HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TOÁN CỰC TRỊPHẦN DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG CAO BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUYLUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍChuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC(BỘ MÔN VẬT LÍ)Mã số: Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM KIM CHUNGDANH MỤC SƠ ĐỒTrangSơ đồ 1.1. Các dạng bài tập vật lí ………………………………11Sơ đồ 1.2. Sơ đồ tư duy về khái niệm đường sức từ và vận dụng. …16Sơ đồ 1.3. Quá trình tư duy sử dụng các phần khác nhau trên bộ não 17Sơ đồ 1.4. Ví dụ sơ đồ tư duy theo đề cương……………………19Sơ đồ 1.5. Ví dụ sơ đồ tư duy theo từng đoạn, từng bài………………20Sơ đồ 1.6. Cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình.…………………………..22Sơ đồ 1.7. Ví dụ lập sơ đồ tư duy giải bài toán vật lí………………….24Sơ đồ 2.1. Các kiến thức toán cơ bản sử dụng xét cực trị……………..33Sơ đồ 2.2. Ví dụ giải bài toán cực trị bằng bất đẳng thức Cauchy39Sơ đồ 2.3. Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị bằng Sử dụng giản đồ vec tơ và định lí hàm số sin hoặc cos…………………………...........41Sơ đồ 2.4. Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị dựa vào tam thức bậc 242Sơ đồ 2.5. Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị theo phương pháp khảo sát hàm số.............................................................................................46Sơ đồ 2.6. Sơ đồ tư duy giải bài toán tìm R để công suất cực đại.......48Sơ đồ 2.7. Sơ đồ tư duy giải bài toán tìm R để công suất trên R cực đại..49Sơ đồ 2.8. SĐTD giải BT tìm UL cực đại sử dụng tam thức bậc 2…50Sơ đồ 2.9. Sơ đồ tư duy giải BT tìm UL cực đại sử dụng giản đồ véc tơ..52Sơ đồ 2.10. Sơ đồ tư duy giải BT tìm I cực đại.………………………55
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TOÁN CỰC TRỊ PHẦN DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VẬT LÍ LỚP 12 NÂNG
CAO BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN VẬT LÍ)
Mã số:
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM KIM CHUNG
HÀ NỘI
Trang 2Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố, mẹ, chồng và cácanh chị em trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thànhkhóa học tại trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội !
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Tác giả
Trang 3
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4TrangBảng 3.1 Bảng tần suất điểm lớp đối chứng ……… 62Bảng 3.2 Bảng tần suất điểm lớp thực nghiệm … ……… 62Bảng 3.3 Các thông số thông kê mô tả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng … 63Bảng 3.4 Kiểm định sự khác nhau của các trung bình cộng -
DANH MỤC HÌNH
TrangHình 2.1 Đồ thị của P theo Rtd ……….……… 44
Trang 5Hình 3.1 Ảnh nhóm học sinh xây dựng sơ đồ tư duy ……… 61Hình 3.2.Đồ thị tần suất điểm số thực nghiệm sư phạm ……… 63
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Các dạng bài tập vật lí ……… 11
Trang 6Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tư duy về khái niệm đường sức từ và vận dụng … 16
Sơ đồ 1.3 Quá trình tư duy sử dụng các phần khác nhau trên bộ não 17
Sơ đồ 1.4 Ví dụ sơ đồ tư duy theo đề cương……… 19
Sơ đồ 1.5 Ví dụ sơ đồ tư duy theo từng đoạn, từng bài……… 20
Sơ đồ 1.6 Cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình.……… 22
Sơ đồ 1.7 Ví dụ lập sơ đồ tư duy giải bài toán vật lí……… 24
Sơ đồ 2.1 Các kiến thức toán cơ bản sử dụng xét cực trị……… 33
Sơ đồ 2.2 Ví dụ giải bài toán cực trị bằng bất đẳng thức Cauchy 39 Sơ đồ 2.3 Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị bằng Sử dụng giản đồ vec tơ và định lí hàm số sin hoặc cos………
41 Sơ đồ 2.4 Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị dựa vào tam thức bậc 2 42 Sơ đồ 2.5 Sơ đồ tư duy giải bài toán cực trị theo phương pháp khảo sát hàm số 46
Sơ đồ 2.6 Sơ đồ tư duy giải bài toán tìm R để công suất cực đại 48
Sơ đồ 2.7 Sơ đồ tư duy giải bài toán tìm R để công suất trên R cực đại 49
Sơ đồ 2.8 SĐTD giải BT tìm UL cực đại- sử dụng tam thức bậc 2… 50 Sơ đồ 2.9 Sơ đồ tư duy giải BT tìm UL cực đại- sử dụng giản đồ véc tơ 52
Sơ đồ 2.10 Sơ đồ tư duy giải BT tìm I cực đại.……… 55
MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn……… i
Danh mục viết tắt……… ii
Danh mục bảng biểu……… iii
Danh mục hình vẽ……… iv
Danh mục sơ đồ ……… v
Trang 7Mục lục……… vi
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI … 5
1.1 Bài tập vật lí, vai trò và mục đích sử dụng trong dạy học vật lí … 5
1.1.1 Bài tập vật lí ……… 5
1.1.2 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy và học……… 5
1.1.3 Mục đích sử dụng bài tập vật lí……… 8
1.2 Các dạng bài tập vật lí ……… 9
1.3 Phương pháp giải bài tập Vật lí ……… 11
1.3.1 Các bước giải bài tập Vật lí ……… 11
1.3.2 Giải bài tập Vật lí định tính ……… 12
1.3.3 Giải bài tập Vật lí tính toán ……… 13
1.3.4 Một số điểm lưu ý khi học sinh bài tập và bài thi Vật lí ……… 13
1.4 Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học vật lí……… 15
1.5 Sơ đồ tư duy trong dạy học……… 15
1.5.1 Sơ đồ tư duy ……… 15
1.5.2 Các loại sơ đồ tư duy ……… 19
1.5.3 Cách lập sơ đồ tư duy ……… 21
1.6 Xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy trong hướng dẫn HS giải BTVL… 22
1.6.1.Xây dựng sơ đồ tư duy hỗ trợ hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí…
22 1.6.2 Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy……… 24
1.6.3 Các ưu và nhược điểm khi dạy học bằng sơ đồ tư duy………… 26
1.7 Vai trò của GV và HS trong quá trình xây dựng sơ đồ tư duy…… 28
1.7.1 Vai trò của Giáo viên……… 28
1.7.2 Vai trò của học sinh……… 28
1.8 Thực trạng việc sử dụng SĐTD trong DH vật lí ở trường THPT… 28 1.8.1 Phương pháp điều tra……… 28
1.8.2 Kết quả điều tra……… 29
1.9 Kết luận chương 1……… 30
Chương 2: SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TOÁN CỰC TRỊ PHẦN DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU……. 32
2.1 Những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng giải bài tập ……… 32
2.1.1 Về nội dung kiến thức ……… 32
2.1.2 Về kĩ năng ……… 38
2.2 Các dạng bài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều ……… 38
2.1.1 Các phương pháp giải bài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều……….… 38
2.1.2 Các dạng bài toán cực trị phần điện xoay chiều……… 45
2.3 Xây dựng tiến trình dạy học với các bài tập bằng sơ đồ tư duy 55
2.4 Kết luận chương 2……… 56
Chương 3: THỰC NGHIỆP SƯ PHẠM……… 58
Trang 83.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm ……… 58
3.2 Đối tượng và phương thức thực nghiệm sư phạm ……… 58
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm……… 58
3.2.2 Phương thức thực nghiệm sư phạm……… 58
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ……… 59
3.3.1 Phân tích định tính diễn biến các giờ học trong quá trình TNSP 59
3.3.2 Phân tích định lượng kết quả TNSP ……… 62
3.4 Kết luận chương 3……… 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO………. 70
PHỤ LỤC……… 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bài tập vật lí có vai trò quan trọng trong việc củng cố kiến thức, rènluyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vật lí giải quyết vấn đề trong vật lí và cuộcsống Hiện nay, trong dạy học vật lí ở trường THPT, giáo viên thường phânchia các bài tập dựa trên yêu cầu về toán học hướng dẫn học sinh giải các bàitập vật lí theo các dạng đó Đặc biệt, hiện nay đang áp dụng các hình thức thitrắc nghiệm, với các bài tập trắc nghiệm đòi hỏi giải bài tập nhanh và chínhxác, nên nhiều học sinh chỉ vận dụng một cách máy móc các bước giải bàitập, nhận dạng bài tập, áp dụng công thức và sử dụng máy tính để tính toánvới tốc độ nhanh và chính xác, do vậy việc phát triển tư duy và sự sáng tạocủa học sinh trong việc giải bài tập vật lí còn hạn chế
Một vấn đề đặt ra là cần có các phương pháp giải bài tập và hướng dẫnhọc sinh giải bài tập với tốc độ nhanh, chính xác, đồng thời giúp học sinh pháttriển tư duy
Sơ đồ tư duy (Mind Map -hay còn gọi là Bản đồ tư duy) – một sáng tạocủa Tony Buzan đã mang lại những hiệu quả tích cựu cho người sử dụng ởnhiều lĩnh vực khác nhau Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy hiệuquả, đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo, mở rộng và đào sâucác ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết vớinhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm virộng, giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi
để phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cầnnghiên cứu
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, pháttriển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu,thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, ‘học vẹt’ Lí thuyết về sơ đồ tư duy
đã được đề cập đến trong tài liệu về Lí luận dạy học nói chung Nhiều côngtrình nghiên cứu khác đã đề cập để việc sử dụng Graph trong việc dạy học vật
Trang 10lí như dạy lí thuyết, ôn tập chương nhưng chưa quan tâm nhiều đến việc sửdụng sơ đồ tư duy hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí nói chung và bàitoán cực trị phần dòng điện xoay chiều nói riêng.
