1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VẤN ĐỀ NHÂN SINH TRONG TÁC PHẨM NGUYỄN KHẢI TỪ SAU 1975

27 712 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 67,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Nguyễn Khải là một trong số các cây bút văn xuôi Việt Nam hiện đại, là nhà văn có nhiều tài năng, thường có mặt ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn học của dân tộc.Ông

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Khải là một trong số các cây bút văn xuôi Việt Nam hiện đại, là nhà văn

có nhiều tài năng, thường có mặt ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn học của dân tộc.Ông thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp Suốt hơn nửathế kỷ lao động nghệ thuật miệt mài, tận tụy, không ngơi nghỉ, ông đã cho ra đời hơn

50 truyện ngắn, 8 cuốn tiểu thuyết, trên 60 tác phẩm ký, tạp văn, thể loại nào cũngđược đông đảo bạn đọc hào hứng đón nhận Nhìn một cách tổng quát, tác phẩm củaNguyễn Khải thường mang tính vấn đề - những vấn đề của hôm nay và từ đó rút ranhững ý nghĩa mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, cuộc sống, con người.Cái nhìn thấu suốt, thực tại, sự khám phá sâu sắc quá trình vận động của cuộc sống,khuynh hướng sáng tác luôn tìm tòi, phát hiện những vấn đề thuộc bình diện tư tưởng

và vẻ đẹp tinh thần cao quý, lối viết văn vừa truyền thống vừa hiện đại… tất cả đã làmcho các tác phẩm của Nguyễn Khải ngày càng trở nên gần gũi với bạn đọc

Ông đã từng tâm sự: "Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ,

đó mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ" [16,77] Có thể

nói, trong suốt chặng đường sáng tạo gắn liền với những bước đi của đất nước, sángtác của Nguyễn Khải bao giờ cũng nhằm thẳng vào đời sống hiện tại Ông luôn luônmuốn hướng vào những vấn đề của hiện tại để thức tỉnh người đọc cùng với mình suynghĩ Dù ở mỗi chặng đường, trong phương hướng bám sát những vấn đề thời sự hômnay, đề tài có thay đổi, thế giới nhân vật cũng có nhiều đổi khác nhưng bao giờ trái timNguyễn Khải cũng thấm đẫm cảm hứng trước những vấn đề cơ bản của cuộc sống, củadân tộc, của thời đại, những nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Do Nguyễn Khải có vịtrí, vai trò quan trọng như vậy, cho nên việc nghiên cứu, tìm hiểu những tác phẩm củaông là cần thiết và chắc chắn sẽ rút ra được nhiều bài học bổ ích Mặt khác, NguyễnKhải là một trong những tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy nhiều trong nhàtrường phổ thông Các tác phẩm được chọn giảng đều tiêu biểu cho phong cách nghệthuật của nhà văn, thể hiện rõ nét những chiêm nghiệm, trăn trở suy tư về con người,

về cuộc đời…bằng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo mà gần gũi Vì thế, việc nghiên

Trang 2

cứu Nguyễn Khải, nhất là về phương diện nghệ thuật sẽ góp thêm một tiếng nói giúpích cho việc dạy và học tác phẩm của ông ở trong nhà trường.

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Khải là một cây bút nổi tiếng của nền Văn học Việt Nam hiện đại Với sốlượng tác phẩm cũng như chất lượng trong sáng tạo nghệ thuật của mình, ông đã đượcgiới nghiên cứu phê bình đánh giá là một cây bút thông minh, sắc sảo trong khám phá

và nắm bắt hiện thực Sự mẫn cảm với những gì đang diễn ra hằng ngày, với những

vấn đề hôm nay đã khiến những trang viết sắc sảo, đầy chất “văn xuôi” của Nguyễn

Khải không chỉ thu hút bao thế hệ độc giả mà còn gợi không ít hứng thú tranh luận, trở

thành nơi “giao tiếp đối thoại” với đông đảo bạn đọc

Nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về tác gia, tác phẩm của Nguyễn

Khải có bài viết của Phan Cư Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 (tập II); của Đoàn Trọng Huy trong Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 - 1975 (phần tác giả) Ngoài ra phải kể đến "Lời giới thiệu" của Vương Trí Nhàn trong tuyển tập "Nguyễn Khải” (3 tập) hay những bài viết của Đào Thủy Nguyên, Nguyễn Thị Bình

