1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu phân loại đất

49 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 429,5 KB
File đính kèm TL_PLD_all.rar (56 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu trình bày 1 số kết quả nghiên cứu về phân loại đất trên thế giới (Mỹ, Tây Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, FAOUNESCO...), các kết quả nghiên cứu về phân loại đất ở Việt Nam (Lịch sử nghiên cứu về phân loại đất ở Việt Nam, Hệ thống PLĐ Việt Nam áp dụng xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 150.000 1100.000 do Viện Quy hoạch và TKNN soạn thảo)

Trang 2

4 Kết quả thực hiện:

4.1 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về PLĐ:

4.1.1 Nghiên cứu PLĐ trên Thế giới:

4.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về PLĐ trên Thế giới:

Nghiên cứu PLĐ trên Thế giới nói riêng và những vấn đề của cơ sở thổnhưỡng học nói chung thực sự chỉ được giải quyết sau những kết quả nghiên cứucủa nhà bác học Nga V.V Dokuchaev (Kể từ đây, tên người và địa danh nước ngoàixin được viết theo tiếng Anh) vào nửa cuối thế kỷ 19 Nghiên cứu PLĐ trên Thếgiới có thể chia làm 3 thời kỳ: Trước V.V Dokuchaev (từ giữa thế kỷ 19 trở vềtrước); thời kỳ V.V Dokuchaev (từ nửa cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20) và từgiữa thế kỷ 20 đến nay

đầu tiên về đất được tích lũy từ thời cổ Hy Lạp “Sự phân loại đất” độc đáo được tìm

thấy trong các tuyển tập của những nhà triết học cổ Hy Lạp như Aristotle (384-322trước CN), Theophrastus (372-287 trước CN) Lúc bấy giờ, các ông đã chia ra đất tốt,đất phì nhiêu và đất cằn cỗi, đất không phì nhiêu liên quan đến dinh dưỡng câytrồng

Năm 1563, Bernard de Palissy (1499-1589) trong công trình “Về các muốitrong nông nghiệp” đã coi đất như là một nguồn dinh dưỡng khoáng cho cây trồng.Năm 1840, Justus von Liebig (1803-1873) đã cho rằng cây trồng lấy dinh dưỡng từđất và đề nghị sử dụng phân bón cho đất Năm 1853, A.D Thaer xuất bản bảngPLĐ theo thành phần cơ giới ở Mỹ, ý đồ xây dựng một chương trình nghiên cứuphân loại đã có từ năm 1832 (E Ruffin, 1832) và đến năm 1860, E.W Hilgard đãxây dựng bảng PLĐ và bản đồ đất cho nước Mỹ, trên cơ sở nhận thức đất là một vậtthể tự nhiên, tính chất đất có mối quan hệ đến thực vật và khí hậu

Thổ nhưỡng học trở thành bộ môn khoa học thực sự và được bắt nguồn từnước Nga Tại đây đã hình thành những cơ sở khoa học về đất và các phương pháp

cơ bản nghiên cứu đất M.V Lomonosov lần đầu tiên đã nêu ra một cách đúng đắn

về sự phát triển của đất theo thời gian do tác động của thực vật vào đá Đất đượchình thành và tạo ra độ phì nhiêu đảm bảo cho thế hệ thực vật sau phát triển

b- Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20:

Trang 3

V.V Dokuchaev (1846-1903) đã sáng lập ra môn khoa học đất Ông đã nêu ra

cơ sở khoa học của việc hình thành đất trong điều kiện tự nhiên Ông cho rằng đất

là một vật thể tự nhiên, có lịch sử riêng Nó được hình thành do tác động của 5 yếu

tố là: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Ông đã để lại trên 200 côngtrình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về đất và cảnh quan tự nhiên, sáng lập ra Tạpchí Khoa học đất Kế tục V.V Dokuchaev có các nhà khoa học Nga như: N.M.Sibirsev (1860-1899), P.A Kostysev (1845-1895), K.D Glinka (1867-1927), P.C.Kossovic (1862-1915), C.C Neustruev (1874-1928), L.I Prasolov (1875-1954),K.K.Gedroiz (1872-1932), I.V Tiurin (1892-1962) đã công bố nhiều tài liệu vàcông trình nghiên cứu về thổ nhưỡng nói chung và PLĐ nói riêng

Trong thời gian này, các nhà khoa học đất ở Tây Âu cũng có những đóng góp

to lớn trong việc nghiên cứu đất và PLĐ: Fally (1857), Meier (1857), Bennincon,Forder (1863), Knop (1871), Teier và Subler (1876), W.L Kubiena (1953) Một số

hệ thống PLĐ và bản đồ đất của các nước ở châu lục này cũng đã được xây dựng

Tại Mỹ, Milton Whitney đã phát triển hệ thống PLĐ; G.N Coffey (1912) đã

đề nghị phân chia đất làm 5 Nhóm lớn; C.F Marbut đã đề xuất hệ thống phân loại

sắp xếp theo các cấp từ Đơn vị đất đến Biểu loại (Soil of the United States Part III.

1935) Sau này, M Baldwin, Charles E Kellogg, J Thorp là những người tiếp tục

nghiên cứu xây dựng PLĐ của Mỹ và đã xuất bản tài liệu Phân loại đất trong tập

“Đất và con người” năm 1938.

c- Từ giữa thế kỷ 20 đến nay:

Trong giai đoạn này, hầu hết các nước trên Thế giới đã xây dựng được hệthống PLĐ và bản đồ đất quốc gia Nhìn chung, các hệ thống PLĐ này đều chịu ảnhhưởng của các trường phái chính cùng tồn tại cho đến nay

4.1.1.2 Phân loại đất của Liên bang Nga:

Theo khuynh hướng phát sinh học đất (địa lý phát sinh, yếu tố phát sinh, quátrình hình thành và phát triển của đất) Hệ thống PLĐ của Liên Bang Nga được I.P.Geraximov (1958), V.A Kovda (1965), A.A Rode, K.P Korshenin, N.A Dimo,N.N Rozov, E.N Ivanova và những người khác xây dựng và hoàn thiện dựa trênhọc thuyết của V.V Dokuchaev

Những nội dung cơ bản của hệ thống phân loại này là:

- Mục đích: Về mặt lý luận là biểu hiện sự phát sinh, phát triển và mối quan hệgiữa các loại đất khác nhau; về mặt thực tiễn là tìm ra những cơ sở vững chắc liênquan đến độ phì nhiêu, sử dụng và cải tạo chúng để tạo cho đất phát triển theohướng có lợi và có hiệu quả cao nhất

Trang 4

- Nhiệm vụ của PLĐ là dựa vào nguồn gốc phát sinh và các tính chất quan

trọng nhất của đất để tập hợp, sắp xếp, hệ thống hóa chúng thành những “thứ bậc”

nhất định như: Bộ, nhóm, loại, chủng, biến chủng

- Nội dung của PLĐ gồm những vấn đề chủ yếu sau:

(1) Xác định các nguyên tắc PLĐ được chính xác, khoa học

(2) Nghiên cứu các đơn vị phân loại trong toàn bộ hệ thống PLĐ

(3) Sắp xếp các sơ đồ phân loại hoặc danh mục PLĐ

(4) Nghiên cứu hệ thống tên gọi (danh pháp) của đất

(5) Xác định các đặc điểm hay dấu hiệu của mỗi đơn vị PLĐ trong thiênnhiên và thể hiện chúng lên bản đồ đất

Dokuchaev và Sibirsev đã nêu ra quan điểm xem xét đất như là một vật thểhữu cơ - vô cơ tự nhiên đặc biệt Sự phát triển của đất liên quan chặt chẽ với môitrường xung quanh Dokuchaev và Sibirsev đã sáng lập ra học thuyết về phát sinhhọc đất và cách phân loại đất dựa trên cơ sở của học thuyết này gọi là phân loại theophát sinh học Một số cách phân loại khác, chỉ dựa vào đặc điểm này hoặc đặc điểmkhác mà thôi Điều này xảy ra là do có quan điểm khác nhau về vấn đề phân loại đấttrong khoa học thổ nhưỡng Chúng ta có thể thấy tổng quát ở các nhóm phân loạiđất như sau:

a- Phân loại đất theo phát sinh học - địa lý:

Cơ sở của cách phân loại này là học thuyết của Dokuchaev về phát sinh họcđất Ngoài Dokuchaev (1879, 1886, 1896, 1906) ra còn có Sibirsev (1895, 1899),Afanesev (1992, 1927, 1931) Trong các phân loại này, sự phân chia các loại đấtkhông chỉ dựa vào đặc điểm, tính chất của chúng mà còn dựa vào đặc điểm của đá

mẹ và sự phân bố theo địa lý của chúng

Phân loại đất theo phát sinh học - địa lý đã được Dokuchaev nêu ra lần đầutiên vào năm 1879 Đến năm 1886 ông đã bổ sung và hoàn thiện thêm cho cáchphân loại này và đã công bố với những dẫn liệu đầy đủ hơn Dokuchaev phát biểurằng “Theo đặc điểm phát sinh học - địa lý, đất được chia làm 3 nhóm: đất bìnhthường (phát triển phù hợp với đới khí hậu và thực vật); đất chuyển tiếp (bao gồmcác đất đồng cỏ lầy, đất cacbonát, đất mặn thứ sinh); và đất không bình thường (baogồm các đất lầy, đất phù sa, đất phong tích) Trong nhóm đất bình thường có thểchia ra nhiều nhóm phụ, loại đất dựa theo các đặc điểm phát sinh học trong từngvùng địa lý tự nhiên”

Phân loại đất kiểu này đã được Sibirsev bổ sung thêm vào năm 1895 và chia ralàm ba nhóm đất lớn: Đất địa đới, đất nội đới (bán địa đới), và đất không địa đới(như đất phù sa, đất sỏi đá ngoài bãi bồi)

Phân loại đất theo phát sinh học - địa lý (Hiện nay gọi là phát sinh học - sinhthái) phản ánh được những quy luật thực tế của tự nhiên như các tính chất của đất,các quá trình hình thành đất và mối liên hệ giữa chúng với môi trường xung quanh

Trang 5

Nó đáp ứng được nhiều vấn đề của nông nghiệp và được sử dụng rộng rãi khi thống

kê chất lượng ruộng đất

b- Phân loại đất theo các yếu tố phát sinh chủ yếu:

Cách phân loại này chỉ chú ý đến những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến

sự hình thành đất như: khí hậu, địa hình, đá mẹ, thực vật ảnh hưởng của những yếu

tố này được xem như không phụ thuộc lẫn nhau Người ta cho rằng: yếu tố “then

chốt” làm giảm hoặc làm mất ảnh hưởng của các yếu tố khác Các phân loại của

Glinka, Vysorski và Zakharov thuộc loại này

Glinka chia đất thành hai nhóm chính:

A Nhóm đất phát triển do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (biến đổi ngoạisinh) Trong nhóm đất này lại chia ra 5 kiểu khác nhau phù hợp với độ ẩm của đất.(1) Đất Feralit (Lateritic): Trong đó gồm các loại đất feralit điển hình, đất đỏ ánhiệt đới, đất đỏ ở vùng khí hậu ấm ôn hòa

(2) Đất bạc màu: Gồm các loại đất nâu, đất bạc màu lầy, đất bạc màu - thanbùn, đất bạc màu sơ khai, đất bạc màu đồng cỏ, đất gần với đất đen (Quá độ

từ đồng cỏ đến đất đen), đất bạc màu thứ sinh

(3) Đất thảo nguyên: Gồm các đất đen, đất màu hạt dẻ, đất nâu xám, đất xám,đất đỏ á nhiệt đới, đất thảo nguyên sa mạc

(4) Đất lầy: Gồm các đất lầy điển hình, đất lầy - than bùn, đất lầy - đồng cỏ,đất lầy - xôlôntrát, đất mặn - xôlôntrát

(5) Đất mặn: Gồm đất mặn rửa trôi, đất mặn

B Nhóm đất phát triển do các yếu tố bên trong (biến đổi nội sinh)

(1) Đất cacbonat - mùn (hay là đất renzin)

(2) Các đất sỏi đá khác

Vysorski chia ra ba nhóm chính: Đất địa đới, đất nội đới, đất không đới Trongmỗi nhóm tự chia nhỏ ra theo đặc điểm của các yếu tố phát sinh học như địa hình,

đá mẹ, v.v

Còn S.A Zakharov chia thành 6 nhóm:

(1) Nhóm đất bình nguyên (phát sinh khí hậu): Nhóm đất này được hình thànhdưới ảnh hưởng ưu thế của nhân tố khí hậu

(2) Nhóm đất núi: Nhóm đất này được hình thành dưới ảnh hưởng của cácnhân tố khí hậu và địa hình vùng

(3) Nhóm đất thủy thành: Nhóm này được hình thành dưới ảnh hưởng chủ yếucủa chế độ ẩm quá lớn và thực vật thủy sinh - đó là vùng đất trũng

(4) Nhóm đất mặn: Sự hình thành nhóm đất này liên quan chặt chẽ với sự cómặt của các muối hòa tan trong đá mẹ hoặc trong nước tầng và với khí hậukhô, phần lớn ở các vùng trũng

(5) Nhóm đất phù sa: Là nhóm đất phù sa thung lũng được hình thành dướiảnh hưởng của nước chảy

Trang 6

(6) Nhóm đất chịu ảnh hưởng của các biến đổi nội sinh, cấu tạo phẫu diện vànhững tính chất này phụ thuộc trước hết vào đá mẹ.

Trong sáu nhóm đất nói trên thì nhóm đất bình nguyên là đất hạng nhất, vàtiếp đến là nhóm đất núi

c- Phân loại đất theo đặc điểm phát sinh học thực sự:

Trong cách phân loại này, người ta dựa trên cơ sở trước hết là những tính chấtquan trọng của đất và sau đó còn xét đến các điều kiện hình thành đất

Kosovitch (1903, 1910) đã đưa ra bảng phân loại đất tỷ mỷ thuộc kiểu này.Theo bảng phân loại này thì đất được chia ra 2 nhóm chính:

Nhóm đất phát triển phụ thuộc chia ra 4 loại:

(1) Đất ẩm thảo nguyên khô

(2) Đất ẩm của đai trécnôzôm

(3) Đất lầy của đới pôtdôn

(4) Đất lầy á nhiệt đới và nhiệt đới ẩm

Năm 1924, Glinka dựa vào các quá trình biến đổi phần vô cơ của đất và quátrình phân giải, tích lũy chất hữu cơ trong đất đã chia đất thành 5 loại chính:

Sự phân chia này gần giống với phân loại của Kosovitch

Năm 1927, K.K.Ghedroitz dựa vào đặc điểm của hiện tượng lý - hóa học dokhả năng hấp phụ của đất tạo ra đã chia ra 4 quá trình hình thành đất chính:

(1) Quá trình hình thành đất trécnôzôm (phức hệ hấp phụ của đất bão hòa Ca2+

và Mg2+)

(2) Quá trình hình thành đất mặn (phức hệ hấp phụ của đất bão hòa Ca2+, Mg2+

ngoài ra còn có cả Na+)

(3) Quá trình hình thành đất pôtdôn

Trang 7

(4) Quá trình hình thành đất lateric (feralitic) (phức hệ hấp phụ chứa nhiều

H+)

d- Phân loại đất theo phát sinh học tiến hóa:

Trong cách phân loại này, người ta xem sự phát triển của quá trình hình thànhđất liên quan chặt chẽ theo thời gian ban đầu - hình thành đất kiềm đến thời gian sau

- hình thành đất chua (Kosovitch, 1903, Polynov, 1933) Hoặc từ giai đoạn đất thủythành đến giai đoạn đất tự thành của quá trình hình thành đất (Polynov, 1933,Kovda, 1933, 1965, 1967)

e- Phân loại đất theo phát sinh học - lịch sử:

Xây dựng bảng phân loại đất theo hướng này đã được nêu ra ở trong các côngtrình của V.R Villiams (1914, 1936) Theo Villiams, các loại đất gắn chặt trực tiếpvới dây xích phát triển lịch sử Cần phải xem mỗi giai đoạn lịch sử có đặc điểm tácđộng riêng của các yếu tố sinh học trong tự nhiên đối với phần vô cơ của quả đất.Quan điểm phân loại này có quan hệ chặt chẽ với quan điểm sinh - địa hóa của V.I.Vernatski

Hệ thống hóa trong phân loại đất theo trường phái phát sinh học

Nội dung của công tác hệ thống hóa đất là định ra những đơn vị phân loại theothứ tự nhất định Hệ thống hóa hiện đại của các đơn vị phân loại đất ngày nay đãđược tổng kết một cách sáng tạo qua những tài liệu khoa học hiện đại và đã đượcthực tiễn chứng minh về tính chất chuẩn xác của nó

Hệ thống phân loại của Nga (Liên Xô cũ) gồm có 8 cấp cơ bản:

Trang 8

- Cùng cách xâm nhập, tích lũy chất hữu cơ và quá trình biến đổi chất hữu cơ.