Trong chương trình vật lí lớp 12, phần dòng điện xoay chiều là nộidung trọng tâm, các bài tập phần này có nhiều trong các nội dung thi các cấp,trong đó bài toán cực trị trong phần dòng điện xoay chiều là bài toán cơ bản,
có nhiều phương pháp giải dựa trên yêu cầu bài toán,việc lựa chọn phươngpháp giải thường gặp khó khăn cho học sinh Việc vận dụng sơ đồ tư duytrong hướng dẫn học sinh giải bài tập là một trong những biện pháp giúp họcsinh lựa chọn được phương pháp giải bài tập hiệu quả
Vì những lí do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Hướng dẫn họcsinh giải bài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nâng caobằng sơ đồ tư duy”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng sơ đồ tư duy hướng dẫn học sinh hệ thống hóa các dạng bàitập và giải các bài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nângcao” một cách hiệu quả
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống các bài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật
lí lớp 12 nâng cao, bằng sơ đồ tư duy
- Xác định các phương pháp giải các bài toán cực trị phần dòng điệnxoay chiều vật lí lớp 12 nâng cao
- Xây dựng sơ đồ tư duy để hướng dẫn HS giải các bài toán cực trị phầndòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nâng cao
- Thiết kế tiến trình hướng dẫn HS giải BTVL bằng sơ đồ tư duy
- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đưa ra
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học
Trang 11phần Dòng điện xoay chiều - Vật lý lớp 12 " bằng sơ đồ tư duy.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Bài toán cực trị đối với mạch điện R, L, C mắc nối tiếp
5 Giả thuyết nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh giải các dạngbài toán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nâng cao sẽ giúphọc sinh tích cực, chủ động trong việc hệ thống hóa kiến thức, phát triển kĩnăng giải bài tập phần này
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về sơ đồ tư duy để làm sáng tỏ vai trò của
nó trong dạy và học vật lí
- Nghiên cứu chương trình vật lí phổ thông, các giáo trình, tài liệuhướng dẫn về học phần này, nội dung sách giáo khoa và những tài liệu thamkhảo có liên quan để xác định mức độ nội dung và yêu cầu cần nắm vững
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức sửdụng sơ đồ tư duy trong dạy và học vật lí ở trường THPT Kiến Thụy thànhphố Hải Phòng
- Điều tra thực tiễn sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn HS giải các bàitoán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nâng cao Tại trườngTHPT Kiến Thụy thành phố Hải Phòng
6.3 Thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành giảng dạy song song nhóm đối chứng và nhóm thựcnghiệm ở trường THPT Kiến Thụy thành phố Hải Phòng theo phương án đãxây dựng
- Trên cơ sở phân tích định tính và định lượng kết quả thu được trongquá trình thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả củacác biện pháp do đề tài đưa ra
Trang 127 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận vănđược trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy hướng dẫn HS giải bàitoán cực trị phần dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nâng cao
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Bài tập vật lí là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợpvới mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, hình thành các kháiniệm, phát triển tư duy vật lí của học sinh và rèn kĩ năng vận dụng kiến thứccủa học sinh vào thực tiễn
1.1.2 Vai trò của bài tập vật lí trong dạy và học
Trong quá trình dạy học vật lí, mặc dù giáo viên đã rất cố gắng sử dụngnhiều phương pháp mới trong đó có sử dụng nhiều kĩ thuật dạy học hay đểhướng dẫn học sinh tiếp cận nghiên cứu tài liệu hay một kiến thức vật lí mớimột cách rõ ràng, mạch lạc, logic song để học sinh hiểu sâu và nắm được kiếnthức đó giáo viên cần có hệ thống các bài tập cho các học sinh làm Chínhtrong quá trình làm bài tập là các em đã phải vận dụng linh hoạt các kiến thức
để tự lực giải quyết các tình huống cụ thể khác nhau có như vậy thì kiến thứcmới trở lên sâu sắc, hoàn thiện và trở thành vốn riêng của người học Qua đóhọc sinh còn có thể hình thành thói quen,kĩ năng, kĩ xảo khi vận dụng kiếnthức đã học vào cuộc sống Không những thế thông qua dạy học về bài tập vật
lí, người học có thể nắm vững một cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơnnhững quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí… biết cách phân tích chúng,ứng dụng chúng vào thực tiễn, có thói quen vận dụng kiến thức khái quát,giúp học sinh làm việc với tinh thần tự lực cao, đồng thời phát triển tư duysáng tạo của học sinh Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học như sau:
Trang 14- Giải bài tập vật lí giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống
Khi giải các bài toán như vậy sẽ giúp học sinh hiểu kiến thức sâu sắchơn, đồng thời tập cho học sinh biết cách liên hệ giữa lí thuyết và thực tế, vậndụng kiến thức được học vào cuộc sống hàng ngày
Thí dụ, sau khi học xong bài máy biến áp và truyền tải điện năng đi xa,học sinh có thể giải thích được câu hỏi: Tại sao ở nông thôn, dòng điện ởnhững xóm xa trạm biến áp lại bị tối hơn những bóng đèn ở gần trạm, mặc dùchúng có cùng một công suất Hoặc sau khi học song về công và công suấtcủa dòng điện ta có thể cho học sinh bài toán sau: làm thế nào để có thể thắpsáng bóng đèn 110V vào mạng điện 220V?
- Bài tập vật lí sử dụng như một phương tiện độc đáo để nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc
Trong quá trình dạy học vật lí giải quyết các tình huống cụ thể do bàitập đề ra, học sinh có nhu cầu tìm kiếm kiến thức mới, đảm bảo cho học sinhlĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc Ví dụ để nghiên cứu lực tác dụng lên vậtchuyển động tròn đều ta có thể đưa ra bài toán sau: Một miếng gỗ nhỏ đặt ởrìa một đĩa tròn nằm ngang Cho đĩa quay từ từ xung quanh một trục xuyênqua tâm đĩa với vận tốc góc tăng từ từ Đến một lúc nào đó thì miếng gỗ bịvăng ra khỏi đĩa Hãy giải thích tại sao?
Ở bậc trung học phổ thông, kiến thức toán của học sinh đã khá pháttriển Khi các bài tập vật lí được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh đếnnhững suy nghĩ về hiện tượng mới để giải thích hiện tượng mới do bài tậpphát hiện ra
Kết quả bài tập trên thấy việc cần thiết phải xây dựng khái niệm độnglượng, định luật bảo toàn động lượng
Khi giải quyết các tình huống cụ thể do bài tập đề ra học sinh phải phântích đề bài, xem đề bài cho gì, cần gì, học sinh phải tái hiện kiến thức, vận
Trang 15dụng kiến thức, vận dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổnghợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa….để xác lập mối quan hệ giữa các đạilượng, lập luận, tính toán , có khi phải tiến hành làm thí nghiệm, đo đạc kiểmtra kết luận Vì thế bài tập vật lí sẽ là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy,
óc sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú học tập và khả năng nghiên cứu khoa học,đặc biệt là khi phải khám phá ra bản chất của hiện tượng vật lí được trình bàydưới dạng tình huống có vấn đề
Trong dạy học vật lí, nếu ý thức được điều này, các bài tập vật lí dogiáo viên lựa chọn tốt có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo tính tò mò củangười học thay vì những bài tập đòi hỏi áp dụng một cách đơn giản các côngthức các định luật
- Bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt rèn luyện cho học sinh tính sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ, rèn luyện tư duy, đức tính kiên trì và sự yêu thích môn học, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh
Ở đây người học được khuyến khích chủ động chứ không thụ độngtrong thái độ học, cần lưu ý rằng sự giúp đỡ quá mức của giáo viên có thểdẫn đến việc khuyến khích tính dựa dẫm của người học Bài tập vật lí còngóp phần xây dựng một thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh, làmcho họ hiểu rõ thế giới tự nhiên là vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vậnđộng , họ tin vào sức mạnh của mình, muốn đem tài năng và trí tuệ cải tạothiên nhiên
- Bài tập vật lí là hình thức củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và
là phương tiện để kiểm tra kiến thức kĩ năng của học sinh một cách hiệu quả.
Khi giải bài tập vật lí, học sinh phải nhớ lại kiến thức vừa học, đào sâu khíacạnh nào đó của kiến thức hoặc phải tổng hợp kiến thức trong một chươnghoặc một phần của chương trình Nó được thực hiện qua các bài kiểm tra mộttiết, kiểm tra định kì Kết quả của bài kiểm tra giúp giáo viên biết người họchọc được gì, nắm kiến thức vững đến đâu để từ đó người giáo viên kịp thờisửa chữa sai lầm của người học và điều chỉnh cách dạy của mình
Trang 16Giải bài tập vật lí là thước đo chính xác để giáo viên có thể thườngxuyên theo dõi thành tích và tinh thần học tập của học sinh cùng với hiệu quảcông tác giáo dục, giáo dưỡng của mình để từ đó có thể điều chỉnh nội dung,phương pháp dạy học, giúp quá trình dạy học đạt hiệu quả cao.
- Bài tập vật lí có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp.
Các bài tập vật lí có thể đề cập đến các lĩnh vực khác nhau trong cuộcsống, khoa học, kĩ thuật, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, sản suất côngnghiệp….Các bài tập này là phương tiện thuận lợi để học sinh liên hệ giữa líthuyết và thực hành, học tập với đời sống, vận dụng kiến thức đã học vào thực
tế sản xuất và cuộc sống Thông qua bài tập vật lí giáo viên có thể giới thiệucho học sinh biết sự xuất hiện những tư tưởng, những quan điểm hiện đại, cácphát minh làm thay đổi thế giới Tiếp xúc các các hiện tượng trong đời sốnghàng ngày qua các bài tập vật lí giúp học sinh nhìn thấy khoa học vật lí xungquanh mình, từ đó kích thích hứng thú, đam mê của các em với môn học, bồidưỡng khả năng quan sát, tài phán đoán
Giải bài tập vật lí không phải là công việc nhẹ nhàng, nó đòi hỏi họcsinh tích cực vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinh nghiệm đã có để tìmlời giải Khi giải thành công một bài tập sẽ đem đến cho học sinh niềm phấnkhởi sáng tạo, sẵn sàng đón nhận bài tập mới ở mức độ cao hơn
Tuy nhiên không phải cứ cho học sinh làm bài tập là chúng ta đạt ngayđược các yêu cầu mong muốn Bài tập vật lí chỉ phát huy tác dụng to lớn của
nó trong những điều kiện sư phạm nhất định Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩxảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có một hệ thốngbài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với mục đích dạy học, với yêu cầurèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho người học [17, 337-345]
1.1.3 Mục đích sử dụng bài tập vật lí
Bài tập vật lí có vai trò quan trọng trong vận dụng kiến thức và hìnhthành kiến thức mới đều có mặt Do đó, bài tập vật lí với tư cách là mộtphương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành
Trang 17nhiệm vụ dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông.Việc giải các bài toán Vật lí
là rèn luyện sự tư duy định hướng học sinh một cách tích cực
Bài toán Vật lí có thể được sử dụng như là:
- Phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, đảm bảo cho học sinh lĩnh hộikiến thức một cách vững chắc
- Phương tiện rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức,liên hệ lý thuyết với thực tế, học tập với đời sống
- Rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học chohọc sinh
- Phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức cho học sinh một cách sinhđộng và có hiệu quả
- Rèn luyện những đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượtkhó cho học sinh
- Phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh [22,
tr 89-90], [18]
1.2 Các dạng bài tập vật lí
Có nhiều cách để phân dạng bài tập vật lí, tùy thuộc vào mục đích vàyêu cầu Nếu dựa vào phương thức giải có thể chia bài tập thành bài tập địnhtính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị Nếu dựa vào mức độphát triển tư duy của học sinh ta có thể chia bài tập thành bài tập luyện tập,bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo…
Dựa vào phương thức giải có thể chia bài tập thành các dạng như sau(sơ đồ 1):
+ Bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần phảitính toán phức tạp mà chủ yếu dựa vào các suy luận logic đơn giản để giải Đểlàm được các bài tập loại này học sinh cần phải hiểu rõ, hiểu sâu bản chất cáckiến thức vật lí: hiện tượng vật lí, các định luật vật lí, các thuyết vật lí….Đa
Trang 18số bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tượngvật lí nào đó xảy ra trong điều kiện xác định.