Đặc biệt, những sáng tác từ sau 1975 của Nguyễn Khải đã tạo được sự chú ý củacông chúng độc giả Các bài viết đã khẳng định những đặc điểm cơ bản trong các sángtác của ông như: khả năng phát hiện vấn đề, ý thức tìm tòi, lật xới hiện thực, và nhất lànhững vấn đề nhân sinh được thể hiện rất rõ nét qua đối thoại, qua nghệ thuật kể

chuyện hấp dẫn Như tác giả Chu Nga trong bài viết “Đặc điểm ngòi bút hiện thực Nguyễn Khải” đã khẳng định: “Với con mắt sắc sảo của mình, nhìn vào ngõ ngách nào của cuộc sống, Nguyễn Khải cũng có thể rất nhanh nhạy phát hiện ra những vấn

đề phức tạp” [21,65] Theo Lại Nguyên Ân thì người đọc thích Nguyễn Khải bởi

"chất văn xuôi" Đó là tính hiện thực của tác phẩm Nguyễn Khải khi viết về những con người, những sự việc, những vấn đề của "hôm nay", những "đề tài nhắm thẳng vào đời sống hiện tại" Cái hiện tại, những vấn đề hôm nay luôn luôn là trung tâm chú ý của nhà văn Nguyễn Khải Trần Đình Sử nhất trí với ý kiến đó và chỉ ra rằng: "cái nhìn tỉnh táo" của Nguyễn Khải giúp người đọc nhận thức cuộc sống và con người một

cách chân thực

Trang 3

Có thể nói, người đã dồn nhiều tâm huyết nghiên cứu về con người và văn chương

Nguyễn Khải từ sau 1975 tiêu biểu nhất là Vương Trí Nhàn Với bài viết "Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học Cách mạng từ sau 1945", ông đã giúp người đọc nhận ra nét căn bản trong các sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới là: “Cái nhìn sắc sảo có từ sớm và khao khát có mặt trong ngày hôm nay Đối thoại với chính mình

và sự phát hiện trở lại - một phong cách vừa dân dã vừa hiện đại” [4,114]

Ngoài ra, bài viết "Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết" của tác giả Nguyễn Thị Bình in trong cuốn "Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm" cũng chỉ ra rằng: "Tỉnh táo ngay từ khi đưa ra quan niệm "Nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người" nên các nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Khải giai đoạn trước nhìn chung không phải loại đơn giản hay phiến diện Nhưng phải nói đến giai đoạn sau này, ông mới dành toàn

bộ sự chú ý vào con người, lấy việc khám phá con người làm mục đích trung tâm Dung lượng hiện thực có vẻ đẹp hơn nhưng hiện thực lại có chiều sâu hơn và do đó có

ý nghĩa khái quát hơn" [2,135].

Như vậy, mặc dù các nhà nghiên cứu đã đề cập đến thế giới nhân vật trong các tácphẩm của Nguyễn Khải nhưng trong phạm vi khảo sát của chúng tôi, hầu như có rất ít

đề tài đi sâu tìm hiểu “Vấn đề nhân sinh nhìn từ phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Khải sau 1975” Trên tinh thần tiếp thu, phát triển ý kiến của người đi trước và một số ý kiến cá nhân, chúng tôi xin mạnh dạn góp phần làm sáng tỏ “Vấn đề nhân sinh nhìn từ phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Khải sau 1975”.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật thể hiện vấn đề nhân sinh trongsáng tác của Nguyễn Khải sau năm 1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những

"vấn đề nhân sinh nhìn từ phương diện nghệ thuật" trong các sáng tác tiêu biểu của

Nguyễn Khải sau năm 1975

Trang 4

Khảo sát những sáng tác trước 1975 để có cái nhìn đối sánh giữa hai thời kì sángtác và từ đó thấy được những nét phát triển nghệ thuật trong sáng tác của nhà vănNguyễn Khải.

Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến Nguyễn Khải để có cái nhìn toàn diện về tácgiả, từ đó đi tìm những đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Khải sau năm1975

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VĂN HỌC 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng

12 năm 1930 tại Hà Nội Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiềunơi Lúc ông đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám Trong kháng chiếnchống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộđội, làm y tá rồi làm báo Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểuthuyết Xung đột Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố HồChí Minh Năm 1988, ông rời quân đội với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhàvăn Việt Nam Nguyễn Khải từng là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà vănViệt Nam các khóa II, III và là phó tổng thư ký khóa III Ông là Đại biểu Quốc hộikhóa VII Năm 1982, ông nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết

Gặp gỡ cuối năm Năm 2000, nhà văn được phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt

II về Văn học nghệ thuật Ông mất ngày 15 tháng 01 năm 2008 tại thành phố Hồ ChíMinh do bệnh tim Ông ra đi để lại một sự nghiệp văn chương phong phú và đa dạng

từ thể loại đến hình thức sáng tác

Từ năm 1965 trở về trước: tác phẩm của ông là những khúc tráng ca lãng mạn củacông cuộc xây dựng chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Chủ đề của giai đoạn nàykhá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trongnhững năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã hội - chính trị có tính thời sự vàđời sống tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những biến động phức tạpcủa đời sống Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch Trong

đó, Nguyễn Khải để lại dấu ấn qua nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Xây dựng (truyện vừa, 1952, Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Sức mạnh của ngòi bút là được chiến đấu

Trang 5

cho lẽ phải, cho chân lý (trao đổi, báo Văn học, 1962), Người trở về (Tập truyện vừa,

NXB Văn học, 1964)…

Từ năm 1965 – 1975: Ông chủ yếu viết về người anh hùng trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước Có thể kể đến như: Ra đảo (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1970), Đường trong mây (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1970), Chủ tịch huyện (truyện, NXB Văn học 1972), Đối mặt (kịch, Tạp chí Tác phẩm mới, 1974)…

Đặc biệt, từ sau năm 1975: Nguyễn Khải viết nhiều về những miền đất mới, tiêu

biểu như: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người Trong đó, nổi lên là các trang viết rất sâu sắc về Hà Nội như Một người Hà Nội, Người của ngày xưa Ngoài ra, có thể kể đến Tháng ba ở Tây Nguyên (ký sự, NXB Quân đội nhân dân, 1976), Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), khoảnh khắc đang sống (kịch bản phim, truyện ngắn, NXB Văn nghệ, 1982), Cái thời lãng mạn (truyện vừa, Báo Văn nghệ, 1987) hay tác phẩm Một cõi nhân gian bé tý (tiểu thuyết, NXB Văn nghệ, 1989), Chuyện tình của mỗi người (truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1992), Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (tập truyện, NXB Hội nhà văn, 1993), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn, 2003 Cuối đời, ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu trong tùy bút: Nghĩ muộn (Tùy bút, 2000), Đi tìm cái tôi đã mất (Tùy bút, 2006).

Với những đóng góp to lớn ấy, Nguyễn Khải đã nhận nhiều giải thưởng văn họcnhư: Giải thưởng Văn học Lê Thanh Nghị (Liên khu III, 1951), Giải thưởng Văn nghệViệt Nam (1951-1952), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1982), Giải thưởng Vănhọc Đông Nam Á (2000), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt II -2000) và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng

Những thành tích, những sáng tác cũng như những quan niệm trên của NguyễnKhải ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của lịch sử Ngòi bút Nguyễn Khải như trẻ lại với

niềm say mê “cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn” (Gặp gỡ cuối năm) Ông chiếm lĩnh

nhiều vùng đất mới mà vùng đất nào cũng để ông không ngừng trăn trở về số phận conngười, về giá trị làm người Vẫn là cây bút năng nổ, sung sức, Nguyễn Khải liên tục

xuất hiện trên văn đàn với nhiều thể loại: Kịch (Cách mạng, Khoảnh khắc đang sống, Hành trình đến tự do), bút kí, tạp văn, tiểu luận (Chuyện nghề), truyện ngắn (các tập Một người Hà Nội, Hà Nội trong mắt tôi, Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu…),

Trang 6

tiểu thuyết (Cha và Con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Điều tra về một cái chết, Vòng song đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười…)

Từ 1978 đến nay, qua bảy cuốn tiểu thuyết đã công bố của Nguyễn Khải, ngườiđọc nhận ra ở ông sức sáng tạo dồi dào và một phong cách tiểu thuyết rõ nét Cả bảy

cuốn tiểu thuyết đều có dung lượng gọn gàng (ngắn nhất là Một cõi nhân gian bé tí:

131 trang, dài nhất là Thượng đế thì cười: 246 trang) Mỗi tác phẩm có dạng tiểu

thuyết tư liệu, khi là dáng dấp tiểu thuyết vụ án, lúc nghiêng về tự luận, lúc tự thuật –

tự trào… Điều này cho thấy tác giả rất có ý thức đổi mới ngòi bút, có nhiều trăn trở để

mở rộng quan niệm về thể loại

Về truyện ngắn, ở giai đoạn sáng tác thứ hai này, truyện ngắn của Nguyễn Khải

có nhiều khởi sắc, tuy ông không thuộc số cây bút thực sự tạo ra bước đột phá thể loại