- Cùng quá trình phân hủy và tổng hợp các chất khoáng và chất hữu cơkhoáng

- Có cùng đặc điểm di chuyển và tích lũy vật chất

- Có những nét chung về cấu tạo phẫu diện đất

- Có cùng biện pháp nâng cao và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

(ii) Loại phụ:

Loại phụ nằm trong giới hạn của loại đất và khác nhau về mức độ thể hiệnchất lượng của quá trình hình thành đất cơ bản Nói cách khác, loại phụ chỉ giaiđoạn phát triển khác nhau về chất lượng của một loại đất Ví dụ, trong loại đấtferalit vàng đỏ không có tầng rửa trôi và tích tụ (đất trẻ) có tầng rửa trôi và tích tụ(đất trưởng thành) và có tầng đá ong (đất già)

Khi phân chia các loại phụ đồng thời cần chú ý tới những quá trình liên quanvới điều kiện tự nhiên Trong loại phụ thì các biện pháp nâng cao và bảo vệ độ phìnhiêu của đất phải đồng nhất hơn so với loại đất

(iii) Thuộc đất:

Thuộc đất là đơn vị phân loại nằm trong phạm vi loại phụ Dựa vào đá mẹmẫu chất là chủ yếu hoặc thành phần nước ngầm để phân biệt giữa thuộc đất này vàthuộc đất khác Những sự khác nhau này chủ yếu do điều kiện địa phương tạo nên

Có thể dựa vào một số đặc điểm khác để phân chia thuộc đất như: pH, độ bạc mầu

(iv) Chủng đất:

Chủng đất nằm trong giới hạn của thuộc đất Tiêu chuẩn để phân chia chủngđất là mức độ của quá trình hình thành đất như: mức độ mặn, mức độ glây, độ dàymỏng của tầng đất mặt

(v) Biến chủng đất:

Biến chủng nằm trong phạm vi chủng đất Chúng được phân biệt do sự khácnhau về thành phần cơ giới của tầng đất mặt hoặc mức độ lẫn sỏi đá

Đặt tên đất (danh pháp của đất):

Đặt tên đất phải đảm bảo đầy đủ hai yêu cầu: Tính khoa học, chính xác, vàtính đại chúng phổ thông, ngoài ra phải dựa vào các tiêu chuẩn sau:

+ Đặt tên cho Loại đất có thể dựa vào màu sắc đất ở tầng mặt để biểu thị đặcđiểm quá trình hình thành đất bên trong hoặc thành phần tính chất của đất, hoặc lớpphủ thực vật và khí hậu, v.v

Trang 9

+ Đặt tên cho Loại phụ thường dùng các thuật ngữ bao hàm các nghĩa sau:

- Đặc trưng cho quá trình bổ sung

- Chỉ sự thay đổi màu sắc so với loại đất điển hình

- Chỉ vị trí địa lý của loại phụ trong đới đất

+ Đặt tên cho Thuộc đất thường dùng các thuật ngữ bao hàm các nội dung sau:

- Tính chất đặc trưng của đất

- Chỉ đá mẹ

+ Đặt tên cho Chủng đất thường dùng các thuật ngữ có nội dung sau:

- Số lượng Ví dụ: Mùn nhiều, ít, trung bình

- Chỉ mức độ dày mỏng của tầng đất mặt hoặc toàn bộ phẫu diện

- Chỉ mức độ yếu, mạnh của hiện tượng hình thành đất, như xói mòn, glây

+ Đặt tên cho Chủng phụ (Biến chủng) thường dùng các tiêu chuẩn như thànhphần cơ giới, cấu trúc hoặc mức độ đá lẫn trong đất

Tên gọi đầy đủ của đất bắt đầu từ tên gọi của loại, đến loại phụ, thuộc, chủng,biến chủng Ví dụ: Đất feralit vàng đỏ (loại) không glây, phẫu diện đồng nhất (loạiphụ), phát triển trên đá macma trung tính hoặc kiềm (thuộc), tầng đất dày (chủng)thành phần cơ giới sét nặng (biến chủng)

4.1.1.3 Phân loại đất của Mỹ:

a- Tóm tắt lịch sử hình thành:

Hệ PLĐ của Mỹ theo khuynh hướng dựa vào tính chất đất, kinh nghiệm sửdụng đất và năng suất cây trồng Milton Whitney đã phát triển hệ thống PLĐ; G.N.Coffey (1912) đã đề nghị phân chia đất làm 5 Nhóm lớn; C.F Marbut đã đề xuất hệ

thống phân loại sắp xếp theo các cấp từ Đơn vị đất (Soil unit) đến Biểu loại (Serie)

gồm có 6 hạng (Soil of the United States Part III 1935) Sau này, M Baldwin,Charles E Kellogg, J Thorp là những người tiếp tục nghiên cứu xây dựng PLĐ của

Mỹ và đã xuất bản tài liệu Phân loại đất trong tập “Đất và con người” năm 1938 và

sau đó được Guy D Smith hoàn chỉnh năm 1949

Hệ PLĐ này được Bộ Nông nghiệp Mỹ tiếp tục hoàn thiện từ năm 1951 dưới

sự cộng tác của các nhà nghiên cứu đất và PLĐ có kinh nghiệm của Mỹ (Đứng đầu

là Guy D Smith) và các nước khác trên Thế giới Từ năm 1951 đến năm 1972, đã

nghiên cứu khoảng 5.500 Biểu loại đất ở nước Mỹ Năm 1975, hệ thống PLĐ của

Mỹ được xuất bản chính thức (Soil Taxonomy: A Basic System of Soil Classification

for Making and Interpreting Soil Survey) với 10 Bộ (Order) Năm 1999, tài liệu này

được chỉnh lý, bổ sung và tái bản lần thứ hai

b- Cấu trúc hệ thống phân loại đất Soil Taxonomy:

Bộ (Order) Bộ phụ (Suborder) Nhóm lớn (Great Group)

Nhóm phụ (Subgroup) Họ (Family) Biểu loại (Series)

Trang 10

c- Nguyên tắc phân loại và cách đặt tên:

(1) Bộ (Order):

Chia thành 12 Bộ, thêm 2 Bộ so với ấn bản lần thứ nhất (1975) Các Bộ đượcphân biệt bởi sự có mặt hoặc không có mặt của các tầng chẩn đoán hoặc các đặcđiểm nổi bật phản ánh quá trình hình thành đất

Tên của Bộ được kết thúc bằng đuôi SOL (từ tiếng Latinh: solum - đất) nốivới một nguyên âm đứng trước là O (gốc Hylạp) và I (gốc tiếng nước khác) Mỗimột tên được đặt bằng Yếu tố cấu tạo (YTCT) cộng với O hoặc I và SOL Ví dụ:ENTISOL có YTCT là ENT + I + SOL, ARIDISOL có YTCT là ID… Những yếu

tố cấu tạo này được dùng làm đuôi của tên Bộ phụ, Nhóm lớn và Nhóm phụ

AQUIC được thống nhất gọi là Aquents (Tiếng Latinh Aqua là nước, cộng với đuôi

ENT từ Bộ ENTISOL) Một Bộ phụ của ENTISOLS có phù sa lắng đọng rất trẻ

được gọi là Fluvent (Từ tiếng Latinh Fluvius là sông, cộng với đuôi ENT từ

ENTISOL)

(3) Nhóm lớn (Great Group):

Có hơn 300 Nhóm lớn, được phân biệt bởi các đặc trưng cơ bản sau:

- Có các đặc điểm tương tự về loại, sắp xếp và mức độ thể hiện ở các tầng, và

- Có các đặc điểm tương tự ở trạng thái cơ bản

Tên của Nhóm lớn được tạo thành từ tên của Bộ phụ và 1 tiền tố gồm 1 hay 2YTCT có ý nghĩa của các đặc tính chẩn đoán FLUVENTS có chế độ nhiệt độ giá

lạnh được gọi là Cryofluvents (Từ tiếng Hylạp: Kryos - nước đá lạnh).

