quyền tiên phong của Việt Nam, chúng ta không thề không nhắc đến hai tên tuổi nổi tiếng là Phan Khôi và Manh Manh nữ sĩ
Với rất nhiều bài báo đăng trên tờ Phụ nữ tân văn như: Về văn học của
phụ nữ Việt Nam, Văn học với nữ tánh, Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta , Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và
tiềm năng của nền văn học nữ lưu Điểm qua những gương mặt văn chương
nữ Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân và tình trạng của nền văn học nữ lưu, Phan
Trang 32Khôi đã cổ xúy mạnh mẽ việc đào tạo học vấn cho người phụ nữ để họ thoát khỏi đói nghèo thi ca và tri thức, nghĩa là giải quyết đến triệt để cội rễ sinh ra
sự bất bình đẳng của phụ nữ trong đời sống nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng Ông bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, lên án những tội ác của xã hội phong kiến, nói cách khác, “trên một tư duy mang tính lý luận, Phan Khôi đã tạo tiền đề cho thuyết nữ quyền trong văn học Việt Nam, dẫu mới chỉ là những phác họa sơ lược” [87] Bằng những suy luận dựa trên sự tương đồng giữa đặc trưng trọng yếu của sáng tác văn chương và thiên tính bản chất của người phụ nữ, Phan Khôi nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ trong văn học, khẳng định vị thế của họ trong sáng tác văn chương và dự cảm bằng trực giác rằng văn học nữ sẽ tạo dựng nên một thời đại riêng cho mình, trở thành chủ thể trung tâm chứ không chỉ là đối tượng trung tâm của sáng tác văn học: “Nếu vậy thì nữ tánh trở thành ra trung tâm của văn học hay sao? Nữ
lưu sau này sẽ trở nên người chủ trương nền văn học hay sao? Biết đâu!” (Phụ
nữ tân văn số 2, 9/5/1929) [87] Những phán đoán cũng như những biện giải
ấy mang nhiều giá trị đối với phê bình nữ quyền, xác lập một nền tảng căn bản cho khuynh hướng phê bình này trong đời sống văn học
Bên cạnh Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời Trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với văn chương và trí thức nhân loại, bà đưa ra những dẫn chứng khẳng định vai trò “nội tướng” của nữ giới trong sự nghiệp văn học của nam giới các nước, phong trào học thuật của phụ nữ ở các quốc gia tiên tiến
Bà vạch ra sự khác biệt về giới trong hành trình sáng tác văn học với các cặp đôi khái niệm: khách quan - chủ quan, nam - nữ hóa và luận giải rằng phụ nữ muốn thay đổi địa vị của mình trong các thang bậc đời sống thi ca thì phải vượt qua ranh giới của sự khác biệt ấy, nhưng đồng thời vẫn giữ bản sắc giới tính của mình Phê bình văn học nữ quyền Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng
Trang 33chứng kiến sự xuất hiện của rất nhiều cây bút khác như: Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân và các gương mặt nam giới quen thuộc như Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng Tất cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền nhằm trao đổi, tranh luận với nhau Tuy nhiên, tư tưởng nữ quyền đầu thế kỷ XX vẫn chỉ tập trung nhiều vào phương diện xã hội mà còn ít ỏi trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học Hay nói cách khác, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ này còn
ở dạng phác thảo và sơ khai
Trên khía cạnh sáng tác, văn học nữ quyền Việt Nam những năm 30 đầu thế kỷ XX đã bắt đầu trỗi dậy với tinh thần tự giác khá sâu sắc Các cây bút nữ xuất hiện với nhiều dáng vẻ, giọng điệu, họ góp gương mặt mình trong