Đó là thế giới phong phú những cảnh ngộ cá biệt, những hành trình sống đầy nhọcnhằn do bao hệ lụy thường tình, những cuộc vật lộn kiên cường của con người vớihoàn cảnh để bảo vệ một niềm tin cá nhân, những cá nhân với bảng giá trị tự nó xáclập cho nó Mỗi truyện như một phát hiện cảm động về con người và tất cả đều nhằmtrả lời cho câu hỏi khắc khoải suốt cuộc đời cầm bút: Con người là ai? Ông đặt conngười vào các mối quan hệ đời thường để quan sát tư cách làm người của nó và nhận

ra chính cái đa đoan, đa sự trong bản chất tinh thần của con người làm nên vẻ đẹp củacuộc sống, nhận ra trong số phận cá nhân, yếu tố may - rủi có vai trò rất lớn Như vậy,cùng với kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mỹ của nhà văn cũng có nhiều thay đổi

Từ chỗ bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp của con người chính trị, con người lịch sử, ông dầnchuyển niềm say mê sang vẻ đẹp nhân bản của những con người khiêm nhường vềphận vị nhưng biết tự trọng, và dù hoàn cảnh nào cũng không chịu đánh mất niềm khátkhao tự hoàn thiện Có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Khải chặng này chứa đựng nhiềuchiêm nghiệm về nhân thế, hay nói cách khác là cách chắt lọc tính người từ cuộc mưusinh đầy phồn tạp Nguyễn Khải đo cái đẹp bằng nhãn quan văn hoá mà tiêu biểu là cái

đẹp nữ tính (Mẹ và con, Chúng tôi và bọn hắn, Người vợ, Đời khổ, Một người Hà Nội,

Má đào, Chút phấn của đời, Người của nghề…) và cái đẹp thanh lịch, hào hoa của đất

kinh kỳ (tập truyện Hà Nội trong mắt tôi) Từ góc độ văn hoá, ông đặt ra những vấn đề

rất có ý nghĩa như nhu cầu hạnh phúc của người già (Nắng chiều), nhu cầu tự do cá

Trang 7

tính (Lãng tử, Má đào), sự công bằng đối với con trẻ (Người vợ)… Có một Nguyễn

Khải thật sắc sảo mà cũng thật nhân hậu, khoan hoà trong truyện ngắn

1.2 Bối cảnh chung và những đổi mới của nền văn học sau 1975

Sự thay đổi của lịch sử – xã hội kéo theo sự thay đổi trong văn học Tuy nhiên,văn học nghệ thuật có quy luật riêng của nó Ở Việt Nam, sau 1975 hoàn cảnh xã hội

đã đổi thay Sau 1975 không khí chiến trận đi qua, con người không còn phải đối mặtvới sự sống - cái chết trên chiến hào, trong trận đánh giữa ta và địch… Con người trở

về cuộc sống thường nhật vốn đa sự và đa đoan của nó Trong dòng chảy thời gian, sự

đổi thay vĩ đại ấy cũng đã khiến không ít người “khó hòa nhập” với cuộc sống mới.

Cùng với đời sống vật chất thiếu thốn, đời sống văn hóa cũng bị bủa vây khép kín.Trong thời gian dài, những tư tưởng, học thuật, văn hóa về cơ bản chúng ta chỉ có ảnhhưởng từ hệ thống phe xã hội chủ nghĩa, vì vậy nó đơn điệu, thậm chí độc tôn một vàiquan điểm nào đấy Đặc biệt là vào những năm 1980, tình hình kinh tế xã hội nước tagặp nhiều khó khăn và rơi vào khủng hoảng ngày một trầm trọng Trước tình hình đóđảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thểnghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong phát triển các loại hình

và các thể loại nghệ thuật Những việc làm ấy đã làm cho văn nghệ nước nhà có điềukiện giao lưu với nhiều nền văn hóa, văn học trên thế giới Văn học nước ngoài đượcdịch và giới thiệu đa dạng phong phú hơn

Văn học sau 1975 có hai thời kỳ Thời kỳ đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80.Văn học thời kỳ này tuy có một số biến đổi như mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn

đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của giai đoạn trước Nghĩa là ởnhững sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ

thuật Có thể kể đến những sáng tác văn học ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Miền cháy của Nguyễn Minh

Châu… Phải từ những năm 80 văn xuôi mới thật sự có những bước chuyển đáng kể.Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạntrước Người ta thấy trong văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn QuangSáng, Ma Văn Kháng…trong đó có cả Nguyễn Khải đã bắt đầu có những đổi mới Ởđây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảmhứng, cách viết… Truyện ngắn của Nguyễn Khải xuất hiện sau 1975 đã gây nên tranh

Trang 8

luận khá sôi nổi Nổi bật là những vấn đề về đời tư thế sự với những vấn đề có ý nghĩanhân sinh rộng lớn, không chỉ dừng lại ở chiến đấu và xây dựng.

