Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm nhất quán của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Như vậy, việc phân phối thu nhập đư
Trang 1Câu 1: Phân tích quan điểm của Đảng “ Tăng trưởng kinh tế cần gắn với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng thời kỳ và trong cả quá trình”
Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Nội hàm tăng trưởng kinh tế là tăng lên về số lượng trong một thời gian nhất định, kháiniệm này chưa thể hiện đầy đủ chất lượng của sự tăng trưởng
Tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minh hiện đại Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát từ con người, vì con người và hướng tới sự tiến bộ của con người Sự tiến bộ xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗiquốc gia Công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rấtrộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường cong Lorenz; Hệ số GINI; mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những cái đích cần hướng tới của các quốc gia hiện nay Tuy nhiên, việc nhìn nhận mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở những quốc gia khác nhau là không giống nhau; vì vậy, cách giải quyết vấn đề cũng đi theo những xu hướng khác nhau
Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong chỉ đạo về vấn đề này Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình" Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọi thời đại Tuy nhiên, việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn và trong thực tiễn đã có những ý kiến cho rằng có sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội Giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn luôn là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước Bài toán đặt ra hiện nay đối với các quốc gia là thực hiện tăng trưởng kinh tế trước, sau đó mới thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội hay đặt tiến bộ và công bằng xã hội lên trước, sau đó mới chú trọng cho việc tăng trưởng kinh tế hay giải quyết hài hòa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội? Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy không thể thực hiện tiến bộ hay công bằng xã hội trước nếu như không bảo đảm nền kinh tếtăng trưởng cao, liên tục theo hướng phát triển bền vững Mặt khác, nếu sự tăng trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng trưởng này cũng không có ý nghĩa Những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Mặt khác, những chính sách dựa trên ưu tiên mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế, kết cục cả mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế đều không thực hiện được
Có quan điểm cho rằng, tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định sự sống còn của một đất nước; vì vậy, cần tậptrung cho tăng trưởng kinh tế Với quan niệm như vậy, nhiều quốc gia đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao, song lại phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự phát triển của Trung Quốc
Trang 2trong những năm vừa qua đã đi theo mô hình này Nhờ quyết tâm đổi mới và chính sách ưu tiên tập trung pháttriển kinh tế, trong hơn hai mươi năm cải cách, mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng cao, xếp vào hàng các nước có mức tăng trưởng đứng đầu thế giới Song, rất nhiều vấn đề vốn được coi là hậu quả xã hội do tập trung quá mức cho tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc đang được đặt ra, như ưu tiên quá mức cho tăng trưởng GDP, xem nhẹ sự phù hợp giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phần lớn nhân dân ít được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế; sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nhóm xã hội, giữa các vùng, miền ngày càng tăng; môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng do tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức Nhận định về tình hình này, ông Chi Fu lin - Chủ tịch Viện Nghiên cứu và phát triển Trung Quốc cho rằng, thách thức lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay là sự mất cân đối ngày càng tăng trong phát triển kinh tế và phát triển xã hội, là nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn và khủng hoảng xã hội đang cản trở sự phát triển của Trung Quốc(1) Hiện nay, Trung Quốc đang cố gắng đổi mới phương thức phát triển kinh tế theo chiều hướng kết hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội.
Từ thực tế phát triển ở nhiều nước, chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đưa ra lời cảnh báo về 5kiểu tăng trưởng kinh tế cần phải tránh Đó là:
1 Tăng trưởng không việc làm – kiểu tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng những cơ hội tạo thêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp
2 Tăng trưởng không lương tâm – kiểu tăng trưởng mà thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí số người nghèo còn tăng thêm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng
3 Tăng trưởng không có tiếng nói – kiểu tăng trưởng kinh tế không kèm theo sự mở rộng nền dân chủ hay là việc tạo thêm quyền lực, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn về xã hội
và kinh tế
4 Tăng trưởng không gốc rễ – kiểu tăng trưởng khiến cho nền văn hóa của con người trở nên khô héo
5 Tăng trưởng không tương lai – kiểu tăng trưởng mà thế hệ hiện nay đã phung phí những nguồn lực mà các thế hệ tương lai cần đến(2)
Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, công bằng xã hội là ước mơ của con người ở mọi thời đại; vì vậy, cầnđạt tới một xã hội công bằng càng nhanh càng tốt Do nôn nóng muốn có ngay một xã hội không còn áp bức, bất công, mọi người được sống tự do và bình đẳng, một số nước đã bất chấp quy luật phát triển kinh tế - xã hội, không căn cứ vào điều kiện lịch sử - cụ thể và nhanh chóng tiến hành công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, thực hiện phân phối bình quân, cào bằng Quan niệm về công bằng xã hội một cách cực đoan như vậy đãtạo thành lực cản đối với tăng trưởng kinh tế, làm cho nền kinh tế của các nước theo mô hình này rơi vào khủng hoảng Thực tế này đã buộc các nước đó phải thay đổi cách nhìn trước đây của mình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội theo chiều hướng khác
Ở nước ta, trong những năm đổi mới, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước đã thể hiện quan điểm mới, sâu sắc và toàn diện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội Điều này được phản ánh một cách nhất quán trong các văn kiện lớn của Đảng và trong chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước trong suốt thời kỳ đổi mới
-Đảng ta nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa các tầng lớp xã hội
Tựu trung lại, có thể khái quát quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề này trên một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện công bằng xã hội phải tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế chứ không phải là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để giải quyết vấn đề xã hội Không thể có công bằng
xã hội trên cơ sở một nền kinh tế kém phát triển, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu
Trang 3quả và bền vững trong một xã hội mà con người ốm yếu về thể chất, trình độ dân trí thấp và một bộ phận đáng
kể lực lượng lao động chưa được đào tạo, thất nghiệp, nghèo đói Ngay cả trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội cũng luôn làmột đòi hỏi khách quan, tất yếu
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, lực lượng sản xuất thấp kém, không đồng đều, cơ cấu dân số đông, việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta phải tính đến mục tiêu phát triểnkinh tế Để công bằng xã hội có nội dung thực chất và tạo động lực phát triển kinh tế, cần dứt khoát từ bỏ phương thức phân phối bình quân, cào bằng, bao cấp; khắc phục tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước; xoá bỏ lối quản lý xin - cho Chẳng hạn, trong chiến lược xóa đói giảm nghèo ở nước ta, một mặt, cần tăng cường sự
hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo; mặt khác, cần tăng cường các hoạt động giám sát, định hướng, tổ chức giúp người dân thoát nghèo một cách vững chắc theo kiểu
"dạy người dân cách tự câu lấy cá cho mình"
Thứ hai, để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ
C.Mác đã chỉ rõ, công bằng là sự thể hiện yêu cầu bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi Điều này có nghĩa là những người khác nhau nhưng cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ như nhau Nói cách khác, xã hội đối xử ngang nhau với những người có đóng góp như nhau Mức độ hưởng thụ của cải xã hội được xác định dựa trên những cống hiến của họ đối với xã hội Công bằng xã hội cầnđược hiểu như vậy để tránh lặp lại lối phân phối bình quân chủ nghĩa mà thực chất là cào bằng, không công bằng đã xuất hiện ở nước ta thời kỳ trước đổi mới Cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề công bằng xã hội như vậy nhằm khuyến khích mọi người đóng góp nhiều hơn cho xã hội, tức là tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội
Với quan điểm chung đó, việc phân phối trong lĩnh vực kinh tế chủ yếu dựa vào kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; đồng thời, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác Mặt khác, những đóng góp khác không phải trong hoạt động kinh tế, như những cống hiến trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, cũng cần
và phải tính đến nhằm bảo đảm cho người lao động được hưởng lợi ích tương xứng, Nhiều người đã đóng gópsức lực, trí tuệ và hy sinh xương máu trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong khi thi hành nhiệm vụ
xã hội cũng phải được xã hội bù đắp một cách thoả đáng Giải quyết vấn đề này không chỉ dừng ở mức độ đạo
lý, mà nó phải mang tính pháp lý, được xã hội thừa nhận
Ngoài ra, Đảng ta cũng chủ trương rằng, để có công bằng xã hội, cần thiết lập và bảo đảm sự công bằng trong việc tiếp cận các nguồn lực xã hội, như nguồn vốn, tài nguyên, thông tin, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế cũng như các cơ hội tìm kiếm thị trường và việc làm
Thứ ba, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, địa phương ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã cụ thể hóa tinh thần này trên từng lĩnh vực Về kinh tế, Đảng ta chủ trương khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo luật pháp, tạo cơ hội để các hộ nghèo thoát đói nghèo một cách bền vững, khắc phục tình trạng bao cấp, tư tưởng ỷ lại; tiếp tục cải cách chính sách tiền lương Về mặt y tế, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, xây dựng và hoàn thiện các chính sách trợ cấp, bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong khám chữa bệnh, chú trọng triển khai các dịch vụ y tế công nghệ cao, khuyến khích phát triển đa dạng các dịch vụ y tế ngoài công lập Về giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm dịch vụ công cộng thiết yếu, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng Trên từng lĩnh vực, các địa phương phải chủ động đề ra và thực hiện những bước đi, mục tiêu và các giải pháp cụ thể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng, miền.Thứ tư, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội nhằm phát triển xã hội
mà trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người
Trang 4Con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để phát triển xã hội mới Xây dựng xã hội mới chính là
để phát triển con người toàn diện; ngược lại, trong số các nguồn lực để xây dựng xã hội mới, con người là vốnquý nhất Trong thời đại ngày nay, muốn tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giải quyết vấn đề công bằng xã hội, tạo điều kiện cho con người có thể phát huy mọi năng lực và hưởng thụ xứng đáng những thành quả của chính mình Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta nhấn mạnh việc thực hiện chỉ tiêu GDP phải gắn với chỉ tiêu HDI trong suốt quá trình phát triển và trong từng chính sách xã hội Như vậy, có thể nói, tăng cường đầu tư cho con người là cơ sở để thực hiện tăng trưởng kinh tế bền vững và giải quyết các vấn đề xã hội một cách có hiệuquả, thiết thực
Thứ năm, phát huy vai trò của nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động xã hội là nhân tố cơ bản đảm bảo kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Công bằng xã hội là vấn đề của quan hệ lợi ích, lấy tăng trưởng kinh tế làm tiền đề, nhưng không phải là hệ quả trực tiếp của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế tác động đến việc phân phối lợi ích thông qua những khâu trung gian; trong đó, trước hết phải kể đến cơ chế kinh tế và chính sách xã hội của nhà nước.Thị trường chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội theo cách thức riêng của nó, cụ thể là bằng cách phân phối lợi nhuận theo quy luật của thị trường Theo đó, người có đóng góp nhiều thì hưởng lợi nhiều, giỏi thắng kém thua và nhờ vậy, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm nhất quán của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Như vậy, việc phân phối thu nhập được thực hiện không chỉ theo lao động, mà còn theo mức độ đóng góp các nguồn lực khác, như vốn, tài sản, đất đai vào tăng trưởng kinh tế, trong đó phân phối thu nhập theo lao động
là hình thức phân phối chủ yếu, và như thế được coi là công bằng Tuy vậy, đối với một thị trường chưa hoàn hảo, còn có độc quyền, có cạnh tranh bất bình đẳng thì nguyên tắc phân phối của thị trường cũng chưa phải đã
là công bằng Ngoài ra, hiện nay, ở nước ta, còn nhiều đối tượng có những khiếm khuyết về sức khỏe, năng lực, trí tuệ, còn nhiều khu vực dân cư các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa kinh tế hàng hóa chưa phát triển… mà sự phân phối của thị trường không đến được Trong điều kiện như vậy, sự điều tiết của “bàn tay hữu hình” - Nhà nước là sự can thiệp cần thiết, bảo đảm cho tất cả mọi người đều được hưởng thụ tương xứngvới những cống hiến của họ cho xã hội trên nhiều lĩnh vực mà thị trường không làm được Vì vậy, tăng cườngvai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là xu hướng tất yếu, là một biện pháp đặc biệt quan trọng Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ đạo tích cực đẩy mạnh xã hội hóa trong giáo dục, y tế và các dịch vụ công cộng khác với phương châm không bao cấp tràn lan và không vì mục tiêu lợi nhuận
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu tổng quát Không nghi ngờ gì nữa, tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội là những tiêu chí cơ bản nhất cần phải đạt tới Thực tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế có thể tạo cơ sở để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại, nó cũng có thể làm cho công bằng xã hội bị vi phạmnghiêm trọng hơn, vì vậy nó cũng ảnh hưởng tới các vấn đề khác của xã hội Cũng như vậy, việc thực hiện công bằng xã hội không chỉ thể hiện tính nhân văn của xã hội, mà còn có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Quan hệ giữa chúng không phải là đồng thuận và có tính tự phát Hiệu quả của mối quan hệ này ở nước ta hiện nay được phát huy đến đâu - điều đó không chỉ phụ thuộc vào tính tất yếu khách quan của nền kinh tế, mà còn phụ thuộc vào quan điểm chỉ đạo của Đảng và mức độ hiện thực hóa các quan điểm đó trong thực tiễn cuộc sống
Câu 2: Tại sao quan điểm của Đảng chủ trương “Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước”? để rút ngắn thời gian cần phải thực hiện những yêu cầu gì?
Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 5*** Cần phải rút ngắn thời gian :
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp so với khả năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời kỳ đầu côngnghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực
- Chúng ta cần tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam
- Nuớc ta có nền kinh tế - chính trị độc lập tự chủ, nhân dân cả nước đều ủng hộ ĐCS VN trong suốt quá trình hình thành dân tộc
- Hệ thống cảng biển và vận tải biển nằm ở khu vực trung tâm,các khoáng sản :dầu khí, hải sản, biển, đảo phong phú và đa dạng
*** Để rút ngắn thời gian cần phải thực hiện những yêu cầu gì?
- Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân
+ Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp : Nông nghiệp là nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu và lao động cho công nghiệp và thành thị, là thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ Nông thôn chiếm
đa số dân cư ở thời điểm khi bắt đầu công nghiệp hóa Vì vậy, quan tâm đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa
+ Về quy hoạch phát triển nông thôn: Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội
+ Về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn: Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới
-Hai là, phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Tính quy luật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tỷ trọng của nông nghiệp giảm còn công nghiệp, dịch vụ thì tăng lên Vì vậy, nước ta chủ trương phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
- Đối với công nghiệp và xây dựng:
+Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động;
Trang 6+Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án quan trọng để khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô.
+ Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài
- Đối với dịch vụ: mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải, thương mại, ngân hàng, bưu chính viễn thông, du lịch Phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn
-Ba là, phát triển kinh tế vùng: Cơ cấu kinh tế vùng là một trong những cơ cấu cơ bản của nền kinh tế quốc dân Để phát triển mạnh mẽ kinh tế vùng trong những năm tới cần phải:
+Có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính
+Xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam thành những trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao để các vùng này đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển chung của cả nước.+ Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn Bổ sung chính sách khuyếnkhích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh tại các vùng khó khăn
-Bốn là, phát triển kinh tế biển
+Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm Sớm đưa nước
ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh và hợp tác quốc tế
+Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biển, khai thác, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển, đảo
-Năm là, dịch chuyển cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ
+ Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm
+Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức +Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao
-Sáu là, bảo vệ, sử dụng, hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên
+Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng
+Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường ở các lưu vực song, đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, nơi đông dân cư và có nhiều hoạt động kinh tế
+Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải, phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô nhiêm môi trường
- Xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi trường, bảo đảm pháttriển bền vững
Câu 4 : Những cơ hội và thách thức khi VN hội nhập kinh tế quốc tế? Chúng ta phải làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế thành công?
*** Khi hội nhập,nước ta đứng trước những cơ hội lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập
khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng
Trang 7Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanhcủa nước ta ngày càng được cải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch
cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định
chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp Đương nhiên kết quả đấu tranh còntuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước để
phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giớicũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ
nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức
mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé
*** Khi hội nhập, nước ta đối đầu với những thách thức bao gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn Đây
là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm
từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không
Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không v.v… Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều Những nước có nền
kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá
Trang 8sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trươngcủa Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước
sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng
ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồngtiền
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta
Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn
át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất
Với thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kết quả của nhiều nước gia nhập Tổ chức thương mại thế giới trước ta, cho chúng ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định hướng của chúng ta
*** Những giải pháp để hội nhập kinh tế thành công:
1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết:
(i) Soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực thi các luật mới ban hành, bảo đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với nội dung của luật;
(ii) Xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá
và dịch vụ Đối với những mặt hàng hiện còn áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác định lộ trình thực hiện nhanh giá thị trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh;
(iii) Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân hàng thương mại thực sự làcác đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả, không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường đất đai
và bất động sản, tạo bước đột phá trong hoạt động của thị trường này Cải cách chế độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế;
(iv) Xây dựng các biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi đôi với việc loại bỏ các hình thức trợcấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa hoá phù hợp với các cam kết của ta trong Tổ chức thương mại thế giới;
Trang 9(v) Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp vớiHiệp định TBT và SPS để bảo vệ thị trường nội địa và người tiêu dùng;
(vi) Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nâng cao chất lượng của công tác thông tin, dự báo về thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu để xác định các cân đối lớn
(vii) Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp,
và các chính sách an sinh xã hội; (viii) Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự hạch toán Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh nghiệp để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp, nhằm phát triển thị trường khoa học, công nghệ Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
2 Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không
thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá
và dịch vụ vào kinh doanh Việc quản lý xuất nhập khẩu các mặt hàng quản lý chuyên ngành chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện hành nghề, không dùng giấy phép làm công cụ để hạn chế thương mại
Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơquan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý là một trong những tiêu chí của xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh" và là yêu cầu cấp bách hiện nay
Điều này không những là tiền đề của chống tham nhũng mà còn là điều kiện để tạo ra thị trường cạnh tranh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và công dân, là điều kiện bảo đảm hiệu quả của tăng trưởng Phải làm việc này một cách đồng bộ và kiên quyết Loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những công chức gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp, những người thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ
3 Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, theo yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực Làm việc
này không phải là để tinh gọn tổ chức một cách giản đơn Làm việc này là tạo ra tiền đề tổ chức để bảo đảm
sự đồng bộ, tầm nhìn liên ngành, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi các thiết chế quản lý
Trên cơ sở sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành chính để xây dựng lại hệ thống phân cấp theo những tiêu chí khoa học, bảo đảm tính tương thích, sự đồng bộ và tính mục tiêu trong các lĩnh vực đã phân cấp Quan điểm nhất quán ở đây là: bảo đảm tính thống nhất quản lý và mục tiêu phát triển, phân cấp mạnh cho địa phương và cơ sở Vấn đề sẽ được giải quyết ở cấp nào mà ở đó có đầy đủ thông tin và khả năng thực hiện công việc tốt nhất Gắn phân cấp với kiểm tra, giám sát
4 Đổi mới để phát triển mạnh nguồn nhân lực:Chúng ta thường nói và người nước ngoài cũng nói:
nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động trẻ chiếm 70% lực lượng lao động Người Việt Nam cần cù, chịukhó học tập, nhận thức nhanh Đây là một lợi thế cạnh tranh Điều đó đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ thựctrạng nguồn nhân lực nước ta
Hiện tại, chúng ta chỉ có lợi thế cạnh tranh thực tế trong những ngành nghề đòi hỏi sử dụng nhiều lao động với kỹ năng trung bình và thấp Những lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi trình độ cao, chúng ta đang rất thiếu và do đó làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào những lĩnh vực này như cơ khí chế tạo, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, tư vấn thiết kế, tạo mẫu và trong các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao Hạn chế này là do những yếu kém, bất cập trong hệ thống giáo dục của ta, cần phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp
để khắc phục
Hướng chính ở đây là:
Trang 10Chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo đại học thuộc các ngành kỹ thuật - công nghệ và dạy nghề để huy động các nguồn lực nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo gắn liền với việc thực hiện đầy đủ cơ chế thị trường trong việc trả lương cho người lao động.
Từ quan điểm hệ thống và bảo đảm tính liên thông trong hệ thống giáo dục - đào tạo từ phổ thông - đại học vàdạy nghề, giải quyết trước việc cải cách giáo dục đại học và dạy nghề Học tập kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục đại học và dạy nghề tiên tiến để chọn lọc, sử dụng Trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất trong những nguyên tắc lớn và sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo, phát huy tính tự chủ, bản sắc riêng và tính cạnh tranh trong đào tạo đại học và dạy nghề Nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn cho những ngành nghề cần thiết nhưng tính cạnh tranh thấp
Khẩn trương xây dựng chiến lược cải cách giáo dục từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, chế độthi cử ở tất cả các cấp đào tạo
5 Tập trung sức phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng:
Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ hạn chế thu hút đầu tư làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều kiện các hìnhthức ưu đãi trái với quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ bị loại bỏ Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng Lâu nay nhà nước đã rất chú ý phát triển cơ sở hạ tầng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn của doanh nghiệp đầu tư theo phương thức BOT, BT,…, vốn của dân Khuyết điểm ở đây là tình trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước phân tán, kéo dài chậm được khắc phục Phát triển cơ sở hạ tầng là yêu cầu bức xúc của các địa phương, các vùng kinh tế Khi nhu cầu lớn, nguồn lực
có hạn, để thoả mãn được nhiều đối tượng dễ dẫn đến cách phân bổ phân tán, dàn trải Kết quả là thời gian thi công kéo dài, nợ đọng lớn, không ít công trình hiệu suất sử dụng thấp, hiệu quả không cao xét trên yêu cầu phát triển tổng thể của nền kinh tế Phải kiên quyết khắc phục tình trạng này
Nguyên tắc chỉ đạo ở đây là cái mà chúng ta lựa chọn và quyết định là cái tốt nhất có thể chứ chưa phải là cái
mà chúng ta mong muốn Cái tốt nhất có thể là cái mà nếu được lựa chọn sẽ có hiệu suất sử dụng cao nhất Trong phát triển cơ sở hạ tầng (các tuyến đường, bến cảng) đó là những vùng đã và sẽ có trong tương lai gần dung lượng lưu thông hàng hoá lớn, từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung Từ yêu cầu này mà xử lý mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng về vốn Điều chỉnh lại việc phân cấp đầu tư cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung cao hơn Người có quyền ra quyết định đầu tư phải kiên quyết thực hiện bằng được yêu cầu này
Huy động mọi nguồn lực kể cả các nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng
6 Về nông nghiệp, nông thôn và nông dân:
Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn cả khi thực hiện cam kết cắt giảm thuế nông sản Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Đoàn đàm phán đã kiên trì và thận trọng trong việc mở cửa thị trường nông sản Mặc dầu vậy, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực bị sức ép cạnh tranh khá lớn, nhất là trong điều kiện nôngnghiệp nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suất kém, chất lượng sản phẩm không cao, bình quân đất nông nghiệp trên một lao động thấp
Để giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng:
Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa các doanh nghiệp sửdụng nhiều lao động, yêu cầu đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn Đây là hướng phát triển quan trọng nhất Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành toàn bộ các nguồn vốn hỗ trợtrước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông thôn Nhà nước
hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng
Trang 11sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn Giảm mạnh sự đóng góp của nông dân
Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước Phát triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã
Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ ở nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy quá trình hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư cho nông dân Khuyến khích nông dân trở thành cổ đông của các doanh nghiệp và các hợp tác xã cổ phần, là đồng sở hữu các nhà máy chế biến nông sản, bảo đảm thu nhập của nông dân và cung cấp ổn định nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Nghiên cứu để hình thành cơ chế gắn việc thu hút lao động trong nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, xuất khẩu lao động với việc chuyển giao, cho thuê lại ruộng đất để đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất
7 Phát triển các loại hình dịch vụ:
Lĩnh vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nền kinh tế Các nước công nghiệp phát triển trình độ cao, dịch vụ chiếm từ 60 - 70% Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá và sự phân công lao động gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa đặt ra nhu cầu vừa tạo khả năng phát triển dịch vụ Ngược lại
sự phát triển dịch vụ sẽ làm giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, phải hết sức coi trọngphát triển tất cả các ngành dịch vụ
Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao: dịch vụ tài chính, ngân hàng với nhiều sản phẩm đa dạng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ du lịch, các loại dịch vụ tư vấn để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân lập doanh nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh, các dịch vụ nghề nghiệp như kế toán, kiểm toán để đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công khai, minh bạch về tình trạng tài chính của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán Nhanh chóng xây dựng hệ thống mã số các loại dịch vụ theo phân loại của Tổ chức thương mại thế giới Trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn chiến lược phát triển dịch vụ