cả lĩnh vực thơ ca lẫn tiểu thuyết, nắm bắt nhịp phát triển mới mẻ, sôi nổi và tràn đầy sức sống của thời đại Theo thống kê của nhà nghiên cứu Bằng Giang: “tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách” [87], trong đó, phải kể đến những cây bút tiểu thuyết khá nổi tiếng như: Trần Thị Như Mân, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan, Huỳnh Thị Bảo Hòa Riêng trong lĩnh vực thơ ca, nhiều giọng thơ nữ với phong cách khác nhau cũng được ghi nhận: “Một Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong trẻo, hồn nhiên, một Ngân Giang tài hoa, cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào, một Vân Đài duyên dáng dịu nhẹ và bấy nhiêu thôi cũng đã góp phần cho cung đàn thơ ca Việt Nam thêm
đa dạng về âm sắc và giọng điệu.” (Tr 63, Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ
XX, Viện văn học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) [87]
Văn chương nữ đầu thế kỷ XX thực sự khởi sắc về lượng với sự hiện diện của những cây bút nữ bước chân ra từ chốn phòng the vốn lâu nay bị niêm phong kín cẩn bởi những quan niệm, những định kiến Cùng với sự thay
Trang 34đổi và phát triển ý thức về giới, họ đã có thể kề vai sát cánh cùng người nam
để hít thở chung không khí của xã hội, của thời đại Trên một lát cắt ngắn ứng với giai đoạn đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, sự hiện diện của gương mặt
nữ giới đông đảo hơn, xôn xao hơn cả mười thế kỷ trước cộng lại và mỗi gương mặt có một vẻ riêng, một sắc màu riêng Đóng góp lớn nhất của văn học nữ thời kỳ này chính là giá trị nội dung - tư tưởng Bằng sáng tác thơ văn
và các hoạt động xã hội khác: diễn thuyết, viết xã luận, thành lập ác tổ chức hiệp hội của nữ giới, chủ trì và tham gia vào hoạt động báo chí, lập nên cơ quan ngôn luận riêng cho phụ nữ , họ đã tạo nên một cuộc thức tỉnh lớn lao, toàn diện, một cơn đại hồng thủy về ý thức hệ nữ giới đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, những đóng góp của văn chương nữ lưu thời kỳ này chỉ khuôn trong các giá trị sàn, thuộc về mặt bằng chung chứ chưa thể tạo nên những đỉnh cao, những cú nhảy vọt Họ xuất hiện nhiều và có bản lĩnh, nhưng chưa có bệ phóng và chưa đủ nội lực để làm nên một bộ phận thơ ca cho riêng giới của mình
Bên cạnh các nữ văn sĩ, văn học nữ quyền Việt Nam giai đoạn này còn chứng kiến sự xuất hiện của những cây bút nam viết về phái nữ Đó là sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn với nội dung chính là cất lên tiếng nói bênh vực và đấu tranh vì quyền bình đẳng cho người nữ trong xã hội Người phụ nữ tân thời với hệ tư tưởng mới mẻ, chống đối lễ giáo phong kiến thủ cựu nặng nề và chế
độ đại gia đình Nho giáo hà khắc là hình tượng trung tâm trong các sáng tác mang tính luận đề của nhóm này Bằng bút pháp lãng mạn, các tiểu thuyết đã đưa người phụ nữ thoát khỏi tình trạng tăm tối, bế tắc, chứa đựng nhiều mâu thuẫn gay gắt của các mối quan hệ xã hội, giành lấy quyền sống, quyền tự do cho chính mình và tạo nên một viễn cảnh tươi sáng cho chính họ Tự lực văn đoàn nhìn từ góc độ tư tưởng nữ quyền, đã đóng góp tiếng nói phản kháng sâu sắc, mạnh mẽ quyện lẫn với khao khát và ước mơ cho một con đường giải phóng phụ nữ, đoạn tuyệt với quá khứ và hướng đến tương lai
Trang 35Nhìn một cách chung nhất, tiếng nói về người phụ nữ và của người phụ
nữ đã thực sự là tiếng nói có âm sắc, có điểm nhấn, tạo nên hương vị riêng cho thơ ca lúc bấy giờ Trên phương diện lý luận, nó đã thực sự đặt những viên ghạch nền tảng đầu tiên cho nghiên cứu phê bình văn học nữ quyền của Việt Nam sau đó
Vai trò của người phụ nữ đặc biệt được đề cao trong chính thể mới sau
1945 với sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam Đó là tiền đề văn hóa xã hội thuận lợi để văn học nữ tính có cơ hội phát triển So với trước đây, đội ngũ các nhà văn nữ cầm bút đã đông hơn và tài năng của họ được thừa nhận rộng rãi hơn Nhiều tác phẩm của họ ảnh hưởng đến công chúng và được giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông đến đại học Những thay đổi trên đây trong lĩnh vực văn học thể hiện sự thay đổi rất lớn về ý thức phái tính và thái độ đề cao vai trò của nữ giới Trong nhiều tác phẩm, người phụ nữ được hình dung như
những anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại như chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), Nguyệt (Mảnh trăng
cuối rừng - Nguyễn Minh Châu) Song, do yêu cầu của phương pháp sáng
tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới được khai thác nhiều ở khía cạnh xã hội mà chưa chú ý nhiều đến đặc trưng về giới Vấn đề
âm hưởng nữ quyền “chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đại chứ chưa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tư cách là người kiến tạo những tư tưởng nghệ thuật riêng của chính mình” [35]
Văn học Việt Nam trên đường phát triển theo hướng hiện đại hóa đã trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi chặng đường là mỗi tiếng nói riêng về người phụ nữ, của người phụ nữ Vấn đề nữ quyền, theo thời gian đã được thể hiện ngày một rõ nét Song, do nhiều nguyên nhân từ thời đại, từ lịch
sử, từ xã hội, tiếng nói ấy còn cất lên nhỏ lẻ, yếu ớt, và đặc biệt, nó không được sự quan tâm, thừa nhận của cộng đồng một cách chính thống nên nhanh chóng bị phai mờ hoặc rơi vào quên lãng Tất cả chỉ có thể hứa hẹn ở văn học những chặng đường sau
Trang 361.2.2.2 Vấn đề nữ quyền được đặt ra một cách rộng lớn và sâu sắc trong văn học đương đại
Sau chiến tranh, đặc biệt sau đổi mới năm 1986, xã hội và văn học có nhiều chuyển biến mang tính bước ngoặt theo hướng dân chủ, hướng về con người cá nhân một cách sâu sắc và thống thiết hơn Người phụ nữ ngoài xã hội cũng như trong văn học đã dần thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, có khả năng tồn tại độc lập và tự quyết định được số phận của mình Người đàn bà đất Việt lạc hậu khi xưa không còn quanh quẩn nơi góc nhà, xó bếp mà đã tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, giữ nhiều chức vụ quan trọng hơn trong bộ máy chính trị của đất nước Ý thức về giới vì lẽ đó cũng ăn sâu, trở nên tự giác hơn trong tâm thức đội ngũ những người cầm bút Trên văn đàn lúc này chứng kiến sự khẳng định, phát triển mạnh mẽ của rất nhiều nữ văn sĩ có tài mà tên tuổi và tác phẩm của họ đã tạo nên một âm hưởng nữ quyền rộng lớn như: Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư Tất cả họ đã đem đến một diện mạo mới, một làn gió mới cho nền văn học dân tộc
Nguyên nhân của sự “bùng phát” dòng văn học nữ tính ở Việt Nam hiện nay, theo PGS TS Nguyễn Đăng Điệp, xuất phát từ ba yếu tố cơ bản:
“Thứ nhất, sự thay đổi tư duy và sự mở rộng của tinh thần dân chủ xã hội khiến cho nữ giới có điều kiện tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách là chủ thể độc lập Thứ hai, bản thân nữ giới đã có những thay đổi lớn về nhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh tế, khả năng am hiểu luật pháp , tức là
có đủ các yếu tố để trở thành một chủ thể độc lập, thoát khỏi tình trạng bị “nó, anh, ông ấy hóa” Thứ ba, cấu trúc sinh học cũng như sự nhạy cảm và mối quan tâm của nữ giới có nhiều điểm gặp gỡ với nhịp sống thời hiện đại: trong nhiều lĩnh vực, có những vị trí phụ nữ có thể làm tốt hơn nam giới, phụ nữ cũng có khả năng giải tỏa stress tốt hơn đàn ông.” [35]
Trang 37Như vậy có thể thấy, trong văn học Việt Nam, hình tượng người phụ nữ
đã xuất hiện từ rất lâu nhưng họ luôn được nhìn bằng đôi mắt của người đàn ông Khi các vấn đề trên đây “thoát khỏi hệ quy chiếu giá trị và quan điểm nam quyền thì văn học nữ tính mới xuất hiện đầy đủ với đúng nghĩa của nó”.[35] Nói cách khác, văn học nữ tính chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện
xã hội đạt đến một trình độ dân chủ thực sự