Sau chiến tranh, đất nước hòa bình, người nghệ sĩ lại được sự cổ vũ bởi không khíđổi mới, nhất là từ 1980 Với khát vọng sáng tạo và sự đổi thay ấy, lúc này nhiều nhàvăn thực sự sống và viết Người cầm bút tiếp cận hiện thực bằng cách riêng của mình.Hiện thực trong văn học được nhà văn nghiền ngẫm, đánh giá, trở trăn Hiện thực ấymang dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Có thể kể đến những tác phẩm tiêu

biểu của giai đoạn sau 1975 như: Đất trắng (1979 - 1984) của Nguyễn Trọng Oánh; Thân phận tình yêu (1991) của Bảo Ninh; Ác mộng (1990) của Ngô Ngọc Bội (1989); Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985), Thượng đế thì cười (2003)… của Nguyễn Khải; Cõi mê (2004) của Triệu Xuân…

Được sống trong thời bình với những đổi thay của thời đại, tác giả đã tìm về quákhứ, lịch sử của dân tộc với những cuộc chiến đầy cam go và oanh liệt Tuy nhiên,sáng tác sau 1975 nhìn về hiện thực chiến tranh cách mạng không phải chỉ một chiềugiản đơn Từ đề tài chiến tranh cách mạng, các nhà văn muốn qua đó đề cập đếnnhững vấn đề thuộc về con người, thuộc về đời sống sau chiến trận Họ viết về chiếntranh để có điều kiện nhìn rõ hơn cuộc sống hiện taị, có thể viết về chiến tranh với

những mất mát lớn lao của con người, hoặc để tìm “thời gian đã mất” Mỗi một nhà

văn, tùy thuộc vào mục đích của mình, cùng một đề tài chiến tranh mà đem đến chocông chúng những cảm nhận khác nhau Đó là sự phong phú đa dạng trong văn học.Trước 1975 trong văn học nước nhà đề tài này có phần hạn chế Nó nhường cho

đề tài về quê hương đất nước Hơn nữa nếu được đề cập thì cơ bản các nhà văn nhìnnhận trên lập trường giai cấp, lí tưởng xã hội Sau 1975 vấn đề cá nhân được quan tâm,những vấn đề thuộc về tính nhân bản, nhân văn được quan tâm, đặt lên hàng đầu, tìnhyêu, hạnh phúc riêng tư vì thế trở thành một đề tài lớn trong các sáng tác

Để khai thác thành công những mảng đề tài đó, đầu tiên người cầm bút phải cómột quan điểm, cách nhìn nhận riêng về đề tài sao cho phù hợp với bối cảnh chung của

xã hội lúc bấy giờ Đặc biệt là giai đoạn sau 1975, nền văn học Việt Nam thực sự đã cónhững đổi mới đáng kể

Từ sau năm 1975, nhất là đầu những năm 1980 cuộc sống thời bình đã thực sựtrở lại, con người hàng ngày phải đối mặt với nhiều vấn đề và thực tiễn đời thường,

Trang 9

các quan hệ thế sự, đời sống riêng tư Những nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đãkhông thể bỏ qua hiện thực đời thường ấy và họ nhìn ra nhiều vấn đề đáng quan tâm

Nếu trước 1975 văn học cách mạng đã chú ý đến “bề nổi” của con người trong

mối quan hệ với đất nước, cộng đồng, lịch sử, thì văn học sau thời đổi mới đã đi vào

khám phá con người ở “chiều sâu lẫn bề rộng” của nó Nhà văn đã đi vào mọi ngõ

ngách của đời sống của con người để khám phá, biểu hiện Hòa âm và nghịch âm, bètrầm và bè nổi, chát chúa lẫn êm dịu, ánh sáng lẫn bóng tối đều được cất lên trong bảntấu muôn màu của con người

Như vậy, những sáng tác từ sau 1975 đã nhìn con người ở nhiều mặt Viết về mặttốt để biểu dương, ca ngợi, viết về mặt chưa hoàn thiện để hiểu, khoan dung, thôngcảm với những sa ngã, lẻ loi của con người Điều này làm cho văn học sau 1975 mangtính nhân bản hơn Bên cạnh con người trần thế với những lo toan tính toán của cuộcsống đời thường, văn học sau 1975 cũng đã đi vào khám phá con người trên phươngdiện đời sống tâm linh, tôn giáo - một phương diện phức tạp, bí ẩn trong chiều sâu tâmhồn con người Trước hiện thực của cuộc sống phồn tạp mà con người phải va vấphàng ngày, chúng ta vẫn thấy một dòng chảy âm thầm, ẩn kín sau nó, đó là đời sốngtâm linh

