1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng dinh dưỡng của trẻ và kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại bệnh viện sản nhi vĩnh phúc năm 2016

108 426 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH NGUYỄN VIẾT SƠN THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI BỊ T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

NGUYỄN VIẾT SƠN

THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ

MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI BỊ TIÊU CHẢY ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI VĨNH PHÚC

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

UNICEF

(United Nations Children’s Fund) (Quỹ nhi đồng liên hợp quốc) WHO ( World Health Organization) Tổ chức y tế thế giới

WAZ (Weight Age Z-Score) Cân nặng/Tuổi

HAZ (Height Age Z-Score) Chiều cao/Tuổi

WHZ (Weight Height Z-Score) Cân nặng/Chiều cao (Weight

Height Z-Score)

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chảy là bệnh phổ biến, có tỉ lệ mắc cao, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Theo WHO, hàng năm trên thế giới có khoảng 750 triệu trẻ mắc bệnh tiêu chảy, trong số đó có 5 triệu trẻ chết Theo công bố của Quỹ Nhi Đồng Liên hợp quốc mỗi ngày thế giới có

5000 trẻ nghèo dưới 5 tuổi chết vì tiêu chảy Tiêu chảy là vấn đề y tế toàn cầu, là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển [58],[65]

Tại Việt Nam, trên 50% bệnh nhi nhập viện liên quan đến tiêu chảy [42] Vì vậy, chi phí y tế, thời gian, công sức của gia đình bệnh nhân đối với bệnh tiêu chảy rất tốn kém Do đó, tiêu chảy không những gây suy yếu tình trạng sức khoẻ, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ, mà còn là gánh nặng cho nền kinh tế của quốc gia và ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của các gia đình Năm

1978, WHO đã phát động chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi, với mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc do bệnh tiêu chảy gây ra Năm 1982, chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy cấp quốc gia tại Việt Nam được triển khai và hoạt động, với mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong và giảm tỷ lệ mắc bệnh

Để đạt được mục tiêu của Chương trình phòng chống tiêu chảy, ngoài việc quản lý bệnh nhân, khống chế dịch đường ruột, xử trí tốt trẻ bị tiêu chảy tại bệnh viện, đảm bảo nước sạch, vệ sinh môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm thì kiến thức, thực hành của bà mẹ có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả phòng bệnh khi chưa mắc và tự điều trị ngay khi mới mắc tại nhà, góp phần giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em do bệnh gây ra Nghiên cứu của Lê Hồng Phúc và Lý Văn Xuân cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về xử trí tiêu chảy cấp tại nhà là 26,9%; có 17,3% bà mẹ thực hành đúng xử trí tiêu chảy [30]

Trang 4

Đảm bảo dinh dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy có vai trò rất quan trọng, tuy nhiên, nhiều bà mẹ vẫn chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc dinh dưỡng đối với trẻ tiêu chảy, dẫn đến việc cung cấp dinh dưỡng cho trẻ chưa đầy đủ, đa số trẻ nhập viện chỉ được quan tâm chủ yếu đến điều trị mà bỏ qua vấn đề dinh dưỡng Tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và khi trẻ bị suy dinh dưỡng lại có nguy cơ bị tiêu chảy cao Nghiên cứu của Phạm Văn Phong và Nguyễn Thị Ngọc Bé cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp ở nhóm bệnh tiêu hoá

là 24,5% [29] Nhiều bà mẹ không dám cho con ăn “chất tanh”, kiêng khem khi con bị ốm, nguyên nhân sâu xa là do bà mẹ thiếu kiến thức và hạn chế về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Ở tỉnh Vĩnh Phúc, chưa có nghiên cứu hay khảo sát nào nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng của trẻ bị tiêu chảy và kiến thức, thực hành của bà

mẹ về bệnh tiêu chảy đối với trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị tại bệnh viện

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng dinh dưỡng của trẻ và kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016"

Trang 5

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tiêu chảy cấp ở trẻ em

1.1.1 Định nghĩa bệnh tiêu chảy

Theo định nghĩa của WHO: Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài nhiều lần trong ngày (≥ 3 lần trong 24 giờ) phân lỏng, nhiều nước hoặc phân sống

Theo hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế (2009) [4], [5], [6] Một trẻ bị tiêu chảy cần được đánh giá về:

- Mức độ mất nước và rối loạn điện giải

- Máu trong phân

- Thời gian kéo dài tiêu chảy

- Tình trạng suy dinh dưỡng - mức độ suy dinh dưỡng

- Các nhiễm khuẩn kèm theo [3],[6],[43]

1.1.2 Phân loại tiêu chảy

 Tiêu chảy cấp tính

Là những trường hợp tiêu chảy dưới 14 ngày, nguy cơ quan trọng nhất

là gây mất nước, những trường hợp này cần được bù nước sớm tại nhà, trường hợp có biểu hiện mất nước cần đưa trẻ đến y tế kịp thời

 Tiêu chảy kéo dài

Sau khi phân loại mức độ mất nước của trẻ, hãy phân loại tiêu chảy kéo dài nếu trẻ bị tiêu chảy 14 ngày hoặc hơn Có hai mức phân loại cho tiêu chảy kéo dài:

- Tiêu chảy kéo dài nặng: Nếu trẻ bị tiêu chảy 14 ngày hoặc hơn và có mất nước hoặc mất nước nặng

Trang 6

- Tiêu chảy kéo dài: Một trẻ bị tiêu chảy 14 ngày hoặc hơn nhưng không có mất nước

 Hội chứng lỵ

Là tiêu chảy thấy có máu trong phân, có thể kèm theo chất nhầy (nhầy - máu), thường có sốt Những trường hợp này cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để có

sự chỉ định thuốc đặc hiệu điều trị tác nhân gây bệnh [7]

- Khái niệm về đợt tiêu chảy (lượt): Là giai đoạn bắt đầu từ khi tiêu chảy trên 3 lần trong 24 giờ cho đến ngày cuối cùng trẻ còn tiêu chảy trên 3 lần, kế tiếp ít nhất là 2 ngày để đi ngoài phân trở lại bình thường Nếu sau 2 ngày trẻ tiếp tục đi tiêu chảy lại trên 3 lần/ ngày, thì phải đánh giá lại tình trạng mất nước và ghi nhận là đợt tiêu chảy mới

- Tiêu chảy trẻ em có thể dẫn tới 2 hậu quả nghiêm trọng là:

+ Trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh suy dinh dưỡng

+ Trường hợp nặng, không xử trí kịp thời sẽ dẫn đến tử vong Tử vong của trẻ bị tiêu chảy thường gặp ở các trường hợp cấp tính, bệnh nặng là do mất quá nhiều nước và điện giải mà không được hồi phục kịp thời

1.1.3 Nguyên nhân tiêu chảy

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên bệnh cảnh lâm sàng về tiêu chảy trẻ

em dưới 05 tuổi được đề cập đến Sau đây một số nhóm chính được coi là trọng tâm như nhóm vi sinh vật gây bệnh, bản thân đứa trẻ giảm sức đề kháng

và một số nguyên nhân chưa rõ

* Virus

Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa đến tính mạng trẻ em, nhất là trẻ dưới 02 tuổi, một phần ba trẻ em dưới 02 tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus Ngoài ra còn nhiều virus khác như Adenovirus Norwlkvirus cũng gây bệnh tiêu chảy

Trang 7

* Vi khuẩn:

Có rất nhiều chủng loại khác nhau là tác nhân gây ra bệnh tiêu chảy cấp

ở trẻ em, sau đây là một số vi khuẩn đóng góp phần lớn gây ra tiêu chảy

- Ecoli: (Escherichia coli) quan trọng là Ecoli sinh độc tố ruột (ETEC) gây tiêu chảy ở trẻ em dưới 3 tuổi, nhất là ở các nước đang phát triển, ở trẻ lớn và người lớn ít gặp

- Shigella: Shigella là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, được tìm thấy 60% các trường hợp mắc lỵ, có 4 nhóm huyết thanh đó là S dysenteria, S.flexnery, S boydi, S sonnei