8 Phát triển những lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng mở rộng thị trường.
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, thế giới đã diễn ra hai mô hình công nghiệp hoá Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đi liền với chế độ bảo hộ mậu dịch Mô hình này khá phổ biến và đã thành công trước những năm 80 Khi chế độ bảo hộ mậu dịch giảm dần, sự phân công lao động quốc tế sâu rộng hơn, các nước chuyển sang mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu trên cơ sở lợi thế so sánh Từ nửa sau thập kỷ 90 của thế kỷ trước, toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế Hàng rào bảo hộ bị cắt giảm thông qua việc ký kết các hiệp định mậu dịch tự do song phương và khu vực và việc hình thành Tổ chức thương mại thế giới, ranh giới kinh tế giữa các quốc gia bị giảm thiểu; sự phát triển của vận tải đa phương thức và dịch vụ logistic đã làm chiphí lưu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia giảm mạnh, thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như thông nhau
Cái gọi là công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu không còn nguyên nghĩa như khái niệm ban đầu của nó Một sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường trong nước cũng có khả năng cạnh tranh trên thị trường nước ngoài và ngược lại
Vì vậy, việc lựa chọn các ngành và sản phẩm để phát triển phải căn cứ vào các yếu tố sau đây: (1) lợi thế so sánh dài hạn; (2) quy mô kinh tế đặt trong quy hoạch liên vùng (để bảo đảm giảm chi phí cố định); (3) dung lượng thị trường (để bảo đảm có được thị phần và tăng thị phần mà không bị các biện pháp tự vệ, điều tra chống bán phá giá); (4) mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết (để đo sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu)
Đi đôi với việc phát triển một số ngành, sản phẩm theo các tiêu chí nêu trên cần hết sức coi trọng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hoá
Trang 129 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích mọi người đầu tư vốn vào sản
xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Việc sắp xếp lại, đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua đã đem lại những kết quả tích cực Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đều có doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách cao hơn trước khi cổ phần hoá; việc làm và đời sống người lao động trong doanh nghiệp đã cổ phần hoá được bảo đảm, có phần được cải thiện; quyền làm chủ thực sự trong quản lý doanh nghiệp từng bước được xác lập Việc bán giá trị của doanh nghiệp thông qua đấu thầu trên thị trường chứng khoán đã khắc phục đượctình trạng thất thoát vốn, tài sản của nhà nước
Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp mà nhà nước có cổ phẩn hoặc cổ phần chi phối còn nhiều Vốn của nhà nước trong doanh nghiệp còn lớn, tín dụng dành cho doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ cao Phải khẩn trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần, kể cả các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế
Một nước ở trình độ phát triển thấp như nước ta, lại đang trong giai đoạn chuyển đổi, tuyệt đại bộ phận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95%), loại hình doanh nghiệp này thực sự đang là động lực của sự phát triển
Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ có hiệu quả hơn nữa các doanh nghiệp này
So với dân số và nhu cầu tăng trưởng kinh tế, số lượng doanh nghiệp nước ta hiện rất thấp Đây là hạn chế lớntrong việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tạo ra thị trường cạnh tranh và huy động nguồn lực của xã hội Vì vậy, khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp Định hướng cơ bản để thực hiện việc này là tạo điều kiện để doanh nghiệp có môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí tham gia thị trường, miễn giảm thuế trong thời gian đầu lập nghiệp, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo quản trị doanh nghiệp
10 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN:
Như trên đã nói, chủ thể của tiến trình hội nhập và cạnh tranh là nhà nước và doanh nghiệp Trong đó doanh nghiệp trực tiếp cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường trong và ngoài nước Có thể thấy rõ 4 điểm yếu của doanh nghiệp nước ta: số lượng doanh nghiệp ít; quy mô nhỏ, thiếu vốn; công nghệ sản xuất kinh doanh nhìn chung lạc hậu; khả năng quản trị doanh nghiệp còn yếu kém Những hạn chế này có nguyên nhân khách quan của một nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp, đang trong quá trình chuyển đổi Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nhận thức được các hạn chế yếu kém đó, có kế hoạch để khắc phục các yếu kém đó
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược mặt hàng và chiến lược thị trường đúng đắn Trên
cơ sở lựa chọn đúng chiến lược thị trường, chiến lược mặt hàng mà đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý; áp dụng các tiêu chuẩn ISO, hoàn thiện phương thức kinh doanh; tạo ra bản sắc riêng có, những nét độc đáo riêng có của doanh nghiệp mình thông qua đó mà thu hút khách hàng, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng và nhanh chóng hình thành hệ thống phân phối Cần nhận thức rằng cạnh tranh và hợp tác luôn song hành trong hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trưởng
Các tập đoàn tư bản tuy cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng cũng sẵn sàng hợp tác vì lợi ích của chính họ Doanh nghiệp của ta quy mô nhỏ, vốn ít càng cần phải tăng cường liên kết và hợp tác Điều quan trọng là năng lực và bản lĩnh của người quản trị doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải chọn cho được những người quản trị doanh nghiệp có bản lĩnh và năng lực thực sự
Kinh doanh là nghề chấp nhận mạo hiểm Chấp nhận mạo hiểm hoàn toàn khác với làm liều Chấp nhận mạo hiểm trên cơ sở thu thập và xử lý đầy đủ thông tin, và dự kiến trước những diễn biến của thị trường Phải tính đến rủi ro có thể xảy ra và nếu xảy ra rủi ro thì thiệt hại sẽ được giới hạn và có khả năng khắc phục Làm đượcnhư vậy hiệu quả kinh doanh sẽ được bảo đảm, và trên cơ sở hiệu quả kinh doanh mà tăng khả năng tích tụ vốn và huy động vốn trên thị trường chứng khoán Từ đó doanh nghiệp sẽ lớn lên, mạnh hơn, sức cạnh tranh
sẽ được tăng cường, từng bước hình thành nhiều công ty, tập đoàn kinh tế lớn
Trang 13Kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng, bảo đảm hiệp hội thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, hỗ trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực Nâng cao trách nhiệm và đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ doanh nghiệp
mở rộng thị trường, thiết lập quan hệ bạn hàng, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch và thu hút đầu tư.Không thể thực hiện những công việc rộng lớn trên đây trong một thời gian ngắn Nhưng phải kiên quyết và kiên trì thực hiện trên cơ sở xây dựng các chương trình hành động đồng bộ, có phân công trách nhiệm rõ ràng,
lộ trình thực hiện cụ thể, trước hết là trong các cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp
11 Tiền đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định để thực hiện thắng lợi các chủ trương và giải pháp nêu trên là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốc
gia và định hướng của sự phát triển Nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội về bản chất và nội dung của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, những cơ hội và thách thức khi VN gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Tạo ra sự thống nhất trong nhận thức, thống nhất đánh giá, thống nhất hành động Trên cơ sở đó phát huy sứcmạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, truyền thống yêu nước và cách mạng, ý chí tự lực tự cường của mọi người Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Câu 5: Phân tích những chủ trương tạo tiền đề để Đảng đề ra chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong Đạo hội VI (12/1986)
Tiếp đó, đến Đại hội V (1982), Đảng ta tiếp tục xác định: phải xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, chú trọng xây dựng hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làm nòng cốt củng cố nền kinh
tế quốc dân
Trong những năm 1976-1986, trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, trong chỉ đạo thực hiện, đã thiên về tập trung phát triển công nghiệp nặng qui mô lớn, mà không chú ý phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ,không tính tới những điều kiện và khả năng thực tế đất nước; “Chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội
và bảo thủ, thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý kinh tế”
1 Do vậy, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế
kỷ XX ở nước ta có nguyên nhân từ bố trí cơ cấu kinh tế và cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ những nhận thức chưa đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, nên trong chỉ đạo thực hiện đã xuất hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước
đi cần thiết
Trang 14Nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu trên cả 2 mặt trận xây dựng và bảo vệ tổ quốc Song chúng ta chưatiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểm mới Tình hình kt-xh nước ta có nhiều diễn biến phức tạp, sx trì trệ, lạm phát tốc độ cao, nhiều mặt kt mất cân đối nghiêm trọng (làm không đủ ăn, xuất không đủ nhập, thu không đủ chi ) Các tiêu cực xh nẩy sinh và phát triển mạnh Đời sống nhân dân lao động hết sức khó khăn.
+ Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ lần thứ 3 trên TG phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt và các mối quan hệ trong từng nước và trên toàn TG
+ Trong các nước XHCN, kể cả LX và TQ, do việc xây dựng CNXH theo mô hình và phương pháp kiểu cũ cónhững mặt không còn phù hợp với điều kiện ls mới, đã bộc lộ không ít khuyết tật Nhiều nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng kt-xh, phải đi vào cải tổ, cải cách với các hình thức và mức độkhácnhau
+ Một mặt khác, nhiều nước tư bản, ĐQ trên TG, sau khi giải quyết được tình trạng khủng hoảng sâu sắc của những thập kỷ trước đây, đã nhanh chóng tiếp thu được những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ lần thứ 3, vươn lên phát triển nhanh chóng về kt, quốc phòng, đã liên kết lại để tiến hành "diễn biến hòa bình" nhằm phản kích và xóa bỏ hệ thống XHCN thếgiới
+ Đổi mới đã trở thành yêu cầu cấp thiết, có tính chất sống còn đối với XHCN thế giới nói chung,
đốivớicáchmạngvnnóiriêng
Vì vậy,đại hội VI (tháng 12 - 1986) Đảng ta đã tìm tòi, thể nghiệm và chuẩn bị những điều kiện, tiền đề cần thiết để đi tới xác lập một cơ cấu kinh tế phù hợp
Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (12-1986) khởi xướng đã mở đầu cho thời kỳ phát triển mới trong
sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Trong quá trình đổi mới, trước hết và chủ yếu là đổi mới kinh tế (gắn với từng bước đổi mới chính trị), Đảng ta rất quan tâm tới vấn đề xác lập một cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ Mục tiêu đổi mới cơ cấu kinh tế cuối cùng cũng là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, tiến tới hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, đáp ứng nhu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm vững chắc nền an ninh quốc phòng, sử dụng và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước vào mục tiêu phát triển
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành của nền kinh tế, trong
đó các yếu tố, các bộ phận vừa tác động qua lại lẫn nhau, vừa làm điều kiện cho nhau tồn tại trong một chỉnh thể Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh tại, mà nó biến đổi cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một cơ cấu kinh tế phù hợp là cơ cấu được hình thành dựa trên cơ sở những tiền
đề hiện thực, tuân thủ các qui luật kinh tế khách quan, chứ không phải là sự áp đặt của ý muốn chủ quan Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn, sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế lại thông qua sự tác động của nhân tố chủ quan, của chủ thể lãnh đạo, quản lý nền kinh tế quốc dân
Đại hội VI là bước phát triển về chất, là quá trình đổi mới tư duy của Đảng về xác lập đường lối phát triển kinh tế, là sự tổng kết thực tiễn
Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách khách quan, Đại hội VI chỉ rõ phải nhận thức cho đúng
về CNXH, về bố trí cơ cấu kinh tế, phải căn cứ vào điều kiện lịch sử mới của đất nước và xu thế phát triển để đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về cơ cấu kinh tế Và Đại hội cũng đã xác định rõ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại trong chặng đường đầu tiên là phải tập trung “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”
Trang 152 Từ nhiệm vụ bao trùm đó, Đảng ta nhấn mạnh phải: “Dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dântheo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có qui mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảmcho nền kinh tế phát triển ổn định”
3 Như vậy, so với trước năm 1986, trong bố trí cơ cấu kinh tế, vấn đề mới được Đại hội VI đặc biệt chú ý là tính “phù hợp điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định” Điều này khác hẳn với tư tưởng chủ quan, nóng vội, thoát ly thực tế khách quan trong thời kỳ trước năm 1986 khi bố trí cơ cấu kinh tế thiên về công nghiệp nặng, chú trọng công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất qui mô lớn mà chưa chú ý đúng mức đến phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, vì vậy đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp
Từ cách đặt vấn đề như vậy, Đại hội VI đã nêu một số quan điểm về xác lập cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới:
Thứ nhất, phải nhận thức đầy đủ, toàn diện về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ đi lên CNXH,
“thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên CNXH từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn độ dài của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ”4 Đối với nước ta, nhiệm vụ xây dựng những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cho thời kỳ quá độ đòi hỏi phải có thời gian dài hơn, vì xuất phát điểm kinh tế - xã hội của nước ta rất thấp, lại bị tổn thất nặng nề sau mấy chục năm chiến tranh và vẫn tiếp tục phải đối phó với những âm mưu xâm lược, phá hoại của kẻ thù Việc khẳng định thời kỳ quá độ ở nước ta là lâu dài và rất khó khăn giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn trong xác định bố trí cơ cấu kinh tế của chặng đường đầu tiên trong thời kỳ quá độ
Thứ hai, phải bố trí lại cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư trên cơ sở bảo đảm sự
phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ: phải phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp và công nghiệp nhẹ tới một mức nhất định mới
có đủ điều kiện phát triển công nghiệp nặng Mức nhất định ở đây là giải quyết về cơ bản các nhu cầu của đời sống xã hội và tạo ra được nguồn tích lũy cần thiết để xây dựng công nghiệp nặng
Căn cứ vào những quan điểm nêu trên, Đại hội VI đã đề ra mục tiêu phải thực hiện trong 5 năm (1986-1990):
“Về lương thực, thực phẩm: Bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội và có dự trữ Đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động; Về hàng tiêu dùng: sản xuất đáp ứng được nhu cầu bình thường của nhân dân thành thị và nông thôn về những sản phẩm công nghiệp thiết yếu; Về hàng xuất khẩu: tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đạt kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết”5
Để thực hiện thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn, phải tạo ra cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa 2 ngành kinh tế này nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định Nhưng ở mỗi giai đoạn, trong từng chặng đường, vị trí của nông nghiệp, công nghiệp có khác nhau Trong chặng đường hiện nay, xuất phát từ “yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm,
về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp”6.Đối với công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, Đại hội cũng chỉ rõ: “đáp ứng cho được nhu cầu của nhân dân về những loại hàng hóa thông thường, bảo đảm yêu cầu chế biến nông, lâm, thủy sản, tăng nhanh việc làmhàng gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác, đồng thời mở rộng mặt hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng”7
Trang 16Với công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng, quan điểm của Đại hội VI rất rõ ràng: “phải nhằm phục vụcác mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và theo khả năng thực tế sản phẩm nào mà công nghiệp nặng nhất thiết phải tạo ra trong nước để phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ thì cố gắng làm với quy mô và kỹ thuật thích hợp không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế, ngay cả để phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”8.