Có thể nói văn học sau 1975 đã quan tâm đến những nhu cầu khát vọng bìnhthường, bản năng của đời sống con người, những sáng tác sau 1975 đã có sự chuyểnbiến rõ rệt trong quan niệm nghệ thuật về con người Trên cơ sở đó đã kéo theo nhữngthay đổi về việc thể hiện nhân vật, cấu trúc tác phẩm, ngôn ngữ, ý nghĩa phổ quáttrong sự khám phá tính nhân bản, nhân loại vì thế được mở rộng và phát triển tiếp tụctrong nền văn học Việt Nam hiện đại

Cùng với việc đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, văn học lúc này còn

có sự đổi mới về việc thể hiện nhân vật, nghệ thuật trần thuật, ngôn từ Bên cạnh đó,văn học sau 1975 cũng đã có nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần thuật Trước đây domột trong những đặc trưng nổi bật của giai đoạn văn học này là viết theo khuynhhướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, vì vậy văn học 1945 – 1975 mang đậm âm hưởnganh hùng ca, đi kèm với thái độ ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Giọng văn ởcác tác phẩm chủ yếu là giọng trữ tình, ngọt ngào, đằm thắm hay giọng hào hùng, lạcquan phơi phới, hoặc giọng điệu mang vẻ quyền uy Nhà văn thường nhân danh cộng

Trang 10

đồng mà ngợi ca, tự hào về con người dân tộc Văn học sau 1975 giọng điệu đã cónhiều thay đổi Bên cạnh giọng ngợi ca còn có cả giọng trầm buồn, bi ai Văn họctrước thiên về kể thì nay nặng về lí giải, phân tích, đánh giá cuộc sống, phân tích tâm

lí, tính cách con người

Văn học sau 1975 đa dạng về giọng điệu Giọng điệu như một phạm trù thẩm mĩ

có vai trò rất lớn trong việc xác lập phong cách nhà văn Giọng điệu trong văn họctrước 1975 nhìn đại thể là tương đối nhất quán đó là giọng ngợi ca, khẳng định Sau

1975 văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng không còn là một giọng chủ đạo

ấy nữa Nó có giọng tự tin, tự hào, đùa cợt mỉa mai, trong đó giọng giễu nhại được thểhiện rất rõ

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ NHÂN SINH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

NGHỆ THUẬT

Cũng như bao nhà văn khác, Nguyễn Khải luôn mong muốn tạo ra được mộtphong cách riêng, dấu ấn riêng trong lòng bạn đọc Chính vì thế, ông đã không ngừngtìm tòi, sáng tạo ra những nhân vật, những con người, những tác phẩm sáng ngời ýnghĩa nhân văn cao đẹp Để thể hiện thành công những suy tư, trăn trở cũng nhưnhững chiêm nghiệm trong những sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Khải tạo dựngcho mình một phong cách nghệ thuật riêng biệt, độc đáo Đặc biệt, thành công trongnhững sáng tác của ông sau năm 1975 có một đóng góp rất lớn của ngôn ngữ, giọngđiệu trần thuật đến ngôi kể… và một số yếu tố nghệ thuật khác

2.1 Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu quy định cách xưng hô, gọi tên dùng từ, sắc điệu tình cảm: giọng điệutạo ra sự xa gần thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọngđiệu với tư cách là thành phần cơ bản liên kết các yếu tố hình thức để tạo thành mộtchỉnh thể Giọng điệu góp phần quan trọng vào việc làm nên phong cách Mỗi nhà văn

có một đặc sắc riêng thể hiện qua giọng điệu Nguyễn Khải cũng vậy, ông sử dụnggiọng điệu một mặt làm gần lại khoảng cách giữa người đọc và tác giả, giữa thế giớinghệ thuật của nhà văn với thế giới hiện thực của đời sống, mặt khác tạo ra một môitrường thích hợp để tâm sự giãi bày, đối thoại với người đọc một cách thân thiết, gần

Trang 11

gũi hơn Nguyễn Khải đã sử dụng giọng điệu như một phương tiện nghệ thuật có hiệuquả cho việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng như nội dung tư tưởng của tác phẩm.