Bài tập định tính thường dùng để vận dụng các kiến thức vật lí vào đờisống, sản xuất Nó thường được đưa ra dưới dạng câu hỏi ‘Vì sao?’, ‘Tạisao?’ Bài tập định tính thường được sử dụng nhiều trong quá trình dạy họcvật lí nhất là khi xây dựng hình thành kiến thức mới, dùng làm bài tập nghiêncứu tài liệu mới Chính vì điều này bài tập định tính giúp học sinh nắm rõ bảnchất các hiện tượng vật lí, những quy luật của chúng, dạy cho học sinh biếtcách áp dụng lí thuyết vào thực tiễn Vì thế bài tập định tính luôn mang lạicho người học sự hứng thú, say mê môn học, rèn luyện tư duy, khả năng phánđoán, khả năng quan sát nhằm phát triển tư duy cho học sinh Vì bài tập địnhtính chỉ cần học sinh biểu đạt ngôn ngữ bằng lời để giải thích hiện tượng do
đó nó còn giúp cho học sinh biết sắp xếp và trình bày ý tưởng của mình mộtcách rõ ràng, mạch lạc
+ Bài tập định lượng
Là loại bài tập có dữ liệu cụ thể, muốn giải chúng ta phải thực hiện mộtloạt các phép tính và kết quả của nó là một đáp số định lượng như một côngthức, một giá trị bằng số…
Bài tập tính toán có thể chia làm hai loại : bài tập tính toán tập dượt vàbài tập tính toán tổng hợp
Bài tập tính toán tập dượt là các bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ
đề cập đến một hiện tượng hay một định luật vật lí và chỉ cần sử dụng một vàiphép toán đơn giản Bài tập này có tác dụng củng cố các kiến thức vừa học,giúp học sinh nắm rõ ý nghĩa của các hiện tượng, các định luật, các công thức,các đơn vị… để giải các bài tập phức tạp hơn
Bài tập tính toán tổng hợp trong đó chứa đựng nhiều các kiến thức vật
lí đã học từ trước Khi giải bài tập loại này có thể phải sử dụng nhiều các kỹnăng, các phương pháp giải toán vật lí khác nhau
Trang 19+ Bài tập thí nghiệm
Là loại bài tập khi giải phải sử dụng thí nghiệm để đi đến mục đích đặt
ra, có khi phải tiến hành thí nghiệm để hướng đến kết quả phải tìm hoặc phảilàm thí nghiệm để lấy số liệu làm bài tập
Loại bài tập này giúp cho học sinh thấy rõ được mối quan hệ giữa líthuyết và thực nghiệm
+ Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện đểgiải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phảibiểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị
Để giải được bài tập loại này học sinh cần hiểu rõ được ý nghĩa của đồthị, qua đồ thị có thể cho ta thấy rõ được mối quan hệ giữa hai đại lượng vật
lý Trong thực nghiệm nếu biểu diễn các số liệu đo được trên đồ thị một cáchchính xác, sẽ giúp ta xây dựng các các định luật vật lí mới Chính vì lẽ thế màbài tập sử dụng đồ thị hoặc xây dựng đồ thị ngày càng quan trọng trong quátrình dạy học vật lí [17, tr 340-346],[21, tr 90-98]
Sơ đồ 1.1 Các dạng bài tập vật lí 1.3 Phương pháp giải bài tập Vật lí
1.3.1 Các bước giải bài tập Vật lí
Việc giải bài tập vật lí bao gồm các bước chính sau đây:
1 Tìm hiểu đầu bài
Phân biệt được đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện
Trang 20Dùng các ký hiệu để tóm tắt đầu bài
Nếu cần thiết thì phải vẽ hình để diễn đạt những điều kiện của đầu bài
2 Phân tích hiện tượng
Những dự kiện đã cho liên quan đến những khái niệm, hiện tượng, quitắc, định luật nào trong Vật lí Xác định các giai đoạn diễn biến của hiệntượng và các định luật chi phối nó
3 Xây dựng lập luận
Sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Phương pháp phân tích thì xuất phát từ ẩn số của bài tập, tìm ra mốiquan hệ giữa ẩn đó với một đại lượng nào đó của một ĐL đã xác định, diễnđạt bằng công thức, tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi cuối cùng tìmđược một công thức chỉ chứa mối quan hệ giữa ẩn số và các dữ kiện đã cho
Phương pháp tổng hợp thì trình tự làm ngược lại: điểm xuất phát từ các
dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi để đi đến công thức cóchứa ẩn số và các dữ kiện đã cho
a) Bài tập giải thích hiện tượng có thể đưa ra một qui trình sau đây:
Tìm hiểu đầu bài, đặc biệt chú trọng diễn đạt hiện tượng mô tả trongđầu bài bằng ngôn ngữ Vật lí (dùng khái niệm Vật lí thay cho khái niệm dùngtrong đời sống hàng ngày)
*Phân tích hiện tượng
* Xây dựng lập luận
-Tìm trong đầu bài những dấu hiệu có liên quan đến một tính chất Vật
lí, một định luật Vật lí đã biết
Trang 21- Phát biểu đầy đủ tính chất đó, định luật đó
- Xây dựng một luận 3 đoạn để thiết lập mối quan hệ giữa định luật đóvới hiện tượng đã cho, nghĩa là giải thích được nguyên nhân của hiện tượng
b) Bài tập dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện
cụ thể của đầu bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoánhiện tượng gì xảy ra và xảy ra như thế nào Như vậy là, ta đã biết những điềukiện cụ thể (một trường hợp riêng), bây giờ ta đi tìm qui luật chung chi phốihiện tượng cùng loại và rút ra kết luận
1.3.3 Giải bài tập Vật lí tính toán
Khi giải bài tập tính toán cần phải thực hiện bước 1 và 2 giống như khigiải bài tập định tính Riêng bước 3 về xây dựng lập luận có thể sử dụng haiphương pháp sau: Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Phương pháp phân tích bắt đầu từ việc tìm một định luật, một qui tắcdiễn đạt bằng một công thức có chứa đại lượng cần tìm và một đại lượng khácchưa biết, tiếp theo tìm những định luật, công thức khác có mối quan hệ giữanhững đại lượng chưa biết này với đại lượng đã biết trong đầu bài Cuối cùng,
ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa một đại lượng cần tìm với cácđại lượng đã biết
Phương pháp tổng hợp việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đãcho dựa vào các định luật, qui tắc Vật lí, ta phải tìm những công thức chứađại lượng đã cho với đại lượng trung gian mà ta dự kiến có liên quan đến đạilượng ta cần tìm Cuối cùng, ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa mộtđại lượng cần tìm với các đại lượng đã biết
Phối hợp phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
Trong thực tế giải các bài tập hai phương pháp trên không tách rời nhau
mà thường xen kẽ, hỗ trợ cho nhau [17, tr 355-362]
1.3.4 Một số điểm lưu ý khi học sinh bài tập và bài thi Vật lí
Một số điểm nhỏ sau đây, nếu học sinh không chú ý dễ mắc các lỗi:
Trang 22- Phải ghi rõ đơn vị ở kết quả sau cùng: Mỗi một đại lượng Vật lí gắn
với một đơn vị tương ứng Không có đơn vị thì đại lượng không có ý nghĩa
- Cần phân biệt các loại đơn vị khác nhau Một số sai lầm phổ biến
hiện nay là : không phân biệt kW (công suất) và kWh (công), MeV (nănglượng) và MeV/c2(khối lượng)
- Tập thói quen biến đổi rad ra độ hoặc ngược lại Biến đổi các đơn vị
đo chiều dài, diện tích, thể tích Chú ý tên gọi của các bội số hay các ước sốcủa đơn vị như như micrô (), nanô (), picô (p), kilô (k), mêga (M)
- Tập thói quen kiểm tra giá trị của các đại lượng sao cho có nghĩa và
phù hợp trong thực tế Nhiều thí sinh thường hay hoảng hốt nếu con số ra quálớn hay quá nhỏ Vấn đề là giá trị ấy có phù hợp trong thực tế hay không
Ví dụ: với mạch điện thông thường, dòng điện quá 30A là bất hợp línhưng với động cơ điện là chấp nhận được Vận tốc các vật luôn nhỏ hơn vậntốc ánh sáng Không có tụ điện có điện dung vài Fara
- Tâm lí sợ số lẻ : Học sinh thường gặp khó khăn nếu kết quả cho số lẻ.
Trong thực tế, các đại lượng Vật lí có giá trị tùy ý, nếu kết quả là số thập phân
là điều hết sức bình thường
- Cách ghi kết quả: thông thường, sau khi có kết quả, học sinh thường
giữ rất nhiều số thập phân với lí do để giám khảo thấy mình là người làm việcnghiêm túc, tính toán chính xác đến nhiều số lẻ Tuy nhiên giám khảo sẽ đánhgiá ngược lại: thí sinh này thiếu thói quen làm tròn số (rất tiếc, HS ít được rènluyện kĩ năng này trong suốt bậc học phổ thông)
- Nếu bài toán không yêu cầu, chỉ nên giữ 1 hoặc 2 con số có nghĩa saudấu phẩy Ngoài ra, đối với các số quá nhỏ hay quá lớn, nên viết kết quả dướidạng chuẩn nghĩa là dấu phẩy được đặt ngay sau con số có nghĩa đầu tiên.Cách viết này rất tiện khi so sánh các số quá lớn hay quá nhỏ với nhau: Thídụ: không nên viết 156734,567 (m/s) hoặc 0,000657 F mà nên viết 1,57.105
(m/s) và 6,57.10-4 F
Trang 23- Một điểm cần chú ý nữa là trình bày bài làm sạch sẽ, sáng sủa Khôngnên viết liền một mạch mà nên phân đoạn xuống dòng sau mỗi ý Nếu cầnthiết có thể bổ sung thêm hình vẽ để truyền đạt thông tin một cách ngắn gọnnhưng súc tích, hiệu quả.
1.4 Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học vật lí
Trong dạy học bất cứ một đề tài nào, giáo viên cần lựa chọn một hệthống bài tập thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
- Mỗi bài tập là một mắt xích trong hệ thống bài tập nhằm củng cố,hoàn thiện và mở rộng kiến thức
- Hệ thống bài tập cần có nhiều thể loại: giả tạo, thực tế, luyện tập,sáng tạo, ngụy biện,
Giáo viên phải dự kiến chi tiết kế hoạch sử dụng hệ thống bài tập.Sửdụng ở các khâu trong quá trình dạy học: nêu vấn đề, hình thành kiến thứcmới, củng cố, hệ thống hóa, kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS.Cần quan tâm cả đến số lượng bài tập cần giải, ở lớp, ở nhà hoặc làm thêm
1.5 Sơ đồ tư duy trong dạy học
1.5.1 Sơ đồ tư duy
Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chứccao, đó là bộ não của con người Trong quá trình phản ánh hiện thực kháchquan bằng khái niệm, phán đoán…Nếu kích thích trí óc bằng những công cụ
tư duy, học tập phù hợp như lập sơ đồ tư duy thì sẽ mang lại những giải pháphiệu quả, sáng tạo trong giải quyết vấn đề
Tony Buzan – người đã sáng tạo nên thuật ngữ Mindmap (bản đồ tư
duy) là một hình thức ghi chép sử dụng hình ảnh và màu sắc, để mở rộng vàđào sâu ý tưởng Ở giữa bản đồ là ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởnghay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển thành các nhánh tượng trưngcho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm” Trong khái niệm này,
Trang 24Tony Buzan mới chỉ nhấn mạnh đến đặc điểm hình thức của bản đồ tư duy,chưa thể coi là một định nghĩa hoàn chỉnh về công cụ tư duy này.
Khái niệm “Mindmap” được hiểu là “một dạng sơ đồ được dùng đểbiểu thị các từ ngữ, ý tưởng, nhiệm vụ hoặc yếu tố khác có liên quan hoặcđược sắp xếp xung quanh một ý tưởng trung tâm …Các bản đồ tư duy được
sử dụng nhằm tạo ra hình dung cấu trúc hay phân loại ý tưởng, cũng như làmột phương tiện hỗ trợ trong học tập, tổ chức, giải quyết vấn đề, đưa ra quyếtđịnh và viết”
Khi sử dụng sơ đồ tư duy xây dựng các kiến thức thì ở giữa sơ đồ tưduy là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm (Sơ đồ 2) Ý hay hình ảnhtrung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính
và được nối với ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành các nhánhnhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ lại đượcphân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơnnữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh , các ý tưởng cũng có sự liên hệ dựa trênmối liên hệ của bản thân các ý, điều này khiến cho Sơ đồ tư duy có thể baoquát các ý tưởng trên một phạm vi rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thôngthường không thể làm được [28]
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tư duy về khái niệm đường sức từ và vận dụng.
Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xa xung quanh, Sơ đồ tư duy
sẽ khiến tư duy cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng sẽ phát triển
Trang 25và chẳng bao lâu sẽ nảy nở các ý tưởng sáng tạo trong tư duy, góp phần làmnên những thành công lớn trong học tập và trong công việc
Những thành tựu nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy, bộnão không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối,những nhánh thần kinh Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút vàgiấy đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán
Từ trước tới nay, đã có một số quan điểm cho rằng, con người không sửdụng hết 100% công suất của bộ não, thậm chí có ý kiến cho rằng: trong cuộcđời mỗi người chỉ sử dụng 10% các tế bào não, 90% còn lại ở trạng thái ngủyên vĩnh viễn Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng chothấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thầncủa con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp các ngôn ngữ, hìnhảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Tức là, quá trình tư duy đã
sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não
Sơ đồ 1.3 Quá trình tư duy sử dụng các phần khác nhau trên bộ não
Ví dụ: như học sinh tiến hành thí nghiệm, não trái đóng vai trò thu thập
số liệu; còn não phải đóng vai trò xây dựng sơ đồ thí nghiệm, bố trí các dụng
cụ đo, thu thập hình ảnh về đối tượng cần nghiên cứu Ngoài ra, tính hấp dẫncủa hình ảnh, âm thanh, kết quả bất ngờ của thí nghiệm, gây ra những kíchthích rất mạnh lên não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những
Trang 26điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí rút ra kết luận hoặc xây dựng
mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
Trực giác đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo Cơ sở của trực giác làtrí tưởng tượng khoa học Trí tưởng tượng là khả năng tạo hình ảnh phản ánhđối tượng cho trước ở trong óc Trí tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trongsáng tạo bởi con người tưởng tượng ra cái mới trong óc rồi mới biến nó thànhhiện thực
Khi ta suy nghĩ về một vấn đề gì đó, thông tin được tích lũy trong nãomột cách dần dần Bằng trí của mình, con người xây dựng các sơ đồ, mô hình
và tiến hành thao tác với các ‘vật liệu’ ấy Khi được những sự kiện mới làmnảy sinh, kích thích, khơi gợi, những thông tin từ trong não bật ra tự nhiên và
dễ dàng giúp con người phán đoán nhanh và cái mới xuất hiện Những hình
vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng tượng vì chúng lànhững ‘vật liệu neo thông tin’, nếu không có chúng thì không thể tạo ra được
sự liên kết giữa các ý tưởng
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, sơ đồ tư duy
có thể phục vụ một số mục đích Ba trong số những mục đích là làm cho tưduy trở nên nhìn thấy được qua sơ đồ là:
- Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm then chốt ,thể hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ những
gì ta biết và hiểu, do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững
-Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổchức và tập hợp các ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng
- Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trìnhsuy nghĩ về những yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm
Trong sơ đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển các ý tưởng, xâydựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết nhữngvấn đề thực tiễn Từ đó, cùng với việc hình thành được kiến thức, các kỹ năng
tư duy(đặc biệt kĩ năng tư duy bậc cao) của học sinh cũng được phát triển
Trang 27Với việc lập sơ đồ tư duy, học sinh không chỉ là người tiếp nhận thôngtin mà còn cần phải suy nghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nóvới cách hiểu biết của mình Và điều quan trọng hơn là học sinh học được mộtquá trình tổ chức thông tin, tổ chức các ý tưởng [29]
1.5.2 Các loại sơ đồ tư duy.
Có ba loại Sơ đồ tư duy cơ bản nhằm giúp bạn sắp xếp kiến thức và họctập một cách hiệu quả
+ Sơ đồ tư duy theo đề cương
Sơ đồ tư duy theo đề cương (còn gọi là Sơ đồ tư duy tổng quát) Dạngnày được tạo ra dựa trên bảng mục lục trong sách Dạng sơ đồ tư duy nàymang lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học Sơ đồ này nên thực hiệntrước khi vào chương trình như vậy người học sẽ nắm vững được kiến thứctổng quan hơn của môn học
Sơ đồ 1.4 Ví dụ sơ đồ tư duy theo đề cương
+ Sơ đồ tư duy cho từng chương
Là kiểu Sơ đồ tư duy vẽ cho từng chương sách riêng biệt Đối với cácchương ngắn khoảng 10-12 trang, bạn có thể tập trung tất cả thông tin trênmột trang Sơ Đồ Tư Duy.Đối với những chương dài khoảng 20 trang trở lên,
Trang 28bạn có thể cần đến 2-3 trang Sơ Đồ Tư Duy Và một điều quan trọng nữa bạnnên nhớ một Sơ đồ tư duy lý tưởng không nên chỉ lưu lại những ý chính màcòn phải thể hiện được đầy đủ tất cả các chi tiết hỗ trợ quan trọng khác.Trên
sơ đồ tư duy có thể kèm thêm các bảng dữ liệu, đồ thị và các loại biểu đồkhác nếu cần thiết
+Sơ đồ tư duy theo đoạn, theo từng bài học.
Trong mỗi bài học hay trong mỗi phần của bài học đều có các kiến thứchay kĩ năng cụ thể Vì vậy trước khi lên lớp hay sau khi học xong mình cũngcần lập sơ đồ tư duy để nắm được các thông tin cơ banrmaf thầy cô truyềnđạt, khi đó lên lớp bạn chỉ việc nghe và bổ sung thêm những kiến thức cònthiếu như vậy sẽ giúp người học hiểu bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn
Hình vẽ bên dưới là một ví dụ về Sơ đồ tư duy theo chủ đề “Tốc độ,vận tốc và gia tốc trong vật lý”
Sơ đồ 1.5 Ví dụ sơ đồ tư duy theo từng đoạn, từng bài
Tóm lại: Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả, tiết kiệmthời gian thông qua việc tận dụng cả não trái lẫn não phải để giúp tiếp thu bàinhanh hơn, hiểu bài kỹ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn Sơ đồ tư duykhôngphải là một tác phẩm hội họa, cho nên việc dành quá nhiều thời gian để trau
Trang 29chuốt cho Sơ đồ tư duy thành một “tác phẩm hội họa” có thể khiến lãng phíhơn là tiết kiệm thời gian Ccó thể dành những thời gian này để hoàn thànhcác công việc cần thiết khác Chính vì thế, cần chú ý tránh rơi vào việc “trang
trí, trau chuốt” thay vì “ghi chú” (là mục đích chính khi sử dụng Sơ đồ tư duy) Ngay cả đối với phương pháp ghi chú kiểu truyền thống cũng thế, một
số học sinh tiêu phí rất nhiều thời gian chỉ để “trang trí” cho những ghi chú
mà không thật sự chú tâm vào việc học [28]
1.5.3 Cách lập sơ đồ tư duy
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Trang 30+ Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa từ một điểm.
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm tuộc một ý nên có cùng mộtmàu
+ Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra các ý phụ cụ thể hơn
Sơ đồ 1.6 Cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình 1.6 Xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy trong hướng dẫn HS giải BTVL
1.6.1 Xây dựng sơ đồ tư duy hỗ trợ hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
Giải bài tập vật lí có thể sử dụng phương pháp phân tích hoặc tổnghợp Phương pháp phân tích bắt đầu từ việc tìm một định luật, một qui tắcdiễn đạt bằng một công thức có chứa đại lượng cần tìm và một đại lượng khácchưa biết, tiếp theo tìm những định luật, công thức khác có mối quan hệ giữanhững đại lượng chưa biết này với đại lượng đã biết trong đầu bài Cuối cùng,
ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa một đại lượng cần tìm với cácđại lượng đã biết Phương pháp tổng hợp thì trình tự làm ngược lại: điểm xuấtphát từ các dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi để đi đếncông thức có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho
Vận dụng sơ đồ tư duy có thể áp dụng cho cả hai phương pháp trên.Tuy nhiên, theo nguyên tắc vẽ sơ đồ tư duy thì việc áp dụng phương phápphân tích sẽ thuận tiện hơn Ngoài ra, việc giải bài tập vật lí đòi hỏi suy luậnlôgic, liên kết các dữ kiện để tạo ra các biểu thức toán học mới Vì vậy, chúngtôi vận dụng cách lập sơ đồ tư duy trên và thiết lập nguyên tắc xây dựng sơ đồ
tư duy trong giải bài tập vật lí như sau:
- Đặt vấn đề cần giải quyết, đại lượng cần tìm ở trung tâm
Trang 31- Vẽ các tiêu đề phụ bao gồm các kiến thức liên quan gắn với tiêu đềchính Có thể vẽ các nhánh trái gồm các kiến thức, biểu thức vật líliên quan, nhánh phải là các kiến thức toán học liên quan đến yêucầu tính toán.
- Các đường liên kết giữa các nhánh bằng nét đứt có mũi tên chỉ rakiến thức, biểu thức mới được tạo ra từ các nhánh con
- Nhánh trung tâm được tạo ra từ nhánh trái (vật lý), nhánh bên phải(toán học) là lời giải của bài toán
Giải bài tập vật lí bằng sơ đồ tư duy có thể làm các bước sau:
1) Phân tích bài toán, xác định dữ kiện và yêu cầu Biểu diễn yêu cầucủa bài toán ở chủ đề trung tâm Ví dụ bài toán xác định công suất cực đại,đầu tiên đặt đại lượng cần xác định là công suất ở trung tâm (sơ đồ 5)
2) Biểu diễn các dữ kiện ở các tiêu đề phụ: Nhánh trái là các kiến thứcvật lí liên quan trực tiếp đến đại lượng ở trung tâm Nhánh phải là kiến thứctoán học liên quan đến yêu cầu bài toán Phương pháp giải thể hiện ở tiêu đềphụ ở giữa
3) Xây dựng các mối liên hệ giữa các dữ kiện và đại lượng cần tìmbằng các nét đứt
4) Thiết lập các phương trình đại số để giải tìm ẩn cần tìm của bài toán
có thể đặt bên cạnh các nhánh hoặc ở ô giữa các nhánh Phần cuối nhánh giữa
sẽ là kết quả cần tìm (có thể đặt trong ô tròn) Ngoài ra có thể sử dụng màusắc để phân biệt các thành phần trên
Trang 32Sơ đồ 1.7 Ví dụ lập sơ đồ tư duy giải bài toán vật lí
1.6.2 Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy
Để thiết kế một tiến trình dạy học cụ thể nào đó, người giáo viên cần cóngười giáo viên cần biết phân tích cấu trúc nội dung và xây dựng được tiếntrình khoa học giải quyết được vấn đề, xây dựng tri thức, giải đáp được cáccâu hỏi: Kiến thức cần xây dựng là gì? Được diễn đạt thế nào? Giải bài toán
cụ thể nào để tìm câu trả lời? Nghĩa là người giáo viên khoa học cần có nănglực thiết kế được sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết vấn đề, xâydựng hoặc kiểm nghiệm, vận dụng tri thức cụ thể Dạng khái quát của sơ đồnày được mô tả như sau:
Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy cần phải xây dựng sơ đồ mô phỏngtiến trình khoa học, kiểm nghiệm và vận dụng tri thức giúp cho giáo viên địnhhướng cho học sinh chủ đề(vấn đề) mà học sinh sẽ đi tìm hiểu Điều kiện cần
sử dụng để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra, giúp giáo viên định hướng chohọc sinh sử dụng những kiến thức đã có hoặc phương án thí nghiệm để tiếnhành xây dựng tri thức mới Giải quyết bài toán trong sơ đồ tư duy sẽ định
Trang 33hướng cho giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi, các gợi ý , hỗ trợ học sinhkhi cần thiết trên con đường học sinh xây dựng và khám phá tri thức mới Kếtluận, nhận định chính là đích mà giáo viên định hướng trước đó, là nội dungkiến thức cần học sinh đạt được trong mọi hoạt động , mà kiến thức đó sẽđược thể hiện trên sơ đồ tư duy của mình.
Quy trình tổ chức và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học vật lí
+ Chọn nội dung không gian lớp học
Sơ đồ tư duy có thể dạy trong tất cả các nội dung vật lí trong chươngtrình vật lí bậc THPT: như dạy các tiết lí thuyết , các tiết bài tập , tiết ôn tập,tiết thực hành Tuy nhiên sử dụng như thế nào cho hợp lí còn tùy thuộc vàonội dung và cấu trúc, đặc thù của từng bài, từng dạng Ngoài ra sơ đồ tư duycòn có thể dùng để thiết lập kế hoạch các hoạt động khác của giáo viên và họcsinh như trong công tác chủ nhiệm, công tác thi đua của lớp, kế hoạch thămquan… Muốn sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đạt hiệu quả cao nhằm pháthuy được tính tích cực, sự sáng tạo và có tiết học thoải mái thì người giáoviên cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng và công phu
Trong các tiết học có sử dụng sơ đồ tư duy không yêu cầu quá cao về
cơ sở vật chất Tuy nhiên không gian lớp học khi dạy có sử dụng sơ đồ tư duycần bố trí cho thuận tiện khi cho các nhóm hoạt động
+ Thiết kế kế hoạch bài học
- Mục tiêu bài học: Ngoài mục tiêu cần đạt theo chuẩn kiến thức kỹnăng cũng có thêm các kỹ năng khác như kỹ năng làm việc theo nhóm, làmviệc độc lập, kỹ năng thuyết trình…
- Các phương pháp dạy học chủ yếu: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạyhọc vật lí cần phối hợp với các phương pháp khác như phương pháp dạy họcnêu vấn đề,phương pháp trực quan, dạy học theo góc, dạy học hợp tác…
- Chuẩn bị: Giáo viên cần chuẩn bị phương tiện , thiết bị và đồ dùnghọc tập cần thiết, xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cần giao cho học sinh Tạo điều
Trang 34kiện thuận lợi, môi trường học tập thân thiệt nhất cho học sinh để học sinhtiến hành các hoạt động khám phá tri thức một cách hiệu quả.
+ Tổ chức dạy học vật lí bằng sơ đồ tư duy
- Hoạt động 1: Trước khi học bài mới giáo viên có thể gợi ý cho họcsinh vẽ Sơ đồ tư duy bằng từ khóa phù hợp với nội dung bài dạy
Sau đó giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để vẽ tiếp các nhánh từnhánh chính và bổ sung dần các ý nhỏ khác Trong quá trình đó giáo viên cóthể sử dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như nêu vấn đề, chianhóm , dạy học theo góc…kích thích hứng thú học tập của học sinh sao chocác em tự chiếm lĩnh được kiến thức một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả
-Hoạt động 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh thuyết trình nội dungkiến thức theo Sơ đồ tư duy Thông qua hoạt động này giáo viên biết đượckiến thức của các em đạt đến đâu và cũng là rèn cho các em khả năng tự tinthuyết trình trước đám đông
-Hoạt động 3: Cho học sinh thảo luận, bổ sung và hoàn thiện Giáoviên là người cố vấn giúp học sinh hoàn thiện sơ đồ tư duy kiến thức
-Hoạt động 4 Giáo viên nhận xét và củng cố kiến thức lại bằng một
sơ đồ tư duy mở mà giáo viên chuẩn bị sẵn để các em có thể thêm các ýtưởng mới và cũng có cách trình bày mới Từ đó kiến thức của các em đượckhắc sâu đồng thời qua đó cũng rèn cho các em khả năng lập luận logic, biếtcách trình bày, sắp xếp các ý tưởng theo sơ đồ tư duy
1.6.3 Các ưu và nhược điểm khi dạy học bằng sơ đồ tư duy
Một trong những cách học của dạy học truyền thống là thầy giảng, tròghi chép lại từng dòng, từng câu đã được thầy cô chắt lọc từ các thông tintrong sách, tài liệu Tuy nhiên cách học này không giúp học sinh ghi nhớ nộidung bài học vì lượng từ và kiến thức quá nhiều dễ làm cho học sinh chán nảnthậm chí buồn ngủ, không gây được hứng thú cho người học, không tận dụngđược sức mạnh tiềm ẩn bên trong bộ não của con người Bởi vì ghi chép theokiểu truyền thống là cách thức học tập dành cho bán cầu não trái Nó không
Trang 35tận dụng được các chức năng của bán cầu não phải và do đó không tối ưu hóađược sức mạnh của não bộ Không những thế việc ghi chép theo kiểu họctruyền thống còn gây mất quá nhiều thời gian trong quá trình dạy học Chính
vì lẽ đó mà ngày nay, các nhà giáo dục đang cố gắng sử dụng nhiều cácphương pháp học, công cụ dạy học khác nhau để cải thiện quá trình học tậpsao cho hiệu quả như sử dụng sơ đồ tư duy, kỹ thuật”KWL”, kĩ thuật học tậphợp tác, kĩ thuật mảnh ghép…trong dạy học
Dạy học trong đó có sử dụng sơ đồ tư duy có thể nói là một phươngpháp dạy học hiện đại Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nó giúp ta:sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian ghi chép hơn, suy nghĩ tốt hơn, ghi nhớ dễdàng, có cái nhìn bức tranh kiến thức một cách tổng thể, biết sắp xếp ý tưởngmột cách logic, mạch lạc, giúp ta tổng hợp kiến thức dễ hơn,dễ nắm đượctrọng tâm vấn đề Hơn nữa công cụ của người học khi sử dụng sơ đồ tư duyrất đơn giản chỉ là: giấy trắng, bút, bút chì và một số các vật dụng đơn giảnkhác là người học có thể trình bày tóm lược các thông tin cần thiết nhất củabài học đảm bảo cho người học ghi nhớ kiến thức một cách chuyên sâu, dễhiểu Khi học có sử dụng sơ đồ tư duy sẽ phát huy hết các tiềm năng của não
bộ , giúp các em có hứng thú , say mê học tập, tiếp thu linh hoạt và hiệu quả,
tự tin vào khả năng của mình hơn Đảm bảo cho phương trâm học ngày nay làhọc sâu, học thoải mái
Khó khăn đầu tiên mắc phải khi sử dụng sơ đồ tư duy là việc xác định
từ khóa hàm chứa toàn bộ thông tin của bài Sau đó là việc sắp xếp các ýtưởng, trình bày các ý tưởng sao cho bức tranh kiến thức có tính hệ thống,logic Khi người học nhìn vào phải thấy rõ được các kiến thức cần ghi nhớ đểnhớ sâu, hiểu sâu Chính vì thế dạy học sử dụng sơ đồ tư duy mất nhiều thờigian hơn
Ngày nay, có nhiều phần mềm hỗ trợ việc vẽ sơ đồ tư duy trên máy tínhnhưng hầu hết nó đều có nhược điểm là: cỡ chữ nhỏ, không nhập trực tiếp cáccông thức toán học được, không vẽ hình trực tiếp nên được Vì thế ít nhiều nó
Trang 36cũng ảnh hưởng đến quá trình thiết kế tiến trình dạy và học của người dạy vàngười học.
1.7 Vai trò của GV và HS trong quá trình xây dựng sơ đồ tư duy
1.7.1.Vai trò của Giáo viên
Giáo viên tạo ra được môi trường học tập thân thiện, phong phú, thiết
kế kế hoạch dạy học, chuẩn bị tư liệu phục vụ cho các hoạt động học tập củahọc sinh Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động họctập khám phá tri thức mới, giúp đỡ, khích lệ các em gặp khó khăn khi thựchiện nhiệm vụ, kịp thời đưa ra những ý kiến phản hồi trước kết quả thu đượccủa học sinh, giúp các em có cái nhìn vào vấn đề một cách đúng đắn, đúnghướng Khi xây dựng sơ đồ tư duy cho bài học giáo viên có thể đưa ra cáccâu hỏi mở để học sinh lựa chọn tìm từ khóa trung tâm cho sơ đồ của mình,thậm chí các câu hỏi giúp HS xây dựng các nhánh cho sơ đồ tư duy
1.7.2 Vai trò của học sinh
Học sinh là đối tượng của hoạt động dạy đồng thời là chủ thể của hoạtđộng học Do đó học sinh là người chủ động, tích cực đi tìm kiến thức thôngqua sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên Trong nhiều trường hợp học sinhphải tự đặt mình vào các tình huống thực tế, trực tiếp quan sát, thảo luận, đôikhi phải làm thí nghiệm và giải quyết vấn đề đặt ra theo quan điểm và suynghĩ của mình Đó là cách học sinh tự rèn luyện kỹ năng, rèn luyện tư duy củamình ngày càng phát triển
Khi xây dựng sơ đồ tư duy cho bài học đi tìm tri thức của mình, họcsinh có thể tự tìm từ khóa, tự xây dựng, lựa chọn màu sắc hình ảnh, sắp xếpcác ý tưởng theo cách riêng của mình Học sinh là người đánh giá các ý kiến,quan điểm, các sản phẩm học tập của mình và của bạn
1.8 Thực trạng việc sử dụng SĐTD trong DH vật lí ở trường THPT
1.8.1.Phương pháp điều tra
Quá trình điều tra được tiến hành ở trường: Trung học phổ thông KiếnThụy-huyện Kiến Thụy –thành phố Hải Phòng
Trang 37+Điều tra giáo viên:
- Trao đổi trực tiếp với 10 giáo viên
- Nghiên cứu giáo án của 10 giáo viên
+ Điều tra học sinh
- Trao đổi trực tiếp với 100 học sinh
- Nghiên cứu vở ghi chép của 100 học sinh
+ Dự giờ 5 giáo viên
1.8.2 Kết quả điều tra
+ Kết quả điều tra với giáo viên.
