Thiếu máu là một trong những bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Thiếu máu rất phổ biến ở trẻ em, có khoảng 222 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới bị thiếu máu. Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển khoảng 51%, ở các nước phát triển là 12% (UNICEF 1986) Thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng phổ biến ở trẻ em. Theo tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em là rất cao, nhất là các nước đang phát triển: Nepal 68,8%, Pakistan 65%, Ấn Độ 53%, Sri Lanka 52,3%, Kazakhstan 50,1%, Indonesia 45%, Trung Quốc 37,9%, Maroocs 35%, Philipin 31,8%, Hoa Kỳ 320%, Hàn Quốc 15% Ở Việt Nam, tỉ lệ thiếu máu của trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bằng miền Bắc là 48,5%; ở trẻ em tuổi học đường vùng đồng bằng miền Bắc là 17,7%; vùng núi miền Bắc là 32,7%( Nguyễn Công Khanh và cộng sự 1989, 1995) Theo Viện Bảo Vệ Sức Khỏe Trẻ Em Hà Nội thì tần xuất trẻ bị thiếu máu là 32% trong các bệnh về máu. Tuổi có tần xuất cao là 05 tuổi : 53,73% so với nhóm 610 tuổi là 24,92% và 1115 tuổi là:21,33% Bênh thiếu máu thường gặp theo thứ tự là thiếu máu huyết tán 62%, thiếu máu dinh dưỡng nhiễm khuẩn 21% , thiếu máu suy tủy 16,4%. Theo báo cáo của Bệnh Viện Nhi Đồng 1 thì tần xuất thiếu máu 35,08% các bệnh máu. Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ 53,09% so với trẻ trên 5 đến 15 tuổi. Giới nam có tỷ lệ 63,84% so với nữ giới 36.15%. Loại thiếu máu thường gặp là thiếu máu huyết tán 58.30% , thiếu máu suy tủy 23,77% và thiếu máu thiếu sắt là14% Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài: “ Khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa Nhi II Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng.” với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt 2. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức , thực hành chăm sóc trẻ bị thiếu máu thiếu sắt cho các bà mẹ.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, Phòng chức năng, các Khoa, các Bộ môn, quý thầy cô khoa Điều dưỡng trường Đại Học Duy Tân Đà Nẵng, đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi tiếp bước trong nghề một cách vững chắc và tự tin
- Ban giám đốc, Phòng điều dưỡng và các phòng chức năng cùng các bác sĩ, anh chị điều dưỡng, nhân viên khoa Nhi của bệnh viện Phụ Sản- Nhi Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu khóa luận này
- Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi lời cám
ơn chân thành Thạc sĩ- Bác sĩ Trần Long Quân, người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
- Tôi sẽ không quên và xin trân trọng cám ơn đến các bà mẹ có con bị thiếu máu thiếu sắt cùng gia đình đã tích cực hợp tác giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Trên hết là sự biết ơn và lòng yêu thương nhất đến ba Mẹ, anh chị em và tất
cả bạn bè đã hết lòng yêu thương giúp đỡ và là nguồn động viên khích lệ tinh thần tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ lệ tế bào máu tủy xương ở trẻ nhỏ và trẻ lớn 3
Bảng 1.2 Các chỉ số hồng cầu theo tuổi (theo hằng số sinh học người Việt Nam, 1975 và * các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX) 5
Bảng 1.3 Thành phần huyết cầu tố ở trẻ em bình thường 6
Bảng 1.4 Số l ượng và công thức bạch cầu (theo hằng số sinh học người Việt Nam 1975 và (*) các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90-thế kỷ XX) 7
Bảng 3.1 Chẩn đoán thiếu máu lúc mang thai 25
Bảng 3.2 Tỷ lệ sinh thường và sinh mổ 26
Bảng 3.3Tỷ lệ sinh đủ tháng hay không đủ tháng 26
Bảng 3.4 Chiều cao lúc sinh của trẻ 26
Bảng 3.5Cân nặng lúc sinh 26
Bảng 3.6 Nguồn thu nhận thông tin về bệnh thiếu máu thiếu sắt của đối tượng 27
Bảng 3.7 Kiến thức của bà mẹ về định nghĩa bệnh thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 27
từ 6 tháng đến 6 tuổi 27
Bảng 3.8 Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh thiếu máu thiếu sắt 28
Bảng 3.9Dấu hiệu nhận biết trẻ thiếu máu thiếu sắt 28
Bảng 3.10 Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt 28
Bảng 3.11 Phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt 29
Bảng 3.12 Phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt trong thời kỳ mang thai 29
Bảng 3.13 Phòng thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 29
Bảng 3.14 Số lần cho trẻ bú trong ngày 31
Bảng 3.15 Thực hành vệ sinh trước và sau ăn cho trẻ 31
Bảng 3.16 Thời gian cho trẻ ăn bổ sung 32
Bảng 3.17 Số lần cho trẻ ăn bổ sung 32
