1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUAN VAN THAC SI VAT LY CHU DE DIEN XOAY CHIEU

118 307 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤCXÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬPCHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO DÀNH CHO HỌC SINH LỚP CHỌNChuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC(BỘ MÔN VẬT LÍ)Mã số: Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN HUY SINHLỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các quí thầy cô giáo, các cán bộ phụ trách, các em học sinh, bạn bè và những người thân của tôi.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Giáo Dục Đại học Quốc Gia Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong quá trình học tập tại trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thầy đáng kính GS. TS. Nguyễn Huy Sinh đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và quá trình thực hiện đề tài.Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Vật lí và các em học sinh trường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình nơi tôi công tác đã cộng tác, động viên giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường.Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đỉnh và bạn bè tôi đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.Hà Nội, tháng năm 20Tác giả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài này, tôiđã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các quí thầy cô giáo, các cán bộphụ trách, các em học sinh, bạn bè và những người thân của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu,Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia HàNội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởngthành trong quá trình học tập tại trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúpđỡ tôi hoàn thành đề tài

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thầy đángkính GS TS Nguyễn Huy Sinh đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên vàtạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và quá trìnhthực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảngdạy bộ môn Vật lí và các em học sinh trường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – TháiBình nơi tôi công tác đã cộng tác, động viên giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rấtnhiều trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đỉnh và bạn bè tôiđã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trongsuốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng năm 20

Tác giả

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐC: Đối chứng

GV: Giáo viên

HS: Học sinh

HSG: Học sinh giỏi

SGK: Sách giáo khoa

THPT: Trung học phổ thông

TN: Thực nghiệm

TNSP: Thực nghiệm sư phạm

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1: Biểu diễn các đại lượng trong mạch điện xoay chiều

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

TrangHình 1.1: Sơ đồ phương pháp phân loại bài tập vật lí 13Hình 2.1: Biểu diễn vectơ quay của u và i trong đoạn mạch xoay

Hình 2.6: Mô tả chuyển động tròn tương ứng với sự biến thiên của u 48

Hình 2.8: Giản đồ vectơ quay mạch R,L,C dạng hình bình hành 53Hình 2.9: Giản đồ vectơ quay bài mẫu 3 – Dạng 2 54

Hình 2.12: Giản đồ vectơ mạch R, L, C theo qui tắc đa giác 56

Hình 2.16: Biểu diễn vectơ quay của đoạn mạch xoay chiều theo qui

Hình 2.17: Biểu diễn vectơ quay của các số phức 59Hình 2.18: Đồ thị công suất bài mẫu 2 – Dạng 3 67Hình 2.19: Hình vẽ mạch điện bài mẫu 2 – Dạng 5 77

Hình 3.1: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1 của các lớp ĐC và 91

Trang 6

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC 6

Trang 7

TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Tìm hiểu nội dung kiến thức Vật lí bồi dưỡng cho học sinh

1.2.2 Tìm hiểu thực trạng về dạy học Vật lí cho học sinh lớp chọn

ở trường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình 251.2.3.Vấn đề sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng kiến thức cho

HS trong các lớp chọn, HS giỏi Vật lí lớp 12 THPT 30Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

BÀI TẬP PHẦN “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” THUỘC

CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC

2.1 Vị trí, vai trò và cấu trúc của chương “Dòng điện xoay chiều” 322.1.1 Vị trí và vai trò của chương “Dòng điện xoay chiều” 322.1.2 Cấu trúc nội dung chương “Dòng diện xoay chiều” 342.2 Phân loại và phương pháp chung giải bài tập chương “Dòng

2.3 Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải các dạng bài tập phần

“Dòng điện xoay chiều” thuộc chương trình Vật lí lớp 12 Nâng

46

Trang 8

cao THPT dành cho học sinh lớp chọn.

3.1 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của TNSP 863.1.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 863.1.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 86

3.3.2 Phân tích các kết quả về mặt định tính 883.3.3 Phân tích các kết quả về mặt định lượng 883.4 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 95

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mọi thời đại, giáo dục luôn là động lực quan trọng cho sự phát triểnxã hội Giáo dục sẽ tạo ra nguồn nhân lực dồi dào với chất lượng cao Muốn làmđược điều đó, mục tiêu giáo dục cần được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu củaxã hội Ví dụ: Từ mục tiêu chủ yếu đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếuđào tạo năng lực Như vậy, quá trình dạy học không chỉ nhằm mục đích trang bịkiến thức mà cần hướng đến phát huy hết tiềm năng của người học Người họcluôn tích cực, chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức, đặc biệt họ được tự dosáng tạo, tự do tư duy dưới sự định hướng của người thầy Từ đó họ có thể pháthuy khả năng tự học và duy trì việc học lâu dài Tính tích cực trong học tập làtích cực trong nhận thức, được thể hiện bằng động cơ, hứng thú học tập - tiền đềcủa tự giác, độc lập và sáng tạo Để người học tích cực chủ động trong học tậpthì người thầy cần có phương pháp dạy học tích cực, nghĩa là tập trung vào việcphát huy tính tích cực của người học Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cáchdạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũngảnh hưởng tới cách dạy của thầy Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có

sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạtđộng học thì mới thành công

Trong các phương pháp dạy học tích cực thì việc sử dụng hệ thống bài tậpcũng là một phương pháp phổ biến, được sử dụng thường xuyên và mang lạihiệu quả cao Đặc biệt môn Vật lí là một môn khoa học tự nhiên thì điều đó lạicàng được thể hiện rõ nét Bài tập chính là một phương tiện để tiếp cận kiếnthức, rèn luyện khả năng tư duy và nâng cao kĩ năng thực nghiệm trong dạy họcmôn Vật lí ở trường phổ thông

Hiện nay tài liệu về hệ thống bài tập môn Vật lí ở trường phổ thông rấtphong phú Tuy nhiên, nhiều tài liệu chưa phù hợp với đối tượng HS, đặc biệt làtrong các trường THPT, thường tổ chức riêng những lớp chọn mà ở đó là nguồncung cấp các HS đi thi HS giỏi các cấp – kể cả HS giỏi cấp quốc gia và quốc tế

Trang 10

Mặc dù hình thức lớp chọn đã được hình thành và tổ chức dạy nhiều năm ởnhiều trường trên toàn quốc, nhưng chưa có những tài liệu riêng phù hợp đào tạocho các đối tượng này Mặt khác các tài liệu hiện có chưa tạo thuận lợi cho GV

và HS khi tiến hành các giờ dạy học tích cực, do đó hiệu quả mang lại chưa cao.Vì vậy việc xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải nhằm đạt kết quả caotrong việc bồi dưỡng HS lớp chọn là rất cần thiết cho các GV và HS ở cáctrường THPT hiện nay

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng

hệ thống và hướng dẫn giải bài tập sao cho phù hợp với các đối tượng là HS lớpchọn Với kinh nghiệm qua một số năm tham gia giảng dạy ở trường THPT,chúng tôi chọn chương “Dòng điện xoay chiều” trong chương trình Vật lí 12Nâng cao THPT là đề tài nghiên cứu Đối với HS phổ thông đây là nội dung kiếnthức rất quan trọng, với khối lượng khá lớn và trừu tượng, có nhiều vấn đề liênquan đến thực tế đời sống, đặc biệt là chiếm một phần không nhỏ trong các đềthi quốc gia HS thường thụ động, gặp nhiều khó khăn khi học nội dung kiếnthức này

Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn đề tài: Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lý 12 trung học phổ thông, chương trình Nâng cao dành cho HS lớp chọn.

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên nhu cầu thực tiễn hiện nay, chúng tôi xây dựng hệ thống bài tậpchương “Dòng điện xoay chiều” thuộc chương trình Vật lí 12 Nâng cao THPTdành cho HS lớp chọn Áp dụng cho trường THPT Vũ Tiên, huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số lý luận về phương pháp dạy học Đặc biệt quantâm đến phương pháp dạy học tích cực

Trang 11

- Nghiên cứu lý luận về bài tập trong dạy và học vật lí: khái niệm, phânloại, vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc, phương thức và biện pháp sử dụng bài tậptrong dạy học vật lí nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

- Nghiên cứu nội dung kiến thức và bài tập phần “Dòng điện xoaychiều” trong sách giáo khoa Vật lí lớp 12 Nâng cao và một số tài liệu vật líkhác nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho HS và các kĩ năng giải bàitập cơ bản HS cần rèn luyện

- Xây dựng hệ thống bài tập về nội dung kiến thức phần Dòng điệnxoay chiều, phù hợp với đặc trưng lớp chọn, đồng thời đưa ra phương phápgiải theo từng dạng bài tập và đề xuất tiến trình hướng dẫn HS giải bài tậptheo hệ thống bài tập đã xây dựng

- Kiểm tra, khảo sát và đánh giá tính hiệu quả và tính khả thi của việcáp dụng hệ thống bài tập xây dựng được Xử lý kết quả thực nghiệm bằngtoán học thống kê

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Quá trình dạy học môn vật lí lớp 12 THPT

- Đối tượng: Hệ thống bài tập phần “ Dòng điện xoay chiều” lớp 12Nâng cao THPT để giảng dạy và học tập

5 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:

- Lý luận về bài tập trong dạy học vật lí và phương pháp sử dụng bàitập trong dạy học tích cực

- Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập phần “Dòng điệnxoay chiều” trong chương trình Vật lí 12 Nâng cao THPT

6 Giả thuyết khoa học

Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập phần “Dòng điện xoaychiều” thuộc chương trình Vật lí lớp 12 Nâng cao, đúng trọng tâm, phù hợpvới trình độ HS, kết hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học của GV nhằmnâng cao hiệu quả học tập và phát huy tính sáng tạo của HS

Trang 12

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống bài tậpphần “Dòng điện xoay chiều” thuộc chương trình vật lí lớp 12 Nâng cao, phùhợp với HS lớp chọn Trên cơ sở đó sử dụng hệ thống bài tập trong giảng dạy

và học tập nhằm đạt hiệu quả cao

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

-Ý nghĩa lý luận:

Đánh giá vai trò và mức độ phù hợp của việc sử dụng hệ thống bài tậpđã xây dựng trong dạy và học môn Vật lí lớp 12 ở trường THPT cho đốitượng HS lớp chọn

- Ý nghĩa thực tiễn:

Bước đầu xây dựng hệ thống bài tập phần “Dòng điện xoay chiều”thuộc chương trình vật lí lớp 12 THPT phong phú, đa dạng và phù hợp vớitrình độ HS, giúp GV có thêm tư liệu giảng dạy, HS có thêm tài liệu để họctập và sáng tạo

9 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:

9.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu lí luận về phương pháp sử dụng bài tập trong dạy học mônVật lí

- Nghiên cứu lí luận về việc xây dựng hệ thống bài tập tự luận và trắcnghiệm khách quan môn Vật lí dựa trên quan điểm lí luận về quá trình nhận thức

- Tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài: Sách giáo khoa Vật lí 12, tàiliệu tham khảo Vật lí, tạp chí Vật lí, các đề thi Vật lí THPT

9.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

- Tìm hiểu thực tiễn việc dạy của GV và học của HS về phần “Dòngđiện xoay chiều”

- Trao đổi ý kiến với các GV có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảngdạy môn Vật lí về nội dung, số lượng, hình thức của các loại bài tập, đề thi tự

Trang 13

luận và trắc nghiệm khách quan; đồng thời xem xét bài giảng và phương pháp

sử dụng và hiệu quả của hệ thống các bài tập trong quá trình dạy học môn Vật

lí nói chung và phần “Dòng điện xoay chiều” nói riêng

9.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Nhằm đánh giá hệ thống bài tập được biên soạn khi áp dụng vào thực

tế giảng dạy cho HS các lớp chọn và bồi dưỡng HS giỏi tham dự các kì thicấp tỉnh và quốc gia

- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.

Chương 2: Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập phần “Dòng điện

xoay chiều” chương trình vật lí lớp 12 Nâng cao trung học phổ thông dànhcho HS lớp chọn

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Vấn đề dạy học phân hóa và tổ chức các lớp chọn ở trường THPT

Trong xã hội ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, sựbùng nổ thông tin và dân số không còn là của riêng một quốc gia, một dân tộc

mà là những vấn đề chung cần có sự hợp tác quốc tế để cùng giải quyết Do

đó hiện nay thế giới đang có rất nhiều xu hướng phát triển mới, đặc biệt là các

xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, xu thế phát triển nền kinh tế trithức Trong hoàn cảnh đó giáo dục cần đổi mới toàn diện và triệt để mới cóthể đào tạo những con người có đủ kiến thức khoa học và kĩ năng lao động, cótinh thần lao động chủ động, tích cực và khả năng thích ứng, sáng tạo trongmọi môi trường làm việc, theo kịp với xu hướng phát triển của xã hội

Đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay, những vấn đề yếu kém làchương trình - sách giáo khoa nặng về truyền thụ kiến thức, thiếu thực hành,không chú trọng hình thành năng lực cá nhân, kỹ năng sống hội nhập trongxã hội hiện đại Vì thế, đòi hỏi cấp bách về đổi mới nội dung chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông là một yêu cầu không thể chậm trễ Đểđạt được những thành tựu nổi bật về giáo dục, các quốc gia phát triển trênthế giới đều đi theo xu hướng dạy phân hóa, coi việc phát triển năng lựcngười học là tiêu chí hàng đầu

Dạy học phân hóa là một quan điểm dạy học tập trung vào việc thiết kếgiảng dạy xuất phát từ tình hình thực tế của HS, dựa vào đặc điểm cá nhân,tâm lí, sinh lí, động cơ, hứng thú, nguyện vọng, nhu cầu và hoàn cảnh của HS

mà dạy học cho phù hợp Dạy học phân hóa ở cấp độ vĩ mô là hình thức tổchức các loại trường, lớp khác nhau cho các đối tượng HS có năng lực và nhucầu nhận thức khác nhau Dạy học phân hóa ở cấp độ vi mô là hình thức dạyhọc tiến hành trong một tiết hoặc một lớp học có tính đến đặc điểm cá nhân

Trang 15

HS, là biện pháp phân hóa với cùng một chương trình cho nhiều đối tượngkhác nhau trong một lớp học.

Các hình thức dạy học phân hóa như: Dạy học phân ban ra đời ở Pháp

vào thế kỉ 18, sau đó được áp dụng tại nhiều nước châu Âu và các nước kháctrên thế giới Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theomột số ban đã được quy định trên phạm vi toàn quốc và HS được phân chiavào học các ban khác nhau tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu Chươngtrình học tập của mỗi ban gồm các môn học nhất định, với khối lượng nộidung và thời lượng dạy học được quy định thống nhất như nhau trong toànquốc Chương trình học tập của các ban khác nhau nên khác cả về số lượnglẫn cấu trúc và nội dung môn học Phân hoá bằng hình thức phân ban có ưuđiểm là thuận lợi về mặt quản lí (quản lí nội dung dạy học, tổ chức lớp học,tuyển chọn HS, đánh giá thi cử ) Tuy nhiên phân ban cũng có nhược điểm làkém mềm dẻo, khó đáp ứng được sự phân hoá hết sức đa dạng về năng lực,hứng thú và nhu cầu của các đối tượng HS khác nhau

Dạy học tự chọn xuất hiện trước hình thức phân ban và bắt đầu trở

thành hình thức phân hoá chính thống của giáo dục trung học Mĩ từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX Đặc điểm của hình thức phân hoá này là các môn

học và giáo trình được chia thành các môn học và giáo trình bắt buộc tạo thành chương trình cốt lõi cho mọi HS và nhóm các môn học và giáo trình tự chọn nhằm đáp ứng sự khác biệt về năng lực, hứng thú và nhu cầu

học tập của các đối tượng HS khác nhau Nhóm các môn học và giáo trình

tự chọn lại được chia thành các môn học, giáo trình tự chọn bắt buộc; cácmôn học, giáo trình tự chọn tuỳ ý HS tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhucầu của mình mà chọn các môn học và giáo trình thích hợp theo một sốquy định nhất định tuỳ theo mỗi quốc gia Ưu điểm nổi bật của dạy học tựchọn là khả năng phân hoá cao, có thể đáp ứng được những khác biệt hếtsức đa dạng của HS, tạo điều kiện cho mọi HS đều được học tập ở mức độphù hợp nhất với năng lực, hứng thú và nhu cầu của mình Tuy nhiên,

Trang 16

hình thức này cũng bộc lộ một số nhược điểm lớn như học vấn cơ bản của

HS dễ bị hạ thấp và thiếu hệ thống do tâm lí thích chọn những giáo trình

dễ, bỏ qua các giáo trình khó của các môn học truyền thống quan trọngnhư Toán, Vật lí, Hoá học Đặc biệt hình thức phân hoá này đòi hỏi rấtcao về năng lực quản lí cũng như trình độ của GV và trang thiết bị củanhà trường

Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn Đặc điểm của hình thức này

là HS vừa được phân chia theo học các ban khác nhau, đồng thời HS được chọn một số môn học và giáo trình tự chọn ngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban Hình thức này cho phép tận dụng được

những ưu điểm và khắc phục được một phần những nhược điểm của haihình thức phân hoá kể trên

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu tổ chức dạy học phân hoá chưa nhiều.Một số tác giả như Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Hữu Châu, Hà Sĩ Hồ, ĐặngThành Hưng đã có những nghiên cứu về dạy học phân hoá; giúp HS tựkhám phá tri thức bằng khả năng của mình, đem lại niềm vui hứng thú học tậpcho các em

Việc phân hóa HS theo năng lực và nhu cầu, thiết kế chương trình theohướng giảm dần môn bắt buộc và tăng môn tự chọn sẽ góp phần giảm áp lựchọc hành, khuyến khích HS phát triển sở trường, năng khiếu, ham thích họctập theo nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục

1.1.2 Bồi dưỡng kiến thức cho HS trong các lớp chọn ở trường THPT

1.1.2.1 Vai trò của các lớp chọn trong việc bồi dưỡng kiến thức cho HS

Trên thế giới, hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo vàbồi dưỡng HS có năng lực học tốt trong chiến lược phát triển chương trìnhgiáo dục phổ thông Nhiều nước coi đó là một dạng của giáo dục đặc biệt

hoặc chương trình đặc biệt với quan niệm: HS có năng lực vượt trội và HS giỏi là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ

Trang 17

thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết Những HS này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên

Mục tiêu giáo dục của nước ta hiện nay là thực hiện giáo dục toàn diện,tạo ra những người lao động mới, xuất sắc trong tương lai, đặc biệt là công tácbồi dưỡng HS giỏi Chính vì vậy, có thể nói công tác bồi dưỡng HS giỏi làphát hiện, đào tạo nhân tài cho đất nước Do đó một nhiệm vụ quan trọng củacác lớp chọn trong trường THPT chính là tạo môi trường để phát hiện, bồidưỡng, nâng cao kiến thức nói chung và kiến thức môn Vật lí nói riêng cho

HS Ở đây những HS có năng lực học tập tốt, có nhu cầu học tập cao sẽ đượctuyển chọn, tổ chức thành lớp riêng Ngoài việc học tập những chương trìnhchung thì còn được tự chọn thêm những chương trình nâng cao để phát huyhết khả năng học tập của mình

1.1.2.2 Những năng lực, phẩm chất và nhu cầu của HS lớp chọn

HS lớp chọn được truyển chọn thông qua đánh giá của GV trong quátrình giảng dạy trực tiếp, qua kết quả học tập của năm học hoặc học kì trước.Đặc biệt là thông qua việc khảo sát, phỏng vấn trực tiếp ở đầu vào, thườngtiến hành đầu năm học, định kì trong suốt quá trình học và cuối năm học Do

đó một HS học ở lớp chọn thường có năng lực học tập tốt hơn và có một sốphẩm chất sau đây:

- Năng lực tiếp thu kiến thức: HS luôn hào hứng trong các tiết học, nhất

là bài mới; có ý thức tự bổ sung hoàn thiện kiến thức; tiếp thu kiến thứcnhanh hơn so với HS trong các lớp thường

- Năng lực suy luận logic: biết phân tích sự vật và hiện tượng qua các

dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật,hiện tượng, biết cách tìm ra con đường ngắn nhất để đi đến kết luận cần thiết,biết xét đến đủ các điều kiện để đạt được kết luận mong muốn, biết dùng phépphản chứng để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích, biết quay lại điểm vừaxuất phát để tìm đường đi mới

Trang 18

- Năng lực diễn đạt: biết diễn đạt chính xác hiểu biết của mình, sử dụng

thành thạo hệ thống ký hiệu quy ước để diến tả nội dung kiến thức, biết tómtắt thu gọn các khái niệm và sắp xếp hệ thống để sử dụng khái niệm trước mô

tả cho khái niệm sau

- Năng lực kiểm chứng: biết suy xét sự vật đúng sai từ một loạt các sự

kiện, biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một đặctrưng nào đó trong sản phẩm mình làm ra, biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữliệu cần phải kiểm nghiệm sau khi tiến hành một số thao tác kiểm nghiệm

- Năng lực thực hành: nắm được qui trình cơ bản tiến hành thí nghiệm,

biết thực hiện một số động tác dứt khoát trong khi làm thí nghiệm, biết kiênnhẫn và kiên trì trong quá trình làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết qua thựcnghiệm hoặc đi đến một số vấn đề lí thuyết mới dựa vào thực nghiệm

1.1.2.3 Những dấu hiệu của một HS có khả năng học tốt môn Vật lí

- Năng lực tư duy logic tốt, sử dụng tốt các công cụ toán học để giảiquyết các vấn đề vật lí

- Kiến thức vật lí vững vàng, sâu sắc, hệ thống; biết vận dụng linhhoạt, sáng tạo kiến thức cơ bản trong các tình huống mới

- Kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứukhoa học vật lí; biết sử dụng kiến thức Vật lí giải thích những hiện tượng xảy

ra trong thực tế và dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí thuyết, qua đó nắmvững, hiểu rõ và vận dụng kiến thức linh hoạt, sáng tạo

Đối với những GV giảng dạy trực tiếp trong các lớp chọn, khi đào tạonhững HS có năng khiếu về môn vật lí, cần dựa trên những năng lực này của

HS để hướng dẫn HS học tập, trang bị những kiến thức, kỹ năng, giúp các em

tự học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình

1.1.2.4 Một số biện pháp bồi dưỡng kiến thức cho HS trong các lớp chọn

Nhiều tài liệu khẳng định: HS có năng lực học tốt có thể học bằngnhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp, vì thế cần

có một chương trình riêng để phát triển và đáp ứng được tài năng của họ

Trang 19

Một số tài liệu có đưa ra các cách tổ chức dạy học sau đây:

- Lớp riêng biệt: HS được rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học

riêng, thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu Hình thức này đòi hỏi ở nhàtrường rất nhiều điều kiện từ việc bảo vệ HS, giúp đỡ và đào tạo phát triểnchuyên môn cho GV đến việc biên soạn chương trình, bài học

- Phương pháp Mông-te-xơ-ri: Trong một lớp HS chia thành ba nhóm

tuổi, nhà trường mang lại cho HS những cơ hội vượt lên so với các bạn cùngnhóm tuổi Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng được các mức độ khá tự

do, nó hết sức có lợi cho những HS có năng lực học tốt trong hình thức họctập với tốc độ cao

- Tăng gia tốc: Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với

nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS Một số trường Đại học, Caođẳng đề nghị hoàn thành chương trình nhanh hơn để HS có thể học bậc họctrên sớm hơn Nhưng hướng tiếp cận giới thiệu HS với những tài liệu lí thuyếttương ứng với khả năng của chúng cũng dễ làm cho HS xa rời xã hội

- Học tách rời: một phần thời gian theo lớp riêng, phần còn lại học lớp

thường

- Làm giàu tri thức: toàn bộ thời gian HS học theo lớp bình thường,

nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà

- Dạy ở nhà: một nửa thời gian học tại nhà học lớp, nhóm, học có cố

vấn hoặc một thầy một trò và không cần dạy

- Trường mùa hè: bao gồm nhiều khóa học được tổ chức vào mùa hè.

- Sở thích riêng: một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành để

cho HS thử trí tuệ sau giờ học ở trường

Mục tiêu chính của chương trình dành cho HS có năng lực học tốt và

HS tài năng dựa trên những vấn đề sau:

- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năngtrí tuệ của HS

- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo

Trang 20

- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời

- Nâng cao ý thức và khát vọng của học trò về sự tự chịu trách nhiệm

- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trongđóng góp xã hội

- Phát triển phẩm chất lãnh đạo

Những lí luận trên đây đều có thể áp dụng đối với môn Vật lí ở trườngTHPT Việc phát hiện và bồi dưỡng HS có năng lực học tốt cần phải cóphương pháp phù hợp mới có thể đem lại hiệu quả cao Đặc biệt đây là cácđối tượng HS trong các lớp chọn ở THPT bình thường, không phải trườngchuyên do đó cần chú ý thêm các đặc điểm, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũcủa từng trường

1.1.3 Một số vấn đề lý luận về bài tập Vật lí trong dạy học ở trường THPT

1.1.3.1 Bài tập vật lí là gì?

Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài liệu về phương pháp dạy

học bộ môn bài tập vật lí thường được hiểu là những bài luyện tập được lựa

chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượngvật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy vật lí của HS và rèn kỹ năngvận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn

Với định nghĩa trên, cả hai ý nghĩa khác nhau của bài tập vật lý là vậndụng kiến thức và hình thành kiến thức mới đều có mặt Do đó, bài tập vật lí

là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoànthành nhiệm vụ dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông Đặc biệt với xu hướnghiện nay thì phương pháp này lại càng có vai trò quan trọng

1.1.3.2 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy và học

Thông qua dạy học bài tập vật lí, người học có thể nắm vững một cáchchính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những quy luật và hiện tượng vật lí

Bài tập vật lí có thể sử dụng như một phương tiện độc đáo để nghiêncứu tài liệu mới khi trang bị cho HS Bài tập vật lí sẽ là phương tiện rất tốt để

Trang 21

phát triển tư duy, óc tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập và phương phápnghiên cứu khoa học cho HS.

Vai trò của bài tập vật lí trong quá trình dạy học là rất lớn, tuy nhiên nóchỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện sư phạm nhất định Kết quả rènluyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không cómột hệ thống bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với mục đích dạy học,với yêu cầu rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và năng lực, nhu cầu của người học

1.1.3.3 Phân loại bài tập vật lí

Bài tập vật lí rất đa dạng và phong phú Có nhiều cách phân loại bài tập,tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng, mức độ yêu cầu phát triển tư duy, nội dung,phương thức cho điều kiện và phương thức giải

Bài tập luyện tập

Bài tập sáng tạo Bài tập nghiên cứu

Bài tập thiết kế

Căn cứ phương thức cho điều kiện

và phương thức giải

Bài tập định tính Bài tập định lượng Bài tập đồ thị

Căn cứ theo nội dung

Bài tập có nội dung lịch sử Bài tập có nội dung cụ thể

Bài tập kỹ thuật tổng hợp Bài tập vật lí vui

Bài tập có nội dung trừu tượng

Trang 22

Hình 1.1 Sơ đồ phương pháp phân loại bài tập vật líThông thường khi áp dụng để phân loại bài tập vật lí, để đáp ứng yêucầu vừa hệ thống toàn bộ chương trình vừa phải đảm bảo tính phù hợp vớikhả năng trình độ của HS và tính phong phú về phương thức giải, GV thườngphải phối hợp cả ba cách phân loại trên

a Phân loại bài tập căn cứ theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy

Bài tập luyện tập là những bài tập mà hiện tượng xảy ra chỉ tuân theo

một quy tắc, một định luật vật lí đã biết Loại bài tập này dùng để củng cốkiến thức lí thuyết cơ bản đã học, hoặc sau khi học kiến thức mới, giúp HShiểu sâu sắc hơn các khái niệm, định luật vật lí mới nghiên cứu và nắm vữngcách giải đối với một loại bài tập nhất định Loại bài tập này không đòi hỏi tưduy sáng tạo của người học bởi vì các điều kiện cho trong đề bài thường đãchỉ rõ hành động cần thực hiện

Bài tập sáng tạo yêu cầu HS phải có óc tư duy và sáng tạo, có khả năng

phân tích đề bài, vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết vấn đề đặt ra Loạibài tập này đôi khi yêu cầu HS có trí tưởng tượng, biết cách suy diễn và lậpluận chắc chắn để thiết lập các mối quan hệ cần xác lập một cách chặt chẽ và

có logic Bài tập sáng tạo có hai loại: bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế

b Phân loại bài tập căn cứ vào nội dung

Loại bài tập này bao gồm các dạng sau đây :

Bài tập có nội dung cụ thể: là những bài tập có dữ liệu là các số cụ thể,

thực tế HS có thể đưa ra lời giải dựa vào vốn kiến thức vật lí cơ bản đã có.Những bài tập loại này tập cho HS phân tích các hiện tượng thực tế, cụ thể đểlàm rõ bản chất vật lí của nó

Bài tập có nội dung trừu tượng: là những bài tập mà các dữ kiện cho

dưới dạng chữ Trong bài tập này, bản chất được nêu bật trong đề bài, nhữngchi tiết không bản chất đã được bỏ bớt HS có thế nhận ra được cần sử dụngcông thức, định luật vật lí nào để giải bài tập đã cho

Trang 23

Bài tập có nội dung kĩ thuật tổng hợp: là các bài tập có nội dung chứa

đựng các kiến thức về kĩ thuật, về sản xuất, công nông nghiệp, về giao thôngvận tải

Bài tập có nội dung lịch sử: là các bài tập chứa đựng các kiến thức có

liên quan đến lịch sử như những dứ liệu về các thí nghiệm vật lí cổ điển,những phát minh, sáng chế hoặc những câu chuyện có tính chất lịch sử

Bài tập vật lí vui: là các bài tập sử dụng các sự kiện, hiện tượng kì lạ

hoặc vui Việc giải các bài tập này sẽ làm cho tiết học thêm sinh động, nângcao hứng thú học tập của HS

c Phân loại bài tập căn cứ vào phương thức cho điều kiện và phương thức giải

Bài tập định tính: Đặc điểm của bài tập này là nhấn mạnh mặt định tính

của các hiện tượng đang khảo sát Bài tập định tính dùng để vận dụng kiếnthức vào đời sống, sản xuất, giúp HS nắm vững bản chất vật lí của các hiệntượng, tạo say mê, hứng thú cho HS đồng thời rèn luyện cho HS tư duy logic,khả năng phán đoán, biết cách phân tích bản chất vật lí của hiện tượng

Bài tập định lượng: là loại bài tập có dữ liệu là các số cụ thể, HS phải

giải chúng bằng các phép tính toán, sử dụng công thức để xác lập mối quan hệphụ thuộc định lượng giữa các đại lượng phải tìm và nhận được kết quả dướidạng một công thức hoặc một giá trị bằng số

Bài tập thực nghiệm: là loại bài tập khi giải phải sử dụng thí nghiệm để

đi tới mục đích đặt ra, có khi phải tiến hành thí nghiệm để đi tới kết quả phảitìm hoặc làm thí nghiệm để lấy số liệu giải bài tập

Bài tập đồ thị: dạng bài tập này rất phong phú Có thể từ đồ thị đã cho,

HS phải đi tìm một yếu tố nào đó, hoặc từ các dữ liệu đã biết đi xây dựng đồthị Loại bài tập này giúp HS thấy được một cách trực quan mối quan hệ giữacác đại lượng vật lí

1.1.3.4 Tiêu chuẩn và các yêu cầu chung trong dạy học bài tập vật lí

a Tiêu chuẩn lựa chọn hệ thống bài tập vật lí.

Hệ thống bài tập phải đảm bảo các tiêu chuẩn:

Trang 24

- Thông qua việc giải hệ thống bài tập, những kiến thức cơ bản của đềtài phải được củng cố, ôn tập, hệ thống hoá và khắc sâu thêm.

- Hệ thống bài tập phát triển từ đơn giản đến phức tạp Đặc biệt cần cónhững bài tập đòi hỏi các mối quan hệ vật lí phải có sự sáng tạo, độc đáo vàgiải quyết được những nhận thức sai lầm của HS

- Mỗi bài tập phải đóng góp phần nào đó vào việc hoàn thiện kiến thức

và đem lại cho HS một điều mới mẻ nhất định với một khó khăn vừa sức

- Hệ thống bài tập phải đa dạng về thể loại và nội dung không đượctrùng lặp

- Các kiến thức toán được sử dụng trong bài tập phải phù hợp với trình độcủa HS Số lượng bài tập được lựa chọn phải phù hợp với sự phân bố thời gian

Ở cấp THPT, các bài tập vật lí được sắp xếp hệ thống và đa dạng về thểloại, đó là một trong các phương tiện quan trọng để rèn luyện kỹ năng, kĩ xảo

và năng lực hoạt động sáng tạo trong học tập của HS

b Các yêu cầu khi dạy học bài tập vật lí.

- GV cần phải lựa chọn, chuẩn bị các bài tập nêu vấn đề để sử dụng trong tiếtnghiên cứu tài liệu mới nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy HS

- GV chuẩn bị các bài tập nhằm củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiếnthức lí thuyết đã học, cung cấp cho HS những hiểu biết về thực tế và kĩ thuật cóliên quan với lí thuyết Chuẩn bị các bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượngkiến thức, kĩ năng cụ thể trong từng phần của chương trình Đồng thời sắp xếpcác bài tập thành hệ thống, định kế hoạch và phương pháp sử dụng

- Khi dạy giải bài tập vật lí GV cần dạy cho HS biết vận dụng kiến thức

để giải quyết các vấn đề đặt ra, rèn cho người học kĩ năng giải các bài tập cơbản thuộc các phần khác nhau trong chương trình vật lí

GV cần đặc biệt coi trọng việc rèn luyện tư duy và tính tự lập của HS.Thông qua việc giải bài tập vật lí mà có thể hình thành ở HS phong cáchnghiên cứu, phương pháp tiếp cận các hiện tượng và qua đó có thể phát triển

tư duy

Trang 25

1.1.4 Cơ sở lí luận về phương pháp dạy học bài tập Vật lí ở trường THPT

1.1.4.1 Phân tích tư duy trong quá trình giải bài tập Vật lí

Mục đích hoạt động của GV là trong khi dạy giải một cách hệ thốnghàng loạt các bài tập thuộc một dạng nào đó nhằm cung cấp cho HS kỹ năngphân tích hiện tượng vật lí, dựa vào các dấu hiệu để nhận ra dạng bài tập đó,áp dụng được các khái niệm, định luật nào để tìm ra lời giải cuối cùng Ở đâyđã diễn ra sự phân loại các kiểu ra điều kiện và các cách giải được áp dụngcho điều kiện đó

Chính trên cơ sở phân loại này, quá trình tư duy thường diễn ra nhưsau: đầu tiên bài tập mới nào đó sẽ được nhận dạng rồi sau đó mới được giải.Việc nhận dạng sơ bộ các bài tập là điều kiện cơ bản để tái hiện cách giải cụthể đã biết Muốn vậy, việc phân tích hiện tượng vật lí cụ thể trong bài để xácđịnh chính các các quy luật chi phối các hiện tượng là chìa khoá dẫn tới thànhcông trong giải bài tập vật lí

Các công thức, phương trình đã xác lập được dựa trên các kiến thức vật

lí và điều kiện vụ thể của bài tập là sự biểu diễn những mối liên hệ định lượnggiữa các đại lượng vật lí Đối với các bài tập tính toán định lượng thì đó chính

là thiết lập các phương trình để đi đến việc giải hệ phương trình tìm nghiệmcủa ẩn số

1.1.4.2 Phương pháp giải bài tập vật lí

a Phương pháp chung để giải các loại bài tập vật lí

Phương pháp giải bài tập vật lí nói chung phụ thuộc vào nhiều điềukiện: nội dung bài tập, trình độ HS, mục đích của GV đặt ra,… Tuy nhiên,trong dạy học về bài tập vật lí, tiến trình hướng dẫn HS giải một bài tập vật línói chung, đều phải trải qua bốn bước sau:

Bước 1: Đọc và tìm hiểu đề bài:

Việc đọc kĩ đề bài giúp HS hiểu rõ vấn đề và sơ bộ nhận dạng được bàitập GV yêu cầu HS ghi những đại lượng cần phải tính và đổi đơn vị về cùng

hệ thống nhất

Trang 26

Sau đó HS phải vẽ hình một cách chính xác, rõ ràng và đầy đủ Mức

độ hiểu bài tập của HS được thể hiện thông qua việc mô tả lại bằng lời hiệntượng nêu trong bài tập và qua việc vẽ hình minh hoạ

Bước 2: Phân tích hiện tượng của bài toán để xác lập các mối liên hệ cơ bản

Đây là bước có tính chất quyết định trong việc giải bài tập vật lí HScần tìm hiểu hiện tượng cho trong đề bài, xem hiện tượng đó thuộc loại nào,hình dung diễn biến của hiện tượng đó để nhận biết những dữ kiện đầu bàiliên quan đến những khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luậtnào trong vật lí Liên hệ hiện tượng đó với những hiện tượng đã được họctrong lí thuyết

Để giúp HS tìm ra đường lối giải GV nên đưa ra những câu hỏi gợi ý Saukhi nắm vững hiện tượng HS có thể vận dụng các định nghĩa, định luật, côngthức để thiết lập các phương trình cho phép tìm các đại lượng chưa biết trongđầu bài

Bước 3 Luận giải, tính toán các kết quả bằng số

Trừ các trường hợp đặc biệt, mỗi bài tập phải bắt đầu ở dạng tổng quát

và đại lượng cần tìm phải được biểu thị qua các đại lượng đã cho Các trị sốcủa các đại lượng vật lí khi tính toán cần áp dụng quy tắc cho các số gần đúng

và chú ý đến vấn đề sai số tương đối của các trị số đã cho

Bước 4: Nhận xét kết quả

Đây là khâu cuối cùng để hoàn thiện việc giải một bài tập Để có thểphát hiện ra những sai sót trong quá trình giải bài tập GV cần rèn luyện cho

HS rút ra một số nhận xét như:

- Giá trị thực tế của kết quả

- Phương pháp giải

- Khả năng mở rộng bài tập

- Khả năng ứng dụng của bài tập …

Trong thực tế, nhiều trường hợp không nhất thiết phải theo đúng trình

tự như trên

Trang 27

b Phương pháp giải cho từng loại bài tập

* Phương pháp giải bài tập định tính:

Đặc điểm của bài tập định tính là nhấn mạnh về mặt định tính của hiệntượng đang khảo sát Quá trình giải các bài tập định tính thường bao gồm việcxây dựng các lập luận logic dựa trên các khái niệm và định luật vật lí, trong đóviệc phân tích và tổng hợp gắn chặt với nhau đó là phương pháp phân tích –tổng hợp

Thông thường các bước giải một bài tập định tính có thể như sau:

Bước 1: Đọc và tìm hiểu đề bài

Trên cơ sở phân tích các giả thiết trong bài, tìm hiểu các hiện tượng vật

lí, nếu cần thì xây dựng sơ đồ hoặc hình vẽ Tóm tắt đầu bài

Bước 2 và bước 3: Phân tích hiện tượng của bài toán để xây dựng chuỗi

lập luận logic, từ đó đi đến kết quả Tức là HS sử dụng phương pháp phântích - tổng hợp

Bài tập định tính có thể ở các dạng đơn giản thường gọi là các câu hỏi –bài tập Cách giải những bài tập này thường chỉ dựa trên một định luật vật lí

và chuỗi suy luận tương đối đơn giản

Bước 4: Nhận xét kết quả

Sau khi đã xây dựng được chuỗi lập luận logic cần phân tích kết quảthu được theo quan điểm vật lí, phân tích sự phù hợp với giả thiết và thực tiễn

* Phương pháp giải bài tập định lượng:

Phương pháp giải các bài tập định lượng nói chung theo đúng bốn bướcgiải một bài tập vật lí nói trên Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân như: tính chấtphức tạp của bài tập, trình độ toán học của HS, mục đích của bài tập, … mà

GV đặt ra nên việc xác lập các mối liên hệ cơ bản và quá trình luận giải ởbước 2 và bước 3 có thể sử dụng các phương thức giải khác nhau như phươngpháp đồ thị, phương pháp hình học,…

Phương pháp hình học được áp dụng rộng rãi trong tĩnh học, quanghình và một số nội dung khác trong chương trình vật lí phổ thông

Trang 28

* Phương pháp giải bài tập đồ thị:

Các bài tập đồ thị là những bài tập mà trong đó đối tượng nghiên cứu lànhững đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa những đại lượng vật lí Trong một

số bài đồ thị đã được cho trong giả thiết của bài tập, còn trong một số bài tậpkhác cần phải vẽ đồ thị

Nếu bài tập yêu cầu vẽ đồ thị thì trên cơ sở tìm được các dữ liệu và mốiliên hệ giữa các dữ liệu hoặc khai thác dữ liệu từ bảng số liệu đã cho, HS cầnchọn hệ trục toạ độ, chọn các tỉ xích thích hợp và biểu diễn sự phụ thuộc giữacác đại lượng trên đồ thị Cũng có thể giải bài tập với các bước như khi giảimột bài tập định lượng, sau đó vẽ đồ thị để kiểm tra sự đúng đắn của kết quả

* Phương pháp giải bài tập thực nghiệm:

Nét đặc trưng của loại bài tập này là khi giải phải làm thí nghiệm HS

tự lực tiến hành các thí nghiệm để kiểm tra lời giải lí thuyết hoặc thu đượcnhững số liệu cần thiết mà bài tập yêu cầu

HS cần biết xác định dụng cụ cần sử dụng, cách thức bố trí và tiến hànhthí nghiệm, sau đó xử lí kết quả và rút ra kết luận

1.1.4.3 Hướng dẫn HS giải bài tập vật lí

a Định hướng hành động giải bài tập vật lí

Có ba kiểu định hướng giải quyết nhiệm vụ trong bài tập vật lí

* Kiểu định hướng thứ nhất

GV giới thiệu cho HS mẫu hành động và kết quả hành động, mà khôngchỉ dẫn phải thực hiện như thế nào HS thực hiện nhiệm vụ một cách mò mẫmtheo cách thử và sai Kết quả là có thể thực hiện được nhưng hành động thựchiện được nhiệm vụ khó bền vững khi thay đổi điều kiện

* Kiểu định hướng thứ hai

GV giới thiệu cho HS biết mẫu của hành động trên cơ sở định hướngchặt chẽ và những chỉ dẫn, những cách thức để thực hiện hành động Hànhđộng được chia thành những giai đoạn và đảm bảo việc thực hiện một cáchđúng đắn

Trang 29

*Kiểu định hướng thứ ba.

Giáo viên tiến hành dạy có kế hoạch về sự phân tích các nhiệm vụnhằm rút ra những điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ Những điểm tựa này là cơ

sở định hướng để thực hiện hành động Ở đây, định hướng của GV mang tínhkhái quát, GV kích thích HS tự xây dựng cơ sở định hướng hành động và sau

đó thực hiện hành động theo cơ sở định hướng đó

b Phương pháp hướng dẫn HS giải bài tập vật lí.

Từ những phân tích các kiểu định hướng trên, để hình thành cho HSnăng lực giải bài tập vật lí người GV cần thực hiện các công việc:

- Giúp HS thấy được ý nghĩa của kĩ năng cần nắm vững và mục đíchcủa hành động tương ứng

- Tổ chức cho HS lĩnh hội được các thành phần cấu trúc cơ bản của hànhđộng và trình tự hợp lí nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động

- Tạo điều kiện để HS sử dụng kĩ năng vào việc thực hiện hành độngmới, phức tạp hơn nhằm nắm vững kĩ năng mới

Muốn hướng dẫn HS giải bài tập trước tiên GV phải giải được bài tập

đó, xác định phương án hướng dẫn HS giải bài tập đã cho theo trình tự: lựachọn kiểu hướng dẫn; xác định tiến trình hoạt động dạy học; soạn thảo cáccâu hỏi hoặc hướng dẫn cụ thể sử dụng khi lên lớp ứng với từng bước của tiếntrình đã vạch ra

1.1.4.4 Các hình thức dạy học bài tập vật lí

a Giải bài tập trong tiết học nghiên cứu tài liệu mới.

Trong các tiết học nghiên cứu các kiến thức mới, GV có thể dành thờigian cho việc giải bài tập ở đầu hoặc cuối tiết học, đầu hoặc cuối các phầnkiến thức mới, các bài tập có thể là nêu vấn đề Trong một số nội dung dạyhọc GV có thể hướng dẫn HS phát hiện mối liên hệ giữa các đại lượng thôngqua việc giải các bài tập Có thể là các bài tập củng cố kiến thức, khái quátnhững điều đã học

b Giải bài tập trong tiết luyện tập và ôn tập.

Trang 30

Giáo viên có thể định hướng cho HS phương pháp chung để giải loạibài tập mới bằng cách trình bày mẫu, sau đó HS vận dụng để giải hệ thống bàitập cùng loại Ngược lại có thể cho HS giải một số bài tập cùng loại sau đó rút

ra phương pháp để giải loại bài tập đó

c Giải bài tập trong tiết kiểm tra.

Các bài tập trong các tiết kiểm tra là những bài làm độc lập của HSdưới một hình thức đặc biệt Bài kiểm tra thường được làm dưới hình thức bàiviết hoặc bài làm thực nghiệm Bài kiểm tra viết thường được tiến hành saukhi học xong một đề tài hay một phần của giáo trình và có thể được sử dụngdưới hai hình thức là bài làm tự luận hoặc bài làm trắc nghiệm khách quan

d Giải bài tập trong các buổi ngoại khoá.

Một trong những hình thức phổ biến của công tác ngoại khoá vật lí lànhóm giải bài tập Các bài tập được chọn phải phong phú, mức độ cao hơn bìnhthường và có những bài tập mà HS có thể gặp trong các kì thi HS giỏi Việc tổchức nhóm giải bài tập có tác dụng trực tiếp đến kết quả học tập của HS

1.1.4.5 Sử dụng bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng kiến thức cho HS

có năng lực tốt và HS giỏi

Bồi dưỡng kiến thức cho HS có năng lực học tốt, HS giỏi là công việckhông thể thiếu và diễn ra hàng năm ở các lớp chọn trong trường THPT Đốitượng được bồi dưỡng chính là những HS có năng lực về môn học Các emkhông những thực sự giỏi mà còn phải thật sự yêu thích môn học Chính vìvậy, việc sử dụng các bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng HS có nănglực học tốt cần phải có sự quan tâm, đầu tư lựa chọn nguồn sao cho phù hợp

và đạt hiệu quả cao

Trong dạy học Vật lí, bài tập là một phương tiện và phương pháp rất cólợi thế để hình thành các kỹ năng và phát trtiển năng lực tư duy cho HS.Chúng tôi đưa ra một số dạng bài tập để phát triển năng lực nhận thức cho HStheo các hướng sau:

Trang 31

Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc nghiên cứu hiện tượng và từ bài tậpVật lí.

Phát hiện vấn đề nhận thức của HS cũng có thể quan sát được trong giaiđoạn nghiên cứu đề bài và quá trình giải bài tập vật lí

Bài tập rèn luyện cách giải nhanh, thông minh,rèn luyện khả năng suyluận, diễn đạt chính xác và logic

Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hành

Như vậy, khi bồi dưỡng kiến thức Vật lí cho HS các lớp chọn qua hệthống bài tập, ngoài mức độ luyện tập thông thường, GV phải yêu cầu ở mứccao hơn Học sinh phải biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo

để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, biết đề xuất, đánh giá theo

ý kiến riêng hoặc đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí tình huống

Do đó, với nét đặc thù của mình, bài tập vật lí có vai trò lớn trong việc rènluyện, bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và các kỹ năng cho HSlớp chọn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tìm hiểu những nội dung kiến thức Vật lí bồi dưỡng cho HS lớp chọn ở một số trường THPT

1.2.1.1 Chương trình bồi dưỡng kiến thức chung cho HS lớp chọn

Trong chương trình phân ban hiện nay, ở cấp THPT được chia thànhcác ban: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, ban cơ bản A, ban

cơ bản D Chương trình đào tạo tương ứng cho sự phân ban:

- Các lớp thuộc ban khoa học tự nhiên: HS được học các môn Toán,

Vật lí, Hóa học, Sinh học theo chương trình nâng cao, sử dụng sách giáo khoaNâng cao làm tài liệu chính và các tài liệu tự chọn Các môn còn lại học theochương trình cơ bản, sử dụng sách giáo khoa Cơ bản làm tài liệu chính

- Các lớp thuộc ban khoa học xã hội và nhân văn: HS được học các môn

Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ theo chương trình nâng cao, sử dụng sách

Trang 32

giáo khoa Nâng cao làm tài liệu chính và các tài liệu tự chọn Các môn còn lạihọc theo chương trình cơ bản, sử dụng sách giáo khoa Cơ bản làm tài liệu chính.

- Các lớp thuộc ban cơ bản: HS được học các môn theo chương trình

cơ bản, sử dụng sách cơ bản làm tài liệu chính và các tài liệu tự chọn

Sau kì thi tuyển sinh lớp 10 HS được tìm hiểu các ban và đề đạt nguyệnvọng vào học một trong các ban trên Theo xu hướng hiện nay, hầu hết HSđều lựa chọn các ban cơ bản để theo học Vì học theo ban cơ bản tất cả cácmôn HS đều được học theo chương trình cơ bản Bên cạnh đó, HS có thể họcthêm các chương trình tự chọn theo nguyện vọng Căn cứ vào nguyện vọngcủa HS và kết quả học tập ở cấp THCS, kết quả thi đầu vào môn học tươngứng để xét HS vào các ban Sau đó trong các ban nhà trường tổ chức kì thikhảo sát để tạo điều kiện phát hiện và bồi dưỡng những HS có năng lực họctốt, tạo tiền đề cho chất lượng mũi nhọn trong các kì thi HS giỏi, thi tuyểnsinh Đại học Sau kì thi, những HS đạt kết quả cao sẽ được theo học lớp chấtlượng cao của từng ban

Chương trình học của các lớp chất lượng cao trước hết là theo chươngtrình của Bộ GD&ĐT qui định Ngoài ra trong các giờ học tự chọn các emđược học theo chương trình tự chọn nâng cao Chương trình này được GVgiảng dạy soạn riêng dành cho lớp chọn Như vậy HS trong các lớp chọn vẫnđảm bảo đầy đủ các chương trình chung theo qui định, đồng thời được họctheo chương trình riêng để có thể phát huy tối đa khả năng nhận thức và nhucầu của mình

1.2.1.2 Chương trình bồi dưỡng HS giỏi trong các lớp chọn

Một nhiệm vụ quan trọng của các lớp chọn là tìm kiếm, phát hiện vàbồi dưỡng đội ngũ HSG tham dự các kì thi HSG cấp trường, cấp Tỉnh, cấpQuốc gia và Quốc tế Đối với trường THPT thông, kì thi chọn HSG cấp tỉnh

là rất quan trọng để đánh giá chất lượng mũi nhọn của trường Kì thi này chủyếu dành cho HS lớp 12 vì chương trình, nội dung của các đề thi theo chươngtrình lớp 12

Trang 33

Thực tế cho thấy ngay từ lớp 10, HS đã được theo dõi, bồi dưỡng vàhình thành các đội tuyển, hầu hết các em đều thuộc lớp chọn GV trực tiếpgiảng dạy các lớp có HS tham gia đội tuyển sẽ có nhiệm vụ bồi dưỡng thêmthông qua nhiều hình thức như: dạy bồi dưỡng thêm, cung cấp tài liệu, hướngdẫn HS tự học và theo dõi quá trình phát triển của HS

Hầu hết các GV căn cứ vào việc tìm hiểu cấu trúc, nội dung các kì thitrước, năng lực HS của mình mà tự soạn chương trình riêng theo kinh nghiệm đểbồi dưỡng HSG Cho đến nay, theo tìm hiểu của chúng tôi chưa có nhiều tài liệuchính thống dành riêng cho HSG trong các lớp chọn ở chương trình phổ thông

Dựa vào những đặc điểm như trên, chúng tôi đề ra định hướng nghiêncứu đề tài này là xây dựng hệ thống bài tập nâng cao phần ‘‘Dòng điện xoaychiều’’, nhằm tạo điều kiện giúp công tác bồi dưỡng kiến thức cho HS lớpchọn, đặc biệt là HSG phù hợp với thực trạng ở địa phương với mong muốnđạt hiệu quả tốt nhất

1.2.2 Tìm hiểu thực trạng về dạy học Vật lí cho HS lớp chọn ở trường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình

1.2.2.1 Lịch sử phát triển trường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình

Trường THPT Vũ Tiên thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình được thànhlập từ năm 1965, trên địa bàn xã Việt Thuận, huyện Vũ Thư Trường không ở

vị trí trung tâm huyện mà ở vùng quê với đa số HS là con em của các gia đìnhthuần nông, khó khăn về kinh tế, hạn chế về hiểu biết xã hội nhưng lại có tinhthần hiếu học nổi tiếng của tỉnh Thái Bình

Trong những năm qua, trường luôn có phong trào học tập tốt, chấtlượng đại trà luôn ổn định, đặc biệt có thành tích cao trong kết quả thi Đạihọc, kết quả thi đội tuyển HSG các cấp so với các trường trong tỉnh Nhàtrường đã đề ra mục tiêu chiến lược trong giai đoạn tiếp theo: Thực hiện tốt

sự chỉ đạo của ngành, giữ ổn định chất lượng đại trà, nâng cao chất lượng mũinhọn và đặc biệt tăng cường phân hóa trong giảng dạy Học sinh học tập vàphát triển toàn diện

Trang 34

Để nâng cao chất lượng mũi nhọn, một trong những biện pháp nhàtrường đã triển khai triệt để đó là dạy học theo hướng phân hóa HS Hiện naynhà trường có 35 lớp, HS sau khi vượt qua kì thi đầu vào đều được đăng kínguyện vọng vào các lớp phân ban Hiện nay trong trường, theo nguyện vọngcủa HS có 2 ban là ban Cơ bản A và ban cơ bản D Sau các kì thi khảo sát,trong các ban lại phân hóa theo nguyện vọng và năng lực HS, mỗi khối có từ

2 đến 3 lớp tập trung gồm các em có năng lực học tập tốt hơn, đặc biệt là lớpđầu của mỗi khối

Thực tế cho thấy qua biện pháp phân ban ngay từ đầu vào, HS trongcác lớp đầu khối được học thêm chương trình tự chọn nâng cao, có điều kiện

để phát huy hết năng lực của mình Bên cạnh đó, HS trong các lớp thườngcũng được quan tâm hơn, tạo điều kiện nắm chắc kiến thức cơ bản và địnhhướng nghề nghiệp sớm Do đó cả chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọnnhà trường đều thu được kết quả tốt, đặc biệt là việc định hướng nghề nghiệpcho HS được thuận lợi và hiệu quả hơn

1.2.2.2 Thực trạng dạy học Vật lí trong các lớp chọn

Xây dựng kế hoạch tổ chức các lớp chọn và bồi dưỡng kiến thức cho HS

Nhà trường căn cứ vào chất lượng đầu vào, nguyện vọng của HS xâydựng qui mô các ban học và số lượng các lớp chọn của khối 10 Kế hoạch khảosát các khối lớp để HS có năng lực đang học ở các lớp thường có thể chuyểnvào các lớp chọn hoặc ngược lại đối với các lớp chọn của khối 11, 12

Nhà trường chỉ đạo các tổ nhóm chuyên môn dự kiến phân công chuyênmôn cho phù hợp Các bộ môn xây dựng kế hoạch giảng dạy, đặc biệt là kếhoạch dạy các chương trình dạy học tự chọn bám sát và tự chọn nâng cao

Những yêu cầu dạy - học và mục tiêu của các lớp chọn

GV phải đổi mới PPDH, dạy học có tính phân hóa cao, nâng cao phần

tự chọn cho HS, phát huy hết năng lực cá nhân, nhằm cá thể hoá HS trong giờhọc Từ đó nắm được nhận thức của HS sau bài dạy và tự điều chỉnh cáchdạy, nội dung dạy cho phù hợp

Trang 35

Nội dung chương trình bồi dưỡng phải sát với chuẩn kiến thức của bộmôn Trước hết GV phải dạy sao cho HS nắm vững kiến thức cơ bản, tránhtâm lí lớp chọn phải chạy đua về kiến thức rơi vào tình trạng nhồi nhét, quátải, tạo áp lực cho HS Tăng cường các giờ học yêu cầu HS tham gia tổnghợp, hệ thống hóa, so sánh, mở rộng kiến thức giúp HS ghi nhớ và vận dụngmột cách linh hoạt Cung cấp tài liệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm, lựa chọntài liệu phù hợp để tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp Tổ chức các hìnhthức kiểm tra, thu hoạch các kết quả tự học của HS.

Mục tiêu của các lớp chọn chính là nâng cao chất lượng mũi nhọn trongnhà trường, đặc biệt là chất lượng thi đỗ vào các trường ĐH – CĐ và chấtlượng đội tuyển HSG cấp tỉnh Theo định hướng của nhà trường trong giaiđoạn tiếp theo, nhà trường phấn đấu kết quả thi ĐH – CĐ xếp thứ hạng trongtốp 200 trường có điểm cao nhất toàn quốc, đổi tuyển HSG lớp 12 cấp tỉnhxếp thứ 12/29 trường THPT công lập trong toàn tỉnh

Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ GV đặc biệt là những GV trực tiếp giảng dạy các lớp chọn.

Nhà trường có kế hoạch tổ chức các chuyên đề trao đổi thường xuyêntrong các tổ nhóm chuyên môn, các chuyên đề phụ đạo cho HS yếu kém dànhcho HS đại trà, các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức cho HS lớp chọn, chuyên

đề ôn thi Đại học và các chuyên đề bồi dưỡng HS giỏi các cấp Hội thảo vềviệc đổi mới tổ chức và phương pháp dạy học Giáo viên tham gia viết sángkiến, kinh nghiệm cá nhân về chuyên môn Tổ chức các đợt hội giảng, hộithảo trong trường, trong cụm trường THPT của huyện và cấp Tỉnh

Tạo điều kiện cho các cán bộ GV học tập nâng cao trình độ Hiện tạinhà trường có 100% cán bộ GV môn Vật lí đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn(trong đó 5 GV có trình độ Đại học, 1 GV có trình độ Thạc sĩ và 2 GV đangtheo học Cao học)

Song song với các vấn đề trên, nhà trường chủ trương bổ sung tài liệutham khảo cho GV và HS thông qua hệ thống thư viện của nhà trường GV và

Trang 36

HS có thể tự tìm sách tham khảo và các tài liệu khác Nhà trường kiểm duyệt

và mua đồng loạt các tài liệu tham khảo cung cấp cho GV, HS trong các lớpchọn, các đội tuyển HSG và thư viện của nhà trường

Khuyến khích các tổ nhóm chuyên môn thảo luận, thống nhất chươngtrình Phân công GV viết chương trình dành riêng cho các giờ học tự chọn Thảoluận, thống nhất và sử dụng làm tài liệu dùng chung cho tất cả các khối lớptương ứng

Trong những năm qua, nhà trường không ngừng đầu tư trang thiết bị cơ

sở vật chất Là GV có nhiều năm giảng dạy các lớp chọn, phụ trách các độituyển HSG các cấp chúng tôi cũng tập hợp được một số tài liệu và mongmuốn đóng góp vào công cuộc đổi mới và nâng cao trình độ chuyên mônchung của nhà trường Nếu xây dựng thành công hệ thống bài tập phần

‘‘Dòng điện xoay chiều” thuộc chương trình vật lí lớp 12 nhằm bồi dưỡngkiến thức cho HS các lớp chọn và HSG, chúng tôi có thể góp phần hoàn thiện

bộ tài liệu dùng trong các lớp chọn và ôn thi HSG, đồng thời thúc đẩy phongtrào học tập, nghiên cứu, trao đổi chuyên môn… góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục của nhà trường

1.2.2.3 Một số nhận xét về nội dung chương trình và sách giáo khoa Vật lí THPT.

Theo hệ thống phân ban chương trình và SGK Vật lý ở trường THPT

có hai bộ sách: bộ sách Nâng cao và sách Cơ bản Nhìn chung cả hai bộ sáchđều có đầy đủ những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại và có hệ thống.Trong bộ SGK Nâng cao có thêm một số kiến thức bổ sung với yêu cầu caohơn, đòi hỏi HS cần có khả năng tư duy tốt hơn

Tuy nhiên cả hai bộ sách cũng còn những hạn chế Ví dụ như kiến thứccòn mang nhiều tính hàn lâm, nhiều phần kiến thức chưa gắn với thực tiễncuộc sống ở mức độ phổ thông, đặc biệt tính phân hóa chưa rõ rệt Ngoài ra,tài liệu SGK chưa phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất ở hầu hết các trườngTHPT, nhất là những trang thiết bị thí nghiệm của môn Vật lí

Trang 37

Ngoài SGK là nguồn tài liệu tham khảo chính, các loại sách tham khảo

về môn Vật lí cho GV và HS phổ thông rất nhiều, nhưng chủ yếu là sáchhướng dẫn ôn tập và luyện thi theo các dạng bài tập của các đề thi Trong khi

đó, các sách tham khảo giúp HS đào sâu và nâng cao kiến thức đã học trênlớp và hướng dẫn hình thành nền tảng kiến thức khoa học phổ thông cơ bản

và các kĩ năng tư duy lại rất ít

Các hình thức đánh giá, thi tuyển đã tác động rất lớn đến việc tiếp cậnchương trình học của HS HS không chú trọng tìm hiểu các kiến thức khoahọc cơ bản, rèn luyện các kĩ năng thực hành, thí nghiệm, kĩ năng tư duy màchỉ chủ yếu tập trung ôn luyện các loại dạng bài tập có trong cấu trúc như cáckì thi Chính vì thế chương trình trở nên vừa thừa vừa thiếu đối với HS, gâykhó khăn cho cả GV và HS

1.2.2.4 Những khó khăn và nhu cầu của GV trường THPT Vũ Tiên khi bồi dưỡng kiến thức cho HS lớp chọn.

Hệ thống thư viện nhà trường hầu như không có tài liệu dành riêng cho

HS các lớp chọn hay bồi dưỡng HSG GV thường phải tự soạn các tài liệutham khảo Tuy nhiên số lượng còn hạn chế và chưa đầy đủ và chủ yếu là theoquan điểm chủ quan của cá nhân

Đối với HS vùng nông thôn nhu cầu học tập chưa cao, nhiều em chưa

có mục tiêu rõ ràng, chính đáng khi đề đạt nguyện vọng vào các lớp chọn.Đây cũng là một khó khăn rất lớn cho GV giảng dạy trong các lớp chọn

Qua điều tra thực tế cho thấy, một số GV không muốn giảng dạy trongcác lớp chọn, đặc biệt là tham gia bồi dưỡng HSG với các lý do: không có tàiliệu, áp lực phải có HSG, sự đầu tư chuyên môn và công sức tự bỏ ra rất tốnkém thời gian và trí lực

HS không muốn tham gia vào các đội tuyển HSG, ngay cả các em trongcác lớp chọn vì học tập vất vả, tốn rất nhiều thời gian, quyền lợi lại rất hạnchế Trong khi đó lại làm gián đoạn việc ôn tập các môn học khác hay các kì

Trang 38

thi quan trọng như thi Đại học Đây là một khó khăn rất lớn cho các GV giảngdạy các lớp chọn và phụ trách các đội tuyển HSG trong nhà trường.

1.2.3 Vấn đề sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng kiến thức cho HS trong các lớp chọn, HS giỏi Vật lí lớp 12 THPT

1.2.3.1 Nhiệm vụ của dạy học vật lí và công tác bồi dưỡng kiến thức cho HS trong các lớp chọn.

Môn Vật lí ở trường THPT có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là với cáclớp chọn Là một trong những môn học của khối A, A1 trong kì thi tuyển sinhĐại học Cao đẳng và thường xuyên được tổ chức trong kì thi chọn HSG cáccấp, do đó có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng mũi nhọn của nhà trường.Ngoài ra đây là môn khoa học tự nhiên được đa số HS yêu thích và lựa chọnchương trình tự chọn

Chương trình môn Vật lí giúp trang bị cho HS những kiến thức phổthông, cơ bản và có liên quan rất nhiều đến những ứng dụng quan trọng trongđời sống và sản xuất, phát triển tư duy khoa học ở HS

Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho

HS nắm được các nguyên lí cơ bản về cấu tạo và hoạt động của máy móc, có

kỹ năng sử dụng những dụng cụ vật lí, kỹ năng lắp ráp các thiết bị thựcnghiệm vật lí… Những kỹ năng đó giúp HS có thể nhanh chóng thích ứng vớihoạt động lao động sản xuất

Như vậy, công tác bồi dưỡng HS trong các lớp chọn và HSG ở trườngTHPT có vai trò hết sức quan trọng, trong đó có môn Vật lí góp phần ươmmầm những nhân tài cho đất nước

1.2.3.2 Thực trạng về dạy học và bồi dưỡng kiến thức Vật lí cho HS ở các lớp chọn 12 THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình

* Khó khăn:

- Trường ở khu vực nông thôn, nhận thức của một bộ phận cha mẹ HS

và HS còn hạn chế nên việc tổ chức các lớp chọn còn gặp khó khăn

Trang 39

- Các điều kiện hỗ trợ cho công tác giảng dạy cho HS ở các lớp chọncòn eo hẹp: thư viện chưa có nhiều tài liệu tham khảo cho HS và GV.

- Đội ngũ GV có năng lực chuyên môn tốt, chuyên tâm với nghề nghiệpcòn chưa nhiều, chưa dành nhiều thời gian do đó việc tổ chức dạy học phânhóa chưa triệt để, đôi khi phản tác dụng

- Các hình thức kiểm tra, đánh giá, thi cử ảnh hưởng lớn đến chươngtrình, phương pháp dạy-học của GV và HS Chưa phát huy hết các năng lựchọc tập, nghiên cứu khoa học của GV và HS trong các lớp chọn

* Thuận lợi :

- Một số GV nhiệt tình tâm huyết với công việc; có trình độ chuyên mônnghiệp vụ tốt; có kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy ở các lớp chọn và bồidưỡng các đội tuyển HSG

- Học sinh THPT Vũ Tiên có nền nếp rất tốt, hầu hết các em đều chămngoan, mặt bằng khá, những em có năng khiếu bộ môn thì chịu khó và say

mê, có hứng thú rất cao trong quá trình học tập

- Qua khảo sát ý kiến của HS và GV, nhiều ý kiến cho rằng cần đầu tưthời gian, tập hợp, xây dựng tài liệu dành riêng cho HS các lớp chọn cho phùhợp với mục tiêu dạy học và năng lực học tập của HS trong các lớp chọn ởtrường THPT Vũ Tiên – Vũ Thư – Thái Bình Như vậy, việc xây dựng hệthống bài tập để bồi dưỡng HS các lớp chọn trong trường là việc làm cấpthiết Trong chương 2 của luận văn này chúng tôi đưa ra một số dạng bài tậpđã xây dựng nằm trong hệ thống bài tập đó

Tuy nhiên, để hoàn thiện hệ thống bài tập này cần nhiều thời gian, cần có

sự thẩm định và thử nghiệm trong quá trình dạy học Có thể đây chỉ là nhữngphác thảo đầu tiên để tác giả cùng các đồng nghiệp hoàn thiện dần trongtương lai

Trang 40

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP PHẦN

“DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÀNH CHO HỌC SINH LỚP CHỌN

2.1 Vị trí, vai trò và cấu trúc của chương “Dòng điện xoay chiều”

2.1.1 Vị trí và vai trò của chương “Dòng điện xoay chiều”

Chương “Dòng điện xoay chiều” là chương thứ V của chươngtrình SGK lớp 12 Nâng cao Trước đó là chương IV “Dao động và sóng điệntừ” nghiên cứu dao động điện tự do, dao động điện từ tắt dần, dao động điện

từ duy trì Trong chương “Dao động và sóng điện từ” HS đã nghiên cứu mạchdao động LC, phương trình dao động của dao động điện từ, năng lượng daođộng… những kiến thức này có thể giúp HS hiểu về cuộn cảm, tụ điện và cácnhững kiến thức liên quan đến mạch dao động điện từ Mặt khác trong chỉnhthể nghiên cứu các loại dao động thì phần “dao động và sóng điện từ” tiếptheo sau “dao động cơ”, “sóng cơ” là hợp lý Do đó khi tìm hiểu kiến thứcchương “Dòng điện xoay chiều”, mặc dù lượng kiến thức lớn và tương đốikhó nhưng về mặt tâm lí HS đã được xây dựng nền tảng từ chương trình trước

đó nên sẽ khá tự tin và hứng thú

Về chuẩn kiến thức kĩ năng cụ thể của chương:

1 Dòng điện xoay

chiều Điện áp

xoay chiều Các

giá trị hiệu

dụng của dòng

điện xoay chiều

- Viết được hệ thức của định luật

Ôm đối với đoạn mạch xoaychiều thuần điện trở, thuần cảmkháng, thuần dung kháng và đốivới đoạn mạch RLC nối tiếp

- Nêu được độ lệch pha giữa dòng

- Vận dụng đượccác công thứctính cảm kháng,dung kháng vàđiện kháng

- Vẽ được giản đồ

Ngày đăng: 11/07/2016, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005). Luật Giáo dục. Nhà xuất bản Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2005
2. DS. Dương Trọng Bái (2003). Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí trung học phổ thông. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí trung học phổ thông
Tác giả: DS. Dương Trọng Bái
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
3. Dương Văn Cẩn(Chủ biên) – Hà Duyên Tùng – Nguyễn Xuân Trường – Nguyễn Văn Hóa – Nguyễn Xuân Trung(2010). 1000 bài trắc nghiệm trọng tâm và điển hình Vật lí 12. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1000 bài trắc nghiệm trọng tâm và điển hình Vật lí 12
Tác giả: Dương Văn Cẩn(Chủ biên) – Hà Duyên Tùng – Nguyễn Xuân Trường – Nguyễn Văn Hóa – Nguyễn Xuân Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm
Năm: 2010
4. Bùi Quang Hân, Trần Văn Bồi, Nguyễn Văn Minh, Phạm Ngọc Tiến (2003). Giải toán Vật lí 12 – Tập 2. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải toán Vật lí 12 – Tập 2
Tác giả: Bùi Quang Hân, Trần Văn Bồi, Nguyễn Văn Minh, Phạm Ngọc Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Cảnh Hòe (2009). Vật lí 12 Những bài tập hay và điển hình. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12 Những bài tập hay và điển hình
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
6. Nguyễn Cảnh Hòe, Phạm Huy Thông (2006). Tài liệu Vật lí 12 Nâng cao – Tập 1. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Vật lí 12 Nâng cao – Tập 1
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hòe, Phạm Huy Thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
7. Vũ Thanh Khiết (2008). Phương pháp giải toán Vật lí 12. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải toán Vật lí 12
Tác giả: Vũ Thanh Khiết
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
8. Vũ Thanh Khiết, Tô Giang (2009). Bồi dưỡng HS giỏi Vật lí THPT – Điện học 2. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng HS giỏi Vật lí THPT – Điện học 2
Tác giả: Vũ Thanh Khiết, Tô Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
9. Đỗ Hương Trà, Phạm Gia Phách (2009). Dạy học bài tập vật lí ở trường THPT. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học bài tập vật lí ở trường THPT
Tác giả: Đỗ Hương Trà, Phạm Gia Phách
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm
Năm: 2009
10. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (2001). Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Phạm Hữu Tòng (2007). Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học.Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2007
12. Lê Gia Thuận – Hồng Liên (2007). Trắc nghiệm Vật lí Điện xoay chiều. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm Vật lí Điện xoay chiều
Tác giả: Lê Gia Thuận – Hồng Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3: Biểu diễn vectơ quay của u và - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.3 Biểu diễn vectơ quay của u và (Trang 46)
Hình 2.4: Biểu diễn vectơ quay của đoạn mạch  xoay chiều theo qui tắc hình bình hành - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.4 Biểu diễn vectơ quay của đoạn mạch xoay chiều theo qui tắc hình bình hành (Trang 47)
Hình 2.8: Giản đồ vectơ quay - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.8 Giản đồ vectơ quay (Trang 60)
Hình 2.9: Giản đồ vectơ quay bài mẫu 3 – Dạng 2 - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.9 Giản đồ vectơ quay bài mẫu 3 – Dạng 2 (Trang 61)
Hình 2.13: Hình vẽ bài mẫu – Dạng 2 - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.13 Hình vẽ bài mẫu – Dạng 2 (Trang 64)
Hình 2.15: Hình vẽ bài mẫu 7 – Dạng 2 - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 2.15 Hình vẽ bài mẫu 7 – Dạng 2 (Trang 65)
Bảng 2.1: Biểu diễn các đại lượng trong mạch điện xoay chiều dạng số phức - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng 2.1 Biểu diễn các đại lượng trong mạch điện xoay chiều dạng số phức (Trang 67)
Bảng 2.2: Bảng biến thiên công suất bài mẫu 2 – Dạng 3 - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng 2.2 Bảng biến thiên công suất bài mẫu 2 – Dạng 3 (Trang 74)
Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích: - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng ph ân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích: (Trang 97)
Hình 3.1: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1của các lớp ĐC và TN - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 3.1 Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 1của các lớp ĐC và TN (Trang 98)
Đồ thị Hình 3.1 cho thấy, đường lũy tích ứng với lớp ĐC luôn ở cao hơn  lớp TN, chứng tỏ ở mỗi mức điểm X i  bất kì lớp ĐC có số học sinh đạt dưới  điểm X i  nhiều hơn so với ở lớp TN, chất lượng chung của lớp TN là cao hơn. - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
th ị Hình 3.1 cho thấy, đường lũy tích ứng với lớp ĐC luôn ở cao hơn lớp TN, chứng tỏ ở mỗi mức điểm X i bất kì lớp ĐC có số học sinh đạt dưới điểm X i nhiều hơn so với ở lớp TN, chất lượng chung của lớp TN là cao hơn (Trang 98)
Hình 3.2: Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 của các lớp ĐC và TN Tương tự như đồ thị đường lũy tích biểu diễn số liệu trong bảng 3.2,  đường lũy tích ứng với tỉ lệ học sinh đạt điểm X i  trở xuống (tần suất lũy tích)  trong bảng 3.3 cũng nằm phía t - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Hình 3.2 Đồ thị tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 của các lớp ĐC và TN Tương tự như đồ thị đường lũy tích biểu diễn số liệu trong bảng 3.2, đường lũy tích ứng với tỉ lệ học sinh đạt điểm X i trở xuống (tần suất lũy tích) trong bảng 3.3 cũng nằm phía t (Trang 99)
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp phân loại học sinh theo kết quả điểm kiểm tra - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng 3.4. Bảng tổng hợp phân loại học sinh theo kết quả điểm kiểm tra (Trang 100)
Bảng 3.5: Tổng hợp các tham số đặc trưng sau 2 bài kiểm tra - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng sau 2 bài kiểm tra (Trang 101)
Bảng 3.5 cho thấy: - LUAN VAN THAC SI VAT LY  CHU DE DIEN XOAY CHIEU
Bảng 3.5 cho thấy: (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w