Như vậy, nếu so sánh với thời kỳ 1976-1986, qua các kỳ Đại hội IV, V, quan điểm của Đảng tại Đại hội VI về
bố trí cơ cấu kinh tế đã có sự đổi mới để phù hợp hơn với thực tiễn khách quan Đã thực sự coi nông nghiệp làmặt trận hàng đầu, đặt đúng tầm và xác định đúng vị trí của nó và tập trung sức để thực hiện 3 chương trình kinh tế, coi đó như một hướng đi để dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
Về cơ cấu đầu tư, Đại hội chỉ rõ: “Theo phương hướng bố trí lại cơ cấu kinh tế, phải điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước nhằm tập trung cho việc thực hiện ba chương trình mục tiêu nói trên và bảo đảm phát huy hiệu quả”9 Tức là, phương hướng đầu tư cho những năm tới tập trung chủ yếu cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, còn công nghiệp nặng chỉ đầu tư cho những công trình nhanh chóng mang lại hiệuquả
Thực tiễn đã chứng minh quan điểm bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư của Đại hội VI là đúng đắn, phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội nước ta và có vai trò quyết định trong việc đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vào những năm sau đó
Thứ ba, “Phải coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”10 đi lên CNXH ở nước ta, và “Muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đi đôi với việc bố trí lại cơ cấu sản xuất,
cơ cấu đầu tư theo ngành, theo vùng, phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế”11 nhằm khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế phi XHCN vào xây dựng, phát triển kinh tế nước nhà, trước mắt là vốn đầu tư và giải quyết việc làm Đại hội VI xác định, hiện nay nước ta còn tồn tại các thành phần kinh tế: kinh tếXHCN gồm quốc doanh và tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác
Trên cơ sở xác định các thành phần kinh tế, việc cải tạo XHCN cũng xuất phát từ sự nhận thức đầy đủ về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ: “Cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế” bởi vì nó “cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế qui mô và trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo”12 Mọi hình thức cải tạo quan hệ sản xuất chỉ được coi
là hợp qui luật khi nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và đưa tới năng suất lao động cao hơn, tạo điều kiện mở rộng tái sản xuất và nâng cao đời sống cho nhân dân
Như vậy, một mặt Đảng ta thừa nhận còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, mặt khác đặt vấn đề cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, nhưng không phải trong một thời gian ngắn vài ba năm, thậm chí một vài kế hoạch 5 năm, mà coi đó là nhiệm vụ tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ Đại hội VI phân tích rõ: “Mười năm qua, hai kỳ đại hội Đảng đều ghi vào nhiệm vụ căn bản hoàn thành cải tạo XHCN trong nhiệm kỳ đại hội đó, song đều chưa thực hiện được Cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái qui luật Nay phải sửa lại cho đúng như sau: “đẩy mạnh cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”13 Vấn đề cải tạo và sử dụng các
Trang 17thành phần kinh tế được thực hiện theo phương châm: sử dụng để cải tạo, cải tạo để sử dụng tốt hơn Đây là 2 mặt của một vấn đề trong thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và phương châm kết hợp cải tạo với sử dụng đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, dần ổn định tình hình kinh tế - xã hội như mục tiêu đã định.
Tuy nhiên, để tiến hành cải tạo XHCN một cách vững chắc và khai thác có hiệu quả những tiềm năng của các thành phần kinh tế phi XHCN, Đại hội VI nhấn mạnh: “làm cho kinh tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác”14 Đây là điều kiện tiên quyết trong sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta
Cùng với quan điểm đổi mới bố trí cơ cấu kinh tế, Đại hội VI cũng nhấn mạnh phải kiên quyết đổi mới cơ chếquản lý kinh tế (bao gồm hệ thống các đòn bẩy kinh tế, các hình thức và biện pháp quản lý kinh tế cụ thể), nhằm giải quyết hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Việc đồng thời đổi mới cơ chế quản lý đã tạo điều kiện cho bố trí cơ cấu kinh tế mới phù hợp với tình hình đất nước thời kỳ đầu đổi mới phát huy được tác dụng Sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI “nền kinh tế đang có những chuyển biến có ý nghĩa cả về cơ cấu và cơ chế quản lý Đã bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất đã có điều chỉnh quan trọng theo hướng tập trung cho ba chương trình kinh tế, đáp ứng có hiệu quả hơn những nhu cầu của thị trường trong nước và bước đầu mở rộng quan hệ với thị trường thế giới”15
Như vậy, trong đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề xướng tại Đại hội VI, vấn đề đổi mới bố trí cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế) được đặt trong tổng thể đường lối đổi mới toàn diện
và đồng bộ về kinh tế xã hội, với những hình thức, biện pháp, bước đi tuần tự phù hợp với đặc điểm kinh tế
-xã hội đất nước trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ Đây là cơ sở thực tiễn, lý luận quan trọng cho Đại hội VII đề ra chủ trương hoàn thiện cơ cấu kinh tế và Đại hội VIII, IX đề ra chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH
Đến nay, chúng ta đã có cơ cấu kinh tế tương đối hợp lý và đang chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong xã hội; giá trị sản xuất của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP; công nghiệp đã tăng từ 21,6% (1988) lên 41% (2005); dịch vụ từ 33,1% lên 38,5%; nông nghiệp đã giảm từ 46,3% xuống còn 20,5%; các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm đã hình thành, phát triển trên cả nước Những thành tựu mà đất nước đạt được trong những năm đầu và cả chặng đường gần 20 năm đổi mới, phát triển có nguyên nhân của sự tìm tòi, xác lập một
cơ cấu kinh tế phù hợp, trong đó Đại hội VI đóng vai trò mở đầu, đột phá
hoàn cảnh ls, nội dung cơ bản và ý nghĩa của đại hội 6(12/1986)
Trang 18diễn biến phức tạp, sx trì trệ, lạm phát tốc độ cao, nhiều mặt kt mất cân đối nghiêm trọng (làm không đủ ăn, xuất không đủ nhập, thu không đủ chi ) Các tiêu cực xh nẩy sinh và phát triển mạnh Đời sống nhân dân lao động hết sức khó khăn.
+ Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ lần thứ 3 trên TG phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt và các mối quan hệ trong từng nước và trên toàn TG
+ Trong các nước XHCN, kể cả LX và TQ, do việc xây dựng CNXH theo mô hình và phương pháp kiểu cũ cónhững mặt không còn phù hợp với điều kiện ls mới, đã bộc lộ không ít khuyết tật Nhiều nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng kt-xh, phải đi vào cải tổ, cải cách với các hình thức và mức độ khác nhau
+ Một mặt khác, nhiều nước tư bản, ĐQ trên TG, sau khi giải quyết được tình trạng khủng hoảng sâu sắc của những thập kỷ trước đây, đã nhanh chóng tiếp thu được những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ lần thứ 3, vươn lên phát triển nhanh chóng về kt, quốc phòng, đã liên kết lại để tiến hành "diễn biến hòa bình" nhằm phản kích và xóa bỏ hệ thống XHCN thế giới
+ Đổi mới đã trở thành yêu cầu cấp thiết, có tính chất sống còn đối với XHCN thế giới nói chung, đối với cách mạng vn nói riêng
2- Nội dung cơ bản:
Đại hội toàn quốc lần thứ 6 của đảng đã họp trong bối cảnh ls đó Nội dung cơ bản của đại hội là: Đánh giá đúng thực trạng tình hình hiện nay của CMVN trên tất cả các mặt thành tựu, tồn tại yếu kém, sai lầm, khuyết điểm và các nguyên nhân sâu xa của nó Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm và hoạch định đường lối đổi mới công tác lãnh đạo của đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học
+ Đại hội đã tích cực chuẩn bị từ năm 1984 qua nhiều cấp, nhiều vòng Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW đảng sẽ đọc tại đại hội không những được thảo luận trong các cơ sở đảng, mà còn được thảo luận rộng rãi trong giới trí thức, trong các viện khoa học và được tổ chức thảo luận rộng rãi trong các tổ chức quần chúng nhân dân
Nội dung đại hội có những vấn đề nổi bật sau đây:
* Về đánh giá tình hình:
+ Trên tinh thần trách nhiệm cao và thái độ "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" Đạihội đã nhận định: "Năm năm qua là 1 đoạn đường đầy thử thách đối với đảng và nhân dân ta CMVN diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp Nhân ta đã đã anh dũng phấn đấu khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Trong cả nước đã xuất hiệnnhiều cơ sở sx kinh doanh khá, nhiều đơn vị chiến đấu giỏi; Song tình hình kt xh và đời sống của nhân dân ta đang gặp nhiều khó khăn gay gắt Sản xuất tăng chậm, lưu thông phân phối có nhiều rối ren, nền kt có nhiều mặt mất cân đối, hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng "
+ Về nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém Đại hội chỉ rõ: không đánh giá thấp các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan của các yếu kém nói trên là do những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng và kéo
Trang 19dìa của sự lãnh đạo, quản lý của đảng và nhà nước Các khuyết điểm sai lầm ấy thể hiện cả trong chủ trương, chính sách lớn và trong tổ chức chỉ đạo thực hiện Khuynh hướng tư tưởng dẫn đến sai lầm ấy là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của đảng Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản, vừa "tả" khuynh, vừa hữu khuynh.
Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ củ đảng Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân
Đại hội xác định trách nhiệm đối với những sai lầm khuyết điểm đó trước hết thuộc về BCH TW đảng và hội đồng bộ trưởng
* Đại hội còn nêu lên 4 bài học kinh nghiệm lớn:
+ Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động
+ Hai là, đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
+ Ba là, phải kết hợp sức mạnh của dt với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới
+ Bốn là, phải chăm lo xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển của giai đoạn
ls mới
Bốn bài học kinh nghiệm trên có ý nghĩa rất lớn, nó không những là sự tổng kết kinh nghiệm quá trình xây dựng XHCN của nhân dân ta qua mấy chục năm qua mà còn là những định hướng rất cơ bản, mang tính quy luật cho đất nước ta xây dựng XHCN trong các giai đoạn tiếp sau
* Đại hội đã thông qua đường lối đổi mới:
Đại hội thảo luận và nhất trí thông qua đường lối đổi mới công tác lãnh đạo của đảng trong việc xây dựng CNXH ở nước ta:
+ Đại hội chủ trương đổi mới một cách toàn diện (cả về kt, chính trị, văn hóa, xh, tổ chức ), trong đó đổi mới
tư duy là cơ bản, đổi mới kt là trọng tâm, đổi mới với các hình thức và bước đi thích hợp Đổi mới trên cơ sở đảm bảo định hướng XHCN
+ Đại hội xác định: vấn đề quan trọng trước tiên là phải xác định lại mục tiêu cho sát hợp với quy luật đi lên CNXH từ nên sx nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN
+ Đại hội chỉ rõ: thời kỳ quá độ ở nước ta phải qua nhiều chặng đường Trong đó, chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn Nhiệm vụ chủ yếu của chặng đường đầu tiên là xây dựng những tiền đề chính trị, kt, xh cần thiết để triển khai công nghiệp hóa XHCN trên quy mô lớn
- Về nhiệm vụ xây dựng CNXH, đại hội đã khẳng định:
"N/vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kt-xh,tiếp tục x/dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN trong chặng đường tiếp theo"
Trang 20- Từ mục tiêu bao trùm đó, đại hội đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể:
+ Sx đủ tiêu dùng và có tích lũy;
+ Tạo ra một cơ cấu kt hợp lý nhằm phát triển sx;
+ Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sx mới;
+ Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xh
+ Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh
- Để thực hiện mục tiêu nói trên, đại hội đã đề ra 1 hệ thống giải pháp: về bố trí cơ cấu sx, cơ cấu đầu tư, về xây dựng và củng cố quan hệ sx mới, sử dụng cải tạo đúng đắn các thành phần kt; về đổi mới cơ chế quản lý;
về phát huy động lực của khoa học-kỹ thuật; về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Về phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kt, đại hội chủ trương trước hết phải xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kt.Trong hệ thống các giải pháp, đại hội nhấn mạnh phải tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu:
1- C/trình lương thực, thực phẩm
2-Chương trình hàng tiêu dùng
3-Chương trình hàng xuất khẩu
Ba chương trình mục tiêu đó, chính là sự cụ thể hóa nội dung cơ bản của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta
Tư tưởng chỉ đạo cốt lõi của đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sx hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đấtnước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển lực lượng sx đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sx XHCN
Trong khi đặt nhiệm vụ xây dựng CNXH lên hàng đầu, đại hội còn khẳng định: toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đề cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng và an ninh, đánh thắng c/tranh phá hoại nhiều mặt của
kẻ địch, chủ động bảo vệ tổ quốc trong mọi tình huống
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của đảng đã bầu đồng chí Nguyên văn linh làm tổng bí thư Các đồng chí trường chinh, phạm văn đồng, lê đức thọ được giao trách nhiệm làm cố vấn cho ban chấp hành TW đảng.3- ý nghĩa ls của đại hội 6
- Đại hội 6 là đại hội khởi xướng, mở đầu cho công cuộc đổi mới, tạo ra bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ đi lên CNXH ở VN
Trang 21- Đại hội 6 của đảng đã đánh dấu 1 bước trưởng thành vượt bậc của ĐCSVN Đại hội đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn của việc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Đường lối đổi mới của đảng đã đáp ứng được yêu cầu nguyên vọng của toàn đảng, toàn dân ta, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ls mới
- Đường lối đổi mới của đảng thể hiện quyết tâm tiếp tục giương cao ngọn cờ chủ nghĩa M-L và tthcm trong CMVN, đảm bảo mục tiêu cuối cùng là độc lập dt gắn liền với CNXH, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, năngđộng sáng tạo và bản lĩnh chính trị của đảng
- Đường lối đổi mới của đại hội 6 đã thực sự đi vào cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy nền kt nước ta phát triển, làm thay đổi bộ mặt của xh, mở đầu cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ mới của ls CMVN
- Sau đại hội 6, đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm cụ thể hóa đường lối đổi mới, đưa đường lối đổi mới đi vào cuộc sống của toàn xh
Câu 6: Nghị quyết 09-NQ/TW (9/2/2007) HNTW4 (Khoa X)- nêu mục tiêu tổng quát “ phấn đấu đư nước ta trở thành quốc gia mạnh về biể, làm giàu từ biển”
*** Thế nào là “ mạnh về biển, làm giàu từ biển”
Hệ sinh thái biển đa dạng là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng trăm ngàn loại động vật, thựcvật và vi sinh vật Biển và đại dương là kho chứa "vô tận" thủy hải sản, hóa chất, muối, dầu khí, quặng Nănglượng sạch từ biển và đại dương khai thác từ gió, nước biển, các dòng hải lưu và thuỷ triều… hiện đang được khai thác phục vụ vận tải, năng lượng và vô số lơi ích khác của con người Mặt biển và thềm lục địa là đường giao thông thuỷ, là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí… Bên cạnh
đó, biển còn có tác dụng điều hoà khí hậu Bởi vậy, người ta luôn nỗ lực tìm mọi cách khác nhau để duy trì hoặc tìm đường ra với biển
Thếmạnhcủabiển
Hệ thống cảng biển nước ta có khả năng đón tàu vạn tấn và tiếp nhận tàu chở hàng container; cảng chuyên dùng để bốc rót than lớn nhất, tàu vạn tấn có thể cập cảng lấy hàng, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của ngành than
Cùng với cảng là sự phát triển nhanh dịch vụ kho bãi, vận chuyển đường bộ, đường biển, các nhà máy, xí nghiệp phân phối xăng dầu, gas, sản xuất và phân phối sắt thép, xi măng, đóng và sửa chữa tàu biển, dệt mayCảng nước ta có một hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hậu cần đầy đủ nên nó có thể thu hút hàng hóa của thế giới đưa đến các địa phương cả nước và các tỉnh phía Nam Trung Quốc Các nhà nghiên cứu cho rằng 70% hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng đường biển Cho nên chiến lược phát triển của nước ta là tập trung phát triển cảng
Thế mạnh về kinh tế biển sẽ giúp nước ta nhanh chóng vươn lên thành một điểm đến an toàn và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế Vốn FDI vào nước ta tăng nhanh trong nhiều năm qua
Gìau về từ biển:
Là một quốc gia ven biển, hơn nữa lại nằm ở vùng biển chiến lược quan trọng của khu vực và thế giới, lợi ích cốt lõi của Việt Nam gắn với biển Nước ta có bờ biển dài hơn 3.200 km với gần 3.000 hòn đảo và một vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền Biển Đông mà nước ta nằm ven bờ
có tuyến vận tải huyết mạch với khoảng 150-200 tàu vận tải lớn qua lại mỗi ngày, chuyên chở 70% - 80% lượng hàng hóa của các nước khu vực Đây cũng là vùng biển giàu có tài nguyên, trong đó có dầu khí và thủy sản
Trang 22Song không phải nguồn tài nguyên, lợi ích biển sẽ tự nhiên đến với chúng ta Kinh tế biển ngày càng có những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước nhưng hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Muốn khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên biển cần có chiến lược, kế hoạch và từng bước đi đúng đắn, phùhợp
*** Cơ sở để Đảng ta đề ra mục tiêu “ mạnh về biển, làm giàu từ biển”
Việt Nam là quốc gia có bờ biển chạy dọc theo chiều dài của đất nước Từ xa xưa, biển đã gắn liền với sự pháttriển về kinh tế và văn hóa của dân tộc Biển nằm trong sâu lắng tâm hồn của mỗi người dân Việt
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ
27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển
Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực
Điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam Dọc
bờ biển Việt Nam xác định nhiều khu vực xây dựng cảng, trong đó có một số nơi có thể xây dựng cảng biển nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quốc, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Phía Nam, cảng quy mô vừa như Hòn Chông, Phú Quốc…
Ngoài sự hình thành mạng lưới cảng biển, các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi
Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt Trữ lượng dự báo tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác từ 4 đến 5 tỷ tấn Trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000 tỷ m3 Hiện nay chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng triệu tấn dầu và hàng tỷm3 khí phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệuxâydựngkhác
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Theo các điều tra về nguồn lợi hảisản, tính đa dạng sinh học trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú, trong
đó có 6.000 loài động vật đáy, 2.400 loài cá (trong đó có 130 loài cá có giá trị kinh tế), 653 loài rong biển, 657loài động vật phù sa, 537 loài thực vật phù du, 225 loài tôm biển… Trữ lượng cá biển ước tính trong khoảng
từ 3,1 đến 4,1 triệu tấn, khả năng khai thác từ 1,4 đến 1,6 triệu tấn Nguồn lợi hải sản phong phú đã góp phần đưa ngành thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại giá trị xuất khẩu đứng thứ 3 trong các ngành kinh tế của đất nước
Biển Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch - ngành công nghiệp không khói, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển đã tạo thành nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiênnhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non nước…, các di tích lịch sử và văn hóa như: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, Nhà thờ đá Phát Diệm… phân bố tại vùng ven biển Tiềm năng du lịch kể trên rất phù hợp để Việt Nam phát triển và đa dạng
Trang 23các loại hình du lịch hiện đại như nghỉ ngơi; dưỡng bệnh; tắm biển; du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước; du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền
*** Gỉai pháp để thực hiện mục tiêu:
Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước
Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh,
sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển
Nghị quyết cũng đã xác định sát đúng và cụ thể về phát triển kinh tế biển đến năm 2020 trên lĩnh vực kinh tế
-xã hội; chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển
Kinh tế biển, ven biển được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển kết hợp phát triển lâm nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản gắn phát triển nuôi trồng với nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt; tăng nhanh các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh
tế biển bền vững với đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển; xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; quy hoạch, triển khai xây dựng cụm công nghiệp ven biển; công tác quản lý Nhà nước về biển và công tác Cải cách hành chính phục vụ phát triển kinh tế cảng và
du lịch được quan tâm đẩy mạnh; thiết lập các dự án, công trình nâng cao chất lượng môi trường ven biển, cải thiện môi trường ven biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo; phổ biến, cập nhật những văn bản chuyên ngành trong nước về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vữngtài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho cán bộ, công chức, đơn vị vũ trang thực thi nhiệm vụ trên khu vực biển, hải đảo; tìm hiểu, phân tích và phổ biến về những khác biệt của hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động trên biển của Việt Nam so với pháp luật một số nước trong khu vực; nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo; tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển (nhất là đối với công chức tư pháp cấp xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo); nâng cao nhận thức về vị thế quốc gia biển và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo
Câu 7: Cho biết ưu điểm và khuyết tật của nền kinh tế thị trường Phân tích để làm rõ tính định hướng XHCN trong mô hình kinh tế Việt Nam
*** Khái niệm nền kinh tế thị trường :
Trang 24Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế KHi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường ( người bán cần tiến, người mua cần bán và họ phải gặp nhau trên thị trường ) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh, Doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý Do vậy, nó luôn tạo ra lực lưojng sản xuất cho xã hội, tạo
ra sự dư thừa hàng hóa để cho phép thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa
*** Những ưu điểm của kinh tế thị trường:
Thứ nhất, cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động có hiệu quả
Thứ hai, sự tác động của cơ chế thị trường sẽ đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ cấu của sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội Nhờ đó có thể đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu dùng
cá nhân về các loại sản phẩm khác nhau
Thứ ba, cơ chế thị trường kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất Sức ép cạnh tranh buộc những người sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu, bằng cách áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, nâng cao hiệu quả
Thứ tư, cơ chế thị trường thực hiện phân phối các nguồn lực kinh tế một cách tối ưu Trong nền kinh tế thị trường việc lưu động, di chuyển, phân phối các yếu tố sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc thị trường, chúng sẽ chuyển đến nơi được sử dụng với hiệu quả cao nhất, do đó các nguồn lực kinh tế được phân bố một cách tối ưu
Thứ năm, sự điều tiết của cơ chế thị trường mềm dẻo hơn sự điều chỉnh của cơ quan nhà nước và có khả năng thích nghi cao hơn trước những điều kiện kinh tế biến đổi, làm thích ứng kịp thời sản xuất với nhu cầu
xã hội
*** Những khuyết tật của kinh tế thị trường
KTTT chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của
- Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người, do đó hiệu quả kinh tế - xã hội không được đảm bảo
- Phân phối thu nhập không công bằng Sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo,
sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình người
- Một nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết thuần túy khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chất chu ký và thất nghiệp
Trang 25*** Tính định hướng XHCN trong mô hình kinh tế Việt Nam thể hiện qua :
- Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: phát triển LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng QHSX mới phù hợp trên tất cả ba mặt: sở hữu, quản lý, phân phối nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Về sở hữu: Sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
- Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, tăng năng suất lao động, thực hiện công bằng xã hội và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt
mà không tính đến hiệu quả như trước đây
- Về quản lý: Trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ quản lý kinh tế nhà nước bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chínhsách Đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường
- Về phân phối: Kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hoá các hình thức phân phối Thưc hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội, nó có tác dụng: tạo động lực kích thích các chủ thể, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế bất công trong xã hội Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ công bằng xã hội
- Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta còn thể hiện ở chỗ: Tăng trưởng kinh
tế đi đôi với phát triển văn hóa giáo dục, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Làm cho chủnghĩa Mác - Lênin , Tư tưởng hồ Chí Minh đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân Nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Câu 8: So sánh mô hình công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới và trước đổi mới Trong các yếu tố tham gia vào quátrình CNH-HDH yếu tố nào có vai trò quyết định?Vì sao?Hãy trình bày những giải pháp để phát huy yếu tố đó
* Ba là, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ mới, tạo ra hạ tầng cơ sở vững chắccho chủ nghĩa xã hội ở nước ta
* Bốn là, tiến hành công nghiệp hoá trước đây và hiện nay đều phải được thực hiện theo hướng hiện đại hoá tuy có sự khác nhau về mức độ
* Năm là, đường lối CNH của Đảng luôn nhấn mạnh đến yếu tố khoa học kỹ thuật công nghệ (then chốt, quyết định…), luôn xác định khoa học là LLSX trực tiếp, hướng hoặc đề cập trực tiếp tới công nghệ tiên tiến, công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao… nhưng những gì đạt được trên thực tế lại cho thấy khoa học và công nghệ chưa được hiểu một cách đầy đủ, thống nhất, xứng tầm
* Sáu là, CNH bằng con đường thích hợp để đưa Tổ quốc phát triển đạt trình độ cao về mọi mặt là mạch tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 26* Bảy là, mục tiêu CNH có nhiều điểm giống nhau:Mục tiêu cơ bản của CNH luôn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với không ngừng cải thiện đời sống nhân dân và cải biến nước ta thành một nước công nghiệp
*** Điểm khác :
* Công nghiệp hoá trước đây được tiến hành theo cơ chế cũ, tập trung quan liêu, bao cấp; thực hiện kế hoạch hoá tập trung với các chỉ tiêu pháp lệnh Ngày nay, chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế mới, là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng; thị trường phản ánh nhu cầu xã hội, có tiếng nói quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo
* Trước đây, công nghiệp hoá thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc doanh và tập thể là chủ yếu Ngày nay, nó là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
* Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng linh hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt đối Đồng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình
sở hữu
* Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, Đảng ta đã đề ra quan điểm xây dựng nền kinh tế mở cả trong nước và với bên ngoài; đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền; thúc đẩy mở cửa, khuyến khích các hình thức hợp tác, liên doanh nhằm thu hút vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài
* Quan niệm của chúng ta về công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng được điều chỉnh phù hợp với xu thế quốc tế hoá về kinh tế Trước đây, chúng ta thường thực hiện các công trình theo kiểu khép kín, làm từ đầu đến cuối Ngày nay, chúng ta có thể đi từ lắp ráp, tiến tới sản xuất trong nước một phần với tỷ lệ tăng dần, thích hợp Trên thế giới hiện nay, không ít sản phẩm hoàn chỉnh là kết quả hợp tác của nhiều nước Một số sản phẩm mà chúng ta sản xuất cũng có thể làm theo cách đó
* Thứ nhất, về cách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây dựng QHSX XHCN trong quá trình công nghiệp hóa Trước đây, CNH trong nền kinh tế hiện vật (có trao đổi), không thừa nhận thị trường và cạnh tranh nên rất hạn chế trong việc tìm động lực phát triển LLSX từ khoa học và kỹ thuật Thời kỳ đổi mới mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất– kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xu
* Thứ hai, về bước đi, tốc độ của công nghiệp hóa Trước đây, đường lối CNH chuyển từ CNH XHCN với cách làm nóng vội, bỏ qua các bước đi trung gian cần thiết Thời kỳ đổi mới,cơ cấu kinh tế hợp lý với từng thời đoạn; con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước
* Thứ ba, xây dựng cơ cấu kinh tế (mối quan hệ giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, kinh
tế trung ương, kinh tế địa phương, sản xuất, phân phối, tiêu dùng); cơ chế và mô hình nền kinh tế trong quá trình CNH Trước đây về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa theo cơ cấu kinh tế khép kín, nhất thiết phải đi từ công nghiệp nặng Thời kỳ đổi mới,là xác định bước đi của công nghiệp hoá trong cơ cấu kinh tế, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp tư liệu sản xuất
* Thứ tư, CNH, HĐH gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển nhanh, bền vững Từ quan niệm CNH
cổ điển chuyển sang quan niệm CNH, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, thực hiện các mục tiêu phát triển trước mắt phải đi đôi với yêu cầu không làm tổn hại đến khả năng phát triển trong tương lai (phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường)
*** Trong các yếu tố tham gia vào quá trình CNH-HDH yếu tố nào có vai trò quyết định?Vì sao?
Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định Bởi vì:
Trang 27Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng chỉ có tác dụng và có ý thức của con người Bởi lẽ con người là ngùn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí biết lợi dụng, các nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũngtác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người nên con người biết cách tác động và chi phối Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quantrọng nhất.