Bảng 3.18 Thực phẩm giàu sắt 32
Trang 4DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán thiếu máu[1] 13
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo tuổi của bà mẹ 23
Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ 23
Biểu đồ 3.3 Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ 24
Biều đồ 3.4.Nền kinh tế của gia đình 24
Biểu đồ 3.5 Phân bố số con của bà mẹ 25
Biểu đồ 3.6.Tỷ lệ trẻ từng bị bệnh thiếu máu thiếu sắt trong năm qua 25
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ bà mẹ nghe đến bệnh thiếu máu thiếu sắt 27
Biểu đồ 3.8 Thực hành đƣa trẻ đi tiêm chủng định kỳ 30
Biểu đồ 3.9 Thực hành uống viên sắt khi biết mình có thai cho đến 1 tháng sau sinh 30
Biểu đồ3.10 Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ 31
trong 6 tháng đầu 31
Biểu đồ 3.11Thực hành dùng chung vitamic C với sắt 32
Biểu đồ 3.12 Thực hành dùng chung sắt với sữa 33
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2
1 ĐẶC ĐIỂM SỰ TẠO MÁU Ở TRẺ EM 2
1.1 Sự tạo máu trong bào thai 2
1.2 Sự tạo máu sau khi sinh 2
1.2.1 Nơi tạo máu 2
1.2.2 Hình ảnh máu tủy xương 3
2 ĐẶC ĐIỂM MÁU NGOẠI BIÊN TRẺ EM 4
2.1 Hồng cầu, hemoglobin, các chỉ số hồng cầu 4
2.2 Bạch cầu 6
2.3 Tiểu cầu 7
2.4 Khối lượng máu 7
2.5 Các yếu tố đông máu 8
3 Chức năng của máu 8
4 Định nghĩa và dịch tể thiếu máu thiếu sắt 8
4.1 Định nghĩa thiếu máu 8
4.2 Dịch tể học 9
5 Nhắc lại chuyển hóa sắt 9
6 Nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt 10
7 Triệu chứng 11
7.1 Triệu chứng lâm sàng 11
7.2 Triệu chứng sinh học 11
8 Chẩn đoán 11
8.2 Chẩn đoán phân biệt 13
9 Điều trị 14
9.1 Bổ sung sắt 14
9.2 Truyền máu 14
9.3 Điều trị các bệnh gây thiếu sắt 15
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 16
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn 16
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 16
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 16
2.2.2 Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu: 16
2.2.3 Mẫu nghiên cứu 21
2.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 21
2.2.5 Phương pháp xử lý dữ liệu 21
2.2.6 Phân tích dữ liệu 21
2.2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23
A KẾT QUẢ 23
3.1 Đặc điểm chung của các bà mẹ trong nhóm nghiên cứu 23
3.1.1 Phân bố theo tuổi của các bà mẹ 23
3.1.2 Phân bố nghề nghiệp của bà mẹ 23
3.1.3 Phân bố trình độ học vấn của các bà mẹ 24
3.1.4 Điều kiện kinh tế của gia đình 24
3.1.5 Phân bố số con của bà mẹ 25
3.1.6 Tỉ lệ trẻ đã từng bị bệnh thiếu máu thiếu sắt trong năm qua 25
3.1.7 Chẩn đoán thiếu máu lúc mang thai 25
3.1.8 Tỷ lệ sinh thường hay sinh mổ 26
3.1.9 Tỷ lệ sinh đủ tháng và không 26
3.1.10 Chiều cao lúc sinh của trẻ 26
3.1.11 Cân nặng lúc sinh của trẻ 26
3.2 Kiến thức của bà mẹ về bệnh thiếu máu thiếu sắt 27
3.2.1 Tỷ lệ bà mẹ nghe đến bệnh thiếu máu thiếu sắt 27
3.2.2 Nguồn thu nhận thông tin về bệnh thiếu máu thiếu sắt của đối tượng 27
Trang 73.2.3 Kiến thức của bà mẹ về định nghĩa bệnh thiếu máu thiếu sắt 27
3.2.4 Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân gây bệnh thiếu máu thiếu sắt 28
3.2.5 Dấu hiệu để nhận biết bệnh thiếu máu thiếu sắt 28
3.2.6 Kiến thức về hậu quả của bệnh thiếu máu thiếu sắt 28
3.2.7 Kiến thức về phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt 29
3.2.8 Phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt cho trẻ ngay trong thời kỳ mang thai 29
3.2.9 Phòng thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em 29
3.3 Thực hành chăm sóc trẻ thiếu máu thiếu sắt 30
3.3.1 Thực hành đưa trẻ đi tiêm chủng định kỳ 30
3.3.2 Thực hành uống viên sắt khi biết mình có thai cho đến 1 tháng sau sinh 30 3.3.3 Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 31
3.3.4 Thực hành cho con bú 31
3.3.5 Thực hành vệ sinh trước và sau ăn cho trẻ để tránh nhiễm các bệnh giun sán và tiêu chảy cho trẻ 31
3.3.6 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung 32
3.3.7 Thực hành số lần cho trẻ ăn bổ sung 32
3.3.8 Thực hành chọn thực phẩm giàu sắt 32
3.3.9 Thực hành dùng chung vitamic C với sắt 32
3.3.10 Thực hành dùng chung sắt với sữa 33
B BÀN LUẬN 34
3.2 Kiến thức của bà mẹ về bệnh thiếu máu thiếu sắt 35
3.3.Kiến thức, thực hành về phòng bệnh TMTS của bà mẹ có con dưới 2 tuổi 36
3.4 Thực hành chăm sóc trẻ TMTS của các bà mẹ 37
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
KẾT LUẬN 38
KIẾN NGHỊ 41
DANH SÁCH TÀI KIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 8Ở Việt Nam, tỉ lệ thiếu máu của trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bằng miền Bắc