Trang 11

1 Các tầng thêm vào các Nhóm lớn, bao gồm tầng Argillic nằm dưới tầng

Spodic và một tầng bị vùi lấp, như tầng hữu cơ bị vùi lấp bởi tầng đất mỏng, hoặc

2 Tầng gián đoạn, hoặc

3 Các đặc điểm của một hoặc nhiều nhóm lớn được thể hiện trong một phầncủa tầng đất nhưng phụ thuộc vào các đặc tính của Nhóm lớn của Nhóm phụ đó

- Nhóm phụ đặc biệt: Có các đặc điểm điển hình không đại diện cho Nhóm lớnnhưng không thể hiện sự chuyển tiếp sang loại đất khác

Tên của Nhóm phụ được cấu tạo từ tên của Nhóm lớn và được biến thể bởimột hay nhiều tính từ, ví dụ: Typic Torrifluvents

Nhóm phụ có hạng giữa (Intergrades) là những hạng thuộc về Nhóm lớnnhưng có một vài đặc tính của Bộ, Bộ phụ hoặc Nhóm lớn khác Ví dụ: VerticTorrifluvents Siêu hạng (Extragrades) của Nhóm phụ là những hạng có những đặctính quan trọng mà không đại diện cho các Nhóm lớn và không chỉ thị cho sựchuyển tiếp loại đất đã biết khác Ví dụ: Cryorthent có băng vĩnh cửu được gọi làPergelic Cryorthent

(5) Họ (Family):

Có 6.000 Họ dùng để chỉ những đất trong Nhóm phụ có các đặc tính lý, hóahọc tương tự nhau, phục vụ cho quản lý và sử dụng đất Trong một vài trường hợpcác đặc tính của đất được sử dụng không đặc trưng cho qúa trình hình thành đất

Các định nghĩa cơ bản để chia các đất khoáng:

1 Thành phần cơ giới trong tầng có hoạt động chính của sinh vật bên dướitầng canh tác

2 Các loại khoáng trong tầng xem xét thành phần cơ giới

3 Hoạt động trao đổi cation của cấp hạt và khoáng trong tầng xem xét thànhphần cơ giới

4 Đá vôi và các phản ứng trong tầng bên dưới tầng đế cày

độ đặc (20 cấp) và các đặc tính khác Ví dụ: Fine-loamy (TPCG), mixed (calcareous

- TP khoáng), mesic (nhiệt độ đất), Typic Torriluvents

(6) Biểu loại (Series):

Là cấp thấp nhất trong hệ thống phân loại Có hơn 19.000 Biểu loại Có 2 cách

để phân biệt các Biểu loại Thứ nhất, sự phân biệt giữa các Họ và giữa các cấp caohơn cũng dùng để phân biệt các Biểu loại Một Biểu loại không thể chéo qua giớihạn 2 Biểu loại hoặc 2 lớp ở cấp cao hơn Thứ hai, sự phân biệt giữa các Biểu loại

Trang 12

tương tự nhau trong cùng một Họ được hạn chế bởi một hoặc nhiều nhưng khôngnhất thiết tất cả các loại đặc tính của Họ.

Dấu hiệu phân biệt các Biểu loại trong cùng Họ được xác định qua 3 dấu hiệu:

- Đặc điểm của sự phân biệt có thể quan sát được hoặc bằng các suy luận hợp

Tên của Biểu loại là tên thường dùng để chỉ tên địa danh Thông thường tênBiểu loại được lấy từ tên địa danh, nơi đầu tiên Biểu loại được thừa nhận Nó có thể

là tên thành phố, địa hạt, đất của Bá tước nào đó hoặc một vài đặc tính của địaphương

d- Các tầng và đặc tính chẩn đoán trong PLĐ Soil Taxonomy:

* Tầng mặt chẩn đoán (Epipedon): có 8 tầng chẩn đoán (Anthropic, Folistic,

Histic , Melanic, Mollic, Orchic, Plaggen và Umbric Epipedon)

* Tầng dưới chẩn đoán: có 19 tầng chẩn đoán (Agric Horizon, Albic Horizon,

Argillic Horizon, Calcic Horizon, Cambic Horizon, Duripan, Fragipan, GlossicHorizon, Gypsic Horizon, Kandic Horizon, Natric Horizon, Ortstein, Oxic Horizon,Petrocalcic Horizon, Petrogypsic Horizon, Placic Horizon, Salic Horizon, SombricHorizon và Spodic Horizon)

* Các đặc tính chẩn đoán: có 39 đặc tính (Abrupt Textural Change, Albic

Materials, Andic Soil Properties, Anhydrous Conditions, Coefficient of LinearExtensibility, Durinodes, Fragic Soil Properties, Identifiable Secondary Carbonates,Interfingering of Albic Materials, Lamellae, Linear Extensibility, LithologicDiscontinuities, n Value, Petroferric Contact, Plinthite, Resistant Minerals,Slickensides, Spodic Materials, Weatherable Minerals, Fibers, Fibric Soil Materials,Hemic Soil Materials, Sapric Soil Materials, Humilluvic Materials, LimnicMaterials, Aquic Conditions, Cryoturbation, Densic Contact, Densic Materials,Gelic Materials, Glacic Layer, Lithic Contact, Paralithic Contact, ParalithicMaterials, Permafrost, Soil Moisture Regimes, Soil Temperature Regimes, SulfidicMaterials và Sulfuric Horizon)

4.1.1.4 Phân loại đất của các nước Tây âu:

Theo khuynh hướng kết hợp giữa nông học và địa chất Các nước có hệ PLĐđáng chú ý là Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan, với các công trình nghiên cứu của Ph.Duchaufour, E Ehwald, L.J Pons, I.S Zonnveld, N.H Taylor, I.J Pohlen, ReneTavernier, John L Heller, A.L Leemans, v.v

Trang 13

a- Phân loại đất theo Anh:

Do khí hậu mát và ẩm cho nên tình trạng ẩm ướt, sự xuất hiện của các vật liệuhữu cơ (than bùn và phân chuồng), không có tình trạng thiếu độ ẩm và khuynhhướng thiên về sự hình thành tầng Spodic là những đặc trưng cơ bản trong đặcđiểm phát sinh học đất Anh Cấu trúc phân loại của hệ thống PLĐ ở Anh gồm:

- Bộ: Gồm 10 Bộ, được phân biệt bởi các đặc tính chung của phẫu diện đất

(loại và sự sắp xếp của các tầng đất)

- Nhóm đất: Các Bộ được chia thành 43 Nhóm đất, được phân biệt dựa vào sự

có mặt hoặc không có mặt của các tầng chẩn đoán và các thành phần của của

chúng.

- Nhóm đất phụ: Gồm 109 Nhóm đất phụ, được phân biệt dựa vào sự có mặt

hoặc không có mặt của các tầng chẩn đoán và các thành phần của vật liệu đất

- Biểu loại: Các Nhóm đất phụ được chia thành các Biểu loại, được phân biệt

dựa vào sự khác nhau về cấu trúc, sự tương phản, nguồn gốc và khoáng vật

b- Phân loại đất theo Đức:

Trước năm 1994, một hệ thống phân loại được Kubiena phát triển và sau đóđược Mueckenhausen sửa đổi, là hệ thống phân loại dựa vào nguồn gốc phát sinh,các quá trình thổ nhưỡng và các đặc điểm hình thái Cơ sở phân loại đất là đất đượchình thành là do kết quả của các nhân tố hình thành đất Hệ thống phân loại đất củaĐức được hoàn thiện lại năm 1994 quan tâm tới cấu trúc, đặc điểm của đá và nguồngốc vật liệu hình thành

Các cơ sở của PLĐ ở Đức: Phân loại dựa vào chế độ ẩm, có các loại sau:(1) Các loại đất trên cạn

(2) Các loại đất bán ngập nước

(3) Các loại đất ngập nước và bán ngập nước

(4) Các bãi than bùn

Cấu trúc phân loại của hệ thống PLĐ ở Đức gồm:

- Loại đất (Soil Classes): Gồm có 14 Loại đất, được phân biệt bởi nguồn gốcphát sinh, các đặc điểm hình thái Các Class được đặc trưng bởi đặc điểm liên tiếpcủa các tầng đất

- Kiểu đất (Soil Types): Loại đất được chia thành 40 Kiểu đất, được phân biệtdựa vào các quá trình thổ nhưỡng Các Kiểu đất được đặc trưng bởi đặc điểm liêntiếp của các tầng Than bùn và AC-soil được phân biệt dựa vào phân bố địa lý

- Kiểu đất phụ (Sub Soil Types): Các Kiểu đất được chia nhỏ thành các Kiểuđất phụ

Các đặc tính được quan tâm trong PLĐ ở Đức:

Trang 14

- Cấu trúc đất.