- Campylobacter Jejuni: Gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc trực tiếp với phân người, uống nước bị vấy bẩn, uống sữa và ăn phải thực phẩm ô nhiễm

- Salmonella thường phân tóe nước đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ và sốt

- Vi khuẩn tả (Vibrio cholerea 01) có 2 tuýp sinh vật (tuýp cổ điển và tuýp Eltor), 2 tuýp huyết thanh (Ogawa và Inaba) có thể gây thành dịch lớn

* Ký sinh trùng

Là tác nhân đóng góp một phần quan trọng gây tiêu chảy trẻ em, một số nguyên nhân chính để được xác định như (Entamoeba histolytica), gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ và ở bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch

* Nấm gây bệnh tiêu chảy

Hay gặp là do nấm Cadida albicans loại nấm thường sống ký sinh trong ống tiêu hoá, không gây bệnh tự nhiên mà khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây tiêu chảy (ví dụ: dùng thuốc kháng sinh kéo dài )

Trang 8

* Một số yếu tố thuận lợi:

Trẻ đẻ thiếu cân nặng (< 2500 gram), chế độ ăn không phù hợp, thiếu men tiêu hoá, sau suy dinh dưỡng, sau bệnh sởi, dùng nhiều kháng sinh không hợp lý

* Không rõ nguyên nhân:

Khoảng 20% trong tổng số các nguyên nhân gây tiêu chảy

1.1.4 Dịch tễ học bệnh tiêu chảy ở trẻ em

1.1.4.1 Trên thế giới

Tiêu chảy được công nhận rộng rãi như là một nguyên nhân chính của bệnh tật và tử vong trẻ em ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Phi cận Sahara [49] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo trong khu vực châu Phi, bệnh tiêu chảy vẫn đang là nguyên nhân dân đầu gây tử vong và tỷ

lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới năm tuổi [48],[59] Báo cáo này cũng chỉ ra rằng mỗi đứa trẻ trong khu vực có năm đợt tiêu chảy mỗi năm và 800.000 trẻ chết mỗi năm vì bệnh tiêu chảy và mất nước [58] Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy, trong đó 80% là trẻ ở nhóm tuổi từ 0 - 2 tuổi Trung bình, trẻ dưới 3 tuổi mắc từ 3 đến 4 đợt tiêu chảy, thậm chí có những trẻ bị 8 - 9 đợt bệnh mỗi năm [57]

Tiêu chảy chiếm 9% nguyên nhân gây tử vong của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới năm 2015, nghĩa là có 14000 trẻ nhỏ tử vong mỗi ngày, 530.000 trẻ

tử vong một năm mặc dù đã có phương pháp điều trị hiệu quả và đơn giản hơn [47],[57]

Ở các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương, tổng số trẻ tử vong dưới 5 tuổi xấp xỉ 700000 trẻ năm 2010, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân gây ra gần 10% tổng số tử vong [61]

Trang 9

1.1.4.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tình hình tiêu chảy cũng tương tự như ở các nước đang phát triển, tiêu chảy vẫn còn là một bệnh phổ biến ở nước ta với tỷ lệ mắc cao

và nhóm đối tượng có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi

Theo thông báo dịch bệnh truyền nhiễm khu vực miền Bắc năm 2013, tiêu chảy vẫn đứng hàng thứ 2 trong 5 bệnh có số người cao nhất mắc sau bệnh cúm Hàng năm tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota chiếm trên 50% từ (44% đến 62%) tổng số trẻ em bị tiêu chảy nhập viện

Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả về kiến thức, thực hành của

bà mẹ trong phòng chống tiêu chảy cho trẻ dưới 5 tuổi ở các tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy là khá cao với

tỷ mắc dao động trung bình là từ 21,6%; 15,8%, và 22,2% [9]

Có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi giữa các vùng miền Trong đó vùng đồng bằng thường có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy thấp hơn khá nhiều so với vùng miền núi Theo kết quả nghiên cứu của hai tác giả là Trần Hữu Hạnh và Nguyễn Văn Phỏng tại Thái Bình cho thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi ở đây là 3,5% và 11,6%, còn với kết quả nghiên cứu của một tác giả tại Hà Giang cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi ở đây mắc tiêu chảy là rất cao với 59,9% trẻ bị mắc trên tổng số trẻ tham gia nghiên cứu.Và độ tuổi mắc tiêu chảy của trẻ thường tập trung chủ yếu vào nhóm trẻ có độ tuổi từ 9 - 24 tháng tuổi và không có sự khác biệt giữa các vùng miền nghiên cứu

1.1.5 Xử trí và chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi bị bệnh tiêu chảy tại nhà

Trang 10

từ đó sẽ hiện diện một khối lượng dịch bất thường, kích thích gây tiêu chảy

Do vậy vấn đề cơ bản của xử trí tiêu chảy là phải bù ngay một lượng nước, điện giải tương ứng và lượng dự phòng có thể mất tiếp theo [13]

- Đề phòng mất nước và điện giải có thể theo đường uống

- Bù lượng nước, điện giải nhanh chóng khi có mất nước nặng

- Tăng cường chăm sóc và cung cấp dinh dưỡng cho trẻ

1.1.5.2 Xử trí bệnh tiêu chảy tại nhà:

Thực hành theo 3 nguyên tắc sau [64]:

- Nguyên tắc thứ nhất: Hãy cho trẻ uống các loại dịch nhiều hơn bình thường ngay sau khi trẻ mới bị tiêu chảy, nếu trẻ còn bú hãy cho trẻ bú nhiều hơn bình thường, nếu mẹ thiếu sữa hãy cho trẻ uống thêm sữa bò pha loãng gấp đôi Cho trẻ uống các loại dịch sẵn có tại gia đình hoặc dùng ORS pha đúng theo hướng dẫn trên bao bì cho uống dần dần trong 24 giờ nếu không hết đổ đi, pha gói khác [4]

Lượng dịch bù cho trẻ: Nếu trẻ < 2 tuổi cho uống bằng thìa 50 - 100 ml (1/4 - 1/2 cốc) sau mỗi lần đi ngoài Nếu trẻ > 2 tuổi cho uống nhiều gấp đôi (100 - 200ml), trẻ lớn cho uống tuỳ theo nhu cầu Lưu ý dung dịch ORS không phải là thuốc điều trị tác nhân gây bệnh

Nếu không có sẵn ORS có thể dùng nước cháo muối thay thế và cũng cần nhớ rằng nước cháo muối không phải là thức ăn của trẻ, không thể thay thế cho bữa ăn bình thường được Nếu nước cháo muối không dùng hết trong

4 giờ (mùa hè) hoặc 6 giờ (mùa đông) thì phải đổ đi vì cháo hỏng Ngoài ra có thể dùng một số dung dịch thay thế như: Dung dịch muối đường, dung dịch cháo muối, nước trái cây

Kể từ năm 2004, UNICEF và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo điều trị tiêu chảy ở trẻ em bằng cách bù dịch bị mất thông qua liệu pháp

Trang 11

bù nước đường uống Cùng với tiếp tục nuôi ăn, dung dịch điện giải (ORESOL) và bổ sung kẽm là những phương pháp được khuyến cáo cho điều trị tiêu chảy Tính sẵn có khả năng tiếp cận của các loại thuốc này để tất cả trẻ

em, đặc biệt là những người dân nghèo, nông thôn và vùngsâu, có thể cứu sống hàng trăm ngàn trẻ em mỗi năm Những biện pháp này đã chứng minh hiệu quả chi phí, giá cả phải chăng và tương đối đơn giản để thực hiện Tuy nhiên, trên toàn thế giới, chỉ có hơn 40 phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy được điều trị bằng các liệu pháp uống bù nước và tiếp tục nuôi ăn Vùng

áp dụng của phác đồ điều trị này thấp nhất ở vùng cận Sahara châu Phi và Nam Á (lần lượt là 38% và 47%), các khu vực với hầu hết các ca tử vong do tiêu chảy Trong thời gian quan sát, tiến độ can thiệp quan trọng này được thực hiện rất chậm [57], [66] Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi tiêu chảy được điều trị bằng ORS năm 2011 là 47% [63]