2.1.1 Giọng điệu xót xa, cảm thông chia sẻ

Với cái nhìn từng trải, đầy chiêm nghiệm, nhà văn xót thương cho những số phậnbất hạnh, những con người lương thiện chịu nhiều thiệt thòi, những con người một thờicống hiến cho Cách mạng nay đã về hưu, không còn là nhân vật chính của cơ quan,bạn bè đồng nghiệp Họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa dòng xoáy cuộc đời, khi các giátrị tinh thần dần được thay thế bởi các danh lợi về vật chất Khi viết về họ, tác giả luônthể hiện bằng giọng xót xa thương cảm

Chẳng hạn, khi viết về vợ chồng anh thương binh (Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức), những con người lương thiện chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, giọng điệu

xót xa thương cảm thể hiện trong lời người kể chuyện về cuộc đời hai vợ chồng Anh

Toàn bị mù, cuộc sống dồn vào vai của vợ: "đẻ ba bận con, rồi con ốm, rồi chồng đau, việc ngoài đồng, việc trong nhà, việc họ, việc làng, tính toán công nợ, tính toán no đói, một mình chị phải cắn răng đảm đương bằng hết" [7,287] Nhà văn xót xa thương cảm khi nói đến nỗi vất vả của chị: "Mười lăm năm làm vợ, làm mẹ, phải nuốt đi bao nhiêu buồn tủi, bao nhiêu cay đắng" [7,287] Nhà văn đã dành tình cảm thương yêu,

sự cảm thông chia sẻ của mình với vợ chồng anh Toàn: "Tôi bưng bát gạo xấu lên mà lòng cứ ngậm ngùi Những người quá giàu lòng tự trọng, lại có tính hay xấu hổ là sống gian truân lắm Nhưng không có những con người gàn dở ấy, những số phận ít gặp may mắn ấy thì cuộc đời nhạt nhẽo biết chừng nào" [7, 288].

Kết thúc chiến tranh, người chiến sĩ Nghinh (Một bàn tay và chín bàn tay) may

mắn trở về, nhưng không còn nguyên vẹn Thành công của tác giả khi miêu tả chongười đọc thấy được sự mất mát quá lớn lao ấy một phần cũng nhờ vào giọng điệu xót

xa Nhà văn đã diễn tả nỗi đau xót tột cùng của anh khi chia tay với chị và khi gặp lại

mẹ mình: "Lần đầu tiên anh được biết một nỗi buồn rất đáng sợ, buồn đến xé ruột gan, không chết được nhưng cũng không sống nổi( ) Mẹ anh đã nhon nhón đi tới Anh ngồi im, mồ hôi vã ra như kẻ sắp bước lên đoạn đầu đài Anh có thể chịu được nhát chém nhưng không chịu được tiếng khóc, tiếng kêu của mẹ" Những cảm xúc cứ

trào dâng Đằng sau những trang giấy là sự thương cảm đến vô hạn của một tấm lòng

Trang 12

yêu thương chứa chan Hai con người bị tàn phá bởi chiến tranh đã cùng nhau thêu dệtnên câu chuyện hạnh phúc đẹp như tranh vẽ, với ý chí không chịu khuất phục số phận.

Khi viết về hai ông cháu (Ông cháu), chúng ta cũng dễ nhận ra giọng điệu xót xa

thương cảm của tác giả khi miêu tả hai ông cháu Đó là những dòng độc thoại nội tâm

của nhân vật ông khi con trai chết: "Tại sao ông thì khỏe thế mà con lại bệnh tật thế? Tại sao ông không chết mà con ông lại chết để vợ nó góa bụa sớm? Tại sao ông nghèo thế, con chết rồi là nhà cửa tan tành, vợ con nó biết trông cậy vào đâu "

Còn đây là giọng xót xa khi nghe chị Vách (Đời khổ) kể về cuộc đời mình Một

người vợ suốt đời hi sinh vì chồng con, không lấy một ngày vui cho mình Khi tiếngkhóc ai oán, xót xa vang lên ở cuối truyện cũng là lúc mạch thương cảm xót xa thực sự

vỡ òa Giọt nước mắt cay đắng tự nó nói lên tất cả về một con người chỉ biết suốt đời

hi sinh

Đặc biệt khi viết về những nhân vật cùng thời với tác giả, những nhà văn, nhà báođại tá về hưu giọng điệu trần thuật như đã cảm nhận tận cùng nỗi niềm tâm trạng củacon người với những số phận trớ trêu, éo le trong xã hội hiện tại

Cuộc đời ông Trắc (Lạc thời) hiện lên trên từng trang viết tâm trạng nặng nề, chua

chát, đau đớn, thấm đẫm nỗi buồn Sự cô đơn của nhân vật cứ trở đi trở lại Đó là nỗibuồn được khắc họa trên khuôn mặt ánh mắt Giọng điệu xót xa đau khổ, tê tái thấmđẫm trong từng suy nghĩ của nhân vật, trong những dòng độc thoại nội tâm đầy trăn

trở: "Có ai nỡ đối xử với ông như cái ngày vừa rồi, một ngày thật buồn, như lần đầu tiên ông nhận ra cái mặt thừa của mình, những lời nói thừa, cả chổ ngồi chổ đứng cũng hoàn toàn thừa Không ai cần đến ông cả, không ai muốn sự có mặt của ông ở bàn tiệc đãi đằng bạn bè của họ" Nỗi đau tê tái thấm vào trong từng lời văn, có lúc như tiếng nấc ai oán: "Nhưng mà họ quên tôi rồi Tôi ngồi sờ sờ ở đây họ vẫn muốn quên, một lời mời cho tử tế cũng chẳng có Vì quen biết tôi, bầu bạn với tôi các vị ấy chả có chút lợi lộc gì Tôi không có tiền, lại không có danh, có khi lại gây phiền Buồn nhỉ! Tôi buồn quá các người ơi!" Một con người cảm thấy thực sự thất bại khi

bị đồng loại chối bỏ, hoàn cảnh của ông Trắc cũng gần tương tự như vậy Trong mộtbàn tiệc với những người thân quen, nhưng ai cũng coi ông như người xa lạ, ông cảmthấy thất vọng ê chề

Trang 13

Đứng trước mỗi cảnh đời, mỗi số phận, mỗi niềm vui hay nỗi buồn của nhân vật,

giọng văn người kể đều bộc lộ niềm xót xa, cảm thông chia sẻ Gặp ông Hai (Hai ông già ở Đồng Tháp Mười) trong dáng vẻ e ngượng nép mình trước mặt mọi người, giọng điệu người kể không khỏi ngậm ngùi xót xa Và nhân vật cũng tự bộc bệch về mình: " Tôi không phải người đầu tiên, cũng không phải người sau cùng chịu mọi bất hạnh, tôi biết thế, một kẻ thất bại hoàn toàn, không được đền bù bất kể phương diện nào"

[12, 163]

Trước sự xáo trộn của thời thế, nhà văn thực sự xót xa, thương cảm, thương cho

người và thương cho đời Nguyễn Khải cho xuất hiện không ít lần tính từ "buồn" để

diễn tả tâm trạng của con người trước sự thay đổi của thời thế Nhân vật buồn, người

kể chuyện buồn, nỗi buồn giăng khắp các truyện ngắn của ông "Chỉ buồn thôi No

ăn mà buồn Không phải lo nghĩ mà lại buồn" [12,266] "Chuyện của xã N buồn là thế, nhưng nghĩ cho cùng chẳng có gì đáng buồn Có chăng là buồn cho thân phận mình mà thôi" [12,270] "Rồi cậu xem, kết thúc câu chuyện này sẽ là ba cái xác chết Nghe không thể tin được mà lại là chuyện có thể xảy ra Buồn nhỉ" [12,259]…

Bằng giọng điệu xót xa chứa nhiều nỗi niềm suy tư với những con người trong xãhội này, Nguyễn Khải đã giúp chúng ta thấu hiểu những con người luôn trăn trở trướccuộc sống bộn bề, cảm thấy lạc lõng giữa đám đông, nhưng họ vẫn cố gắng gìn giữnhững truyền thống tốt đẹp, giữ được nhân cách của con người

2.1.2 Giọng triết lí, tranh luận

Có thể nói sức hấp dẫn trong những sáng tác sau 1975 của nhà văn Nguyễn Khải

là ở cách xử lí vấn đề, ở các ý tưởng, kết luận Các nhà phê bình đều thống nhất caokhi cho rằng văn của Nguyễn Khải đậm chất triết lí, đối thoại, tranh luận Đặc điểmnày là nét nổi bật trong phong cách nhà văn kể cả trước và sau 1975

Trước 1975, người đọc đã từng biết đến một Nguyễn Khải giàu tính triết Sau

1975 nét phong cách ấy vẫn ổn định, và dường như hàm lượng chất trí tuệ càng tăng.Người đọc có thể tìm thấy chất triết lí đa dạng trong tiểu thuyết của nhà văn Từ nhữngvấn đề chính trị lịch sử tôn giáo, những vấn đề cao siêu đến những chuyện của cuộcsống bình dị hàng ngày… nó có mặt hầu khắp các trang viết Đây là triết lí về tôn giáo:

“Nhưng lòng tin luôn luôn là sống động, là dấn theo một lí tưởng nhất định, trong sự lựa chọn thường xuyên để cuộc sống của con người có một ý nghĩa nào đó, thì lòng tin

Ngày đăng: 18/07/2016, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w