- Nguồn gốc địa lý (VD: băng, gần băng, gió, phù sa, biển, )

- Nguồn gốc vật liệu (VD: hoàng thổ, chôn vùi, đá phiến sét, đá cát)

- Các đặc tính về đá và các đặc điểm thổ nhưỡng hình thành lên "dạng đất"

4.1.1.5 Phân loại đất của Trung Quốc:

a- Lịch sử hình thành:

Từ năm 1954 tới nay, có thể chia công tác nghiên cứu PLĐ ở Trung Quốc(TQ) ra 3 thời kỳ như sau:

- Thời kỳ thứ nhất (1954 - 1958): Hệ PLĐ tuân theo hệ PLĐ của Liên Xô (cũ)

Hệ PLĐ được dựa vào phân vùng địa lý và điều kiện hình thành đất Loại đất (Soiltype) là đơn vị cơ bản và hệ phân loại được chia thành 5 cấp: Loại đất, loại phụ, họ,chủng và biến chủng Theo sự phân vùng địa lý và thổ nhưỡng, các loại bản đồ tỷ lệnhỏ và trung bình đã được xây dựng

- Thời kỳ thứ hai (1958 - 1978): Thông qua đợt điều tra chi tiết trên toàn lãnhthổ (1958 - 1961), đã xác định được đất nguyên thủy (tự nhiên) và đất canh tác vớicác cấp phân vị khác nhau theo hiện trạng, như: Chao soils (đất phù sa canh tác), đất

có tưới, được đề nghị thêm vào nhóm đất lúa nước Sau Cách mạng Văn hóa, HộiThổ nhưỡng TQ đã tổ chức Hội nghị thứ nhất về PLĐ vào năm 1978 và đã xâydựng lại hệ PLĐ quốc gia, trong đó đất tự nhiên và đất canh tác được gộp lại, đấtAlpine và Phospho-calcic được bổ sung Nhờ được thảo luận chi tiết và mở rộng, hệPLĐ này được sử dụng rộng rãi và trở thành hệ PLĐ chính thức, áp dụng cho đợtđiều tra chi tiết lần thứ 2 trên toàn lãnh thổ

- Thời kỳ thứ ba (1978 - 1984): Với sự trao đổi quốc tế được tăng cường, các

hệ PLĐ như Soil Taxonomy và FAO - UNESCO được giới thiệu và cập nhật vào

TQ Tuy hệ PLĐ vẫn còn dựa vào quan điểm phát sinh học, song những hệ PLĐ nóitrên đã có ảnh hưởng và thậm chí một số tên đất và ý tưởng đã được áp dụng

b- Phân loại đất hiện đại ở Trung Quốc:

Công tác PLĐ theo Soil Taxonomy ở Trung Quốc bắt đầu được nghiên cứu từnăm 1985 Quan điểm phát sinh học về PLĐ là đương nhiên vẫn tồn tại và có vai tròquan trọng trong nghiên cứu và triển khai về khoa học đất

Hàng loạt bản đồ đất tỷ lệ từ 1/50.000 đến 1/250.000 đã được xây dựng bổsung cho cho bản đồ đất toàn quốc, tỷ lệ 1/4.000.000 và 1/10.000.000 Phân loại đấtnhìn chung là vẫn dựa vào quá trình hình thành đất và thường là định tính Do vậynhiều người có thể phân loại cùng một loại đất ra nhiều loại khác nhau tùy thuộcvào sự suy nghĩ về nguồn gốc phát sinh Phân loại phát sinh học thường nhấn mạnhvào điều kiện sinh khí hậu mà bỏ qua yếu tố thời gian, đôi khi dẫn đến sự nhầm lẫn

về quá trình phát sinh nào được sử dụng để phân loại cho một nhóm đất riêng biệt

Trang 15

Hầu hết phân loại phát sinh học thường mô tả rất chính xác các quan điểmchính về nhóm, song lại không thể khoanh vẽ chính xác được ranh giới các khoanhđất giữa các nhóm đất Điều đó dẫn đến việc xếp loại đất rất khó khăn Thiếu nhữngchỉ tiêu định lượng đã gây khó khăn cho việc thiết lập một hệ thống thông tin về đấthay phát triển hệ thống phân loại.

Để giải quyết những nhược điểm nói trên, từ năm 1984, Viện Nghiên cứuKhoa học Đất thuộc Viện Hàn lâm Sinica đã thành lập một nhóm biên tập PLĐTrung Quốc, gồm nhiều nhà khoa học của 30 viện nghiên cứu và trường đại học đểxây dựng nên hệ “Phân loại đất Trung Quốc” (Chinese Soil Taxonomy)

c- Nguyên tắc và phương pháp của Chinese Soil Taxonomy:

PLĐ Trung Quốc là hệ phân loại dựa vào các tầng chẩn đoán và các đặc tính

chẩn đoán.

Các tầng đất có một tập hợp các đặc điểm định lượng được sử dụng để xácđịnh các đơn vị đất được gọi là tầng chẩn đoán Một số đặc điểm đất được địnhlượng như hình thái học, lý tính, hóa tính sử dụng vào mục đích phân loại được gọi

là các đặc tính chẩn đoán Các đặc điểm này không giới hạn ở một tầng đất đặc biệt

mà tồn tại ở bất kỳ phần nào của phẫu diện đất

Từ tầng chẩn đoán và đặc tính chẩn đoán sinh ra bởi quá trình hình thành đất,

việc sử dụng tầng chẩn đoán và đặc tính chẩn đoán để xác định đất liên quan đếnnguyên tắc tổng quát về phát sinh học Hơn nữa, quá trình hình thành đất tự nókhông được sử dụng như các cấp phân vị mà các ảnh hưởng của chúng được thểhiện một cách định lượng về tính chất hình thái, lý học và hóa học

Trong quá trình biên soạn cuốn Chinese Soil Taxonomy, có 33 tầng chẩn đoán

và 25 đặc tính chẩn đoán được xây dựng, dựa trên các cơ sở:

- Từ các hệ phân loại khác được hoàn toàn áp dụng phù hợp với điều kiện TQnhư: Tầng Mollic, Umbric, Ochric

- Cải biên hoặc bổ sung từ các hệ phân loại khác phục vụ yêu cầu của các địaphương như: Histic, Cambic, Ferralic

- Có 12 tầng chẩn đoán và 9 đặc tính chẩn đoán được đề nghị dựa trên nhữngđất có đặc điểm riêng biệt của vùng sản xuất nông nghiệp lâu đời, đất vùng caonguyên Tây Tạng, v.v

c- Các tầng và đặc tính chẩn đoán trong PLĐ Trung Quốc:

* Tầng mặt chẩn đoán (Diagnostic Surface Horizons):

- Organic Epipedons: Histic Epipedon và Mattic Epipedon.

- Humic Epipedons: Mollic Epipedon; Umbric Epipedon và Ochric Epipedon.

- Anthropic Epipedons: Siltigic Epipedon; Cumulic Epipedon; Fimic Epipedon

và Anthrostagnic Epipedon.

- Crustic Epipedons: Aridic Epipedon và Salic Crust.

Trang 16

* Tầng dưới chẩn đoán (Diagnostic Subsurface Horizons): Albic Horizon; GlossicHorizon; Cambic Horizon; Ferralic Horizon; LAC-ferric Horizon; Plinthic Horizon;Spodic Horizon; Agric Horizon; Hydragric Horizon; Argic Horizon; Clay-pan;Alkalic Horizon; Hypersalic Horizon; Salipan; Gypsic Horizon; Hypergypsic

Horizon; Calcic Horizon; Hypercalcic Horizon; Calcipan và Phosphipan

* Các tầng chẩn đoán khác: Salic Horizon và Sulfuric Horizon.