Nền dân chủ ấy cho phép các nhà văn nữ được tự do phơi mở cái tôi cá nhân của chính mình với giọng điệu riêng, cách thức riêng: “Thẳng thắn, họ đối thoại lại những quan niệm cũ về những mẫu hình nhà văn nữ trước đây luôn bị đóng khung trong những đặc điểm dịu dàng, thùy mị, chỉ viết về những chuyện nhỏ nhặt, không có tầm tư tưởng lớn; mạnh dạn, họ đề cập sự thức tỉnh ý thức cá nhân, khát vọng bản thể, khẳng định giá trị sống của chính mình trên diễn đàn văn học nghệ thuật” [82] Quả thật, văn học nữ quyền Việt Nam đến đây đã thể hiện đầy đủ, đa dạng nhất những khía cạnh phong phú và giá trị sâu sắc của nó Điều này thể hiện qua những dấu hiệu nhận biết:
Dấu hiệu thứ nhất, văn học nữ quyền từng bước xóa bỏ tính
“tòng thuộc”, tức xóa bỏ sự chi phối của cái nhìn mang đặc tính nam
quyền trong sáng tạo nghệ thuật Ở đây, sự thức tỉnh trong đời sống riêng
tư là một điều dễ nhận thấy nhất Tình yêu, hạnh phúc cá nhân là một trong
những đề tài thuộc “gu” thẩm mỹ của các nhà văn nữ, đó cũng là một cách
để họ tự soi chiếu mình Khi viết về tình yêu, họ khám phá toàn diện mọi cung bậc: ngọt ngào - đắng chát; đau đớn - xót xa, nhẹ dạ, cả tin - mạnh
mẽ, chủ động hay già dặn - từng trải , tất cả đều là những bộc bạch chân thực nhất Dấu hiệu ý thức nữ quyền thấy rõ trong thái độ chủ động cũng như quyết liệt đấu tranh để gành, giữ tình yêu, dám sống thật với chính mình và dám đi đến tận cùng bản thể
Trang 38Sự “trỗi dậy” của tình dục như một cách giải tỏa những ẩn ức bị đè nén bấy lâu cũng là một dấu hiệu phá bỏ sự “tòng thuộc” rất rõ nét Trong nền
văn hóa duy dương vật do đàn ông đề ra, dương vật được đề cao và chiếm vị thế bề trên với các định danh như: “quyền lực”, “trung tâm”, “chuẩn mực”,
“hệ quy chiếu” để đánh giá mọi sự vật hiện tượng Theo đó, đàn ông đồng nghĩa với nhân loại nói chung và phụ nữ chỉ là thứ yếu, chỉ đàn ông với sự
“nam tính”, “hùng mạnh” mới có quyền đả động đến “vùng cấm” (chuyện tình dục) Căn cứ vào giả thuyết truyền thống phương Đông: nam tính phát huy tính dương cương, nữ tính biểu hiện quy phạm mỹ học thuộc đạo âm nhu,
vì vậy, ngay cả khoái cảm tình dục trong chuyện tình yêu, hôn nhân, gia đình cũng do đàn ông thống ngự, người phụ nữ chỉ biết cam chịu và chấp nhận Chính điều đó là một trong những nguyên nhân gây nên việc bất bình đẳng kéo dài trong xã hội Các nhà nữ quyền coi đó là sự tưởng tượng, bịa đặt nên họ coi giải phóng tình dục là cách để tự giải phóng mình, xác lập quyền tự chủ, chủ động thay cho tâm lý thụ động trước đây Các nhà văn nữ Việt Nam viết về tình dục với các cách thức khác nhau: có viết nặng, viết đậm, viết phóng khoáng, viết có pha chế Vấn đề tình dục được khai thác cặn kẽ, mạnh bạo, khiêu khích hơn bao giờ hết, hiện thực này chính là một hiện tượng mới trên văn đàn Như vậy, xét về phương diện khách quan cũng như chủ quan đã có sự “cởi trói”, “phá rào” trong chính nội lực của các nhà văn nữ Điều đó chứng tỏ xu hướng dân chủ hóa trong văn chương từ quan niệm thẩm mỹ đến bình diện nội dung và cả lực lượng người sáng tác Đó chính là một dấu hiệu ý thức nữ quyền rõ nét nhất Vì một mặt, viết trở thành hành động tự xác định, “trở thành phát ngôn viên chính thức của người phụ nữ, tiếng nói chính thức từ tình dục”, mặt khác thể hiện rõ sự quyết liệt đấu tranh, đòi bình quyền trong tình cảm và khẳng định giới mình
Dấu hiệu nhận biết thứ hai, văn học nữ quyền tự “xác tín” cá biệt nữ,
tức khẳng định sự sáng tạo khác biệt trong tương quan với phái nam và hệ quy chuẩn mang đặc tính nam quyền trên nhiều góc độ:
Trang 39Thứ nhất, họ coi việc làm chọn thiên chức là một cách khẳng định tính bình
quyền Các nhà nữ quyền chỉ ra rằng: không phải bản thân nữ tính là phụ thuộc, bị
áp bức, mà do chế độ nam trị đánh giá thấp những phẩm chất nữ tính như tình cảm, mềm dịu, cưu mang Nếu thực sự phẩm chất “nữ tính” được đánh giá ngang hàng như “nam tính” thì nhất định sự áp bức phụ nữ sẽ chấm dứt Như vậy, khi mỗi giới đều tự làm đúng thiên chức cao quý của giới mình, phái mình cũng là một cách để hướng tới cái gọi là nam nữ bình quyền của chính mình trong xã hội Mọi sự phân biệt nam nữ là do chế độ gia trưởng và cái nhìn độc đoán của nam giới áp đặt, muốn thay đổi điều đó, tất yếu phái nữ phải xây dựng một thế giới mang “bản sắc phụ nữ” đầy sự linh cảm, chia sẻ và giáo dục
Và thứ hai, việc làm chủ tư duy cũng là một cách để họ khẳng định bản
lĩnh Bởi xác tín cá biệt nữ không chỉ là khư khư bảo tồn những đặc tính thiên bẩm
đáng quý và buộc xã hội, nam giới phải thay đổi cách nhìn đối với phái nữ Mà hơn nữa, xác tín là phải lên tiếng một cách trực diện, thẳng thừng để chứng tỏ rẳng: những cái anh làm không có gì là cao siêu cả, tôi vẫn làm được, thậm chí tôi còn làm tốt hơn, tôi không phụ thuộc ai, tôi là tôi - một nghị lực, một bản lĩnh mạnh mẽ và tôi có phong cách của riêng tôi, vậy nên đừng có cái nhìn thiên lệch, bất bình đối với phái nữ
Dấu hiệu nhận biết thứ ba của văn học nữ quyền Việt Nam đương đại là việc khiêu khích với những thành trì già nua của nền “văn chế” cũ Ở cấp độ
biểu hiện trực tiếp, ý thức nữ quyền là sự thách thức, chống lại “đặc quyền” của phái nam và khẳng định bản lĩnh của phái nữ trong văn chương, rõ nét nhất là họ công khai phá rào viết về những đề tài tình dục một cách thẳng thắn và táo bạo Tình dục như một công cụ để họ lên tiếng phản đối sự áp chế của phái nam và khẳng định sự chủ động phá rào của họ Ở cấp độ gián tiếp, ý thức nữ quyền là phái nữ tự xác tín những cái cá biệt nữ để khẳng định bản sắc riêng của nữ giới trong sự đối sánh với nam giới về nhiều mặt Mặt khác, họ công khai xét lại những chuẩn mực, những điển phạm lịch sử đã và đang trở nên già nua trong nền văn học mới [82]
Trang 40Tóm lại, văn học nữ quyền đương đại Việt Nam có thể nhìn nhận ở bốn phương diện như sau:
“a Ngôn ngữ quyết liệt, mạnh mẽ, góc cạnh, đầy cá tính; nhiều cây bút có
ý thức gây hấn, gây shock bằng sức mạnh của ngôn từ, điều đó xuất phát từ ý thức: coi ngôn ngữ là thứ thể hiện chính xác nhất những trải nghiệm cá nhân giới
nữ trong nhiều mối quan hệ khác nhau
b Công khai xét lại lịch sử và các điển phạm nghệ thuật bằng cái nhìn riêng của cá nhân và giới nữ mà không ngại vấp phải sự phản ứng của người đọc
c Công khai bày tỏ thái độ chống lại sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông và dám xông vào đề tài cấm kỵ một cách tự do, nhất là đề tài tình dục; đã bắt đầu manh nha lối “viết bằng thân thể”, dùng ngôn ngữ để biểu hiện nhịp điệu của suy nghĩ
d Hơi ấm nữ tính trong nhiều trường hợp vẫn được “bảo lưu một cách vô thức” tạo hương vị riêng cho các nhà văn nữ: miêu tả những vấn đề gần gũi với bản thân, những câu chuyện không xa vời, to tát mà gắn với đời sống thường nhật, hơi văn giàu cảm xúc.” [35]
Tiểu kết: Với những nguyên nhân và phương diện biểu hiện trên, có thể thấy văn học nữ quyền Việt Nam đương đại là sự kế thừa, tiếp nối khá liền mạch
từ văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, nếu ở những thời kỳ trước, nữ quyền chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nhỏ
lẻ hay chỉ là những âm hưởng thoáng qua thì đến nay, vấn đề này đã được thể hiện một cách tự do, chủ động và ở mức độ sâu rộng, quyết liệt hơn: không chỉ đòi quyền lợi cho người phụ nữ, các nhà văn còn có nhu cầu xác lập vị trí của người phụ nữ như một chủ thể tư duy, chủ thể trải nghiệm và chủ thể thẩm mỹ cả trên phương diện nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Nữ quyền trở thành nguồn cảm hứng, ý thức sáng tạo chủ đạo của các nhà văn đương đại