Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.Vào giữa thế kỉ XIX, phong trà
Trang 1ĐỀ CƯƠNG:
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hãy chứng minh rằng, tiền đề cho việc giải quyết những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tồn tại ngay chính trong lòng xã hội Việt Nam?
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào giai đoạn đen tối dưới sự áp bức, bóc lột dã man của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp nổ sung tấn công xâm lược Việt Nam Sauk hi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam:
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân,
xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc, hình thành nên các giai cấp mới, đặc biệt
là giai cấp công nhân và tư sản Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội lúc này đều mang thân phận người dân mất nước, và ở những mức độ khác nhau đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột Bởi lẽ đó, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẩn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẩn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược
Chính sách cai trị của thực dân Pháp
Chính trị Kinh tế Văn hóa – xã
hội
Văn hóa – xã hội
Chuyên chế triệt để Bóc lột nặng nề Nô dịch, ngu đần
Trang 2Xét về phương diện tiền đề thực tiễn:
- Xu thế vùng lên của dân tộc chống thực dân Pháp
- Những phong trào yêu nước nổ ra
- Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước theo con đường Cách mạng Vô sản và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
(ý 3 tham khảo trong “Hỏi – đáp môn đường lối cách mạng của đảng cộng sản Việt Nam, câu 4, trang16)
Chính những mâu thuẩn nảy sinh trong xã hội đã thổi bùng lên xu thế giải phóng dân tộc, chống lại sự áp bức của thực dân Pháp Phải kể tới chính là là phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản Tiêu biểu như phong trào Cần Vương (1885-1896), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang 1884) Nhưng kết cục chung của các phong trào, khởi nghĩa này đều là thất bại, chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam Song song còn có phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản Về phương pháp có sự phân hóa thành hai xu hướng: biện pháp bạo động (đại diện là Phan Bội Châu) và biện pháp cải cách (nổi bật là Phan Châu Trinh) Cũng trong thời gian này, các tổ chức đảng phái ra đời như: Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng Phong trào giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi nhưng do hạn chế về giai cấp, đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập trung được
Trang 3rộng rãi lực lượng của dân tộc (nhất là hai lực lượng xã hội cơ bản: công nhân và nông dân) nên cuối cùng đã không thành công Mặc dù vậy, chính những thất bại này đã thức tỉnh lòng yêu nước của cả dân tộc đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm quý giá.
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường giải phóng dân tộc Đặc biệt tháng 7 – 1920, Nguyễn
Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn dề dân tộc và vấn đề thuộc địa cả Lenin đăng trên báo Nhân đạo Đến tháng 12 – 1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Từ đây, Người trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Người ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam thong qua những bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân cùng một số tác phẩm (tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân Pháp – 1925) Tháng 6 – 1925, thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên 1927, xuất bản tác phẩm Đường cách mệnh, chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Các tổ chức cộng sản lần lượt ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Mặc dù đều giương cao ngọn cờ chống
đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộng sản nhưng cả ba tổ chức này đều hoạt động phân tán, chia rẽ, ảnh hưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quyết và thống nhất: hợp nhất ba tổ chức thành một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam Cuộc khủng hoảng lãnh đạo được chấm dứt, Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới và đồng thời đây cũng là cơ sở cho những sự nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam
Về tiền đề lí luận, Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào Việt Nam những lí luận Cách mạng phong trào giải phóng dân tộc góp phần vào sự phát triển của Cách mạng vô sản Sự ra đời của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã định hướng đúng đắn cho đường lối lãnh đạo của Đảng
Phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới, trong nước những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tác động trực tiếp đến sự ra đời của ĐCSVN?