- Nguyên tắc thứ hai: Tiếp tục cho trẻ ăn, cho trẻ ăn những thức ăn giàu chất dinh dưỡng, dễ tiêu đề phòng suy dinh dưỡng sau khi bị tiêu chảy

Tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ, hoặc cho trẻ uống loại sữa mà trước đó trẻ vẫn dùng

Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi không ăn thức ăn đặc nên cho uống thêm sữa hoặc bột loãng

Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên hoặc trẻ đã ăn thức ăn đặc:

+ Cho ăn thức ăn hỗn hợp chế biến từ ngũ cốc, cần cho thêm rau, thịt, đậu, cá cung cấp thêm 1 đến 2 thìa nhỏ dầu thực vật cho mỗi bữa

+ Cho trẻ ăn ngay sau khi chế biến, thức ăn cần được nấu kỹ

+ Cho uống nước quả tươi hoặc chuối nghiền để cung cấp Kali cho trẻ + Khuyến khích trẻ ăn, cho ăn ít nhất 6 lần một ngày và cho ăn thêm mỗi ngày một bữa trong 2 tuần sau khi khỏi bệnh

Trang 12

- Nguyên tắc thứ 3: Thường xuyên theo dõi các dấu hiệu mất nước, đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay Nếu sau 2 ngày chữa tại nhà không đỡ hoặc có các dấu hiệu sau: Trẻ tiêu chảy nhiều lần, phân nhiều nước, nôn nhiều, khát nước nhiều, không ăn uống được hoặc ăn uống kém, sốt và phân có máu

Lưu ý những điều cần tránh:

+ Không nên kiêng khem quá mức (kể cả mẹ và con)

+ Không dùng thuốc cầm tiêu chảy nhất là loại có thuốc phiện

+ Không được dùng kháng sinh nếu chưa có sự hướng dẫn của cán bộ y tế

1.1.6 Một số giải pháp phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi

Điều trị tiêu chảy đúng cách giảm nguy cơ tử vong, nhưng không làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Cơ sở y tế là nơi tốt nhất để điều trị trẻ bị tiêu chảy và gia đình trẻ thực hiện các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy

1.1.6.1 Nuôi con bằng sữa mẹ

Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn Nên cho trẻ bú

mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi Cho trẻ trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh

mà không cho ăn bất cứ loại thức ăn nào khác

1.1.6.2 Cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung (ăn sam)

Thức ăn bổ sung nên cho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi Tuy nhiên, có thể cho trẻ ăn thức ăn bổ sung vào bất cứ thời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát triển kém Thực hành ăn sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giầu chất dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh Lựa chọn thức ăn bổ sung dựa vào chế độ ăn

và thực phẩm an toàn sẵn có tại địa phương Cùng với sữa mẹ hoặc sữa khác, phải cho trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ và bổ sung thêm trứng, thịt, cá và hoa quả Những thức ăn khác phải nấu nhừ, có rau và cho thêm dầu ăn (5 -10ml/bữa)

Trang 13

- Không cho động vật đến gần nguồn nước

- Chứa nước trong chum, vại được rửa sạch hàng ngày, có nắp đậy

- Nếu sẵn chất đốt thì sử dụng nước đã đun sôi cho trẻ uống và chế biến thức ăn

1.1.6.4 Rửa tay thường quy

Tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy được truyền bằng tay khi bị nhiễm bẩn phân Tất cả thành viên trong gia đình cần phải rửa tay thật kỹ sau khi đi ngoài, sau khi vệ sinh cho trẻ đi ngoài, sau khi dọn phân cho trẻ, trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi ăn Rửa tay sạch đòi hỏi phải sử dụng xà phòng hoặc chất thay thế sẵn có trong vùng như tro, có đủ nước để rửa tay thật kỹ

1.1.6.5 Thực phẩm an toàn

Sử dụng thực phẩm an toàn như sau:

- Không ăn thực phẩm sống, trừ những rau quả đã bóc vỏ phải ăn ngay

- Rửa tay kỹ với xà phòng sau đi ngoài và trước khi chế biến thức ăn hoặc ăn

- Nấu kỹ thức ăn

- Ăn thức ăn nóng hoặc hâm kỹ lại trước khi ăn

- Rửa sạch và làm khô tất cả dụng cụ trước, sau khi nấu và ăn

Trang 14

- Bảo quản thức ăn đã chế biến vào dụng cụ sạch riêng biệt để tránh nhiễm bẩn

- Sử dụng lồng bàn để tránh ruồi

1.1.6.6 Sử dụng hố xí và xử lý phân an toàn

Các gia đình cần quan tâm đến chất lượng và vệ sinh của hố xí Phân của trẻ em thường chứa tác nhân gây tiêu chảy, phải thu dọn, đổ vào hố xí hoặc chôn ngay sau khi đi ngoài

1.1.6.7 Phòng bệnh bằng vắc xin

Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng mở rộng

Tiêm phòng sởi có thể giảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Uống vắc xin phòng Rotavirus Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉ định sử dụng cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế

Dự phòng và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia

1.2 Suy dinh dƣỡng

1.2.1 Định nghĩa suy dinh dưỡng

- Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ cân đối các

thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [39]

- Tình trạng dinh dưỡng (TTDD): Là các đặc điểm chức phận, cấu trúc

và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của một cá thể là kết quả của sự ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của

cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo giới, tuổi, tình trạng sinh lý và mức độ hoạt động thể lực và trí lực TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ Tình trạng dinh dưỡng của mỗi cá thể phản ánh

Trang 15

một mức độ mà trong đó các nhu cầu sinh lý về các chất dinh dưỡng được thoả mãn Cân bằng giữa khẩu phần dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng cho một trạng thái sức khoẻ tốt [37], [41]

- Suy dinh dưỡng: Là trạng thái dinh dưỡng trong đó sự thiếu hụt hoặc

dư thừa (mất cân bằng) năng lượng, protein và các chất khác gây ra hậu quả bất lợi đến cấu trúc cơ thể/ tổ chức (hình dáng cơ thể, kích thước và thành phần), chức phận của cơ thể và bệnh tật Suy dinh dưỡng xảy ra khi trạng thái cân bằng dinh dưỡng của cơ thể bị phá vỡ [43]

- Nguyên nhân suy dinh dưỡng: Do chế độ ăn thiếu về số lượng và chất

lượng, làm cho tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi

và viêm đường hô hấp cấp nặng lên Các bệnh này làm tăng nhu cầu năng lượng, giảm ngon miệng và hấp thu Suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế xã hội, sự nghèo đói, sự kém hiểu biết, trình độ học vấn thấp, thiếu an ninh thực phẩm, vệ sinh kém và sự lưu hành của các bệnh nhiễm khuẩn Các nguyên nhân này thường đa dạng và đan xen phức tạp, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển và kém phát triển Thông thường, người

ta chia ra 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD ở trẻ em là nhóm

nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân quan trọng và nguyên nhân cơ bản

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD ở trẻ là thiếu ăn về số lượng, không đảm bảo chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn Trong đó, chất lượng khẩu phần ăn là yếu tố quan trọng với vai trò của protein động vật, chất béo, vitamin, chất khoáng, acid amin và acid béo cần thiết Nếu khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu mất cân đối giữa các chất, trẻ sẽ chậm tăng cân, rồi giảm cân dẫn đến chậm phát triển chiều cao, trong trường hợp thiếu protein kéo dài thì trẻ sẽ bị thấp còi [60] Vòng xoắn giữa bệnh nhiễm trùng và SDD đã gây lên hậu quả tình trạng SDD càng nặng thêm Người ta ước đoán nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao của trẻ Tỷ lệ

Trang 16

SDD của trẻ tăng lên rõ rệt vào những mùa có các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét Nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng sự thiếu hụt một số vi chất dinh dưỡng có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chậm của trẻ Đó là vì vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển thể chất, phát dục, phát triển thần kinh, sự toàn vẹn và chức năng của hệ miễn dịch Việc ít tiêu thụ các loại thực phẩm nguồn gốc động vật hoặc thực phẩm bổ sung nói chung góp phần làm gia tăng sự thiếu hụt chất dinh dưỡng phổ biến là vitamin A, sắt, kẽm, và vitamin B12 Trẻ dưới 6 tháng nếu không có nguồn sữa mẹ, rất khó có thể đáp ứng được nhu cầu về chất dinh dưỡng cho trẻ Khẩu phần ăn của trẻ không hợp lý, trẻ không được ăn đủ số bữa tối thiểu, trẻ 12-15 tháng không được tiếp tục cho bú là yếu

tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng thấp còi [15]

Những rối loạn dinh dưỡng nghiêm trọng thường xảy ra sau khi trẻ bị tiêu chảy và nhiễm khuẩn đường hô hấp Các bệnh truyền nhiễm thường cùng tồn tại với các thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng, đây là sự tương tác tạo vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm trùng Bệnh tiêu chảy ở trẻ

em sinh ra từ các gia đình nghèo đói là nguyên nhân dẫn đến SDD thấp còi Nhiễm trùng và chế độ ăn uống không đầy đủ là nguyên nhân dẫn đến chiều cao thấp ở người trưởng thành Các nghiên cứu cho thấy nguyên nhân nhiễm khuẩn có liên quan chặt chẽ với SDD thấp còi

Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của

người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh môi trường Người ta thấy rằng tình tra ̣ng

thiếu dịch vụ chăm sóc y tế , vệ sinh môi trường kém , không có hệ thống nước sạch , dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn chặn đẩy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ [54] Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của

bà mẹ và người chăm sóc trẻ có vai trò quan trọng trong công tác phòng

Trang 17

chống SDD trẻ em nhất là giai đoạn trẻ bị bệnh vì nó liên quan trực tiếp đến nguy cơ suy dinh dưỡng [2],[12]

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến suy dinh dưỡng là do cơ sở hạ tầng kinh

tế xã hội thấp kém, tình trạng nghèo đói lạc hậu và mất bình đẳng về kinh tế SDD là hậu quả của đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế Cấu trúc chính trị xã hội và cơ sở hạ tầng kinh tế thấp kém là nguyên nhân cơ bản của SDD Ở một đất nước có nền kinh tế chậm phát triển dẫn đến kinh tế thấp kém nên an ninh lương thực không được đảm bảo và đối tượng dễ bị tổn thương nhất là bà mẹ, trẻ em Các phong tục tập quán lạc hậu, kiêng khem quá mức, các hiểu biết về khoa học y

tế chăm sóc sức khỏe thấp kém đã làm gia tăng tỷ lệ SDD và tử vong Khủng hoảng kinh tế làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế dinh dưỡng tại các nước đang phát triển càng trở lên khó khăn [21] Tăng trưởng, đặc biệt là tăng trưởng chiều cao là tấm gương phản chiếu điều kiện sống Tăng trưởng kém là biểu hiện của nghèo đói, thiếu dinh dưỡng và kém phát triển Nhiều yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến tăng trưởng như tầng lớp xã hội, vùng đô thị và nông thôn, vùng địa lý, dịch vụ y

tế nghèo nàn, điều kiện nhà ở kém và chật chội

Tăng trưởng kinh tế kém dẫn đến sự nghèo đói, tỷ lệ SDD thấp còi trẻ

em ở nhóm người nghèo nhất cao gấp đôi ở nhóm người giàu nhất Nguyên nhân của tình trạng tăng trưởng thấp do sự tác động của nhiều yếu tố, sự nghèo đói, không đủ thức ăn, thức ăn ít đa dạng, môi trường với nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cao, tiện nghi vệ sinh nghèo nàn và sự kém hiểu biết các nguyên tắc về dinh dưỡng và vệ sinh Những tình trạng này thường giảm đi khi cộng đồng qua giai đoạn chuyển tiếp với thu nhập và giáo dục được cải thiện, tuy nhiên những thay đổi này phải vài thế hệ mới đạt được Vì vậy hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các giải pháp hiệu quả để cải

Trang 18

thiện tình trạng SDD thấp còi Các giải pháp can thiệp thường là chương trình cho ăn tích cực có hiệu quả để phục hồi suy dinh dưỡng nặng, suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi đã cải thiện tốt trong những năm qua, tuy nhiên có ít chương trình dinh dưỡng thành công trong phục hồi suy dinh dưỡng thấp còi

Hiện nay, SDD nhẹ cân đã được cải thiện nhiều, tuy nhiên SDD thấp còi thể vừa và nhẹ còn rất phổ biến và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng vì ngay

cả SDD thấp còi nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong so với trẻ em không bị SDD thấp còi Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên mắc bệnh nhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà còn gây tổn thương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm quá trình phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi đối với sức khỏe trẻ em là tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong, chậm phát triển

về tinh thần và thể chất Về lâu dài, suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến nhiều chức năng cơ thể, làm suy giảm trí tuệ trẻ em, tăng nguy cơ những phụ nữ bị suy dinh dưỡng thấp còi thời thơ ấu sinh ra những đứa trẻ sơ sinh nhẹ cân, hiệu suất công việc không cao dẫn đến khả năng thu nhập thấp Hậu quả của SDD thấp còi gây ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe không chỉ ở hiện tại mà còn tác động đến cả thế hệ sau Các nghiên cứu cho thấy chiều cao của các bà mẹ có liên quan rõ rệt với suy dinh dưỡng thấp còi, vì những phụ

nữ bị SDD thấp còi sẽ sinh ra những đứa trẻ so sinh nhẹ cân có nguy cơ bị SDD thấp còi [15], [40]

1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

SDD protein năng lượng ở trẻ em vẫn đang là một thách thức đối với công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Hàng năm, có khoảng hơn chục triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong nguyên nhân chủ yếu do các bệnh nhiễm trùng và liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng

Tỷ lệ SDD trên thế giới hiện giảm bình quân khoảng 0,7%/năm Khu vực

Trang 19

châu Mỹ Latinh và vùng Carribe đạt mức giảm 0,6%/năm và khu vực châu Phi chỉ đạt được mức giảm 0,3%/năm [62] Diễn biến tỷ lệ SDD thể thấp còi cho thấy tốc độ giảm suy SDD không hoàn toàn song hành với mức tăng trưởng kinh tế, ở một số quốc gia tuy kinh tế tăng trưởng không cao nhưng tỷ

lệ SDD thể thấp còi giảm nhanh do tiến hành các can thiệp có hiệu quả Khi tỷ

lệ SDD thấp còi càng xuống thấp thì tốc độ giảm sẽ càng chậm lại Tỷ lệ thấp còi giảm trong 2 thập kỉ qua và một vài khu vực đã đạt được những tiến bộ đáng kể Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương có tỷ lệ thấp còi giảm nhanh nhất Khu vực này đã giảm được 30% SDD thấp còi, từ 42% năm 1990 xuống còn 12% năm 2011 Thành tựu này chủ yếu là do sự cải thiện từ Trung Quốc

Tỉ lệ thấp còi ở Trung Quốc đã giảm trên 30% năm 1990 xuống 10% năm

2010 [51],[62] Tỉ lệ thấp còi ở Mỹ Latinh và vùng Caribe giảm gần một nửa trong thời gian này Khu vực phía Nam Châu Á và Trung Đông và khu vực phía bắc Châu Phi cũng giảm được hơn 1/3 tỉ lệ thấp còi từ năm 1990 Tuy nhiên, sự tiến bộ trong giảm thấp còi ở tiểu vùng Sahara Châu Phi chỉ giảm 7%, từ 47% năm 1990 xuống 40% năm 2011 Hơn 1/3 các nước tiểu vùng Sahara Châu Phi vẫn có tỉ lệ thấp còi rất cao, Tây Phi và Trung Phi giảm rất ít 5%, từ 44% năm 1990 xuống 39% năm 2011, toàn thế giới giảm 14%, từ 40% năm 1990 xuống 26% năm 2011 [56]

Nhìn chung xu hướng tỷ lệ SDD thể thấp còi ở các nước đang phát triển

sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% năm 2000 xuống khoảng 16,3% năm 2020 Tuy nhiên, tỷ lệ SDD có sự khác biệt giữa các vùng Ở Châu Phi sẽ có mức độ giảm ít hơn rất nhiều từ 34,9% xuống còn 31,1% trong khoảng 20 năm tới, nhưng số lượng sẽ tăng từ 44 triệu trẻ năm 2000 lên 48 triệu vào năm 2020 do tăng dân số Ở Châu Á, Châu Mỹ Latinh và Carribe, cả tỷ lệ và số lượng trẻ SDD thể thấp còi sẽ tiếp tục giảm trong cùng một chu kỳ thời gian Nhưng trong khi tỷ lệ SDD thấp còi đang giảm chậm thì sự gia tăng số trẻ em dưới 5

Trang 20

tuổi trong các nước kém phát triển đã làm cho số lượng trẻ em bị thấp còi trong nước kém phát triển giảm chậm hơn so với tỷ lệ [51],[56]

Tại Việt Nam, chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trong hơn 30 năm qua đã có nhiều thành tựu xuất sắc, được các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánh giá rất cao Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân đã giảm liên tục từ mức rất cao năm 1985 xuống còn 16,2% năm 2012 và 14,1% năm 2015 là mức trung bình theo phân loại của WHO

Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cũng giảm từ 59,7% năm 1985 xuống còn 29,3% năm 2010 và 24,6% năm 2015

Trong những năm qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em Tuy nhiên, tỷ lệ giảm không đồng đều ở các vùng miền Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi

đã giảm đáng kể từ 36,5% năm 2000 xuống còn 24,9% vào năm 2014, đến năm 2015 tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn quốc 24,6 %, chỉ giảm 0,3% trong một năm Nhiều địa phương miền núi có tỷ lệ SDD thấp còi cao hơn hẳn vùng đồng bằng Trong khu vực đồng bằng tỷ lệ SDD thấp còi vùng nông thôn cao hơn ở thành thị Khu vực thành thị có tốc độ giảm nhanh nhất và miền núi có tốc độ giảm chậm nhất, năm 2011 tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn ở mức cao 29,3% và có trên 31 tỉnh thành có tỷ lệ SDD thấp còi trên 30% [16] Đến năm 2015 tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc đã giảm nhiều xuống còn 24,6 % và còn 11 tỉnh thành có tỷ lệ SDD thấp còi trên 30%

Các báo cáo cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân tăng lên lúc trẻ 12 tháng tuổi, duy trì đều ở các tháng tuổi sau đó, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo

độ tuổi, tăng nhanh từ lúc trẻ 12 tháng tuổi và trẻ 12 đến 36 tháng tuổi nằm trong số đối tượng có tỷ lệ SDD cao nhất, đặc biệt ở độ tuổi 24-36 tháng Tại

Trang 21

Việt Nam, ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực các dân tộc thiểu số, là những khu vực nghèo nàn, lạc hậu, tỷ lệ SDD thấp còi còn rất cao Năm 2013, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơ ở huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái tỷ lệ SDD thấp còi lên tới 60% Nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em nhóm tuổi 12 – 36 tháng dân tộc Pako và Vân Kiều ở Quảng Trị cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi lên tới 66,5% [23]

Quan sát sự phân bố SDD thấp còi theo nhóm tuổi, SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ 6 tháng tuổi đến 23 tháng tuổi và gần như đi ngang ở những tháng tuổi tiếp theo [16] Các nghiên cứu cho thấy chậm tăng trưởng và SDD thấp còi xảy ra trong 2 năm đầu tiên của cuộc sống Như vậy các thống kê trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều cho thấy quá trình chậm tăng trưởng xảy ra nhanh nhất ở lứa tuổi từ 12 tháng, tăng nhanh và tích lũy ở các lứa tuổi sau Điều đó đã làm tăng sự chú ý của các nghiên cứu đến dinh dưỡng giai đoạn đầu tiên, tức là dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời (giai đoạn mang thai và hai năm đầu tiên sau sinh) Tăng trưởng của trẻ em liên quan đến nhiều yếu tố như dinh dưỡng, các vi chất dinh dưỡng, yếu tố di truyền và điều kiện kinh tế xã hội Nguyên nhân gây suy dinh dưỡng là do thiếu năng lượng, protein, vi chất dinh dưỡng, khả năng phục hồi suy dinh dưỡng nhẹ cân tốt hơn suy dinh dưỡng thấp còi, đó là do SDD thấp còi là một bệnh lý có cơ chế bệnh sinh phức tạp, nhiều nguyên nhân gây ra và phục hồi thấp còi là khá khó khăn Cơ hội bắt kịp tăng trưởng

ở các giai đoạn phát triển của trẻ là khác nhau Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời

là giai đoạn quan trọng để phục hồi dinh dưỡng giúp trẻ bắt kịp tăng trưởng

Do vậy vai trò dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời là rất quan trọng

Trang 22

1.3 Kiến thức, thực hành của bà mẹ và một số yếu tố liên quan đến bệnh tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi

1.3.1 Vai trò của bà mẹ

Bà mẹ là người mang thai và trực tiếp chăm sóc trẻ Do vậy mọi thay đổi bất thường của trẻ, bà mẹ là người đầu tiên phát hiện sự thay đổi đó Vì vậy hiểu biết của bà mẹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc chăm sóc sức khoẻ trẻ Chỉ khi bà mẹ có kiến thức tốt với có thể nuôi dưỡng trẻ tốt giúp cho trẻ phát triển khoẻ mạnh và có các biện pháp phòng bệnh tốt nhất làm giảm khả năng mắc bệnh và tử vong của trẻ

Ở nước ta hiện nay trình độ văn hoá đã được cải thiện, trình độ hiểu biết của đại đa số dân chúng đã ngày càng được nâng cao Nhưng ở một số nơi trình độ dân trí vẫn còn rất thấp, đặc biệt là ở miền núi, nông thôn nên kiến thức nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em của họ bị hạn chế Vì vậy việc tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, thực hành của bà mẹ đối với bệnh tiêu chảy cần làm thường xuyên và tích cực hơn để giảm tỷ lệ mắc bệnh hoặc giảm tỷ lệ bệnh nặng hơn, giảm tỷ lệ tử vog do tiêu chảy

1.3.2 Kiến thức của bà mẹ

Trình độ học vấn và yếu tố dân tộc của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc trẻ từ đó ảnh hưởng tới nguy cơ mắc tiêu chảy Nghề nghiệp của mẹ có ảnh hưởng tới thời gian cho trẻ bú, thời gian và cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập hộ gia đình từ đó có ảnh hưởng khả năng mắc tiêu chảy

Nghiên cứu của Lê Thanh Nguyên cho rằng: Các bà mẹ nhận biết dấu hiệu trẻ bị tiêu chảy nhiều hơn bình thường là 83,3%, dấu hiệu thay đổi tính chất phân lỏng toàn nước 72%, dấu hiệu phân nhầy máu 16,4%, số bà mẹ biết đúng định nghĩa tiêu chảy 10% và tính chất giàu dinh dưỡng trong thành phần bữa ăn trẻ tiêu chảy 72,2% [27]

Trang 23

1.3.3 Thực hành của bà mẹ

Việc chăm sóc dinh dưỡng trẻ bị tiêu chảy đúng rất quan trọng sẽ góp phần hạn chế các hậu quả nặng nề tiêu chảy của trẻ, Bà mẹ cần phải biết nguyên nhân từ đâu gây ra bệnh tiêu chảy? Tại sao con mình bị tiêu chảy? Hầu hết qua các nghiên cứu đều thấy rằng các bà mẹ chỉ biết tiêu chảy là vì ăn uống không hợp vệ sinh, chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức phòng bệnh của họ và từ đó khiến họ thực hành phòng bệnh sai hoặc không đầy đủ mọi người chỉ biết cho con "ăn chín, uống sôi", "ăn sạch, uống sạch"

Nghiên cứu của Phan Thị Cẩm Hằng, Nguyễn Văn Bàng cho thấy 57,6% bà mẹ biết đúng loại dịch thay thế ORS, 21,2% không biết đúng lượng ORS cho trẻ uống khi trẻ đang tiêu chảy cấp, 65,9% không biết cách cho trẻ

ăn thèm khi trẻ đang bị tiêu chảy cấp [10]

1.3.4 Một số yếu tố liên quan của bà mẹ về bệnh tiêu chảy

Kiến thức và thực hành của mẹ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố

về trình độ văn hoá, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình, ngay cả độ tuổi cũng ảnh hưởng đến thực hành Có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa kiến thức thực hành và bệnh tiêu chảy Ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn tồn tại những phong tục, tập quán lạc hậu như cai sữa trước một tuổi, ăn sam sớm, không có thói quen rửa tay, không xử lý phân của trẻ một cách hợp

vệ sinh phong tục đó đã tạo thành thói quen khó có thể thay đổi và khiến cho thực hành của các bà mẹ sai dẫn đến nguy cơ trẻ bị tiêu chảy tăng lên [42] Vấn đề nhận thức của các bà mẹ đối với các phong tục, tập quán, trình

độ hiểu biết về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của trẻ, đặc biệt đối với bệnh tiêu chảy trẻ em Khi trẻ bị tiêu chảy

có rất nhiều bà mẹ đã không xử trí đúng theo phác đồ mà tự xử trí theo kinh nghiệm, theo các hướng dẫn tuyền miệng dân gian như không cho trẻ ăn uống

Trang 24

thêm chất có dinh dưỡng cao, ăn kiêng hoặc cho ăn thêm các chất theo phong tục tập quán không có lợi cho tiến triển khỏi bệnh của trẻ Vấn đề đưa trẻ đi tới các cơ sở y tế của bà mẹ khi trẻ bị bệnh tiêu chảy cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều trị và khỏi bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ cả về trước mắt và lâu dài

Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành của bà mẹ về tiêu chảy và

bổ sung nước cho trẻ của Datta V- Ấn Độ 68% bà mẹ biết chính xác định nghĩa tiêu chảy, trong đó, chỉ có 5,3% biết tiêu chảy dẫn đến mất nước, 60% thực hành ORT [50]

Nghiên cứu của Manijieh Khalili về tiêu chảy trẻ nhỏ và chế độ ăn cho thấy 64,3% bà mẹ có kiến thức tốt liên quan đến tiêu chảy, 3,7% có chế độ ăn đúng, chỉ có 2,3% thực hành tốt [53]

Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành về bù nước muối đường uống cho trẻ tiêu chảy dưới 5 tuổi của Famara Sillah cho thấy các bà mẹ có học vấn có kiến thức về bệnh tiêu chảy cao hơn đáng kể, việc sử dụng dung dịch bù nước đường uống trong thực tế còn thấp với 4%, nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan giữa tuổi mẹ và thực hành, tình trạng kinh tế, xã hội cũng liên quan đến thực hành [52]

Nghiên cứu của Seddiqe Amini-Ranjbar và Babak Bavafa, 80% bà mẹ không bổ sung dịch giàu dinh dưỡng cho trẻ trong thời kì tiêu chảy, hầu hết

đã bỏ qua việc cung cấ chất béo, 91% bổ sung sắt, 86% bổ sung vitamin tổng hợp Các bà mẹ có nguồn truyền thông bằng thông tin đại chúng thực hành tốt hơn với các bà mẹ khác (với p<0,05) [55]

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2016 - 3/2017

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Khoa Nội Nhi và khoa Truyền nhiễm - Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

2.2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

+ Tất cả các bệnh nhi từ 1 tháng đến dưới 60 tháng tuổi nhập viện trong vòng 48 giờ, được chẩn đoán xác định là tiêu chảy, có người trực tiếp chăm sóc trẻ là bà mẹ

+ Điều trị tại khoa Nội Nhi và khoa truyền nhiễm của Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Trẻ mắc các bệnh lý phối hợp nặng khác như tim bẩm sinh, bệnh lý ngoại khoa

+ Người chăm sóc trẻ bệnh không phải là bà mẹ

+ Bà mẹ từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, cắt ngang kết hợp giữa định tính và định lượng, có phân tích nhằm:

- Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016

Trang 26

- Tìm hiểu kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

e

p )(1

pZ

số bệnh viện đa khoa tỉnh [44]

e : sai số mong muốn (chọn e = 0,05)

Thay các giá trị trên vào công thức ta tính được n = 207 cặp mẹ con cần nghiên cứu Dự phòng đối tượng từ chối tham gia, chúng tôi chọn 220 cặp mẹ con trong nghiên cứu

2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả các bệnh nhi từ 0 đến dưới 60 tháng tuổi vào khoa Nội Nhi và Khoa Truyền nhiễm của Bệnh viện Sản - Nhi điều trị, được chẩn đoán xác định là tiêu chảy đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu cho tới khi đủ cỡ mẫu

2.2.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu

Trang 27

2.2.3.1 Thông tin chung của trẻ bị tiêu chảy dưới 5 tuổi điều trị nội trú

- Tuổi, giới

- Triệu chứng lâm sàng

+ Số lần tiêu chảy trong ngày

+ Thời gian bị tiêu chảy (<2 tuần ngày hay > 2 tuần)

Đánh giá và phân loại mức độ mất nước [37]

Khi có hai trong các dấu hiệu sau:

Không đủ các dấu hiệu để phân loại có

Trang 28

2.2.3.2 Khám trẻ để đánh giá tình trạng SDD

- Cân nặng sơ sinh

- Trẻ được bú sữa mẹ sau đẻ

- Trẻ được ăn bổ sung

- Thời gian cai sữa

* Đánh giá suy dinh dưỡng

- Đánh giá mức độ SDD theo WHO Dùng 3 chỉ tiêu: Cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) theo quần thể tham chiếu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006

+ Suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi (CN/T): Thể thiếu cân, đây là

chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Điểm ngưỡng là dưới -2SD được coi là suy dinh dưỡng thể thiếu cân

Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân mức độ vừa Dưới -2SD đến ≥ -3SD Suy dinh dưỡng thẻ nhẹ cân mức độ nặng Dưới -3SD

Chỉ tiêu cân nặng theo tuổi chỉ cho biết tình trạng suy dinh dưỡng chung, không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay đã lâu

+ Suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi (CC/T): Chiều cao của trẻ được

so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể tham chiếu của WHO Thang phân loại dựa trên độ lệch chuẩn như sau:

Trang 29

Cân nặng/chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD theo quần thể tham chiếu WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay sút cân

Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2SD) đề nghị thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa thấp còi

2.2.3.3 Những thông tin chung về bà mẹ

Trang 30

2.2.3.4 Kiến thức về bệnh tiêu chảy của bà mẹ

- Bà mẹ biết về dấu hiệu của bệnh tiêu chảy

Kể đủ các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tiêu chảy thì được đánh giá là

"biết đúng và đủ"; kể thiếu từ 1 triệu chứng trở lên thì được đánh giá là "biết đúng, không đầy đủ"; kể không đúng triệu chứng nào hoặc không biết thì được đánh giá là "biết sai/không biết"

- Bà mẹ biết về nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy

Bà mẹ kể được đủ 4 nhóm nguyên nhân sau được đánh giá là "biết đúng và đủ":

- Bà mẹ biết về cách phòng bệnh tiêu chảy

Bà mẹ kể được đủ 7 biện pháp phòng bệnh sau được đánh giá là "biết đúng và đủ":

+ Nuôi con bằng sữa mẹ (ăn sam)

Trang 31

Bà mẹ kể sai nội dung phòng bệnh hoặc không biết được đánh giá là

"biết sai/không biết"

- Bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ bị tiêu chảy

+ Bà mẹ biết cho trẻ bú bình thường hoặc nhiều hơn bình thường được đánh giá là "mức độ cho trẻ bú đúng";

Bà mẹ biết cho bú ít hơn hoặc ngừng bú hoặc không biết thì được đánh giá là "mức độ cho trẻ bú sai"

+ Bà mẹ biết cho trẻ ăn bình thường hoặc nhiều hơn bình thường được đánh giá là "mức độ cho trẻ ăn đúng";

Bà mẹ biết cho ăn ít hơn bình thường thì được đánh giá là "mức độ cho trẻ ăn sai"

+ Bà mẹ biết cho trẻ uống bình thường hoặc nhiều hơn bình thường được đánh giá là "mức độ cho trẻ uống đúng";

Bà mẹ biết cho uống ít hơn bình thường hoặc không cho uống hoặc không biết thì được đánh giá là "mức độ cho trẻ uống sai"

- Bà mẹ biết về cách xử trí tại nhà

+ Biết cách pha ORS

+ Biết dung dịch thay thế

+ Biết sử dụng thuốc kháng sinh

+ Biết sử dụng cây thuốc nam

- Bà mẹ biết hậu quả gây mất nước khi trẻ bị tiêu chảy

- Bà mẹ biết hậu quả suy dinh dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy

2.2.3.5 Thực hành về bệnh tiêu chảy của bà mẹ

- Bà mẹ thực hiện được đúng mức độ cho bú, đúng mức độ cho trẻ ăn, đúng mức độ cho trẻ uống (mức độ bình thường hay nhiều hơn bình thường)

- Bà mẹ thực hành đúng cách pha dung dịch ORS;

- Bà mẹ biết sử dụng dung dịch thay thế

- Bà mẹ biết sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc khác cho trẻ

Trang 32

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin

- Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (tức 30 ngày đến

59 ngày, tháng thứ 2) được coi là 2 tháng tuổi

- Tương tự, kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng (tức

là tháng thứ 12) được coi là 12 tháng tuổi

Dùng lịch âm dương để quy đổi nếu người mẹ không nhớ ngày sinh dương lịch

2.2.4.4 Khám lâm sàng bệnh nhi

Hỏi tiền sử, diễn biến bệnh, các triệu chứng của bệnh tiêu chảy, khám

đánh giá mức độ mất nước, mức độ suy dinh dưỡng của trẻ

+ Chỉnh số 0 hoặc vị trí thăng bằng sau mỗi lần cân

+ Trẻ mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ

+ Đứng giữa bàn cân mắt nhìn thẳng, không cử động (cân bàn)

Trang 33

+ Đọc nhìn thẳng chính giữa mặt cân, đọc khi cân thăng bằng, ghi số cân theo kg, làm tròn 1 số thập phân

2.2.4.6 Kỹ thuật đo chiều cao đứng

Hình 1.1 Kỹ thuật đo chiều cao đứng

- Dụng cụ: Sử dụng thước đo chiều cao đứng, cho trẻ ≥ 24 tháng

+ Bỏ guốc, giầy, dép, mũ nón, bờm tóc, khăn, búi tóc

+ Đứng quay vào thước đo, 2 chân sát vào nhau

Trang 34

+ Đảm bảo 5 điểm chạm: Gót chân, bụng chân, mông, vai và chẩm theo một đường thẳng áp sát thước đo, mắt nhìn thẳng 2 tay buông thõng

2 bên

+ Dùng thước vuông áp đỉnh đầu, thẳng góc với thước đo

+ Đối với thước vuông áp đỉnh đầu, thẳng góc với thước đo

+ Người hỗ trợ giữ 2 cổ chân và gối trẻ, người đo 1 tay giữ cằm trẻ, còn tay kia kéo eke áp đỉnh đầu của trẻ

+ Đọc kết quả theo cm với 1 số lẻ

2.2.4.7 Kỹ thuật đo chiều dài nằm: Áp dụng cho trẻ dưới 2 tuổi

Hình 1.2 Kỹ thuật đo chiều dài nằm

Trang 35

+ Đặt thước trên mặt phẳng ngang (trên mặt bàn hoặc dưới sàn)

+ Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân

Sau khi thu kết quả và tính toán dựa vào phân loại theo WHO để phân loại mức độ SDD của trẻ

2.2.5 Trình tự tiến hành nghiên cứu

2.2.5.1 Tập huấn điều tra viên

Lựa chọn các điều tra viên bao gồm học viên cao học và các cán bộ điều dưỡng của khoa Các điều tra viên được tập huấn vềmục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, cách thức tiến hành nghiên cứu, các chỉ tiêu lựa chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu, các chỉ số, số liệu thu thập trong nghiên cứu

Các điều tra viên được thống nhất về các nội dung phỏng vấn, cách cân

đo nhân trắc, cách thức quan sát đánh giá kỹ năng pha oresol của bà mẹ, cách

sử dụng các biểu mẫu điều tra

Trang 36

2.2.5.3 Tổ chức giám sát

Kiểm tra việc thu thập số liệu và ghi chép biểu mẫu của điều tra viên mỗi tuần 2 lần và kiểm tra ngẫu nhiên một số trường hợp để kịp thời phát hiện các sai sót và điều chỉnh

+ Để khắc phục sai số do người phỏng vấn thì không phỏng vấn những trường hợp cấp cứu, không phỏng vấn khi trẻ quấy khóc hoặc người chăm sóc bận việc khác Tạo không khí thoải mái khi phỏng vấn

2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Chúng tôi sử dụng chương trình EPI DATA 3.1 để nhập số liệu

- Các phiếu đều được nhập vào máy tính, sau đó kiểm tra các lỗi trước khi xuất sang phần mềm SPSS 16.0 để phân tích

- Dùng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu với các test thống kê suy luận

Các số liệu của biến liên tục được kiểm tra phân bố chuẩn trước khi phân tích bằng test Skewness, Kurtosis, các giá trị trung bình, trung vị, số tối

đa, tối thiểu, độ lệch chuẩn Nếu số liệu phân bố chuẩn sẽ sử dụng các test thống kê tham số: test t, test Anova Nếu số liệu không phân bố chuẩn sẽ sử

Trang 37

dụng các test thống kê phi tham số So sánh giữa các tỷ lệ sử dụng test χ2

Khoảng tin cậy 95 % được áp dụng cho toàn bộ các test Nhận định có sự khác biệt khi giá trị p < 0,05

Sử dụng phân tích hồi quy logistic đơn biến để xác định một số yếu tố liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ khi vào viện với kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân thủ các quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Khoa học của trường Đại học Y Dược Thái Bình

- Tất cả các bà mẹ khi tham gia nghiên cứu đều được điều tra viên giải thích rõ ràng, cụ thể về nội dung, mục đích của nghiên cứu

- Bà mẹ được phát phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu, họ có quyền từ chối tham gia hoặc có thể dừng vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình nghiên cứu

- Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật và chỉ phục

vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho mục đích khác

- Kết quả nghiên cứu và những khuyến nghị của nghiên cứu được sử dụng vào mục đích nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016

Bảng 3.1 Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo giới và tháng tuổi

Bảng 3.2 Cân nặng trung bình của trẻ hiện tại và khi ra viện theo giới và

nhóm tuổi

Cân nặng Biến số

Trang 39

Kết quả bảng trên cho thấy, cân nặng trung bình khi vào viện của trẻ là 9,5±2,3 kg; cân nặng khi ra viện của trẻ là 9,1±2,3kg và mức trung bình giảm cân nặng là 0,45±0,24kg Trong đó, cân nặng trung bình khi vào viện của trẻ nam và trẻ nữ lần lượt là 9,6±2,4 kg và 9,4±2,2kg; cân nặng khi ra viện lần lượt là là 9,2±2,4kg và 8,9±2,1kg; mức trung bình giảm cân nặng lần lượt là 0,43±0,20kg và 0,49±0,28kg

Bảng 3.3 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng các thể (n=220)

Các thể SDD Khi vào viện Khi ra viện p

Suy dinh dưỡng gầy còm 55 25,0 77 35,0 <0,05 Suy dinh dưỡng thấp còi 54 24,5 54 24,5 <0,05 Suy dinh dưỡng nhẹ cân 33 15,0 47 21,4 <0,05

Kết quả bảng trên cho thấy, trong tổng số 220 trẻ tham gia nghiên cứu, tại thời điểm khi vào viện có 25% trẻ SDD gầy còm; 24,5% trẻ SDD thấp còi; 15% trẻ SDD nhẹ cân và 2,3% trẻ SDD phối hợp (SDD gầy còm kết hợp với SDD thấp còi) Tại thời điểm khi ra viện, tỷ lệ SDD tăng cao hơn với 35% trẻ SDD gầy còm; 21,4% trẻ SDD nhẹ cân; 4,1% trẻ SDD phối hợp; trẻ SDD thấp còi vẫn giữ nguyên với tỷ lệ 24,5%

Trang 40

Bảng 3.4 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng các thể theo tình trạng mất nước

khi vào viện (n=220)

SDD Tình trạng

Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể gầy còm theo giới tính

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy, tỷ lệ SDD gầy còm ở trẻ nam và trẻ nữ khi vào viện lần lượt là 25,7%; 23,8% Tỷ lệ này tăng lên đến 34,6% và 35,7% khi ra viện Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Ngày đăng: 31/05/2018, 20:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ánh (2008), Khảo sát Kiến thức, Thái độ và Thực hành về phòng chống Bệnh tiêu chảy của Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Luận án CK1 Y tế công cộng, Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát Kiến thức, Thái độ và Thực hành về phòng chống Bệnh tiêu chảy của Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại ấp Tân Thành, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Ánh
Năm: 2008
2. Phạm Xuân Anh (2009), "Can thiệp dinh dưỡng nâng cao sức khỏe trẻ em dựa trên giáo dục bà mẹ cải thiện thói quen dinh dưỡng", Tạp chí Y học Việt Nam, 1, tr. 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp dinh dưỡng nâng cao sức khỏe trẻ em dựa trên giáo dục bà mẹ cải thiện thói quen dinh dưỡng
Tác giả: Phạm Xuân Anh
Năm: 2009
8. Lương Tuấn Dũng, Phạm Văn Phú (2012), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã Hùng Mỹ, Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa- Tuyên Quang", Tạp chí nghiên cứu Y học, 70(5), tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã Hùng Mỹ, Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa- Tuyên Quang
Tác giả: Lương Tuấn Dũng, Phạm Văn Phú
Năm: 2012
9. Trịnh Ngọc Hân (2016), Tình trạng dinh dưỡng, tập quán nuôi dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dưới 24 tháng tuối dân tộc Mường tại huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa 2016, Luận văn thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, tập quán nuôi dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dưới 24 tháng tuối dân tộc Mường tại huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa 2016
Tác giả: Trịnh Ngọc Hân
Năm: 2016
10. Phan Thị Cẩm Hằng, Nguyễn Văn Bàng (2007), "Kiến thức, thái độ, kĩ năng sử dụng Oresol của các bà mẹ có con tiêu chảy cấp tại khoa nhi bệnh viện Bạch Mai", Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh Tập 11, tr. 88-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, kĩ năng sử dụng Oresol của các bà mẹ có con tiêu chảy cấp tại khoa nhi bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Phan Thị Cẩm Hằng, Nguyễn Văn Bàng
Năm: 2007
11. Bửu Hạnh, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Tuấn Khiêm (2013), "Đánh giá kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại trung tâm y tế Hòa Thành, Tây Ninh 2012", Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 17, tr. 66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại trung tâm y tế Hòa Thành, Tây Ninh 2012
Tác giả: Bửu Hạnh, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Tuấn Khiêm
Năm: 2013
12. Lê Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Đỗ Hàm và cs (2011), "Hiệu quả truyền thông giáo dục phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em khu vực khó khăn cho sinh viên và giáo viên mầm non tại Thái Nguyên", Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 7(1), tr. 35-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả truyền thông giáo dục phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em khu vực khó khăn cho sinh viên và giáo viên mầm non tại Thái Nguyên
Tác giả: Lê Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Đỗ Hàm và cs
Năm: 2011
13. Phạm Văn Hoan, Lê Bạch Mai (2009), Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, Sách tư vấn dinh dưỡng cho cộng đồng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, Sách tư vấn dinh dưỡng cho cộng đồng
Tác giả: Phạm Văn Hoan, Lê Bạch Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Thúy Hồng, Lưu Thị Thục Mỹ, Nguyễn Thị Yến (2011), "Nghiên cứu tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp của bệnh viện Nhi trung ương năm 2010", Tạp chí Y học Việt Nam, 1, tr. 46-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp của bệnh viện Nhi trung ương năm 2010
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hồng, Lưu Thị Thục Mỹ, Nguyễn Thị Yến
Năm: 2011
15. Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên (2013). Đánh giá thực trạng và các yếu tố nguy cơ thấp còi ở trẻ em dưới 2 tuổi ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên: Viện Dinh dưỡng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và các yếu tố nguy cơ thấp còi ở trẻ em dưới 2 tuổi ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên
Tác giả: Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên
Năm: 2013
16. Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Thị Lâm (2012), Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010, Hà Nội, Viện Dinh dưỡng, 230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Thị Lâm
Năm: 2012
18. Cao Thị Thu Hương, Phạm Thị Thu Hương (2015), "Thực trạng chăm sóc trẻ bệnh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Phú Thọ năm 2008 ", Tạp chí Y học dự phòng, 15(4), tr. 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc trẻ bệnh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Phú Thọ năm 2008
Tác giả: Cao Thị Thu Hương, Phạm Thị Thu Hương
Năm: 2015
19. Lê Thị Hương, Nguyễn Anh Vũ (2011), "Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em &lt; 5 tuổi vùng đồng bào dân tộc Mường của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình ", Tạp chí Y học thực hành, 6(786) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em < 5 tuổi vùng đồng bào dân tộc Mường của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Lê Thị Hương, Nguyễn Anh Vũ
Năm: 2011
20. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Hoàng Thị Vân Lan (2012), "Đánh giá sự hiểu biết của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng và chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Nhi Nam Định", Tạp chí Y học thực hành, 818- 819, tr. 140-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự hiểu biết của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng và chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Nhi Nam Định
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền, Hoàng Thị Vân Lan
Năm: 2012
22. Nguyễn Lân, Trịnh Bảo Ngọc (2013), "Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, thực hành ăn bỏ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật của trẻ từ 5-6 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên ", Tạp chí y học thực hành, 11(886) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, thực hành ăn bỏ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật của trẻ từ 5-6 tháng tuổi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Lân, Trịnh Bảo Ngọc
Năm: 2013
23. Trần Thị Lan (2013), " Hiệu quả của bổ sung đa vi chất và tẩy giun trên trẻ 12-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi dân tộc Vân Kiều và Pakoh huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị", Luận án Tiến sĩ Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bổ sung đa vi chất và tẩy giun trên trẻ 12-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi dân tộc Vân Kiều và Pakoh huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 2013
24. Chu Thị Phương Mai (2014), Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ từ 6 -24 tháng tuổi tại phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ Y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ từ 6 -24 tháng tuổi tại phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả: Chu Thị Phương Mai
Năm: 2014
25. Võ Kim Ngân, Faye Hummel, Cao Minh Nga (2014), "Kiến thức thái độ của cha mẹ về thuốc chủng Rotavuris cho trẻ dưới 1 tuổi ở huyện Thủ Thừa tỉnh Long An", Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 18, tr. 263-268 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ của cha mẹ về thuốc chủng Rotavuris cho trẻ dưới 1 tuổi ở huyện Thủ Thừa tỉnh Long An
Tác giả: Võ Kim Ngân, Faye Hummel, Cao Minh Nga
Năm: 2014
26. Phan Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Nhu (2009), "Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Nghĩa An, Tư Nghĩa, Quảng Nam năm 2007", Tạp chí Y học thực hành, 2(644+645), tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Nghĩa An, Tư Nghĩa, Quảng Nam năm 2007
Tác giả: Phan Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Nhu
Năm: 2009
27. Lê Thanh Nguyên (2016), Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con từ 3- 5 tuổi về chăm sóc dinh dưỡng trẻ tiêu chảy tại các trường mẫu giáo thuộc thị xã Lagi tỉnh Bình Thuận, Khóa luận tốt nghiệp bác sỹ Y học dự phòng, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con từ 3-5 tuổi về chăm sóc dinh dưỡng trẻ tiêu chảy tại các trường mẫu giáo thuộc thị xã Lagi tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Lê Thanh Nguyên
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w