Thứ hai: Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai thác Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô tận Tính vô tận, trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh mà còn tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới không ngừng phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận Xét trên bình diện cộng đồng nhân loại
Thứ ba: Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Dự báo này của Mác đã và đang trở thành hiện thực Sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại đang dẫn các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế trí tuệ (mà gọi là tri thức) Ở những nước này lực lượng sản xuất trí tuệ ngày càng phát triển
và chiếm tỷ trọng cao Nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tới 1/2 tổng giá trị tài sản quốc gia Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức nhờ có cuộc cách mạng con người có thể tạo ra những máy móc "bắt chước" hay phỏng theo những đặc tính trí tuệ của chính con người Rõ ràng bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến sự biến đổi thần kỳ của mình
Thứ tư: Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào hoạch định đường lối chính sách cũng như tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
*** Những giải pháp để phát huy yếu tố con người:
Chăm sóc đào tạo phát huy nguồn lực con người phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nói đến nguồn lực con người là nói đến sức mạnh trí tuệ tay nghề Phương hướng chủ yếu của đổi mới giáo dục - đào tạo là phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước, tức là cuối cùng phải tạo ra được nguồn lực con người
Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến, công nghệ
Phải mau chóng làm cho khoa học và công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Giáo dục đại học phải kết hợp với nghiên cứu khoa học, phát triển khoa học cả về cơ bản và ứng dụng
Bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá với diện đại trà, đồng thời đặc biệt chú ý tới mũi nhọn - có chính sách phát hiện bồi dưỡng và sử dụng người tài mau chóng tăng cường đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, từ các nghệ nhân làm các nghề truyền thống đến các chuyên gia công nghệ cao
Giáo dục và đào tạo kết hợp chặt chẽ với khoa học kỹ thuật công nghệ mới có thể đóng góp xứng đangs vào phát huy nguồn lực con người, tuy nhiên một yếu tố mà ngày nay con người cần phải hoàn thiện đó là Cần coi trọng mặt đạo đức nhân cách của nguồn lực con người
Muốn có nguồn lực con người đáp ứng được công cuộc đổi mới giáo dục nhà trường cùng với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội phải làm tốt việc phát động một cao trào học tập trong toàn Đảng toàn dân, toàn quân nhằm đào tạo nên những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời là mục tiêu của chủ
Trang 28nghĩa xã hội Vậy mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người.
Câu 9: Một trong những quan điểm của Đảng ta trong quá trình CNH-HDH là: phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đu rnhu cầu của thế hệ tương lai Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triểnkinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - xã hội – môi trường
Công bằng xã hội:
Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lenin, dưới công bằng xã hội, công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng ngang nhaunhững giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng thực hiện của đất nước
Tại sao phải “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công
xã hội, bảo vệ MTTN và bảo tồn đa dạng sinh học”
Lịch sử công nghiệp hóa thế giới cho đến nay đã trải qua hơn 200 năm, kể từ cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ thứ XVIII ở nước Anh Khi đó, theo cách hiểu đơn giản, công nghiệp hóa đơn thuần chỉ là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, nhằm biến một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị , xã hội mà quá trình phát triển công nghiệp hóa ở mỗi quốc gia có những sự khác biệt Ở Việt Nam, đường lối công nghiệp hóa có thể chia ra làm 2 thời kỳ chính, trước và sau khi đổi mới ( Đại hội Đảng VI -1986)
Trước thời kỳ đổi mới, quá trình công nghiệp hóa của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Thực hiện công nghiệp hóa được 4 năm (1960 – 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc Khi đất nước vừa thống nhất (1975), cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội được vài năm thì lại xảy ra chiến tranh biên giới phía bắc, rồi kết thúc cuộc chiến này lại kéo theo sự cấm vận của Mỹ Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có khoảng 25 năm tiến hành công nghiệp hóa theo 2 giai đoạn: từ 1960 đến 1975 công nghiệp hóa ở miền Bắc và từ 1975 – 1985 công nghiệp hóa trên phạm vi cả nước Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
là xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn
Trang 29Sau năm 1986 Đảng và nhà nước ta đã nhấn mạnh: Phát triển theo định hướng XHCN đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Đại hội VII đã nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”
Xây dựng xã hội ở nước ta thực chất là nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.Để thực hện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững chỉ có như vậy mới có khả năng xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch ở các vùng với nhau
Mặt khác, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Mỗi bước tăng trưởng kinh tế lại tạo ra điều kiện để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội cao hơn nữa Vì vậy cần
“thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phats triển” điều đó đòi hỏi phải kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từn lĩnh vực, địa phương, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi nghĩa vụ, cống hiến, hưởng thụ,tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế xã hội
Sự phát triển nhanh, hiệu quả bền vững có quan hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học Môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học là môi trường sống và hoạt động kinh tế của con người Bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học chính là bảo vệ điều kiện sống của con người
và cũng là nội dung của sự phát triển bền vững Nếu môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, rừng bị tànphá, đất bị xói mòn và tình trạng sa mạc hoá, biến đổi khí hậu, nguy cơ nước biển dâng… làm thu hẹp không gian sinh tồn của con người chẳng những tác động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà còn đe doạ sự phát triểncủa các thế hệ tương lai
Đối với nước ta, tình trạng ô nhiễm môi trường và những nguy cơ do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là những thách thức to lớn Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường; chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng; sử dụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, phát triển kinh tếxanh là nội dung có tác động mạnh nhất đến phát triển bền vững, phải được thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như trong từng lĩnh vực, ở từng địa phương, đơn vị
Mặt khác bước vào thời kỳ đổi mới, các điều kiện trong nước có nhiều thay đổi Trong nước, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộckhủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Kinh tế phát triển chưa bền vững Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, cung ứng điện chưa đáp ứng yêu cầu Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải; quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn bất cập Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm cản trở sự phát triển Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia
Trên cơ sở phân tích khoa hoc các điều kiện đó, Đảng ta nêu ra các quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới Một trong những quan điểm khá quan trọng
Trang 30của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới là: “Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên bảo tồn đa dạng sinh học”.
Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ:Trong năm 2009, Nhà nước hỗ trợ lãi suất chocác tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất - kinh doanh, nhằm giảm giá thành sản phẩm hàng hoá, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm, trong điều kiện nền kinh tế bị tác động của khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế thế giới
Chính sách giao đất giao rừng:Chúng ta có thể thấy được chính sách giao đất giao rừng thực sự có vai trò rất lớn trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng bền vững
Dư án 661 về trồng mới 5 triệu ha rừng:Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một chương trình kinh tế - xã hội - sinh thái trọng điểm của Nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu hecta rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam
Chính sách tăng cường cán bộ cho các xã thuộc huyện nghèo Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo 600 tri thức trẻ ưu tú có trình độ đại học tăng cường về làm 62 huyện nghèo Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo: Định mức hỗ trợ: 30.000 đồng/tháng/hộ, thời gian thực hiện chính sách bắt đầu từ 01/3/2011
Hỗ trợ xuất khẩu nông sản:Đối với sản phẩm gạo,Đối với mặt hàng cà phê
Luật bảo vệ môi nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu
Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ MTTN và bảo tồn đa dạng sinh học”Tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong giai đoạn vừa qua đã góp phần tạo cơ sở để bước đầu giải quyết vấn đề công bằng và tiến bộ xã hội Công bằng xã hội là công bằng về các quyền của con người (các quyền sống của con người) và về điều kiện thực hiện các quyền đó (điều kiện sống) của các cá nhân (hay rộng hơn là của cả chủ thể xã hội Tuy nhiên, trong các xã hội phát triển hiện đại, trong tư duy phát triển hiện đại, nội hàm của công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể Điều này thể hiện ở nội dung quan trọng nhất của công bằng xã hội không phải là công bằng về phân phối thu nhập mà là công bằng về cơ hội phát triển Từ
đó dẫn tới một nhận thức mới về công bằng xã hội là quy vấn đề công bằng xã hội về cơ hội phát triển và năng lực thực hiện cơ hội, nội hàm của công bằng xã hội sẽ phải bao hàm cả công bằng sự công bằng trong việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội Trong xã hội, khi một chủ thể có cơ hội phát triển bình đẳng với các chủ thể khác thì có nghĩa là chủ thể ấy có cơ sở bền vững để đạt được và duy trì một cách vững chắc sự công bằng trong thu nhập Tác động của tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết vấn đề công bằng và tiến bộ xã hội ở nước ta có thể xem xét trên các mặt sau:
Tăng trưởng kinh tế với vấn đề giải quyết việc làm
Tăng trưởng kinh tế với nâng cao thu nhập cho nhân dân, xóa đói giảm nghèo
Tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục, y tế
Tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực BVMT Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về BVMT đã được hoàn thiện một bước với sự ra đờicủa Luật BVMT 2005 và Luật Đa dạng sinh học 2008 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã được tăng cường Tổng cục Môi trường được thành lập với vai trò quản lý, tổ chức và điều phối các hoạt độngBVMT trên phạm vi cả nước Lực lượng Cảnh sát môi trường được hình thành, hoạt động ổn định, phát huy tác dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường UBBVMT lưu vực các sông lớn, tổ chức quản
lý môi trường ở các Bộ, ngành và địa phương được thiết lập, bước đầu hoạt động có hiệu quả Các dự án đầu
tư cải thiện môi trường, chi thường xuyên cho công tác BVMT được bảo đảm ở mức tốt hơn Nhìn chung, cácđiều kiện cơ bản, thiết yếu làm tiền đề, tạo thế và lực cho công tác BVMT thời gian tới đã được đáp ứng
Trang 31Ý thức, trách nhiệm BVMT trong xã hội được nâng cao Nhiều vấn đề môi trường bức xúc, kéo dài được giải quyết dứt điểm Các giải pháp BVMT trong các dự án phát triển KT - XH đã được quan tâm đầu tư thực hiện
Đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị xanh, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất xanh, mô hình kinh tế sinh thái Các ngành, lĩnh vực đã huy động được nhiều nguồn lực, sự hỗ trợ của quốc tế và từng bước chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bên cạnh đó thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
mà điển hình là hệ thống vườn quốc gia như: vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Cát Bà, Cát Tiên, Bạch Mã, Ba Vì…Hệ thống vườn quốc gia này không chỉ là những kho báu với nhiều loài động vật quý hiếm như bò tót, voi châu Á, gà lôi hồng tía, vượn đen má vàng mà còn là kiểu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thấp với nhiều loại gỗ quý như: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai cùng nhiều loại cây cổ thụ hàng chục người ôm không xuể Đây chính là môi trường sống quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn sự đa dạng sinh học, bao gồm cả những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, có giá trị nổi bật toàn cầu theo quan điểm cả về khoa học lẫn bảo tồn
Những mặt hạn chế
Trong những năm qua, tuy nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng như đánh giá trên đây, song vẫn còn không ít yếu kém và khuyết điểm về tăng trưởng kinh tế, công bằng và tiến bộ xã hội cũng như việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội ở Việt Nam Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp.Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn,lạm phát còn cao Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng
Tăng trưởng kinh tế tuy đạt cao và tương đối ổn định song chưa bền vững và chất lượng tăng trưởng thấp Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các doanh nghiệp và của sản phẩm còn thấp Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thứ hạng năng lực cạnh tranh (GCI) của Việt Nam thấp là nạn tham nhũng, bộ máy hành chính kém hiệu quả, kết cấu hạ tầng chưa thích hợp, lực lượng lao động chưa được đào tạo tương xứng, quy định về thuế bất hợp lý, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính yếu
Về khía cạnh công bằng xã hội cũng bộc lộ một số yếu kém Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân
cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi đang có xu hướng dãn ra Hệ số GINI của Việt Nam vẫn ở mức cao và có xu hướng tăng, việc xoá đói giảm nghèo có xu hướng chậm lại, số hộ tái nghèo tăng lên Mô hình tăng trưởng và phân bổ nguồn lực là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp mạnh nhất là lâu dài đến việc tạo lập công bằng và tiến bộ xã hội Mô hình " thị trường- hướng về xuất khẩu" được triển khai trên thực
tế lại chệch sang xu hướng" thị trường- thay thế nhập khẩu" Tăng trưởng cao nhưng không mở rộng cơ hội việc làm tương ứng Phân phối thu nhập không được thực hiện một cách đồng đều Một phần lớn thu nhập được chuyển sang những người sở hữu các nguồn lực khác ngoài lao động thay vì chuyển một phần thoả đángcho những người sở hữu sức lao động mà thiếu các nguồn lực khác Vì vậy, khoảng cách giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo ngày càng dãn ra Có một nhóm người giàu nhanh nhờ đặc quyền tiếp cận với các nguồn lực phát triển Cơ chế xin-cho, bảo hộ nhà nước, cộng thêm vào đó là môi trường kinh doanh không bình đẳng, cơ hội phát triển của tư nhân bị hạn chế, hình thành các nhóm lợi ích mạnh, làm méo mó quy hoạch và định hướng phát triển Nhìn ở một khía cạnh khác, tình trạng chênh lệch thu nhập và phân hoá giàu nghèo cung như bất bình đẳng có phần gia tăng trong thời gian qua ở nước ta phản ánh một xu hướng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Về vấn đề giáo dục, y tế: Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp; phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới Kiến thức cơ bản về xã hội, kỹ năng thực hành và khả năng tự học của số đông học sinh phổ thông còn kém Nhà trường phổ thông vẫn chưa khắc phục được tình trạng thiên về dạy chữ, nhẹ
về dạy người Công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS và THPT còn chưa được quan tâm
Trang 32đúng mức Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất cập Đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa thừa, chưa đồng bộ; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận còn thấp Một số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm được giải quyết Tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan tồn tại từ nhiều năm nay, có những biểu hiện tiêu cực nhưng chưa tìm được giải pháp cơ bản để ngăn chặn có hiệu quả Bệnh thành tích đãtác động đến quá trình giảng dạy, học tập, đánh giá học sinh, cũng như công tác quản lý giáo dục, và đây là một trong những nguyên nhân làm cho việc đánh giá tình hình giáo dục, nhất là về chất lượng, chưa phản ánh hết thực chất.