- Qua trao đổi trực tiếp với các giáo viên, thì 90% số giáo viên đượctrao đổi đều tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh theo tiến trình nội dungbài học Hình thức theo kiểu truyền thống( thầy giảng giải, trò ghi chép kiếnthức theo dòng, theo các kí tự…) Khi trao đổi về việc sử dụng sơ đồ tư duytrong dạy học thì có khoảng 90% chưa từng tổ chức dạy học trong đó có sửdụng sơ đồ tư duy mặc dù có được nghe giới thiệu cách thức dạy học này trêncác thông tin (báo, internet, và trên kênh truyền hình) Còn 10% số giáo viên
đã có sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kiến thức như : xây dựng kiến thứcmới, trong giờ ôn tập nhưng chưa hề sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn họcsinh giải bài tập
-Nghiên cứu giáo án của giáo viên, kết quả 90% giáo án thiết kế tiếntrình dạy học theo phương pháp truyền thống trong đó sử dụng phương phápthuyết trình có giảng giải và phương pháp vấn đáp là chính, các phương phápdạy học mới hay các kỹ thuật dạy học hiện đại là không có Trong giáo ánviệc học tập của học sinh còn thụ động, quá trình đi tìm kiến thức còn phụthuộc vào giáo viên nhiều Do đó không kích thích được sự say mê, tích cựchọc tập, sáng tạo cho người học
+ Kết quả điều tra với học sinh.
Qua trao đổi trực tiếp với các học sinh và nghiên cứu vở ghi của họcsinh thì thấy đa số các em cho biết: chúng em ngồi nghe cô giảng bài thông
Trang 38báo kiến thức và ghi lại các kiến thức cô nhấn mạnh hoặc đọc chậm Thỉnhthoảng có một vài câu hỏi phát vấn chứ ít khi chúng em được tự mình đi tìmhay khám phá kiến thức mới Khi trao đổ về sự tập trung chý ý và hứng thútrong học tập thì các em nói mặc dù rất cố gắng nghe giảng nhưng vẫn thườngxuyên mất tập trung, hay nghĩ về vấn đề khác trong quá trình học tập Các emnói đó là do kiến thức qua nhiều, có quá nhiều công thức, định luật, định lícần nhớ, nhìn chung giờ học quá căng thẳng, nhiều áp lực, không thoải mái,nên các em thấy mệt mỏi Khi hỏi về các kiến thức đã học các em nhớ lạinhiều không, đa số học sinh nói quên ngay sau đó Khi kiểm tra phải bỏ rấtnhiều công sức và thời gian để ôn tập.
Khi dự giờ giáo viên, quan sát học sinh thì hầu hết thấy các em tiếp thukiến thức một cách thụ động Nhiều học sinh rất ngại phát biểu xây dựng bài,thiếu tự tin khi trả lời câu hỏi Đại đa số là có tâm lí chờ đợi sự giải thích,thông báo kiến thức của giáo viên, vừa nghe, vừa cặm cụi ghi lại Như vậyvới vai trò là chủ thể chủ động khám phá kiến thức mới của học sinh khôngđược phát huy Tiết học nhàm chán, không khắc sâu được trong tâm trí củahọc sinh, không tạo ra sự thoải mái cho người học
1.9 Kết luận chương 1
Bài tập vật lí là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợpvới mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, hình thành các kháiniệm, phát triển tư duy vật lí của học sinh và rèn kĩ năng vận dụng kiến thứccủa học sinh vào thực tiễn
Vì vậy giải bài tập vật lí có vai trò rất trong dạy học :
- Giải bài tập vật lí giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụngkiến thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống
- Bài tập vật lí sử dụng như một phương tiện độc đáo để nghiên cứu tàiliệu mới khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnhhội kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc
Trang 39- Bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt rèn luyện cho học sinh tínhsáng tạo, độc lập trong suy nghĩ, rèn luyện tư duy, đức tính kiên trì và sự yêuthích môn học, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh
- Bài tập vật lí là hình thức củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và
là phương tiện để kiểm tra kiến thức kĩ năng của học sinh một cách hiệu quả
- Bài tập vật lí có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Sơ đồ tư duy là công cụ phản ánh cơ chế tư duy diễn ra trong bộ nãocon người Với việc sử dụng từ khóa, hình ảnh, màu sắc và đường nét trongviệc thể hiện và phát triển ý tưởng, công cụ tư duy này có thể kích thích sựhoạt động của cả bộ não Trên phạm vi không gian của SĐTD, công cụ nàythể hiện được sự hệ thống hóa các nội dung tri thức, từ đó thúc đẩy khả năngghi nhớ và phát huy tiềm năng sáng tạo không ngừng của con người
Quy trình thiết kế sơ đồ tư duy diễn ra cụ thể theo 4 bước Đối với việctạo lập công cụ này đòi hỏi người thực hiện cần phát huy khả năng tưởngtượng và liên kết của mình thông qua việc lựa chọn hình ảnh, từ khóa, điềuphối đường nét, màu sắc
Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng như một phương pháp dạy học trong việc
tổ chức các hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học Không chỉvậy, bản đồ tư duy còn có thể thực hiện những chức năng của một phươngtiện dạy học Để ứng dụng sơ đồ tư duy vào hoạt động dạy học nhất là để giảibài tập, đòi hỏi giáo viên cần có sự nghiên cứu một cách tổng thể và kỹ lưỡng,
để có thể phát huy được giá trị của lý thuyết này
Trang 40CHƯƠNG 2
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI
TOÁN CỰC TRỊ PHẦN DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU
2.1 Những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng giải bài tập
2.1.1 Về nội dung kiến thức
Phần điện xoay chiều là một trong những phần kiến thức nhiều học sinhgặp khó khăn Để làm tốt điện xoay chiều đòi hỏi học sinh phải hội tụ đượcnhiều yếu tố: tư duy, trí nhớ tốt và đặc biệt là khả năng giải toán nhanh nhẹn.Trong hai năm trở lại đây đề thi tuyển sinh đại học phần điện xoay chiều đềutương đối dài, có câu hỏi tới khoảng 7-8 dòng, khiến học sinh đọc đầu bài đãthấy khó khăn chứ chưa nói đến cần thêm thời gian để hiểu dữ kiện đề bàicho Nói chung, trong điện xoay chiều thường là đề bài dài và các dữ kiện cóliên quan chặt chẽ với nhau, chỉ cần không hiểu được một dữ kiện mà đề bàicho khai thác ở điểm nào thì thật khó có thể làm được bài toán đó Ngay cảnhững câu hỏi lí thuyết thuộc phần này cũng đòi hỏi tư duy và khả năng suyluận logic
Những kiếnn thức chính trong mạch điện xoay chiều chỉ có một phần
tử, mạch điện RLC tổng quát, tính toán liên quan đến công suất và hệ số côngsuất, bài toán cực trị tổng hợp
Các kiến thức cơ bản học sinh cần có khi giải bài tập về bài toán cực trịphần dòng điện xoay chiều:
+ Về toán học: (sơ đồ 2.1)