là 48,5%; ở trẻ em tuổi học đường vùng đồng bằng miền Bắc là 17,7%; vùng núi miền Bắc là 32,7%( Nguyễn Công Khanh và cộng sự 1989, 1995)
Theo Viện Bảo Vệ Sức Khỏe Trẻ Em Hà Nội thì tần xuất trẻ bị thiếu máu là 32% trong các bệnh về máu Tuổi có tần xuất cao là 0-5 tuổi : 53,73% so với nhóm 6-10 tuổi là 24,92% và 11-15 tuổi là:21,33%
Bênh thiếu máu thường gặp theo thứ tự là thiếu máu huyết tán 62%, thiếu máu dinh dưỡng nhiễm khuẩn 21% , thiếu máu suy tủy 16,4%
Theo báo cáo của Bệnh Viện Nhi Đồng 1 thì tần xuất thiếu máu 35,08% các bệnh máu Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ 53,09% so với trẻ trên 5 đến 15 tuổi Giới nam có
tỷ lệ 63,84% so với nữ giới 36.15% Loại thiếu máu thường gặp là thiếu máu huyết tán 58.30% , thiếu máu suy tủy 23,77% và thiếu máu thiếu sắt là14%
Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài: “ Khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa Nhi II- Bệnh viện Phụ Sản- Nhi Đà Nẵng.” với 2 mục tiêu sau:
1 Đánh giá kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt
2 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức , thực hành chăm sóc trẻ bị thiếu máu thiếu sắt cho các bà mẹ
Trang 9CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1 ĐẶC ĐIỂM SỰ TẠO MÁU Ở TRẺ EM
1.1 Sự tạo máu trong bào thai
Sự tạo máu trong thơi kỳ phôi có rất sớm, vào tuần lễ thứ ba của phôi Những tế bào máu trong phôi được sinh ra từ mô giữa (mesenchyma) Những tế bào sản sinh từ túi noãn hoàng (yolk sac) trở thành những hồng cầu đầu tiên Cùng với
sự hình thành và phát triển của thai nhi, các bộ phận của hệ thống tạo máu hình thành và biệt hóa dần, từ mô giữa của phôi Sự tạo máu ở phôi được thực hiện ở nhiều bộ phận
Vào tuần lễ thứ 5 thời kỳ phôi, một phần bọc tá tràng biệt hóa thành gan và bắt đầu có sự tạo máu ở gan Gan là nơi tạo máu chủ yếu ở thời kỳ giữa của thai nhi, sau đó yếu dần, rồi ngừng hẳn ở cuối thời kỳ thai, lúc đẻ Lúc này gan sản sinh đủ loại tế bào máu song chủ yếu là hồng cầu, còn ít bạch cầu và tiểu cầu
Tủy xương tuy được hình thành vào tuần lễ thứ sáu của thời kỳ phôi thai, nhưng phải sau tháng thứ 4-5 của thời kỳ bào thai, khi sự tạo máu ở gan yếu đi, sự tạo máu ở tủy xương mới mạnh dần, cho tới cuối thời kỳ thai, lúc đẻ, sự tạo máu được thực hiện chủ yếu ở tủy xương
Vào tháng thứ 3, thứ 4 của thời kỳ bào thai, có sự tham gia tạo máu ở lách Lách sản sinh chủ yếu là tế bào lympho và một phần hồng cầu
Mãi sau, vào tháng thứ 5, thứ 6, hạch lympho và một phần tuyết ức cũng tham gia tạo máu
1.2 Sự tạo máu sau khi sinh
1.2.1 Nơi tạo máu
Sau khi sinh, ở trẻ để đủ tháng, tủy xương là cơ quan chủ yếu sản sinh các tế bào máu chính
Sự tạo máu ở trẻ em rất mạnh để đáp ứng sự phát triển nhanh của cơ thể trẻ
Ở trẻ nhỏ, tất cả tủy xương đều hoạt động sinh tế bào máu, tổ chứ sinh máu (tủy đỏ)
ở đây các khoang tủy xương Khi trẻ tuổi, tủy đỏ ở các thân xương dài dần dần bị
Trang 10thực hiện tập trung ở xương cột sống, các xương dẹt như xương sườn, xương chậu, xương ức, xượng sọ, xương bả vai, xương đòn và một phần đầu xương dài
Sự tạo máu ở trẻ em tuy mạnh, song không ổn định Nhiều nguyên nhận gây bệnh dể ảnh hưởng đến sự tạo máu, trẻ dễ bị thiếu máu, nhưng đồng thời cũng có khả năng hồi phục Hệ thống bạch huyết của trẻ em cũng dễ phản ứng với các nguyên nhân gây bệnh
Ngoài ra các cơ quan tạo máu cũng có tình trạng loạn sản khi bị một bệnh máu và cơ quan tạo máu không sản sinh được tế bào máu lúc đó gan, lách, hạch to các bộ phận của hệ tạo máu sản sinh các tế bào máu loạn sản, giống như thời kỳ bào thai để duy trì sự sống bình thường
1.2.2 Hình ảnh máu tủy xương
Chọc hút tủy xương, nghiên cứu tế bào ở máu tủy giúp ích cho việc đánh giá
sự tạo máu trong tủy xương Giới hạn của từng loại tế bào máu trong tủy (tủy đỏ) thay đổi trong phạm vi khá rộng; tùy theo từng lứa tuổi trẻ Số lượng tế bào tủy từ
30 x 109/l đến 100 x 109
/l
Tỉ lệ các loại tế bào tủy ở trẻ bình thường được trình bày trong bảng sau đây (bảng 7.1)
Bảng 1.1 Tỷ lệ tế bào máu tủy xương ở trẻ nhỏ và trẻ lớn
sinh 7 ngày
6 tháng –
12 tuổi 12 tuổi 15 tuổi
Người lớn
Tủy bào và hậu tủy bào (%) 5 10 8 15 20 21 Bạch cầu đũa và bạch cầu đa
Tỉ lệ tủy bào/hồng cầu 1,2 : 1 2,1 : 1 2.0 : 1 2,7 : 1 3,2 : 1 3,5 : 1
(Theo Nelson Textbook of Pediatrics, 1992, 1229)
Trang 112 ĐẶC ĐIỂM MÁU NGOẠI BIÊN TRẺ EM
2.1 Hồng cầu, hemoglobin, các chỉ số hồng cầu
- Số lượng hồng cầu thay đổi tùy theo tuổi Trẻ sơ sinh đủ tháng lúc mới sinh, số lượng hồng cầu rất cao, từ 4,5 – 6,0 x 1012/l Nhưng sau đó, số lượng hồng cầu bắt đầu giảm rất nhanh, vào ngày thứ 2-3 sau sinh bắt đầu có hiện tượng vàng
da sinh lý, là lúc bị vỡ một số hồng cầu, số lượng hồng cầu giảm dần, đến hết thời
kỳ sơ sinh hồng cầu còn khoảng 4,0 – 4,5 x 1012/l
Ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, số lượng hồng cầu còn giảm, nhất là lúc 6-12 tháng ,
số lượng hồng cầu khoảng 3,2 – 3,5 x 1012/l Nguyên do là ở thời kỳ này, trẻ lớn nhanh, sự tạo máu tuy nhanh nhưng chưa đáp ứng được, trong khi đó, hệ tiêu hóa còn kém, có thể gây thiếu một số yếu tố tạo máu Vì thế, thiếu máu nhẹ lúc 6-12 tháng còn gọi là thiếu máu sinh lý
Từ trên 1 tuổi, số lượng hồng cầu ổn định, trên 2 tuổi số lượng hồng cầu trên 4,0 x 1012/l
Số lượng hemoglobin cũng thay đổi nhiều ở trẻ nhỏ Lúc mới sinh, lượng hemoglobin (Hb) có thể từ 170-190 g/l, sau đó giảm dần, ở trẻ gưới 1 tuổi, lượng hemoglobin tiếp tục giảm, nhất là 6-12 tháng tuổi, lượng Hb có thể chỉ còn 100-120 g/l Lúc này, trẻ có hiện tượng thiếu sắt do dự trữ sắt có được trong thời kỳ thai đã
sử dụng hết và khả năng hấp thụ sắt của trẻ lúc này còn yếu, trong khi cơ thể đang lớn nhanh Ở trẻ trên 1 tuổi lượng Hb lại tăng dần, trên 3-6 tuổi lượng Hb ổn đinh từ 120-140 g/l
Thể tích trung bình hồng cầu (MCV) ở tre sơ sinh tương đối lớn, trên 100 fl Hình thái hồng cầu máu ngoại biên không đồng đều, hồng cầu to nhỏ khác nhau, tiểu hồng cầu to, nhất là ở thời ký sơ sinh Đường kính trung bình hồng cầu lúc sơ sinh khá lớn, khoảng 8,6 µm, lúc 10 ngày 8,3 µm, 1 tháng 8,1 µm, 3 tháng 7,2 µm
- Lượng hemoglobin trung bình hồng cầu (MCH) ở trẻ sơ sinh tương đối thấp (36pg), lúc 6-12 tháng thì thấp hơn (28pg), hồng cầu lúc này hơi nhược sắc, lúc trên
1 tuổi thì ổn định (khoảng 30pg)
- Nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu (MCHC) thay đổi ít hơn, từ 330g/l
Trang 12300 Hồng cầu lưới ở trẻ em sơ sinh khá cao Bình thường ở trẻ tuổi sơ sinh, hông cầu lưới ở máu ngoại biên từ 0,5 – 1%
Ở trẻ sơ sinh 1-3 ngày, hồng cầu lưới có thể 8-10%
Ở trẻ sơ sinh 4 ngày, hồng cầu lưới có thể 0,5-2%
(Theo hằng số sinh học người Việt Nam 1975)
- Nguyên hồng cầu có thể thầy ở máu sơ sinh, nhất ở trẻ sơ sinh non trong, từ 3-6% Hiện tượng tăng hồng cầu lưới và nguyên hồng cầu ở máu ngoại biên trẻ sơ sinh chứng tỏ sự tạo máu ở trẻ lúc này rất mạnh
Bảng 1.2 Các chỉ số hồng cầu theo tuổi (theo hằng số sinh học người Việt Nam,
1975 và * các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 – thế kỷ XX)
Lứa tuổi Hồng cầu
(10 12 /l)
Hemoglobin (gl)
MCH (pg)
MCHC (g/l)
MCV (fl)
Sơ sinh 1-3 ngày 5,1 0,36
Sơ sinh 4-6 ngày 4,9 0,38 108 18 36,9
Sơ sinh >7 ngày 4,7 0,49 170 14 36,1
Trang 13Sau khi sinh khác hẳn trong thời kỳ bào thai Lúc mới sinh lượng HbF rất cao, tới 60-80% Hb toàn phần, sau đó giảm nhanh, đến lúc 1 tuổi lượng HbF còn khoảng dưới 1% Hb toàn phần Ngược lại Hb trưởng thành (HbA1) lúc mới sinh chỉ
có khoảng 20-40% Hb toàn phần, sau đó tăng nhanh, thay thế HbF giảm nhanh, đến lúc 1 tuổi HbA1 khoảng 97-98% Hb toàn phần Còn HbA2 bắt đầu được tổng hợp ở cuối thời kỳ thai, lúc sinh chỉ còn 0,03 – 0,6% Hb toàn phần, sau sinh tăng dần, cho đến 1 tuổi trở đi chỉ có một lượng nhỏ, từ 2-3% Hb toàn phần Từ trên 1 tuổi thành phần Hb ổn định giống người lớn
Bảng 1.3 Thành phần huyết cầu tố ở trẻ em bình thường
/l, 24 giờ sau khi sinh, số lượng bạch cầu bắt đầu giảm, 7-15 ngày sau khi sinh, số lượng bạch cầu giảm xuống 10-10 x 109/l, giống số lượng bạch cầu ở thời kỳ bú mẹ Ở trẻ trên 1 tuổi, số lượng bạch cầu mới ổn định, trung bình từ 6-8 x
109/l
Công thức bạch cầu cũng thay đổi nhiều theo tuổi
Bạch cầu trung tình ở trẻ sơ sinh trong những giờ đầu sau sinh (6-8 giờ) giống như người lớn, chiếm tỷ lệ 60-65% số lượng bạch cầu Sau đó bạch cầu trung tính bắt đầu giảm, vào ngày thứ 7 sau sinh khoảng 45% bạch cầu Trong năm đầu và năm thứ hai, bạch cầu trung tính tiếp tục giảm, lúc 9-10 tháng giảm nhiều nhất, còn
Trang 14tuổi khoảng 45%, sau đó tiếp tục tăng, để lúc trên 14 tuổi giồng như người lớn 65%)
(60-Ngược lại, bạch cầu lympho khi mới sinh chỉ chiếm khoảng 20-30% số bạch cầu Cùng thời gian bạch cầu trung tính giảm và tăng, tỷ lệ bạch cầu lympho ngược lại tăng và giảm, lúc 5-7 ngày, bạch cầu lympho tăng lên 45%, lúc 9-10 tháng tăng tới 60%, sau đó giảm dần, lúc 5-7 tuổi khoảng 45% và 14 tuổi giảm còn 30% và ổn định