Về y tế: Chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân Điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Đầu tư của Nhànước cho y tế còn thấp, phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hợp lý y tế cơ sở vừa yếu, vừa thiếu nên không điều trị được những bệnh khó Hầu hết người dân đều có tư tưởng đưa người bệnh vượt tuyến về các chuyên khoa, các viện ở Trung ương gây nên tình trạng quá tải cho tuyến trên, trong khi đó các thầy thuốc tuyến dưới hầu như không có việc, kỹ năng chuyên môn cũng vì thế mai một, giảm sút
Về môi trường: Chất lượng môi trường đang tiếp tục xấu đi gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và đời sống của nhân dân Ô nhiễm đất, nước, không khí đang lan rộng, có nơi ở mức độ trầm trọng, không những tại các khu công nghiệp, khu đô thị dân cư đông đúc mà cả ở những vùng nông thôn Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tràn lan, quá mức, thiếu sự kiểm soát Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt, đã xuất hiện các ’’dòng sông chết’’ Đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm, gây mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi Biến đổi khí hậu đã gây ra triều cường, lũ, lụt, mưa, bão với cường độ ngày càng lớn, diễn biến phức tạp, khó lường Lịch sử của ngành khí tượng chưa bao giờ thấy hiện tượng lượng mưa trong một ngày gần bằng lượng mưa của cả một năm như ở miền Trung nước ta trong năm vừa qua Hàng năm, chúng ta phải hứng chịuhàng chục cơn bão, mưa lũ làm chết hàng trăm người, gây thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng Thành quả xây dựng và phát triển của địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể biến mất nếu không dự báo đúng và có biện pháp ứng phó kịp thời Những vấn đề nêu trên nếu không có giải pháp cấp thiết, thỏa đáng sẽ là lực cản lớn đối với quá trình phát triển KT - XH, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nước
Một số ý kiến để khắc phục những hạn chế và thực hiện hiệu quả hơn nữa quan điểm của Đảng
Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng
Hai là, phải thật sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững Nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh
và bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo,
Trang 33đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụchiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Bốn là,bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình ’’tăng trưởng xanh’’ đã được đề cập trong Chiến lược phát triển KT - XH giai đoạn 2010 - 2020 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH Chúng ta cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với BVMT, ứng phó với BĐKH; xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh vì đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước ta
Năm là,tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế
Câu 10 :Nêu vắn tắt quy luật thành lập Đảng ? Ý nghĩa của quy luật này vào vấn đề xây dựng và phát triển Đảng hiện nay?
1 Quy luật hình thành chính Đảng: Đảng CS là sản phẩm của sự kết hợp giữa CN Mac với phong trào công nhân
Từ khi xuất hiện, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống lại ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản Những cuộc đấu tranh này trải qua từng giai đoạn từ thấp đến cao, từ những cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế đến những cuộc đấu tranh vì lợi ích chính trị Lúc đầu những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trải qua nhiều tổn thất, chưa đạt được mục đích Một trong những nguyên nhân thất bại này là chưa có một học thuyết khoa học và CM dẫn đường
CN Mac là một học thuyết khoa học và CM , ra đời vào những năm 40 của TK 19 Sự ra đời của nó đáp ứng được yêu cầu phát triển của giai cấp vô sản Học thuyết này nhanh chóng được một bộ phận tiên tiến trong giai cấp công nhân tiếp thu Sau khi tiếp thu CN Mac, họ thấy rằng cần hình thành một chính đảng để lãnh đạophong trào Chính đảng ấy là Đảng Cộng Sản Dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân có bước phát triển nhảy vọt về chất (từ tự phát sang tự giác) Sau khi Đảng CS được hình thành,
sự kết hợp này vẫn cần được tiếp tục duy trì nhằm nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp công nhân
2 Quá trình ra đời của Đảng ta:
Ở VN, Đảng Cộng Sản ra đời 32/1930/ ĐCSVN ra đời là sự kết hợp nguyên lý chung, và có những đặc thù riêng vì:
Phong trào yêu nước có sớm hơn phong trào công nhân như các phong trào do các vị lãnh tụ lãnh đạo : Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám
Trang 34Cả 2 phong trào đều có chung kẻ thù và mục tiêu đấu tranh vì vậy khi CN Mac-Lenin được truyền bá vào phong trào công nhân thì cũng được truyền bá vào phong trào yêu nước Đảng Cộng Sản VN là sản phẩm của
sự kết hợp CN Mac-Lenin với phong trào CNVN và phong trào yêu nước
Câu 11: Tại sao Đảng ta lại thực hiện chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Cách mạng sau năm 1939 Nội dung của sự chuyển hướng chiến lược cách mạng đó của Đảng
- Vì: Đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 và sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Đường lối đó kết tinh trí tuệ của Trung ương Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm thực hiện Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Trong thời kỳ 1939-1945, có 6 nghị quyết quan trọng của Đảng có vai trò quyết định trực tiếp tới thắng lợi Mỗi nghịquyết được xây dựng trong mỗi hoàn cảnh lịch sử khác nhau, có vị trí, vai trò nhất định, đảm bảo tính phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin và thể hiện tập trung sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thực hiện nhiệm vụchủ yếu là đấu tranh giải phóng dân tộc
- Nội dung của sự chuyển hướng chiến lược cách mạng đó của Đảng:
- Nghị quyết Trung ương 6 của Đảng ngày 6,7,8.11.1939 được thông qua tại Hội nghị Trung ương do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ và các đồng chí Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn chủ trì, tại Bà Điểm (Gia Định cũ) Nghị quyếtnhận định về chiến tranh thế giới thứ hai và dự báo cách mạng Trung Quốc sẽ thắng “chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng và tiền đồ cách mệnh giải phóng Đông Dương nhất định sẽ quang minh rực rỡ” Nghị quyết chỉ r” việc thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương để chống chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến Tập trung vàonhiệm vụ lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của
đế quốc và tay sai phản bội quyền lợi dân tộcẶ Đảng đánh giá khá toàn diện, sâu sắc về vị trí vấn đề dân tộc, thái độ các giai cấp đối với vấn đề dân tộc, kết hợp phong trào giải phóng dân tộc Đông Dương Chính sách của Đảng cộng sản Đông Dương “không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập” Nghị quyết Trung ương 6 trình bày khá phong phú, toàn diện, những vấn đề lý luận cách mạng cụ thể, dễ thực hiện Nội dung nghị quyết đánh đấu sự chuyển hướng bước đầu nhưng dứt khoát về chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời
kỳ trực tiếp chuẩn bị đấu tranh giải phóng dân tộc
- Hội nghị Trung ương 7 ngày 6, 7, 8, 9.11.1940 tại Đình Bảng (Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh, HoàngVăn Thụ chủ trì nhận định tình hình thế giới và Đông Dương, chỉ r” kẻ thù lúc này là phát xít Nhật - Pháp và tay sai phản động “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnhthiêng liêng: lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương v” trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập” Nghị quyết chỉ r” việc tập trung xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế và đặt hẳn vấn đề mở rộng các đội tự vệ, “trực tiếp v” trang cho dân chúng cùng Đảng tổ chức nhân dân cách mệnh quân, trực tiếp tham gia điều khiển bạo động” Các cuộc khởi nghĩa Bắc sơn (9.1940), Nam kỳ (11.1940) và cuộc binh biến
Đô Lương (1.1941) đã bùng nổ, báo hiệu đấu tranh vũ trang giải phóng của các dân tộc Đông Dương đã bắt đầu
- Tháng 2.1941 lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về nước Tháng 5.1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 tại Pắc Bó (Cao Bằng) Sau khi phân tích r” tình hình thế giới và chính sách của Pháp, Nhật, tình hình cách mạng Đông Dương, Nghị quyết chỉ r” “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới
sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” Nghị quyết quyết định thành lập Việt Minh, bao gồm tất cả các tổ chức quần chúng cứu quốc Văn kiện đó đã chỉ r”các điều kiện và xúc tiến các công việc lớn chuẩn bị lực lượng toàn quốc cho v” trang khởi nghĩa như xây
Trang 35dựng khu căn cứ du kích, tập trung sự lãnh đạo của Đảng với các tổ chức vũ trang, sẵn sàng khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, mở đường cho tổng khởi nghĩa Nghị quyết chỉ r” các nội dung về Đảng lãnh đạoMặt trận Việt Minh Nghị quyết Trung ương 8 đã phát triển khá hoàn chỉnh và sâu sắc vấn đề chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giải phóng dân tộc Nó có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945.
- Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (Hà Nội ) tháng 2.1943 chỉ r” sau 6.1941, tính chất chiến tranh thế giới thay đổi, chiến tranh sẽ phức tạp, quyết liệt, tàn phá dữ dội; Liên Xô cùng phe dân chủ sẽ thắng; Pháp - Nhật sẽ xung đột, phong trào cách mạng sẽ lớn mạnh “có thể bỗng chốc tiến lên bằngnhững bước nhảy cao” Nghị quyết chủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật - Pháp, đặc biệt chủ trương đặt mình vào tình thế khẩn cấp, gấp chuẩn bị khởi nghĩa, tích cực tuyên tuyền, tổ chức tranh đấu, vận động các giới công vận, nông vận, thanh vận, binh vận, phụ vận, vận động phú hào, dân tộc thiểu số, chuẩn bị kế hoạch toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp tới “Quân Anh - Mỹ - Trung Quốc sẽ vào Đông Dương diệt Nhật Khi ấy ta phải lợi đúng dịp tốt khởi nghĩa giành chính quyền đồng thời giao thiệp với Anh - Mỹ - Trung Quốc để họ công nhận quyền tự do độc lập của nhân dân Đông Dương và rút ra khỏi Đông Dương sau khi đã cùng ta đánh bại phát xít Nhật- Pháp “
Nghị quyết này là bước phát triển mới và thể hiện sự nhạy bén chính trị, tư duy đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta
I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3
1 Khái niệm về kinh tế thị trường 3
2 Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường 3
3 Các mô hình phát triển kinh tế thị trường trong lịch sử 5
4 Một số nhận xét khái quát về quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường thông qua ba môhình cơ bản 7
II XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆTNAM 7
1 Quá trình hình thành đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.7
2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 10
3 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 11
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM: 12
1 Thành tựu 12
I.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Khái niệm về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ rệt nhất trong chủnghĩa tư bản Nếu trước chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường còn ở thời kỳ manh nha, trình độ thấp thì trongchủ nghĩa tư bản nó đạt đến trình độ cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó.Điều đó khiến cho người ta nghĩ rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản Và cũng theo
C Mác, nền kinh tế TBCN chính là nền kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh
Trang 36Tuy nhiên, CNTB không sản sinh ra kinh tế hàng hóa, do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tếhàng hóa ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chungcủa nhân loại.