Tình hình thế giới:
Trang 4Từ cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa) Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
Vào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa Mác ra đời và được phát triển thành chủ nghĩa Mác-Lenin, một hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Trong đó chỉ rõ tính tất yếu của việc lập ra đảng cộng sản nhằm định hướng, lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm giành lại chính quyền, xây dựng xã hội mới Đồng thời, Đảng cũng là đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động Chủ nghĩa Mác-Lenin đã lay chuyển, lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần
tử ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam Nói cách khác, chủ nghĩa Mác-Lenin là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước, và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản Nguyễn Ái Quốc khẳng định, Cách mạng Tháng Mười Nga như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay Cách mạng Nga cũng chỉ rõ vị trí nền tảng quan trọng của nhân dân (công nông) Tháng 3 – 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 5Hoàn cảnh trong nước:
Vào giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta Đến cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành kế hoạch bóc lột sức người, sức của ở Việt Nam
Về kinh tế, nền kinh tế nước ta ngày càng lạc hậu, què quặt, hoàn toàn lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp Về xã hội, sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gay gắt them các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam, vừa làm nảy sinh mâu thuẫn mới Chưa kể đến, kết cấu giai cấp cũ bị phá vỡ, hình thành thêm các giai cấp mới Tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặc biệt các mâu thuẫn dân tộc và giai cấp đã dẫn đến nhu cầu đấu tranh để tự giải phóng Độc lập dân tộc và tự do dân chủ là nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta, là nhu cầu bức thiết của dân tộc ta Sự ra đời của Đảng là kết quả của một quá trình lựa chọn con đường cứu nước
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
- Từ sự phân tích vị trí kinh tế - xã hội của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cho thấy chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp đảm nhiệm được sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng Đó là một yêu cầu khách quan Giai cấp công nhân là giai cấp trung tâm của thời đại mới, đại diện cho quyền lợi dân tộc và quyền lợi giai cấp, bởi vì “trong tất cả các giai cấp hiện nay đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng”
- Phong trào công nhân ra đời và phát triển là quá trình lịch sử tự nhiên Muốn trở thành một phong trào tự giác, nó phải được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin,
vũ khí lý luận và tư tưởng của giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân muốn lãnh đạo cách mạng thành công thì phải được tổ chức thành một chính đảng cách mạng tiên phong Chỉ lúc đó giai cấp công nhân mới có khả năng tập hợp được các lực lượng dân tộc và dân chủ
- Sự thành lập Đảng Cộng sản là quy luật của sự vận động của phong trào công nhân từ
tự phát đến tự giác khi nó được trang bị lý luận cách mạng chủ nghĩa Mác-Lenin
Chính sách cai trị của thực dân Pháp
Chính trị Kinh tế Văn hóa – xã
hội
Văn hóa – xã hội
Chuyên chế triệt để Bóc lột nặng nề Nô dịch, ngu đần
Trang 6- Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, nhiều chiến sỹ yêu nước đã đi tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lenin và con đường giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng vô sản Nguyễn Ái Quốc thực hiện công việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Đặc điểm ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mang tính chất phổ biến vừa mang tính chất đặc thù Tính phổ biến là tuân thủ quy luật chung về sự ra đời của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế - đó là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân Tính đặc thù đó là có them yếu tố cấu thành là phong trào yêu nước Bởi lẽ chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam là một động lực lớn Thực tiễn
ở Việt Nam lúc này có hai phong trào cùng tồn tại và thúc đẩy nhau, đó là phong trào công nhân Cả hai phong trào này đều có kẻ thù chung là đế quốc Pháp xâm lược và bọn tay sai bán nước, cùng mục tiêu đấu tranh cho độc lập tự do và hạnh phúc của nhân dân Mặt khác, phong trào yêu nước Việt Nam đấu tranh theo ngọn cờ tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản đều thất bại, vì thế họ khát khao một lý luận cách mạng soi sáng con đường đấu tranh của mình Nguyễn Ái Quốc là người phát hiện ra đòi hỏi đó và đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào phong trào yêu nước làm chuyển hóa lập trường các chiến sỹ yêu nước gắn chặt con đường cứu nước giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp theo quỹ đạo cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Sự chuyển biến đó đã tạo tiền đề vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chủ nghĩa Mác-Lenin được truyền bá vào Việt Nam đã thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển Các phong trào từ năm 1925 đến năm 1929 chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và đang trở thành một lực lượng chính trị độc lập Tình hình khách quan đó, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của tổ chức đảng cách mạng tiên phong
- Sự phân hóa của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã hình thành các tổ chức cộng sản, là sự kiện chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là kết quả tất yếu của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam vào cuối những năm
20 của thế kỷ XX
- Ba tổ chức cộng sản ra đời (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào cách mạng Việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất là một tất yêu khách quan
Từ 6/1 đến 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành Hội nghị đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam
Phân tích những bước ngoặt quan trọng trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái
Quốc (1911-1920)? Tại sao trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn
Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản?
Trang 7Có thể đánh giá rằng trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc (1911 – 1920), có ba bước ngoặt quan trọng nhất Một là, Người đã nhận ra hạn chế trong đường lối cứu nước của những thế hệ trước Các phong trào theo khuynh hướng phong kiến mặc dù diễn ra sôi nổi song giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam Còn các phong trào yêu nước và các tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản đều thất bại do hạn chế về giai cấp, đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập trung được rộng rãi lực lượng của dân tộc (nhất là hai lực lượng xã hội cơ bản: công nhân và nông dân).Hai là, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần những hạn chế của những cuộc cách mạng tư sản không tới nơi, không triệt để Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789) nhưng cũng nhận thức do những mặt tiêu cực của các cuộc cách mạng tư sản: một mặt tạo nêu cao sự tự do, bình đẳng nhưng lại ra sức bóc lột, áp bức nhân dân các nước thuộc địa Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung hay nhân dân Việt Nam nói riêng.
Ba là, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường giải phóng nước là con đường cách mạng vô sản Qua phân tích, Người nhận thấy “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật” Vào tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin đăng trên báo Nhân đạo Người tìm thấy trong Luận cương của Lenin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12 – 1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người – từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Những bước ngoặt trong quá trình ra đi tìm được cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cũng
là những mốc đánh dấu quá trình nhận thức ra con đường giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản
Phân tích hệ thống quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc được hình thành trong những năm 1920 – 1930? Trên cơ sở đó, chỉ rõ những đóng góp của Nguyễn
Ái Quốc cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin?
Trang 8Quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm của Người trong giai đoạn này.
Nguyễn Ái Quốc bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam thông qua những bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và xuất bản một số tác phẩm, tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Tác phẩm này đã vạch
rõ âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che giấu tội ác dưới cái vỏ bọc “khai hóa văn minh”, từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược
Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm Đường cách mệnh (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên) Đường cách mệnh chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người, do đó phải đoàn kết toàn dân Nhưng cái cốt của nó là công – nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh
Đặc biệt, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện rõ nét nhất trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Nội dung chính của Cương lĩnh bao gồm:
- Phương hướng và mục tiêu của cách mạng Việt Nam: chủ trương làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền:
Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế: thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu ruộng đất của bọn đế quôc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ
- Về lực lượng cách mạng: Đảng chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng tiến bộ, các cá nhân yêu nước, trước hết là công nông Đảng phải thu phục cho được công nông và làm cho giai cấp công nhân đủ sức lãnh đạo cách mạng, đồng thời phải tranh thủ liên lạc với các tầng lớp: tiểu tư sản, trí thức, trung nông để kéo họ về phía vô sản giai cấp Lợi dụng bộ phận phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ bộ mặt phản cách mạng Bộ phận nào rõ mặt phản cách mạng phải đánh đổ Trong khi thực hiện sự liên minh tạm thời với các giai cấp, tầng lớp khác không được thỏa hiệp giai cấp
Trang 9- Về đoàn kết quốc tế: Cương lĩnh khẳng định, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản thế giới.
- Về Đảng: Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Những nội dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã đặt ra và giải quyết những vấn
đề cơ bản, cấp bách và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển cách mạng Việt Nam Tinh thần cơ bản của nó là đoàn kết toàn dân, chống đế quốc Pháp thống trị, giành độc lập, hướng tới xã hội cộng sản Thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự hiểu biết sau sắc tình hình thế giới, hoàn cảnh trong nước, bản chất các mâu thuẫn và đặc biệt là con đường giải phóng dân tộc
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng (1920-1930)?
Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn, Cách mạng vô sản, tiền đề đầu tiên dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Qua phân tích, Người nhận thấy
“Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật” Vào tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin đăng trên báo Nhân đạo Người tìm thấy trong Luận cương của Lenin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12 – 1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người – từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng; tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Về tư tưởng, chính trị: Người tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa Người đã viết rất nhiều bài báo, các tác phẩm Nội dung chủ yếu là lên án chủ nghĩa thực dân, vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột, đàn áp tàn bạo của chúng Người tố cáo đanh thép trước thế giới và nhân dân Pháp đối với các thuộc địa và thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí phản kháng của các dân tộc thuộc địa Tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Cách mệnh (1927) Thông qua đó, Nguyễn Ái Quốc đã truyền
bá vào Việt Nam chủ nghĩa Mác-Lenin, hướng cho các phong trào giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Về chuẩn bị tổ chức, Nam
Trang 101921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng ở các nước thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, nhằm tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa thực dân 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, Người đã cùng những nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Thái Lan, Inddooneexxia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bắc Á Đông Tháng 6 – 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên để huấn luyện cán bộ trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở Việt Nam Đây là tổ chức tiền thân của Đảng.
Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời trực tiếp biên soạn những văn kiện quan trọng liên quan tới đại hội: nổi bật là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Những nội dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã đặt ra và giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp bách và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển cách mạng Việt Nam Tinh thần cơ bản của nó là đoàn kết toàn dân, chống đế quốc Pháp thống trị, giành độc lập, hướng tới xã hội cộng sản
Làm rõ nét độc đáo, tính sáng tạo của Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được thông
qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930)?
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc biên soạn và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 chính là Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng Nội dung chính bao gồm:
- Phương hướng và mục tiêu của cách mạng Việt Nam: chủ trương làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền:
Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế: thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu ruộng đất của bọn đế quôc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ
- Về lực lượng cách mạng: Đảng chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng tiến bộ, các cá nhân yêu nước, trước hết là công nông Đảng phải thu phục cho được công nông và làm cho giai cấp công nhân đủ sức lãnh đạo cách mạng, đồng thời phải tranh thủ liên lạc với các tầng lớp: tiểu tư sản, trí thức, trung nông để kéo họ về phía vô sản giai cấp Lợi dụng bộ phận phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ bộ mặt phản cách mạng Bộ phận nào rõ mặt phản cách mạng
Trang 11phải đánh đổ Trong khi thực hiện sự liên minh tạm thời với các giai cấp, tầng lớp khác không được thỏa hiệp giai cấp.
- Về đoàn kết quốc tế: Cương lĩnh khẳng định, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản thế giới
- Về Đảng: Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Những nội dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã đặt ra và giải quyết những vấn
đề cơ bản, cấp bách và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển cách mạng Việt Nam Tinh thần cơ bản của nó là đoàn kết toàn dân, chống đế quốc Pháp thống trị, giành độc lập, hướng tới xã hội cộng sản
Phân tích quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
- Từ sự phân tích vị trí kinh tế - xã hội của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cho thấy chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp đảm nhiệm được sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng Đó là một yêu cầu khách quan Giai cấp công nhân là giai cấp trung tâm của thời đại mới, đại diện cho quyền lợi dân tộc và quyền lợi giai cấp, bởi vì “trong tất cả các giai cấp hiện nay đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng”
- Phong trào công nhân ra đời và phát triển là quá trình lịch sử tự nhiên Muốn trở thành một phong trào tự giác, nó phải được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin,
vũ khí lý luận và tư tưởng của giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân muốn lãnh đạo cách mạng thành công thì phải được tổ chức thành một chính đảng cách mạng tiên phong Chỉ lúc đó giai cấp công nhân mới có khả năng tập hợp được các lực lượng dân tộc và dân chủ
- Sự thành lập Đảng Cộng sản là quy luật của sự vận động của phong trào công nhân từ
tự phát đến tự giác khi nó được trang bị lý luận cách mạng chủ nghĩa Mác-Lenin
- Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, nhiều chiến sỹ yêu nước đã đi tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lenin và con đường giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng vô sản Nguyễn Ái Quốc thực hiện công việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đặc điểm ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mang tính chất phổ biến vừa mang tính chất đặc thù Tính phổ biến là tuân thủ quy luật chung về sự ra đời của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế - đó là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân Tính đặc thù đó là có them yếu tố cấu thành là phong trào yêu nước Bởi lẽ chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam là một động lực lớn Thực tiễn
ở Việt Nam lúc này có hai phong trào cùng tồn tại và thúc đẩy nhau, đó là phong trào công nhân Cả hai phong trào này đều có kẻ thù chung là đế quốc Pháp xâm lược và
Trang 12bọn tay sai bán nước, cùng mục tiêu đấu tranh cho độc lập tự do và hạnh phúc của nhân dân Mặt khác, phong trào yêu nước Việt Nam đấu tranh theo ngọn cờ tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản đều thất bại, vì thế họ khát khao một lý luận cách mạng soi sáng con đường đấu tranh của mình Nguyễn Ái Quốc là người phát hiện ra đòi hỏi đó và đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin vào phong trào yêu nước làm chuyển hóa lập trường các chiến sỹ yêu nước gắn chặt con đường cứu nước giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp theo quỹ đạo cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Sự chuyển biến đó đã tạo tiền đề vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Chủ nghĩa Mác-Lenin được truyền bá vào Việt Nam đã thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển Các phong trào từ năm 1925 đến năm 1929 chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và đang trở thành một lực lượng chính trị độc lập Tình hình khách quan đó, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của tổ chức đảng cách mạng tiên phong
- Sự phân hóa của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã hình thành các tổ chức cộng sản, là sự kiện chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là kết quả tất yếu của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam vào cuối những năm
20 của thế kỷ XX
- Ba tổ chức cộng sản ra đời (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào cách mạng Việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất là một tất yêu khách quan
Từ 6/1 đến 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành Hội nghị đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam
Phân tích quá trình Đảng CSVN nhận thức về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong thời kỳ cách mạng 1930 – 1939? Nhận thức đó có ảnh hưởng như thế nào đến quan
điểm Đảng về vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng những năm 1930 – 1939?
Giai đoạn 1930 – 1935:
Sự nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc
và dân chủ trong giai đoạn 1930 – 1935 được thể hiện rõ nét nhất trong Luận cương chính trị Tháng 10 – 1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất tại Hương Cảng, Trung Quốc đã họp và thông qua bản “Luận Cương chính trị” do đồng chí Trần Phú khởi thảo với những nội dung chính sau:
- Xác định mâu thuẫn: ở Đông Dương, mâu thuẫn giữa một bên là thợ thuyền, dân cày, các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ, phong kiến và tư bản đế quốc
- Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ địa và phản đế,
“tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách
Trang 13mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.
- Nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền: đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”
- Về lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và giai cấp nông dân là hai động lực chính, trong đó, giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng
- Về phương pháp cách mạng: Luận cương chỉ rõ phải sử dụng bạo lực cách mạng, khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền
- Về đoàn kết quốc tế: Luận cương nhấn mạnh, phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp
- Về Đảng: sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cốt yếu đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Đảng đó phải lấy chủ nghĩa Mác-Lenin làm nền tảng, có đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, trưởng thành từ trong thực tiễn đấu tranh
Giai đoạn 1936 – 1939:
Trên thế giới, mấp mé nguy cơ chiến tranh của chủ nghĩa phát xít Cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1929 – 1933 ở các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt và phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao Các nước tư bản công nghiệp âm mưu chiến tranh để chia lại thị trường thế giới và mưu đồ tiêu diệt Liên Xô nhằm hy vọng đẩy lùi phong trào cách mạng vô sản đang phát triển mạnh mẽ Trong lúc đó cuộc khủng kinh tế tác động sâu sắc không những tới đời sống các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động mà còn đến cả những nhà tư sản, địa chủ hàng vừa và nhỏ Bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn ra sức vơ vét, bóc lột, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ và thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào đấu của nhân dân ta Tất cả dẫn tới lòng căm thù sục sôi của toàn thể nhân dân ta
Ở giai đoạn này, Đảng ta có những nhận thức mới được thể hiện rõ nét nhất ở Hội nghị Trung Ương II (7-1936) Nội dung của Hội nghị gồm:
- Kẻ thù cả cách mạng: kẻ thù trước mắt nguy hại nhất của nhân dân Đông Dương cần tập trung đánh đổ là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng
- Nhiệm vụ trước mắt: đòi những quyền dân chủ đơn sơ Chống phat-xit, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo
và hòa bình
- Biện pháp đấu tranh: chuyển từ hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai và nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm buộc chính quyền Pháp phải thừa nhận và mở rộng sự quan hệ với quần chúng
Trang 14- Tổ chức: Quyết định thành lập Mặt trân nhân dân phản đế mà sau được đổi tên thành Mặt trận dân chủ Đông Dương để phù hợp với yêu cầu tập hợp lực lượng cách mạng trong tình hình mới.
Trong khi đề ra chủ trương mới để lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh nhằm thực hiện các quyền dân chủ, dân sinh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản đế và điền địa trong cách mạng ở Đông Dương Trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới công bố 10 – 1936, Đảng đã nêu một quan điểm mới: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa Tùy hoàn cảnh hiện thực bắt buộc, nếu nhiệm vụ chống đế quốc là cần kíp cho lúc hiện thời, còn vấn đề giải quyết điền địa tuy quan trọng nhưng chưa phải trực tiếp bắt buộc, thì có thể trước tập trung đánh đổ đế quốc rồi sau mới giải quyết vấn đề điền địa
Nhưng cũng có khi vấn đề điền địa và phản đế phải liên tiếp giải quyết, vấn đề này giúp cho vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động Nghĩa là, cuộc phản đế phát triển tới trình độ võ trang tranh đấu kịch liệt, đồng thời, vì muốn tăng thêm lực lượng tranh đấu chống
đế quốc, cần phải phát triển cuộc cách mạng điền địa “Nói tóm lại, nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn
mà giải quyết trước Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng”
Phân tích quá trình hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc của Đảng (1939-1941)? Tại sao chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) lại trở thành một trong những động lực thúc đẩy công cuộc giải phóng dân tộc trên bán đảo Đông Dương đi tới thắng lợi?
Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Cùng lúc đó thì phat-xit Đức hoành hành, chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phat-xit do Đức cầm đầu Chiến tranh thế giới II cũng ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến Đông Dương và Việt Nam Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn, ra sức đàn áp ở Việt Nam Nhân dân ta chịu cảnh một cổ bị hai tròng
áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phat-xit Pháp – Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành họp Hội nghị lần thứ sáu (11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (11-1940) và Hội nghị lần thứ tám (5-1941) Trên cơ
sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ vào tình hình
cụ ở trong nước, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phat-xit Pháp – Nhật Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này, Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác lại khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay
Trang 15bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, giải phóng dân tộc
Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng
và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập những đội du kích hoạt động phân tán, dùng hình thức vũ trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm
Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán
bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
Có thể thấy, Hội nghị Trung ương lần thứ sáu đã khởi xướng cho đường lối giải phóng dân tộc Đường lối được bổ sung và phát triển qua Hội nghị lần thứ bảy, sau đó, được hoàn thiện nhờ Hội nghị lần thứ tám Sự điều chỉnh chiến lược phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng, đáp ứng nguyện vọng của toàn thể nhân dân và các dân tộc Đông Dương, có khả năng phát huy cao độ tiềm năng, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do
Đường lối đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về nghệ thuật hoạch định đường lối chính trị, trong đó mối quan hệ phức tạp nhưng cơ bản nhất lúc này là quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc, dân chủ đã được nhận thức và giải quyết hoàn toàn thỏa đáng Đây là
sự khẳng định, kế thừa, phát triển lên một bước mới tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã được xác lập và trở thành ngọn cờ tư tưởng của Đảng, của cách mạng Việt Nam
Sự điều chỉnh chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng, đặc biệt là sự hoàn thiện đường lối ở Hội nghị lần thứ tám, có ý nghĩa quyết định chiều hướng vận động của phong trào dân tộc, trực tiếp quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám Lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm của nhân dân nâng cao, chủ trương lấy sức ta tự giải phóng cho ta Có thể nói, Hội nghị Tám là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công cuộc giải phóng dân tộc trên bán đảo Đông Dương đi tới thắng lợi
Hãy chứng minh rằng, đường lối đấu tranh giành chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-1945) là sáng tạo, phù hợp và đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam?
Giai đoạn 1 (1930-1935):
Từ ngày 14 đến 31 – 10 – 1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng, Trung Quốc do đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị thông qua nhiều quyết định quan trọng như phê duyệt Luận cương chính trị của Đảng Tuy Luận cương đã phát triển
và làm rõ thêm nhiều vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam song còn tồn tại nhiều hạn
Trang 16chế: xác định chủ trương không đúng trong hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ (trước hết tiến hành cuộc chiến tranh giai cấp, chống địa chủ phong kiến, chia đất, tranh thủ nông dân, sau
đó mới tiến lên lãnh đạo toàn dân tộc chống đế quốc, giành độc lập), đánh giá thấp mặt tích cực, cường điệu mặt tiêu cực của các giai cấp tầng trung gian (tư sản, tiểu tư sản)
Giai đoạn 2 (1936-1939):
Trong những năm 1936-1939, tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến đổi Trước nguy cơ đe doạn của chủ nghĩa phat-xit, Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào cách mạng Đông Dương đã hồi phục Qua văn kiện “Chung quanh vấn đề chiến sách mới” của Đảng (11-1936) và các Hội nghị Trung ương tiếp sau, Đảng chủ trương chuyển hướng về nhiệm vụ chính trị, hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh cho thích hợp với tình hình mới.Nhiệm vụ phản đế và điền địa vẫ không thay đổi, nhưng chưa phải là nhiệm vụ trực tiếp Trước mắt phải tập trung chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, cơm áo, hòa bình,
dự bị những điều kiện cho cuộc giải phóng dân tộc phát triển Chuyển tất cả các hình thức tổ chức “đỏ” mang màu chính trị sang các tổ chức “tương tế”, “ái hữu” mang mầu sắc kinh tế; tận dụng tất cả các hình thức công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để tập hợp quần chúng và đấu tranh Bên cạnh đó vẫ duy trì tổ chức và hoạt động bí mật
Đảng bước đầu điều chỉnh nhận thức về giải quyết quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược dân tộc, dân chủ, cho rằng việc giải quyết hai nhiệm vụ này thế nào là tùy điều kiện cụ thể
Giai đoạn 3 (1939-1945):
Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam Dân ta rơi vào hoàn cảnh một cổ hai tròng của Nhật – Pháp, mâu thuẫn dân tộc sâu sắc hơn bao giờ hết Những biến động này là cơ sở khách quan để Đảng Cộng sản Đông Dương từng bước điều chỉnh chiến lược Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành họp Hội nghị lần thứ sáu (11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (11-1940) và Hội nghị lần thứ tám (5-1941) Qua đó khởi xướng,
bổ sung, phát triển và hoàn thiện Đường lối giải phóng dân tộc, nền tảng, động lực cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cũng như sự nghiệp cứu Quốc ở Đông Dương
Sự điều chỉnh chiến lược phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng, đáp ứng nguyện vọng của toàn thể nhân dân và các dân tộc Đông Dương, có khả năng phát huy cao độ tiềm năng, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do
Đường lối đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về nghệ thuật hoạch định đường lối chính trị, trong đó mối quan hệ phức tạp nhưng cơ bản nhất lúc này là quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc, dân chủ đã được nhận thức và giải quyết hoàn toàn thỏa đáng Đây là
sự khẳng định, kế thừa, phát triển lên một bước mới tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã được xác lập và trở thành ngọn cờ tư tưởng của Đảng, của cách mạng Việt Nam
Từ trên cơ sở thực tế hoàn cảnh đất nước cùng quá trình nhận thức đúng đắn của Đảng, Đường lối giải phóng dân tộc là yêu cầu khách quan của thực tiễn Đường lối đã được hoàn thiện và vận dụng sáng tạo, phù hợp, đúng đắn trong từng giai đoạn lịch sử và trở thành yếu
tố cơ bản dẫn tới thắng lợi lớn sau này
Trang 17Phân tích quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam (1939-1941)? Ý nghĩa của đường lối đối với cách mạng Việt Nam trong những năm 1939-1945?
Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Cùng lúc đó thì phat-xit Đức hoành hành, chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phat-xit do Đức cầm đầu Chiến tranh thế giới II cũng ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến Đông Dương và Việt Nam Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn, ra sức đàn áp ở Việt Nam Nhân dân ta chịu cảnh một cổ bị hai tròng
áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phat-xit Pháp – Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành họp Hội nghị lần thứ sáu (11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (11-1940) và Hội nghị lần thứ tám (5-1941) Trên cơ
sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ vào tình hình
cụ ở trong nước, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phat-xit Pháp – Nhật Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc này, Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác lại khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, giải phóng dân tộc
Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng
và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập những đội du kích hoạt động phân tán, dùng hình thức vũ trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm
Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán
bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
Có thể thấy, Hội nghị Trung ương lần thứ sáu đã khởi xướng cho đường lối giải phóng dân tộc Đường lối được bổ sung và phát triển qua Hội nghị lần thứ bảy, sau đó, được hoàn thiện nhờ Hội nghị lần thứ tám Sự điều chỉnh chiến lược phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng, đáp ứng nguyện vọng của toàn thể nhân dân và các dân tộc Đông Dương, có khả năng phát huy cao độ tiềm năng, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do
Trang 18Đường lối đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về nghệ thuật hoạch định đường lối chính trị, trong đó mối quan hệ phức tạp nhưng cơ bản nhất lúc này là quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc, dân chủ đã được nhận thức và giải quyết hoàn toàn thỏa đáng Đây là
sự khẳng định, kế thừa, phát triển lên một bước mới tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã được xác lập và trở thành ngọn cờ tư tưởng của Đảng, của cách mạng Việt Nam
Sự điều chỉnh chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng, đặc biệt là sự hoàn thiện đường lối ở Hội nghị lần thứ tám, có ý nghĩa quyết định chiều hướng vận động của phong trào dân tộc, trực tiếp quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám Lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm của nhân dân nâng cao, chủ trương lấy sức ta tự giải phóng cho ta Có thể nói, Hội nghị Tám là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công cuộc giải phóng dân tộc trên bán đảo Đông Dương đi tới thắng lợi
Hãy chứng minh rằng quá trình bổ sung, điều chỉnh đường lối đấu tranh giành chính quyền trong những năm 1941-1945 thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, kịp thời của Đảng?
Để bổ sung, điều chỉnh cho đường lối đấu tranh giành chính quyền, Đảng đã chuẩn bị
kĩ càng trên các mặt:
Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các khu căn cứ và khắp các địa phương trong cả nước, đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền
Vào cuối 1944, đầu 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Hồng quân Liễn Xô thắng lớn, quét sạch phat-xit Đức ra khỏi lãnh thổ và tiến như vũ bão về Becslin Phat-xit Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn Mâu thuẫn Nhật – Pháp ngày càng gay gắt Đêm 9 – 3 – 1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương Ngay đêm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
Chỉ thị nhận định: Nhật đảo chính Pháp đã tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi
Trang 19Chỉ thị xác định: phap-xit Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương.
Chủ trương: Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa
Phương châm đấu tranh: phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa
Dự kiến những điều kiện thuận lợi như Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản Đồng minh để phía sau sơ hở Cũng có thể là cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập, hoặc Nhật bị mất nước và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần
Từ giữa 3 – 1945 trở đi, Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và phong phú về nội dung và hình thức Khởi nghĩa từng phần được đẩy mạnh, giành chính quyền bộ phận như ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ngãi
Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ và nhận định: nhiệm vụ quân sự là nhiệm vụ quan trọng nhất và cần kíp trong lúc này Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa kịp thời cơ
4 – 6 – 1945, thành lập khu giải phóng, chính quyền nhân dân đã hình thành ở một số nơi và tồn tại song song với chính quyền tay sai của Nhật
Giữa lúc đó nạn đói đã diễn ra nghiêm trọng ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ do Nhật, Pháp đã vơ vét hàng triệu tấn lúa gạo của nhân dân Xuất phát từ tình thế nguy cấp đó, Đảng kịp thời đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, đáp ứng đúng nguyện vọng cấp bách của quần chúng Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng triệu người dân tiến lên trận tuyến cách mạng Việt Nam giải phóng quân được thành lập
Trên thế giới, Liên Xô chiến thắng, phat-xit đi gần đến thất bại hoàn toàn Trước diễn biến nhanh của tình hình, Trung ương quyết định họp Hội nghị toàn quốc của Đảng từ ngày
13 đến ngày 15 – 8 – 1945 Nhận định: cơ hội rất tốt cho ta giành chính quyền độc lập đã tới
và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phat-xit Nhật và tay sai, trước khi quân đồng minh vào Đông Dương
Hội nghị chỉ rõ khẩu hiệu đấu tranh lúc này là “Phản đối xâm lược”, “Hoàn toàn độc lập”, “Chính quyền nhân dân” Những nguyên tắc để chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất và kịp thời, phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không để thành phố hay nông thôn, quân sự và chính trị phải phối hợp; phải làm tan rã tinh thần quân địch Về đối nội, lấy
10 chính sách lớn của Việt Minh làm chính sách cơ bản của chính quyền cách mạng Về đối ngoại, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, hợp tác, thêm bạn bớt thù, triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp – Anh và Mỹ - Tưởng
Một số mốc phát triển của Cách mạng Tháng Tám:
13 – 8 – 1945, ra lệnh Tổng khởi nghĩa
Trang 2016 – 8, Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam được thành lập.
19 – 8, quân Nhật ở Hà Nội bị tê liệt, chính quyền về tay nhân dân
23 – 8, khởi nghĩa giành thắng lợi ở Huế
53 – 8, khởi nghĩa giành thắng lợi ở Sài Gòn
Từ ngày 14 đến ngày 28 – 8, Tổng khởi nghĩa thành công trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân
Ngày 2 – 9, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thể thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Đảng đã có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, đoàn kết thống nhất, nắm đúng thời cơ, chỉ đạo kiên quyết, khôn khéo, biết tạo nên sức mạnh tổng hợp
để áp đảo kẻ thù và quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố then chốt, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tam 1945
Hãy chứng minh rằng chủ trương Kháng chiến, kiến quốc của Đảng những năm 1945-1946 là
tư tưởng chiến lược mới, giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chỉ đạo chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam?
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta dứng trước bối cảnh vừa có những thuận lwoij cơ bản, vừa gặp phải nhiều khó khăn to lớn, hiểm nghèo
Thuận lợi cơ bản là trên thế giới, hệ thống XHCN do Liên Xô đứng dầu được hình thành, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc có điều kiện phát triển, trở thành một dòng thác cách mạng Phong trào dân chủ và hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ Ở trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở Lực lượng vũ trang được tăng cường Toàn dân tin tưởng Việt Minh cũng như Chính phủ
Khó khăn nghiêm trọng là hậu quả của chế độ cũ để lại như giặc đói, giặc dốt rất nặng
nề, ngân quỹ quốc gia trống rỗng Kinh nghiệm quản lý đất nước còn non yếu, nền độc lập của nước ta chưa được thế giới công nhận Quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam
Ngày 25 – 11 – 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”, vạch ra con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
Về chỉ đạo chiến lược, xác định mục tiêu vẫn là dân tộc giải phóng với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”, nhưng là giữ vững độc lập
Đảng chỉ rõ “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược”, phải lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, mở rộng Mặt trận Việt Minh