Các loại bạch cầu khác ít thay đổi, bạch cầu ưa eosin 1-2%, bạch cầu ưa base 0,1-1%; bạch cầu đơn nhân to từ 0,5-1,0 x 109/l, thay đổi từ 4-8% bạch cầu
Bảng 1.4 Số l ượng và công thức bạch cầu (theo hằng số sinh học người Việt Nam
1975 và (*) các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90-thế kỷ XX)
Tuổi Bạch cầu
(10 9 /l)
BC trung tính (%)
BC lympho (%)
BC ưa eosin (%)
BC ưa base (%)
BC đơn nhân to (%)
1-3 ngày 15,4 9,5 63 10 29 4 2 2 1,2 0,5 5 4,7 4-6 ngày 11,2 2,5 48 15 38 14 3,2 2 1,1 0,5 5 4,2
Trẻ sơ sinh, số lượng tiểu cầu từ 100 – 400 x 109/l
Ngoài tuổi sinh, số lượng tiểu cầu từ 150 – 300 x 109/l
2.4 Khối lượng máu
Khối lượng máu tuần hoàn cũng thay đổi theo tuổi So với cân nặng, khối lượng màu/kg cân nặng ở trẻ em nhiều hơn người lớn
Trang 15Khối lượng máu tuần hoàn:
Trẻ sơ sinh khoảng 14% trọng lượng cơ thể
Trẻ dưới 1 tuổi khoảng 11% trọng lượng cơ thể
Trẻ lớn khoảng 7-8% trọng lượng cơ thể
Ở trẻ mới sinh, khối lượng máu tuần hoàn còn phụ thuộc vào thời gian cặp cuống rốn, cặp cuống rốn chậm và đúng lúc có thể nhận thêm 100ml máu so vơi trẻ cặp và cắt cuống rồn quá sớm
2.5 Các yếu tố đông máu
Lúc mới sinh, các yếu tố II, VII, X, IX, XI, XII đều thấp hơn bình thường, tỷ
lệ prothrombin chỉ bằng 65 20,4%, thấp nhất vào ngày thứ 3-4 sau sinh, đạt mức bình thường sau 1 tuần (80-100%)
3 Chức năng của máu
Máu có 3 chức năng chính sau:
-Vận chuyển: máu vận chuyển khí, chất dinh dưỡng, hormone, enzyme… Vận chuyển các sản phẩm đào thải và đồng thời vận chuyển nhiệt
-Bảo vệ: máu có thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh và các độc tố có thể chống mất máu khi tổn thương thành mạch nhờ quá trình cầm máu
-Điều hòa: máu tham gia điều hòa pH nội môi thông qua các hệ thống đệm, điều hòa lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu, điều hòa nhiệt
4 Định nghĩa và dịch tể thiếu máu thiếu sắt
4.1 Định nghĩa thiếu máu
Thiếu máu là tình trạng giảm lượng hemoglobin (Hb) hay khối lượng hồng cầu dưới giới hạn bình thường của người cùng lứa tuổi Theo Tổ chức y tế thế giới, thiếu máu khi lượng hemoglobin dưới giới hạn sau:
Trẻ 6 tháng- 6 tuổi: Hb dưới 110g/l
Trẻ 6 tuổi- 14 tuổi: Hb dưới 120g/l
Người trưởng thành:
Nam: Hb dưới 130g/l Nữ: Hb dưới 120g/l
Nữ có thai: Hb dưới 110g/l
Trang 164.2 Dịch tể học
-Thế giới
Thiếu máu rất phổ biến ở trẻ em, có khoảng 222 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới bị thiếu máu Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển khoảng 51%, ở các nước phát triển là 12% (UNICEF 1986)
Thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng phổ biến ở trẻ em.. Theo tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em là rất cao, nhất là các nước đang phát triển: Nepal 68,8%, Pakistan 65%, Ấn Độ 53%, Sri Lanka 52,3%, Kazakhstan 50,1%, Indonesia 45%, Trung Quốc 37,9%, Maroocs 35%, Philipin 31,8%, Hoa Kỳ 3-20%, Hàn Quốc 15%
-Việt Nam
Tỉ lệ thiếu máu của trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bằng miền Bắc là 48,5%; ở trẻ em tuổi học đường vùng đồng bằng miền Bắc là 17,7%; vùng núi miền Bắc laf32,7%( Nguyễn Công Khanh và cộng sự 1989, 1995)
Theo Viện Bảo Vệ Sức Khỏe Trẻ Em Hà Nội thì tần xuất trẻ bị thiếu máu là 32% trong các bệnh về máu Tuổi có tần xuất cao là 0-5 tuổi : 53,73% so với nhóm 6-10 tuổi là 24,92% và 11-15 tuổi là:21,33%
.Bênh thiếu máu thường gặp theo thứ tự là thiếu máu huyết tán 62%, thiếu máu dinh dưỡng nhiễm khuẩn 21% , thiếu máu suy tủy 16,4%
Theo báo cáo của Bệnh Viện Nhi Đồng 1 thì tần xuất thiếu máu 35,08% các bệnh máu Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ 53,09% so với trẻ trên 5 đến 15 tuổi Giới nam có
tỷ lệ 63,84% so với nữ giới 36.15% Loại thiếu máu thường gặp là thiếu máu huyết tán 58.30% , thiếu máu suy tủy 23,77% và thiếu máu thiếu sắt là14%
5 Nhắc lại kiến thức về chuyển hóa sắt và chức năng của sắt
- Kiến thức về chuyển hóa sắt
Lượng sắt đự trử trong cơ thể rất ít ( bằng 0,005% trọng lượng cơ thể) Ở trẻ
sơ sinh có 250mg sắt, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg, và ở người lớn trưởng thành có khoảng 3,5-4,0g
Sắt phân bố trong cơ thể dưới 2 dạng là sắt hem và sắt không hem Sắt hem gồm hemoglobin (65-75%), myoglobin (4%), và một số enzyme (0,3%) Sắt không
Trang 17hem gồm sắt vận chuyển, transferin chiếm khoảng 0,1% và sắt dự trữ (hemosiderin
và ferritin) chiếm 25-30%
Thức ăn là nguồn cung cấp sắt chủ yếu cho cơ thể Sắt được hấp thu trên toàn
bộ đường dạ dày ruột, nhất là ở tá tràng và đoạn đầu của ruột non
Nhu cầu hấp thu sắt thay đổi theo sự phát triển của cơ thể và tùy thuộc vào lượng sắt mất đi, cũng như tình trạng dự trữ sắt trong cơ thể Ví dụ: trẻ 3-12 tháng nhu cầu hấp thu là 0,7mg sắt/ ngày, trẻ 1-2 tuổi nhu cầu hấp thu 1mg sắt/ ngày, ở trẻ lớn hơn và dậy thì nhu cầu hấp thu là 1,8-2,4mg sắt/ ngày Khi trẻ thiếu máu nhu cầu hấp thu sắt tăng lên Sắt thải trừ ít qua phân, nước tiểu, mồ hôi, bong tế bào ở da- niêm mạc, móng, hành kinh
- Chức năng của sắt
Mặc dù số lượng ít nhưng sắt là thành phần rất quan trọng, cần thiết cho sự sống Sắt có mặt ở tất cả các tế bào với nhiều chức năng trong đó quan trọng nhất là:
+Tham gia vào thành phần của hemoglobin để vận chuyển oxy từ phổi đến tất cả các cơ quan
+Myoglobin sắc tố hô hấp của cơ
+Hệ thống cytochrom
+Tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme
+Sắt tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể là thành phần của enzyme hệ miễn dịch
+Trong chuổi hô hấp sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích
6 Nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt
Nguyên nhân thiếu sắt thường liên quan đến chuyển hóa sắt có thể phân thành 4 loại nguyên nhân chính
- Cung cấp sắt thiếu: chế độ ăn thiếu sắt như thiếu sữa mẹ, ăn bột nhiều và quá sớm, thiếu thức ăn nguồn gốc động vật Sinh non, thiếu cân, sinh đôi, mẹ chảy máu trước sinh cũng làm cho lượng sắt được cung cấp qua tuần hoàn rau thai ít
- Do hấp thu kém như giảm độ toan dạ dày, tiêu chảy kéo dài, hội chứng kém hấp thu, dị dạng dạ dày ruột
Trang 18- Mất sắt quá nhiều do chảy máu từ từ qua đường tiêu hóa như loét dạ dày-tá tràng, giun móc, polyp ruột, viêm túi thừa Meckel, chảy máu đường sinh dục hay chảy máu mũi mạn tính
- Nhu cầu sắt cao ở giai đoạn trẻ lớn nhanh như dậy thì, đẻ non, tuổi hành kinh mà cung cấp không tăng
- Các triệu chứng hay gặp ở người lớn như teo niêm mạc, mất gai lưỡi và móng bẹt dễ gãy ít gặp ở trẻ em
7.2 Triệu chứng sinh học
Đặc trưng của thiếu máu thiếu sắt là thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ:
- Hemoglobin, thể tích huyết cầu giảm nhiều hơn số lượng hồng cầu
- MCV< 80fl
- MCH< 28pg
Các xét nghiệm chứng tỏ thiếu sắt:
- Fe huyết thanh < 10µmol/l
- Bảo hòa transferin < 15%
Trang 19- Xét nghiệm uyết học thấy đây là một trường hợp thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ: Hb < 110g/l, MCV< 80fl, MCH< 28pg
- Xét nghiệm thăm dò chuyển hóa sắt cho thấy thiếu sắt: sắt huyết thanh < 10µmol/l, ferritin < 12µg/l, bảo hòa transferin < 15%, protoporphyrin tự do hồng cầu >70µg/l
Trang 20Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán thiếu máu[1]
HC to
Thiếu máu
HC nhỏ
HC bình thường
hồng cầu
Nhiễm khuẩn Suy tủy
Ức chế tủy Bệnh ác tính
Trang 218.2 Chẩn đoán phân biệt
Cần phân biệt thiếu máu thiếu sắt với:
- Bệnh thalassemia và bệnh lý huyết sắc tố: đây cũng là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ, nhưng sắt huyết thanh, ferritin và bão hòa transferin không giảm Phân biệt dựa vào điện di huyết sắc tố có HbA2 HbF tăng trong beta-thalassemia, trong bệnh HbE Tuy nhiên trong trường hợp alpha-thalassemia dị hợp tử, điện di huyết sắc tố không có thay đổi, beta-thalassemia biểu hiện bệnh huyết sắc tố
- Thiếu máu nhược sắc do không sử dụng được sắt như ngộ độc chì, viêm mạn tính kéo dài, cũng là thiếu máu nhược sắc hòng cầu nhỏ nhưng sắt huyết thanh tăng
9 Điều trị
9.1 Bổ sung sắt
Uống chế phẩm sắt với liều 4-6mg Fe nguyên tố/kg/24h chia làm 2-3 lần Uống giữa hai bữa ăn Nếu đúng là thiếu máu thiếu sắt sau 5-10 ngày tỷ lệ hồng cầu lưới sẽ tăng, lượng hemoglobin tăng 2,5-4,0g/l/ngày và sau 10 ngày hemoglobin tăng 1,0-1,5g/l/ngày
- Trong trường hợp không uống được hay không hấp thu được sắt thì dùng đương tiêm Lượng sắt tiêm tính theo công thức sau:
Hb(bt) – Hb(bn) Lượng Fe (mg) tiêm= x V(ml) x 3,4 x 1,5
100 Trong đó: Hb(bt) là hemoglobin bình thường (12g/dl)
Hb(bn) là hemoglobin bệnh nhân V(ml) là 80ml/kg
3,4 là 1g Hb cần 3,4mg Fe 1,5 là thêm 50% cho sắt dự trữ
- Thêm vitamin C 50-100mg/ngày để tăng hấp thu sắt
9.2 Truyền máu
Chỉ định khi Hb < 5,0g/dl
Cần nhanh năng lượng hemoglobin lên
Trang 229.3 Điều trị các bệnh gây thiếu sắt
- Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý
- Điều trị các bệnh mạn tính đường ruột gây kém hấp thu sắt
- Điều trị các nguyên nhân gây mất máu mạn tính
10 Tư vấn dinh dưỡng
Cần đề phòng thiếu máu thiếu sắt sớm ngay từ thời kỳ bào thai Thời gian có thai nhu cầu sắt cần cho thai nghén từ 500-600mg Nhu cầu sắt khi có thai từ tháng thứ 2 là 3mg/ngày, do vậy bà mẹ cần được ăn thức ăn giàu sắt Các bà mẹ thiếu máu thiếu sắt cần được điều trị bằng các chế phẩm sắt
Giáo dục cho bà mẹ nuôi con là đảm bảo cho trẻ được bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu sau sinh Trong trường hợp trẻ không có sữa mẹ cần cho trẻ ăn sữa có bổ sung sắt
Thức ăn bổ sung cho trẻ phải là loại có nhiều sắt và vitamin C
Cần bổ sung sắt cho trẻ thấp cân Lượng sắt bổ sung được Tổ chúc Y tế thế giới khuyến cáo theo cân nặng lúc sinh như:
Cân nặng lúc sinh:
2,0-2,5kg: 1mg/kg/24h 1,0-1,5kg: 3mg/kg/24
1,5-2,0kg: 2mg/kg/24h < 0,1kg : 4mg/kg/24h
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thự hiện tại Bệnh viện Phụ Sản- Nhi, thành phố Đà Nẵng
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2016
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Như đã đề cập trong phần đặt vấn đề, nghiên cứu này chỉ tập trung vào những bà mẹ có con dưới 2 tuổi bị bệnh thiếu máu thiếu sắt đang điều trị tại khoa Nhi II- Bệnh viện Phụ Sản- Nhi, thành phố Đà Nẵng
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn
- Các bà mẹ có con dưới 2 tuổi
- Các bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bà mẹ không trực tiếp nuôi con
- Bà mẹ không trả lời phỏng vấn (câm, điếc, tâm thần, say rượu,…) hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả ( Cross- sectional descriptivey study)
2.2.2 Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu:
Bộ công cụ khảo sát kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của các à mẹ có con dưới 2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt được xây dựng với 33 câu hỏi Trong đó 22 câu thuộc nhóm kiến thức cơ bản về thiếu máu thiếu sắt và 11 câu thuộc nhóm thực hành chăm sóc trẻ thiếu máu thiếu sắt
Sau khi tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi điều tra với 3 đối tượng nghiên cứu không bao gồm trong mẫu nghiên cứu, xem xét lại nội dung và chỉnh sửa về từ ngữ
để đảm bảo các câu hỏi rõ ràng, phù hợp, tránh hiểu nhiều nghĩa
Trang 24Thang đo kiến thức về bệnh và thực hành chăm sóc thiếu máu thiếu sắt của các bà mẹ dựa trên các mức độ từ:
- Không có kiến thức: 0
- Có kiến thức không chắc chắn: 1
- Có kiến thức chắc chắn: 2
- Có kiến thức sâu rộng: 3
Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu:
- Các thông tin cơ bản của cá nhân bà mẹ
+ Tuổi (theo năm dương lịch): có 2 nhóm:
Dưới 25 tuổi
Từ 25 tuổi trở lên + Nghề nghiệp: gồm có 6 nhóm:
Nội trợ Buôn bán Công nhân Công chức/ viên chức Nông dân
Nghề khác
+ Trình độ học vấn: gồm 6 nhóm:
Mù chữ Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Cao đẳng, trung cấp Đại học và sau Đại học
+ Tình hình kinh tế gia đình : gồm 3 nhóm
Khó khăn
Trung bình
Khá giả
Trang 25+ Số con: gồm 3 nhóm:
1 con
2 con Trên 2 con + Có bị chẩn đoán thiếu máu lúc mang thai không: gồm 2 nhóm có và không + Sinh thường hay sinh mổ: gồm 2 nhóm có và không
+ Có sinh đủ tháng không: gồm 2 nhóm có và không
+ Chiều cao lúc sinh của trẻ: gồm 2 nhóm <50cm và ≥50cm
+Cân nặng lúc sinh của trẻ: gồm 2 nhóm <2,5kg và ≥2,5kg
+Con bị thiếu máu thiếu sắt: gồm 2 nhóm có và không
- Kiến thức về bệnh
+ Có nghe đến bệnh thiếu máu thiếu sắt: gồm 2 nhóm: có, không
+ Nguồn thu nhận thông tin về bệnh thiếu máu thiếu sắt: gồm có 6 nhóm:
Phương tiện truyền thông (ti vi, đài phát thanh ) Nhân viên y tế
Các cuộc họp cộng đồng Người thân
Bạn bè Nguồn khác + Kiến thức về định nghĩa bệnh thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 6 tháng đến 6 tuổi: gồm 3 nhóm: Dưới 110g/l, dưới 120g/l, không biết
Kiến thức đúng: chọn dưới 110g/l
Kiến thức sai: chọn dưới 120g/l hoặc chọn không biết
+ Kiên thức về nguyên nhân gây bênh thiếu máu thiếu sắt: gồm 4 nhóm: do mất máu như mất máu ở đường tiêu hóa do gium móc hay chảy máu cam; do không được cung cấp đủ sắt trong trường hợp trẻ sinh non, sinh đôi, chảy máu trước sinh, buộc rốn quá sớm hay trẻ nuôi bằng sữa bò thường xảy ra sau 3 tháng tuổi nhất là giữa 6 tháng tuổi đến 1 năm; do hấp thu dinh dưỡng kém;không biết
Kiến thức đạt: chọn 3 đáp án do mất máu như mất máu ở đường tiêu hóa do gium móc hay chảy máu cam; do không được cung cấp đủ sắt trong trường hợp trẻ
Trang 26thường xảy ra sau 3 tháng tuổi nhất là giữa 6 tháng tuổi đến 1 năm; do hấp thu dinh dưỡng kém
Kiến thức không đạt: chọn 1 đáp án hoặc chọn đáp án không biết
+ Dấu hiệu để nhận biết thiếu máu thiếu sắt: có nhiều lựa chọn gồm 4 nhóm trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường( thấp hơn, nhẹ cân hơn); ít vận động mệt mỏi, thở nhanh, bú kém hay quấy khóc; da xanh, niêm mặc nhợt nhạt từ từ, móng tay móng chân dễ gãy; không biết
Kiến thức đạt:chọn 3 đáp án trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường( thấp hơn, nhẹ cân hơn); ít vận động mệt mỏi, thở nhanh, bú kém hay quấy khóc; da xanh, niêm mặc nhợt nhạt từ từ, móng tay móng chân dễ gãy
Kiến thức không đạt: chọn không biết
+ Kiến thức về hậu quả của bệnh thiếu máu thiếu sắt: có nhiều lựa chọn gồm
4 nhóm trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng, nặng gây chết, không biết
Kiến thức đạt khi trả lời 2-3 đáp án: trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng và nặng gay chết
Kiến thức không đạt chọn 1 đáp án hoặc chọn không biết
+ Kiến thức về phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt: có 4 lựa chọn trong bào thai, sau sinh 1 tháng, bắt đầu ăn dặm
Kiến thức đạt: chọn còn trong thời kỳ bào thai và bắt đầu ăn dặm
Kiến thức không đạt: chọn sau sinh một tháng hoặc chọn không biết
+ Phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt cho trẻ tiến hành khi nào: có nhiều lựa chọn gồm 4 nhóm còn trong thời kỳ bào thai; sau sinh 1 tháng; khi trẻ bắt đầu ăn dặm; không biết
Kiến thức đúng: chọn còn trong thời kỳ bào thai
Kiến thức sai: chọn sau sinh 1 tháng; khi trẻ bắt đầu ăn dặm; không biết + Phòng bệnh thiếu máu thiếu sắt cho trẻ ngay trong thời kỳ mang thai: có nhiều lựa chọn gồm 4 nhóm ăn các thực phẩm giàu sắt; uống bổ sung viên sắt; ăn đầy đủ chất dinh dưỡng; không biết
Kiến thức đạt: chọn 1 trong 3 lựa chọn ăn các thực phẩm giàu sắt; uống bổ sung viên sắt; ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
Kiến thức không đạt: chọn không biết
Trang 27+ Phòng thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em: có nhiều lựa chọn gồm 4 nhóm: Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tiên và có thể cho bé bú đến khi tròn
24 tháng tuổi càng tốt Vì trong sữa mẹ, có chứa một dạng sắt đặc biệt giúp trẻ dễ dàng hấp thu hơn các loại thực phẩm hàng ngày; Nếu cho trẻ ăn sữa ngoài, không nên cho trẻ uống sữa bò quá sớm trước 1 tuổi Vì trong sữa bò có hàm lượng sắt rất thấp, dễ gây kích ứng niêm mạc của bé, làm tiêu hao sắt cần thiết dẫn đến thiếu máu
ở trẻ;Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ và sổ gium định kỳ 6 tháng một lần cho trẻ; Khi cho bé ăn dặm, mẹ nên chọn các loại ngũ cốc giàu sắt, bước sang thứ 8 mẹ có thể cho bé ăn thêm các loại đậu, thịt nạc, lòng đỏ trứng, cá, gà thịt gia cầm khác
3 lựa chọn: có, không và lúc có lúc không
+ Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu: có 2 nhóm lựa chọn có và không
+ Thực hành cho con bú: có 4 lựa chọn 3 lần/ngày, 6 lần/ngày, theo nhu cầu trẻ, khác
Thực hành đạt: cho trẻ bú theo nhu cầu
Thực hành không đạt: chọn 3 lần/ ngày, 6 lần/ngày, khác
+Thực hành vệ sinh trước và sau ăn cho trẻ để tránh nhiễm các bệnh giun sán
và tiêu chảy cho trẻ: có 2 nhóm lữa chọn có và không
+ Thực hành cho trẻ ăn bổ sung: có 2 nhóm lựa chọn: < 6 tháng tuổi và ≥ 6 tháng tuổi
Trang 28+ Thực hành chọn thực phẩm giàu sắt: có 3 nhóm lựa chọn ngũ cốc, đậu, các loại hạt; thịt, cá, trứng, sữa; ngũ cốc, đậu, các loại hạt, thịt, cá, trứng, sữa
Thực hành đạt: chọn ngũ cốc, đậu, các loại hạt, thịt, cá, trứng, sữa
Thực hành không đạt chọn 1 trong 2 lữa chọn ngũ cốc, đậu, các loại hạt; thịt,
cá, trứng, sữa
+ Thực hành dùng chung vitamic C với sắt: có 2 lựa chọn có và không
+Thực hành dùng chung sắt với sữa: có 2 lựa chọn có và không
- Mong muốn có thêm kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ thiếu máu thiếu sắt
2.2.3 Mẫu nghiên cứu
Gồm 60 bà mẹ có con đang điều trị tại khoa Nhi II, bệnh viện Phụ Sản- Nhi, thành phố Đà Nẵngđược mời để trả lời bộ câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn
2.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu
Người tham gia nghiên cứu tự điền vào bộ câu hỏi điều tra sau khi được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và các nguyên tắc đảm bảo bí mật về các thông tin trong phiếu điều tra Sau đó thu phiếu điều tra và tổng hợp, thống kê dữ liệu
2.2.5 Phương pháp xử lý dữ liệu
- Sử dụng phần mền SPSS 16.0 và Microsoft Office Excel 2007
- Phương pháp nhập dữ liệu: hai người cùng nhập để hạn chế sai sót
- Làm sạch dữ liệu: sắp xếp lại các nhóm dữ liệu, mã hóa lại các biến theo từng nhóm để phân tích