Kinh tế thị trường “là phương thức vận hành nền kinh tế lấy thị trường hình thành do trao đổi và lưuthông hàng hóa làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế, lấy lợi ích vật chất cung – cầu thị trường và traođổi mua bán làm cơ chế khuyến khích hoạt động và vận hành kinh tế.”
Kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trảiqua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển Nấc thang cao hơn nền kinh tế TBCN chính là nềnkinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế XHCN Để chuyển lên nấc thang này, nền kinh tếthị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội Do đó, kinh tế thịtrường được xác định là một nấc thang tất yếu, là mang tính phổ biến
2 Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường có 5 yếu tố cơ bản:
2.1 Thứ nhất: Chủ thể của nền kinh tế
- Nền kinh tế thị trường có nhiều hình thức sở hữu:
Sở hữu tư nhân
Sở hữu nhà nước
Sở hữu tập thể
- Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau
- Nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu, trong đó sở hữu tư nhân luôn là thành tố tất yếu, bắtbuộc
- Các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu độc lập, bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong kinhdoanh Nhưng mỗi hình thức sở hữu và chủ thể sở hữu có vai trò, vị thế, chức năng đặc thù
2.2 Thứ hai: Hệ thống đồng bộ các thị trường và thể chế tương ứng
- Nền KTTT là một hệ thống hữu cơ mang tính xã hội hóa cao Sự vận hành của nó luôn là sự vận hànhtổng thể của các yếu tố cấu thành và thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của thị trường trên cơ sở được sựbảo đảm của pháp luật
- Nền KTTT có hiệu quả phải đạt hai yêu cầu:
Có sự hiện diện đầy đủ thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng tiêu dùng
Các thị trường phải vận hành đồng bộ
- Để đáp ứng hai yêu cầu này, việc vận hành và phát triển các thị trường phải tuân theo một trật tự bước
đi xác định, nếu không sẽ dẫn đến sự rối loạn, vận hành kém hiệu quả
2.3 Thứ 3: Giá cả do cung cầu thị trường quyết định
- Hệ thống giá cả do cung cầu thị trường quyết định là yếu tố cốt lõi quyết định sự vận hành của nềnkinh tế thị trường
- Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là động lực chủ yếu thúc đẩy nổ lực hoạt động và hiệu quả kinh doanhcủa danh nghiệp
- Giá cả được thiết định trên các cơ sở khách quan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết
2.4 Thứ tư: Cạnh tranh tự do
- Nguyên tắc vận hành cơ bản là cạnh tranh tự do
- Cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh hay còn gọi là “bàn tay vô hình”
- Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bố các nguồn lực.Các nguồn lực rút ra khỏi ngành, lĩnh vực, địađiểm đang hoạt động kém hiệu quả đến những nơi có lợi thế phát triển Cạnh tranh là cơ chế phân bổ cácnguồn lực hiệu quả nhất
2.5 Thứ năm: Vai trò của nhà nước
Trang 37- Nền kinh tế quá chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu
cơ bản của xã hội, công trình công cộng; đặt lợi nhuận lên hàng đầu, không chú ý đến hàng hóa công cộng(đường xá, y tế, giáo dục,…) Dễ đi vào hướng suy thoái, khủng hoảng, xung đột xã hội, … Nên cần có sựcan thiệp của nhà nước Nhà nước có các chức năng:
- Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển;
- Phân phối lại thu nhập quốc dân;
- Bảo vệ môi trường
- Nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ:
- Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với cơ chế thị trường
- Kiến tạo và đảm bảo môi trường vĩ mô ổn định, khuyến khích kinh doanh
- Cung cấp kết cấu hạ tầng, dịch vụ và hang hóa công cộng
- Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng
Tóm lại: 5 yếu tố trên cấu thành khung thể chế chung cho mọi nền KTTT Chúng hình thành một tổngthể, quy định lẫn nhau, thiếu bất cứ yếu tố nào đều không thể có nền KTTT bình thường Tuy nhiên trong mỗinền KTTT, tùy theo điều kiện phát triển cụ thể mà mỗi yếu tố có vai trò, vị trí, chức năng khác nhau
3 Các mô hình phát triển kinh tế thị trường trong lịch sử
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà người sản xuất sẽ được hưởng nhiều quyền tự do kinhdoanh sản xuất hơn, vì thế các doanh nghiệp luôn năng động Mặc khác, mục tiêu vì lợi nhuận là động lức lớnnhất buộc các nhà tư bản phải năng nổ, tăng trưởng kinh tế theo đó cũng sẽ có nhiều bước đột phá
Cho đến cuối thế kỉ XX, kinh tế thị trường hầu như chỉ có một phương án phát triển duy nhất làbiến thành kinh tế tư bản chủ nghĩa Nhưng thực tế lại cho thấy kinh tế thị trường được phát triển dưới nhiều
mô hình khác nhau:
Mô hình kinh tế thị trường tự do
Mô hình kinh tế thị trường - xã hội
Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (ở Trung Quốc) hay kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam)
3.1 Mô hình kinh tế thị trường tự do
Thị trường tự do là một thị trường mà không có sự can thiệp kinh tế và quy định của nhà nước,ngoại trừ việc thực thi các hợp đồng tư nhân và quyền sở hữu tài sản Thị trường tự do ngược lại với thịtrường có kiểm soát, trong đó nhà nước trực tiếp quy định hàng hoá, dịch vụ và lao động có thể được sử dụng,định giá giá cả, hoặc phân phối như thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân Những người ủng hộ thịtrường tự do về mặt truyền thống xem thuật ngữ này ngụ ý rằng các phương tiện sản xuất là thuộc tư nhân,không phải thuộc kiểm soát của nhà nước
Mô hình thị trường tự do được thực hiện ở hầu hết các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu
và bắc Mỹ Mô hình này đề cao vai trò của chế độ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và tự do cạnh tranh
Quá trình phát triển kinh tế chủ yếu do khu vực tư nhân vận hành dưới sự điều tiết của “bàn tay
3.2 Mô hình kinh tế thị trường - xã hội
- Phổ biến ở: Tây- Bắc Âu (Đức, Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan), và một số nước khác (Đan Mạch, HàLan, Pháp, Bỉ)
- Mô hình này thừa nhận các yếu tố cơ bản phổ biến của kinh tế thị trường
Trang 383.3 Mô hình kinh tế thị trường XHCN (hay định hướng XHCN):
- Hai nước đang thực thi loại mô hình kinh tế thị trường này:
o Việt Nam: kinh tế thị trường định hướng XHCN
o Trung Quốc: kinh tế thị trường XHCN
- Mô hình hình được thể hiện rõ qua vài khía cạnh chính của nền kinh tế thị trường XHCN ở TrungQuốc Quá trình phát triển đường lối này của Trung Quốc gắn liền với việc từng bước đoạn tuyệt với nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, được tiến triển qua 4 giai đoạn:
♦ Gđ 1978-1984: “lấy kinh tế kế hoạch làm chính, lấy điều tiết thị trường làm bổ trợ” bước chuyểnmang tính đột phá
♦ Gđ 1984-1993: “nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu”
♦ Gđ 1993-2003: xây dựng “thể chế kinh tế thị trường XHCN”
♦ Gđ từ 2003-nay: khẳng định “nền kinh tế thị trường XHCN” đi liền với việc xác định khung thể chế cơbản của nền kinh tế thị trường XHCN bao gồm các yếu tố:
- Mang tính đa dạng sở hữu, với các đặc trưng: lấy chế độ công hữu làm chủ thể và nhiều chế độ sở hữukhác cùng phát triển, hình thức cơ bản của chế độ công hữu là chế độ cổ phần
- Người lao động tự chủ lựa chọn việc làm, thị trường điều tiết việc làm và chính phủ thúc đẩy việc làm
- Phân phối theo lao động là chủ thể, nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại, chú trọng giải quyết vấn đềchênh lệch thu nhập
- Nhà nước kiểm soát vĩ mô nền kinh tế
- Hiến pháp: cơ sở pháp lý chiếm vị trí chủ đạo
Thực chất và nội dung của nền kinh tế thị trường XHCN của TQ được làm rõ từng bước và đồng thờitrên cả 3 mặt: lý luận, đường lối và thực tiễn
Các vấn đề của nền knh tế được giải quyết trên cơ sở thay đổi nhận thức về chế độ kinh tế cơ bản,chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu
4 Một số nhận xét khái quát về quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường thông qua ba môhình cơ bản
Thực tiễn phát triển và lý luận kinh điển của Mác đều khẳng định tính tất yếu và phổ biến của kinh tế thịtrường trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, dân tộc Do vậy, đối với bất kỳ quốc gia nào chưa trải quakinh tế thị trường, để giải quyết được vấn đề phát triển, trước hết phải phát triển kinh tế thị trường theo đúngnghĩa; phải tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế phát huy cao nhất năng lực phát triển của thị trường để đạthiệu quả kinh tế cao nhất Chỉ trên cơ sở đó, xét theo mục tiêu chiến lược, mới thoát khỏi tình trạng lạc hậu,nhờ đó, có điều kiện vật chất và tinh thần để đáp ứng các mục tiêu xã hội và nhân văn
- Tuy nhiên, kinh tế thị trường không phát triển theo một phương án duy nhất ( phát triển thành kinh tế
tư bản chủ nghĩa), cũng không theo một mô hình đơn nhất (thị trường tự do) Thực tiễn đã xác nhận nhữngphương án và mô hình phát triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điềukiện xác định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia – dân tộc Một quốc gia đi sau không nhất thiết phải
Trang 39vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nhất thiết rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường cósẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình.
- Trong quá trình tiến hóa về mặt mô hình của kinh tế thị trường trên thế giới, các mô hình xuất hiện sauđều phản ánh một xu hướng chung trong sự phát triển của kinh tế thi trường Đó là
+ Ngày càng nhấn mạnh các mục tiêu xã hội – con người
+ Thừa nhận vai trò định hướng, tổ chức và điều tiết phát triển của nhà nước
- Trên thực tế, xu hướng này cũng thể hiện trong cả quá trình phát triển của các nền kinh tế đi theo môhình kinh tế thị trường tự do
- Việc khẳng định tính phổ biến trong các mô hình kinh tế thị trường đặc thù hàm ý rằng việc lựa chọn
mô hình thị trường định hướng XHCN là đúng với xu hướng chung của loài người
II.XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
1 Quá trình hình thành đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hành chính quan liêu, bao cấpsang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa được bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI
a.Giai đoạn trước năm 1986
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêupháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiềnvốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhànước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhànước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vậtchất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu
Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Còn các doanh nghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vàocấp trên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nướcquản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ quản lýkém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
- Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thựccủa chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được chokhông Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩmtiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếuvới mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lựckích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
- Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vậtchất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụngvốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nócho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào mục đích chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ
Trang 40thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nó lạithủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động,không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Khi nền kinh tế thế giớichuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạngkhoa học – công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh
tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa làđặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coithị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nềnkinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanhchóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể tư nhân; xây dựng nền kinh tế khép kín Nền kinh tế rơi vào tìnhtrạng trì trệ, khủng hoảng
b Giai đoạn năm 1986 – 1990
Đại hội VI của Đảng ( 12 – 1986 ): đánh dấu sự đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế của Đảng khẳngđịnh quá trình chuyển đổi nhỏ đi lên ản xuất lớn của nước ta là quá trình chuyển hóa nền kinh tế tự túc thànhnền kinh tế hàng hóa - tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội, coi tính kế hoạch đặc trưng thứ nhất, sử dụng đúng đắnquan hệ hàng hóa – tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế quản lý kinh tế mới ( thừa nhận cơ chế thị trường,nhưng không coi nền kinh tế của ta là kinh tế thị trường )
Trong hội nghị TW 6 khóa VI (3 – 1989): chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồmnhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội (thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần)
c.Giai đoạn từ 1991 – 2000
Đại hội VII của Đảng (6 – 1991) tiến thêm một bước về nhận thức lý luận, xác định: cơ chế vận hànhnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước bằng pháp luật , kế hoạch, chính sach và các công cụ khác
Tại đại hội VIII (6 – 1996), trên cơ sở tồng kết 10 năm đổi mới, Đảng ta khẳng định sản xuất hàng hóakhông đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, chủtrương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa
d Giai đoạn từ 2001 – 2011.
Trong Đại hội IX (4 – 2001), Đảng ta mới chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lượcnhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây là môhình kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển, vừa có những đặc điểm chung của kinh tế thị trường hiệnđại, vừa có những đặc điểm riêng phù hợp với những điều kiện đặc thù của Việt Nam
Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X (2006) đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản củaviệc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Đại hội X, Đảng chủtrương gắn kinh tế thị trường nước ta với nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngàycàng sâu và đầy đủ hơn
Đại hội XI (1 – 2011) của Đảng khẳng định “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” là một trong ba khâu độtphá chiến lược
2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trênnhững nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi cácnguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội