1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đường lối cách mạng của ĐCSVN Thể chế kinh tế

6 2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 23,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII 1994 chỉ rõ: vai trò chủ đạo của khu vực doanh nghiệp Nhà nước “thể hiện ở chỗ mở đường và hỗ trợ cho các thành phần khác phát

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM 5

-Đề bài: Phân tích sự giống và khác nhau và thể chế kinh tế Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới? Vì sao có sự giống và khác nhau đó?

Bài làm

Thể chế kinh tế luôn là vấn đề trọng yếu, tác động trực tiếp không những đến phát triển kinh tế nói riêng, mà còn trực tiếp tác động đến sự ổn định của chế độ chính trị - xã hội Thể chế kinh tế hiệu quả không chỉ làm cho đất nước có nền kinh tế phát triển, giàu mạnh, mà còn góp phần quan trọng bảo đảm chế độ chính trị, xã hội được ổn định và bền vững Ngược lại, thể chế kinh tế kém hiệu quả không những sẽ đưa nền kinh tế đó trở nên nghèo nàn, đói khổ, mà còn tác động trực tiếp làm cho chế độ chính trị mất ổn định (có thể sụp đổ)

Trước khi đổi mới,thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đã phát huy tác dụng trong thời chiến tranh, đã cho chúng ta điều kiện tốt để huy động của cải vật chất và sức dân phục vụ cho hai cuộc kháng chiến vĩ đại Tuy nhiên, thể chế kinh tế này không có khả năng giải phóng sức lao động và khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của mọi người để làm cho nền kinh tế có thể phát triển trong giai đoạn hòa bình Khi bước vào thời kỳ hòa bình, thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp không những không phát huy được tác dụng, mà còn trở thành vật cản cho sự phát triển của đất nước.Như một tất yêu khách quan buộc Đảng phải có sự chuyển biến, đổi mới hoàn thiện thể chế để phù hợp với hoàn cảnh đất nước Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1. Sự giống nhau về thể chế trước và sau thời kì đổi mới:

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhìn một cách tổng quát thì trước và sau đổi mới, quan niệm của Đảng ta luôn giữ vững về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Trước đổi mới, khái niêm thường được dùng để chỉ bộ phận kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước trực tiếp quản lí và kinh doanh là kinh tế quốc doanh.Sau đổi mới khái niệm kinh tế nhà nước đã được sử dụng phổ biến và hoàn toàn thay thế cho khái niêm kinh tế quốc doanh

Trang 2

Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chỉ rõ: vai trò chủ đạo của khu vực doanh nghiệp Nhà nước “thể hiện ở chỗ mở đường

và hỗ trợ cho các thành phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ có sức mạnh vật chất của Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Văn kiện Đại hội VIII (1996) nêu cụ thể: “tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”

Văn kiện Đại hội IX (2001) lại nêu: kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp Nhà nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật”

Văn kiện Đại hội X (2006) một lần nữa khẳng định: “kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”

**Nguyên nhân:

Thứ nhất, kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu (sở hữu nhà nước) về tư liệu

sản xuất, là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất Ở đây, cần phân biệt hình thức sở hữu và chủ sở hữu Nhà nước- đại diện cho toàn dân – là chủ sở hữu công cộng của toàn dân

Thứ hai, kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu, xương sống của

nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định

Thứ ba, kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền

kinh tế; là lựclượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển

Thứ tư, kinh tế nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác không chỉ

bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng con đường gián tiếp, thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa

Thứ năm, kinh tế nhà nước dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa hoc – công nghệ

hiện đại, tiên tiến; do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho ngân sách nhà nước, và tự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng

Trang 3

Thứ sáu, kinh tế nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế,

đô thị mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng sống còn, nhưng đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm…

Chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước vẫn được duy trì tuy nhiên có sự thay đổi

về mức độ tác động.

Trước đổi mới vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước gần như là tuyệt đối Nhà

Nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ

sở các quyết định của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà Nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà Nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu

Sau đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, tính tất yếu trong việc duy trì vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đã được Đại hội VII của Đảng khẳng định “Tiếp tục xóa bỏ cơ chế quan liêu bao câp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” Bàn tay vô hình với những quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường phát huy được rất nhiều ưu điểm tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, tối ưu Tuy nhiên, muốn tạo lập một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh thì ở đó vẫn cần có sự quản lý của nhà nước nhằm khắc mục những thất bại của thị trường, thực hiện mục tiêu nhân đạo mà bản thân thị trường không thể khắc phục được

Vai trò quản lý vĩ mô trong thời kỳ đổi mới thể hiện ở những đặc điểm sau:

• Nhà nước cần phải xây dựng các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội phù hợp với điều kiện của nước ta theo các mục tiêu mong muốn -Trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay, các doanh nghiệp được quyền tự

do lựa chọn những phương án sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể định hướng cho hành vi của họ Trong nền kinh tế hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

và cạnh tranh có thể dẫn tới sự triệt tiêu các nguồn lực kinh tế, làm cho môi trường kinh doanh bị phá hủy và nền kinh tế không thể nào phát triển Bằng việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế, nhà nước quản lí và can thiệp vào các doanh nghiệp vơi mục tiêu làm giàu cho đất nước Thực chất của sự định hướng phát triển cả nền kinh tế là thống nhất các lợi ích khác nhau, quy tụ các lợi ích khác nhau về cùng một lợi ích để mỗi người theo đuổi lợi ích cá nhân của mình cũng là theo đuổi lợi ích của cả dân tộc

Trang 4

• Đề ra chiến lược phát triển kinh tế trong dài hạn.

-Vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước là ở chỗ nhà nước là người hoạch định các chương trình phát triển kinh té xã hội, mà mỗi chương trình là một

cơ hồi đầu tư mở rộng sản xuất cho doanh nghiệp Như vậy bằng cách hoạch định các chương trình phát triển kinh tế nhà nước có thể thực hiện được ý đồ của mình nhằm cho đất nước phát triển vững chắc công bằng hiệu quả

• Can thiệp vào kinh tế khi cần thiết

-Định hướng, tạo môi trường, phân phối thu nhập là những công việc cần thiết thể hiện vai trò của nhà nước trong chiến lược dài hạn.Trong quá trình thực hiện các chiến lược đó, dưới ảnh hưởng cua cơ chế cung cầu- giá cả trong thị trường nội địa, đồng thời dưới ảnh hưởng của quan hệ kinh tế quốc tế, chính vì vậy trong quá trình thực hiện mục tiêu định hướng của các chương trình dài hạn, những cú sốc làm chệch mục tiêu là điều không tránh khỏi Trong những trường hợp đó, nhà nước cần phải sử dụng công cụ lãi suất, thuế, khối lượng tiền tệ và chi tiêu ngân sách để làm giảm những trấn động do cú sốc gây ra, đưa nền kinh tế theo định hướng

• Quản lý tài sản quốc gia, phân bổ các nguồn lực môt cách hợp lý

-Nhà nước là người đảm nhận vai trò thiết lập và duy trì quyền sở hữu các nguồn lực kinh tế theo hướng xác định rõ chủ sở hữu đích thực của dông dân, của các doanh nghiệp tập thể tư nhân và Nhà nước

-Nhà nước đóng vai trò “ bà đỡ” cho sự ra đời của cơ chế thị trường, các thành phần kinh tê, hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc thành phàn kinh tế khác nhau kinh doanh có hiệu quả

Tiếp tục giữ chủ trương phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội

Đây là quan điểm xuyên suốt trong các thời kỳ lịch sử và vẫn được giữ vững cả trước và sau đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội một cách khoa học Đảng ta cho rằng, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội, không thể

có công bằng, tiến bộ xã hội nếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế Mặt khác, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là động lực, điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững Mỗi bước tiến của tăng trưởng kinh tế gắn với việc từng bước thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội ở từng giai đoạn phát triển của đất nước Đại hội X của Đảng khẳng định:

Trang 5

"Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục , giải

quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người

2. Sự khác nhau về thể chế trước và sau thời kỳ đổi mới:

Đường

lối lãnh

đạo

Đường lối quản lý kinh tế

kế hoạch hóa tập trung

Dần chuyển sang nền kinh

tế thị trường xã hội chủ nghĩa

nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp phát huy tác dụng trong thời chiến song không

có khả năng giải phóng sức lao động khơi dậy tiềm năng sang tạo của con người để làm cho nền kinh

tế phát triển khi khi thời bình

Sự phân công lao động trong xã hội cũng làm xuất hiện nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau Sự thay đổi trở thành một điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế bắt kịp với sự phát triển của thế giới nhưng vẫn phù hợp với định hướng chính trị ở Việt Nam

Sự quản

lý của

Nhà

nước

Bộ máy quản lý cồng kềnh

nhiều cấp trung gian và

kém năng động sinh ra đội

ngũ quản lý kém năng lực

phong cách cửa quyền

quan liêu

Nhà nước bao cấp toàn bộ

giá, tiền lương hiện vật và

chế độ cấp phát vốn của

ngân sách

Bộ máy quản lý đã có nhiều

sự thay đổi với sự ban hành của nhiều bộ luật như là luật doanh nghiệp, luật thuế

Nhà nước thừa nhận sự tồn tại khách quan của nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần giá cả được chuyển sang vận động theo nguyên tắc thị trường một cách thống nhất đồng bộ, hàng hóa được buôn bán tự do trên thị trường

Sự quản lý của chính phủ thay đổi

là điều kiện tất yếu để phù hợp với

sự thay đổi trong đường lối lãnh đao Trong mô hình kinh tế cũ quan hệ tiền – hàng bị coi nhẹ ,giá

cả gần như không có quan hệ gì với giá trị hàng hóa ,cũng như là tương quan cung cầu nên mọi sự tính toán là sai lệch làm mất đi động lực của sự phát triển ,hình thành cơ chế kìm hãm phát triển kinh tế - xã hội

Các

thành

phần

kinh tế

Gồm các thành phần kinh

tế nhà nước, tập thể và cá

thể

Kinh tế Nhà nước giữ vai

trò chủ đạo

Gồm các thành phần kinh tế nhà nước, tập thể và cá thể

Kinh tế Nhà nước vẫn giữ vài trò chủ đạo

Sự xuất hiện của các thành phần kinh tế mới là kết quả tất yếu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc

tế, trong một số ngành kinh tế, kinh tế nhà nước tỏ ra hoạt động không hiệu quả gây thất thoát lớn

Trang 6

Không tồn tại kinh tế tư

nhân, không có các hoạt

động thương mại buôn bán

tự do trên thị trường

Các thành phần kinh tế mới: kinh tế tư nhân, kinh

tế tư bản nhà nước, kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài dần thể hiện được vai trò và

vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế quốc dân

cho ngân sách nhà nước nên nhà nước không thể tiếp tục độc quyền trong các ngành kinh tế đó

Sự quản

lý trong

các

doanh

nghiệp

Nhà

nước

Nhà nước quản lý nền kinh

tế chủ yếu bằng mệnh lệnh

hành chính dựa trên chỉ

tiêu pháp lệnh từ trên

xuống dưới

Các cơ quan hành chính

can thiệp quá sâu vào hoạt

động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp nhưng

không chịu trách nhiệm về

vật chất đối với các quyết

định của mình

Một số doanh nghiệp Nhà nước dần tiến hành cổ phần hóa và hoạt động như các doanh nghiệp khác trên thị trường

Giúp tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước, chuyển sang hình thức hạch toán kinh doanh ăn lời chịu lỗ

Ngày đăng: 11/07/2016, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w