* Các đặc tính chẩn đoán: Có 25 đặc tính, gồm: Organic Soil Materials; LithologicCharacters; Lithic Contact; Paralithic Contact; Anthro-silting Materials; VerticFeatures; Anthroturbic Layer; Soil Moisture Regimes; Gleyic Features; RedoxicFeatures; Soil Temperature Regimes; Permafrost Layer; Frost-thawic Features; nValue; Isohumic Property; Humic Property; Andic Property; Ferric Property; AlliticProperty; Alic Property; Phosphic Property; Sodic Property; Calcaric Property;

Base Saturation và Sulfidic Materials.

d- Cấu trúc PLĐ của Trung Quốc:

Chinese Soil Taxonomy là hệ thống có 6 cấp phân vị là: Bộ; Bộ phụ; Nhóm;Nhóm phụ; Họ và Biểu loại 4 cấp phân vị đầu là cấp phân vị cao dùng để sử dụngcho đơn vị bản đồ đất ở tỷ lệ trung bình và nhỏ, 2 cấp phân vị cuối áp dụng cho cácbản đồ tỷ lệ lớn

- Bộ: Là cấp phân vị cao nhất, được phân loại dựa vào tính chất đất được tạonên bởi quá trình hình thành đất chủ đạo hoặc tính chất đất ảnh hưởng đến quá trìnhchính hình thành đất

- Bộ phụ: Là đơn vị thấp hơn của Bộ, được xác định chủ yếu bằng tính chấtđất phản ánh các yếu tố (như nhiệt độ, chế độ ẩm của đất ) ảnh hưởng đến quátrình hình thành đất hiện tại

- Nhóm: Được xác định bởi các đặc điểm đất khác nhau bị ảnh hưởng bởi quátrình hình thành đất chủ đạo, hoặc quá trình hình thành đất thứ yếu

- Nhóm phụ: Đơn vị phụ của Nhóm, được xác định bởi những đặc tính đượctạo nên bởi quá trình hình thành bổ sung, hoặc có những đặc điểm thừa hưởng củamẫu chất

4.1.1.6 Phân loại đất của Nhật Bản:

Trang 17

- Nhóm biểu loại đất (Soil Series Groups): Có 204 Nhóm biểu loại.

- Biểu loại đất (Soil Series): Có 303 Biểu loại

b- Phương pháp phân loại:

Phân loại đất trồng của Nhật Bản dựa vào các tầng chẩn đoán, tính chất chẩnđoán đối với Nhóm đất và Nhóm đất phụ Tiêu chuẩn phân loại sử dụng cho Nhómbiểu loại đất và Biểu loại đất

c- Các tầng chẩn đoán trong phân loại đất trồng của Nhật Bản:

- Organic layer: Tầng hữu cơ

(i) Peat layer: Tầng than bùn thô

(ii) Muck layer: Tầng mùn

- Humic epipedon: Tầng tích mùn

- High-humic epipedon: Tầng mùn hàm lượng cao

- Gley horizon: Tầng glây

- Inverted gley horizon: Tầng glây ngược

- Mottled horizon: Tầng loang lổ đốm rỉ

- Iron accumulation horizon: Tầng tích lũy sắt

- Grayed horizon: Tầng xám

d- Các đặc tính khác biệt trong PLĐ Nhật Bản:

- Soil colour: Mầu sắc đất

- Qualitatively different soil materials: Khác biệt của chất lượng vật liệu đất

4.1.1.7 Phân loại đất của FAO-UNESCO:

a- Lịch sử hình thành:

Hội nghị lần thứ 6 của Hội Thổ nhưỡng Quốc tế (ISSS) tổ chức tại Pari (Pháp)năm 1956 đã quyết định Tiểu ban V có nhiệm vụ phát triển hệ phân loại đất của cáckhu vực lớn trên Thế giới Tiếp theo đó, tại Hội nghị lần thứ 7 của ISSS tạiMadison, Wisconsin (Hoa Kỳ) năm 1960, một loạt bản đồ đất của Châu Phi,Australia, Châu á, Châu Âu, Nam Mỹ và Bắc Mỹ với các tỷ lệ từ 1:5.000.000 đến1:10.000.000 được trưng bày Cũng tại Hội nghị này, một vấn đề được đặt ra là phảixây dựng một Bảng phân loại đất chung cho toàn cầu, đồng nhất hóa danh pháp cácđơn vị phân loại để xây dựng Bản đồ đất Thế giới

Với đề nghị của Hội Thổ nhưỡng Quốc tế tại Hội nghị lần thứ 7, bắt đầu từnăm 1961, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO) và Tổ chức Văn hóa Khoahọc và Giáo dục (UNESCO) thuộc Liên Hợp Quốc đã đứng ra nhận trách nhiệm về

tổ chức hoạt động và tài trợ kinh phí để thực hiện Dự án xây dựng Bản đồ đất Thếgiới tỷ lệ 1:5.000.000 Một Uỷ ban cố vấn gồm các chuyên gia về PLĐ trên Thế

Trang 18

giới được Hội Thổ nhưỡng Quốc tế thành lập để nghiên cứu các vấn đề về phươngpháp luận và khoa học đất liên quan đến việc chuẩn bị xây dựng Bản đồ đất Thếgiới

Ngay tại phiên họp đầu tiên tổ chức tại Rome (Italia) tháng 6 năm 1961, Uỷban cố vấn đã đưa ra những vấn đề cơ bản để chuẩn bị một Hệ chú dẫn bản đồ đấtThế giới; tổ chức các cuộc điều tra dã ngoại để xây dựng mối tương quan danh pháptên đất; chọn tỷ lệ bản đồ và nền địa hình cơ bản Sau đó là các phiên họp liên tụccủa Uỷ ban cố vấn: tại Rome tháng 7-1963, tại Pari tháng 01-1964, tại Rome tháng5-1964, tại Matxcơva tháng 8-1966 và tại Rome tháng 01-1970 Các công việc điềutra khảo sát, thu thập thông tin tư liệu về đất đai của các nước ở các châu lục đượctiến hành Đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, thảo luận về các loại đất chính

ở Nam Mỹ (1962, 1963, 1964, 1965, 1966); Mêhicô và Trung Mỹ (1965, 1967);Bắc Mỹ (1964, 1965, 1966, 1972); Châu Âu (1962, 1963, 1964, 1965, 1967, 1969,1971); Châu Phi (1961, 1963, 1970); Nam và Đông Nam á (1965, 1966, 1972); Bắc

và Trung á (1962, 1964) và Australia (1962, 1963, 1968) Tất cả các tài liệu về PLĐ,các kết quả nghiên cứu, báo cáo đã được FAO-UNESCO xuất bản trong Báo cáoTài nguyên đất Thế giới (World Soil Resources Report - WSRR) với 43 đầu mục.Bản Dự thảo đầu tiên của hệ PLĐ Thế giới FAO-UNESCO được xây dựng

năm 1964 (WSRR, No 12), đã xác định các Đơn vị đất chính, phác thảo Sơ đồ Hệ

chú dẫn Bản đồ đất Thế giới gồm 41 Đơn vị đất Bản Dự thảo này đã được phân

tích, thảo luận tại Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới lần thứ 8 tổ chức tại Bucharest(Rumania) năm 1964 Tại đây, có sự bất đồng giữa các nhà PLĐ không chỉ về quan

hệ thuật ngữ mà còn cả về bản chất của quá trình hình thành đất Trên cơ sở thuthập những ý kiến tranh luận tại Hội nghị này, một bản Dự thảo mới đã được trìnhbày và thảo luận tại Hội thảo về Phân loại đất tổ chức tại Moscow tháng 8 năm

đã tham gia thảo luận về Bản dự thảo này Hội nghị đã nhất trí chấp thuận bản Dựthảo Chú dẫn Bản đồ đất Thế giới tỷ lệ 1:5.000.000 với một số hiệu chỉnh về tên gọi

và phương pháp xác định các Đơn vị đất

Sau một thời gian dài tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, năm 1974,

FAO-UNESCO chính thức công bố Bản đồ đất Thế giới tỷ lệ 1:5.000.000 gồm 10 tập.

Trong đó, Tập 1 nói về Hệ chú dẫn bản đồ với các định nghĩa Tầng chẩn đoán(Diagnostic Horizons), Đặc tính chẩn đoán (Diagnostic Properties) và Tướng(Phases) với các chỉ tiêu được định lượng hóa Các tập khác là Bản đồ đất của cácchâu lục và khu vực: Tập II - Bắc Mỹ; tập III - Mêhicô và Trung Mỹ; tập IV - Nam Mỹ;

Trang 19

tập V Châu Âu; tập VI Châu Phi; tập VII Nam á; tập VIII Bắc và Trung á; tập IX Đông Nam á và tập X - Australia Theo Hệ chú dẫn bản đồ này, đất Thế giới được chia rathành 8 Bộ:

Bộ thứ nhất gồm: Fluvisols, Gleysols, Regosols và Lithosols;

- Bộ thứ hai gồm: Arenosols, Rendzinas, Rankers, Andosols và Vertisols;

- Bộ thứ ba gồm: Solonchaks, Solonetz, Yermosols và Xerosols;

- Bộ thứ tư gồm: Kastanozems, Chernozems, Phaeozems và Greyzems;

- Bộ thứ năm gồm: Cambisols và Luvisols;

- Bộ thứ sáu gồm: Podzoluvisols, Podzols và Planosols;

- Bộ thứ bảy gồm: Acrisols, Nitisols và Ferralsols;

- Bộ thứ tám: chỉ có Histosols.

Những năm tiếp theo, FAO tiếp tục phát hành các tài liệu chính thức về quy trình

điều tra mô tả phẫu diện trong Hướng dẫn mô tả phẫu diện đất (Guidelines for Soil

Profile Description 1st Edition 1974 và 2nd Edition 1977), các phương pháp phân tích

đất trong Trình tự phân tích đất (FAO/ISRIC Procedures for Soil Analysis 1st Edition

1974 và 2nd Edition 1987)

Đến năm 1988, sau các cuộc Hội nghị Thổ nhưỡng Quốc tế lần thứ 12 tại NewDehli (ấn Độ) năm 1982 và lần thứ 13 tại Hamburg (CHLB Đức) năm 1986, HệChú dẫn Bản đồ đất Thế giới được bổ sung, chỉnh lý và hoàn thiện, FAO-UNESCO

lại ấn hành Bản đồ đất Thế giới có chỉnh lý (Revised Legend) Cho đến nay, Hệ Chú

dẫn này đã được các nhà nghiên cứu về PLĐ của các nước trên Thế giới chấp nhận

và ứng dụng

Theo Hệ chú dẫn này, đất toàn cầu được chia ra 9 Bộ (Set), 28 Nhóm đấtchính (Major Soil Groupping) gồm:

- Bộ thứ 1: Đất hữu cơ Chỉ có 1 Nhóm đất chính: Histosols

- Bộ thứ 2: Đất khoáng được hình thành bởi tác động của con người

Chỉ có 1 Nhóm đất chính: Anthrosols

- Bộ thứ 3: Đất khoáng được hình thành bởi mẫu thổ, được chia thành 3 Nhóm

đất chính, gồm:

+ Đất hình thành trên vật liệu núi lửa: Andosols

+ Đất hình thành trên cát tại chỗ và di động: Arenosols

+ Đất hình thành trên sét trương nở: Vertisols

- Bộ thứ 4: Đất khoáng được hình thành do địa hình và địa vật lý, được chia

thành 4 Nhóm đất chính, gồm:

+ Đất vùng thấp (đất ướt), địa hình bằng phẳng: Fluvisols và Gleysols

+ Đất vùng cao, địa hình không bằng phẳng: Leptosols và Regosols

- Bộ thứ 5: Đất khoáng có tuổi bị hạn chế, có 1 Nhóm đất chính: Cambisols

- Bộ thứ 6: Đất khoáng được hình thành do điều kiện khí hậu (và thực vật) của

vùng nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới ẩm được chia thành 6 Nhóm đất chính, gồm:

Plinthosols, Ferralsols, Nitisols, Acrisols, Alisols và Lixisols

- Bộ thứ 7: Đất khoáng được hình thành do điều kiện khí hậu (và thực vật) của

vùng khô hạn và bán khô hạn được chia thành 4 Nhóm đất chính, gồm: Solonchaks, Solonetz, Gypsisols và Calcisols

Trang 20

- Bộ thứ 8: Đất khoáng được hình thành do điều kiện khí hậu (và thực vật) của

vùng thảo nguyên được chia thành 4 Nhóm đất chính, gồm: Kastanozems, Chernozems, Phaeozems và Greyzems

- Bộ thứ 9: Đất khoáng được hình thành do điều kiện khí hậu (và thực vật) của

vùng đồng cỏ và cận ôn đới được chia thành 4 Nhóm đất chính, gồm: Luvisols, Podzoluvisols, Planosols và Podzols.

Với Hệ Chú dẫn này, cấp phân vị mới dừng ở 2 cấp: Cấp 1 (Nhóm đất chính Major Soil Grouppings) và cấp 2 (Đơn vị đất - Soil Units), chỉ áp dụng được chocác bản đồ đất tỷ lệ nhỏ (1:1.000.000 và nhỏ hơn) Đối với bản đồ có tỷ lệ lớn hơn,

-phải có cấp phân vị thấp hơn nữa Do đó, năm 1991, FAO đã ban hành Hướng dẫn

xác định các Đơn vị đất phụ (Guidelines for Distinguishing Soil Subunits in the

FAO/UNESCO/ISRIC) Theo tài liệu này, các Đơn vị đất phụ được phân cấp địnhlượng và sắp xếp theo luật ưu tiên nhất định trong các Nhóm đất chính

Năm 1994, theo sáng kiến của FAO, Cơ sở tham chiếu quốc tế về Phân loại

đất (IRB), do Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) tài trợ, được

thành lập và sau này là Cơ sở tham chiếu về Tài nguyên đất Thế giới (WRB) do Hội

Thổ nhưỡng Quốc tế (ISSS), FAO và Trung tâm thông tin tư liệu đất Quốc tế(ISRIC) đảm nhận, đã phát triển và hoàn thiện hệ PLĐ của FAO và năm 1994 đãxây dựng được bản thảo (draft) đầu tiên

Thông qua các Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới, hệ PLĐ của WRB ngày càng

hoàn thiện và năm 1998 đã xuất bản tài liệu chính thức Cơ sở tham chiếu về Tài

nguyên đất Thế giới (WRB) lưu hành trên toàn Thế giới Tham gia công trình nghiên

cứu PLĐ Thế giới này có nhiều nhà PLĐ nổi tiếng của các tổ chức: ISSS(Decker ); FAO (Brinkman, Sombroek, Nachterfaele ); ISRIC (Oldeman,Spaargaren ) và các nước: Nga (Targulian, Zaidelman, Tursina, Rozanov,Naumov, Sokolov ); Pháp (Ruellan, Quantin, Righi, Loyer ); Bỉ (Dudal, Delvaux,Berding ); Hà Lan (Driessen, Creutzberg ); Vương quốc Anh (Hollis, Bridges );Đức (Blume, Broll ); Mỹ (Arnol, Smith, Eswaran, Kosse, Kimble ); Nam Phi(Ellis, Laker ); ấn Độ (Seghal); Vênêzuêla (Schargel), v.v

Theo tài liệu này, đất Thế giới có 30 Nhóm đất chính, thêm 3 Nhóm làCryosols (Đất băng giá), Durisols (Đất cứng rắn) và Umbrisols (Đất sẫm mầu),đồng thời đất Greyzems (Đất vùng khô hạn) bị loại bỏ và được xếp vào Nhóm đấtPhaeozems (Đất nâu xám) và Nhóm Podzoluvisols (Đất nâu pốtdôn hóa) đổi tên làAlbeluvisols (Đất nâu có tầng bạc trắng)

Cụ thể, có các Nhóm đất chính sau: Histosols; Cryosols; Anthrosols;

Leptosols; Vertisols; Fluvisols; Solonchaks; Gleysols; Andosols; Podzols; Plinthosols; Ferralsols; Solonetz; Planosols; Chernozems; Kastanozems; Phaeozems; Gypsisols; Durisols; Calcisols; Albeluvisols; Alisols; Nitisols; Acrisols; Luvisols; Lixisols; Umbrisols; Cambisols; Arenosols và Regosols

Cơ sở tham chiếu về Tài nguyên đất Thế giới (WRB) không phải là sự thaythế cho phân loại đất của các quốc gia mà để sử dụng làm mẫu số chung dùng trong

Trang 21

trao đổi thông tin quốc tế Điều này có nghĩa là ở mức phân loại cấp thấp hơn có thể

sử dụng cho tính đa dạng của cấp quốc gia, đồng thời ở mức phân loại thấp có thểnhấn mạnh vào những chỉ tiêu của đất quan trọng để sử dụng và cải tạo đất

b- Những nguyên tắc chính trong phân cấp của FAO-UNESCO-WRB:

- ở cấp cao, phân loại dựa vào sự phân hóa chính của quá trình phát sinh tạo ratính chất đặc trưng của đất trừ trường hợp khi yếu tố đá mẹ đặc biệt có tầm quantrọng vượt trội

- ở cấp thấp, phân loại dựa vào sự phân hóa của quá trình hình thành đất thứcấp chủ đạo có ảnh hưởng đến tính chất cơ bản của đất Trong những trường hợp cụthể, những đặc điểm của tính chất có quan hệ đến sử dụng cũng được xem xét

Như vậy, cho đến nay, trên phạm vi toàn cầu đã có ngôn ngữ chung về phânloại đất (WRB) tương đối hoàn chỉnh và hiện đại, giúp cho việc trao đổi các thôngtin về đất trên toàn cầu trở nên thuận lợi hơn Đồng thời, WRB cũng là tài liệu vềphân loại đất mà mỗi một nước cần tham khảo như là một khung để chuyển đổidanh pháp, là phương tiện để xác định cấu trúc thổ nhưỡng và tầm quan trọng củachúng

c- Cấu trúc của hệ thống PLĐ theo FAO-UNESCO-WRB:

Gồm 3 cấp:

- Nhóm đất chính (Major Soil Grouppings);

- Đơn vị đất (Soil Units); và

- Đơn vị đất phụ (Soil Sub-Units)

d- Các tầng và đặc tính chẩn đoán theo phân loại FAO-UNESCO-WRB:

- Các tầng chẩn đoán (40 tầng chẩn đoán): Albic horizon, Andic horizon,

Anthraquic horizon, Anthropedogenic horizon, Argic horizon, Calcic horizon, Cambic horizon, Chernic horizon, Cryic horizon, Duric horizon, Ferralic horizon, Ferric horizon, Folic horizon, Fragic horizon, Fulvic horizon, Gypsic horizon, Histic horizon, Hydragric horizon, Hortic horizon, Irragric horizon, Melanic horizon, Mollic horizon, Natric horizon, Nitic horizon, Orchic horizon, Petrocalcic horizon, Petroduric horizon, Petrogypsic horizon, Petroplinthic horizon, Plaggic horizon, Plinthic horizon, Salic horizon, Spodic horizon, Sulfuric horizon, Takyric horizon, Terric horizon, Umbric horizon, Vertic horizon, Vitric horizon và Yermic horizon.

- Các đặc tính chẩn đoán (13 đặc tính chẩn đoán): Abrupt textural change,

Albeluvic tonguing, Alic properties, Aridic properties, Continuous hard rock, Ferralic properties, Geric properties, Gleyic properties, Permafrost, Secondary carbonates, Stagnic properties, Strongly humic properties và Vertic properties.

Trang 22

- Các vật liệu chẩn đoán (7 vật liệu chẩn đoán): Anthropomorphic soil

material, Calcaric soil material, Fluvic soil material, Gypsiric soil material, Organic soil material, Sulfidic soil material và Tephric soil material.

4.1.1.8 Nhận xét chung về các hệ PLĐ trên Thế giới đã tham khảo:

- Lịch sử PLĐ từ xa xưa đến nay đều có xu hướng đi từ đơn giản đến phức tạp, từ

định tính sang định tính-bán định lượng và cuối cùng là định lượng hoàn toàn.

- Các hệ PLĐ trên Thế giới cũng giống như các hệ phân loại khác, đều có chungmột nguyên tắc cơ bản trong phân loại là có các cấp phân vị đi từ cao xuống thấp

- Hệ PLĐ của Nga và Đức đều có xu hướng dựa vào nguồn gốc phát sinh; khôngchỉ dựa vào tính chất của đất mà còn dựa vào đặc điểm đá mẹ, mẫu chất và sự phân

bố theo không gian; là hệ phân loại có hệ thống phân vị và cấu trúc rất chặt chẽ vàchi tiết; đây là hệ thống phân loại đã được áp dụng khá lâu ở VN; các thuật ngữ đãđược Việt hóa nên có nhiều thuận lợi khi xây dựng hệ PLĐ cho bản đồ tỷ lệ trungbình và lớn theo trường phái này

- Hệ PLĐ của Mỹ (USDA-Soil Taxonomy) có khuynh hướng dựa vào tính chất đất,kinh nghiệm sử dụng và năng suất cây trồng; là hệ phân loại có hệ thống phân vị vàcấu trúc chặt chẽ và chi tiết; dễ cập nhật, bổ sung và sử dụng; tuy nhiên việc ápdụng hệ PLĐ này vào điều kiện VN, đặc biệt là áp dụng cho xây dựng bản đồ tỷ lệtrung bình và lớn sẽ gặp nhiều khó khăn do yêu cầu về nhiều chỉ tiêu phân tích kháphức tạp và nhiều thuật ngữ phân loại rất khó Việt hóa

- Hệ PLĐ của FAO-UNESCO là hệ PLĐ có xu hướng kết hợp cả hai trường pháitrên, được nhiều nước trên Thế giới chấp nhận (trong đó có VN); đây là hệ PLĐ cócác chỉ tiêu phân loại được định nghĩa rõ ràng, phần lớn đã được lượng hóa; tuynhiên hệ PLĐ này chỉ thích hợp để xây dựng các bản đồ đất tỷ lệ nhỏ; nếu áp dụngthì cần phải bổ sung vì hệ thống phân vị của hệ phân loại này chỉ có 3 cấp

- Những nghiên cứu về PLĐ của Trung Quốc cho thấy, từ trước những năm 80 củathế kỷ trước, hệ thống PLĐ của nước này ảnh hưởng mạnh của trường phái phátsinh học đất; từ năm 1985 trở lại đây Trung Quốc đã xây dựng hệ thống PLĐ theoSoil Taxonomy, hệ PLĐ có cấu trúc, cấp phân vị và phần lớn các tầng chẩn đoán,đặc tính chẩn đoán tương tự như USDA-Soil Taxonomy; tuy nhiên rất nhiều tầngchẩn đoán và đặc tính chẩn đoán đã được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điềukiện nước này

Việc tổng hợp các hệ PLĐ trên Thế giới cho thấy: Trong điều kiện VN, để xây dựng hệ PLĐ áp dụng cho việc xây dựng bản đồ đất trung bình và lớn, đạt được yêu cầu đề ra là tiên tiến, dễ sử dụng, và có thể chuyển đổi sang các hệ PLĐ trên Thế giới thì chúng ta cần biết kết hợp các hệ phân loại trên trên cơ sở các tiêu chí sau: Hệ thống phân vị; thuật ngữ phân loại theo phát sinh học; cấu trúc mở theo USDA-Soil Taxonomy; các chỉ tiêu phân loại theo FAO-UNESCO có bổ sung sửa đổi cho phù hợp với điều kiện Việt Nam (như Trung Quốc đã thực hiện)

Trang 23

4.1.2 Nghiên cứu phân loại đất tại Việt Nam:

4.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về PLĐ ở Việt Nam:

Nghiên cứu về đất và PLĐ ở VN cũng có nguồn gốc từ xa xưa Từ thế kỷ 15,một số kiến thức về khoa học nông học được tìm thấy trong “Dư địa chí” của NguyễnTrãi Tiếp sau đó có nhiều tác phẩm khác của Lê Tắc, Lê Quý Đôn, Nguyễn Nghiêm,v.v đã đề cập đến vấn đề liên quan đến khí hậu, đất, nước và cây trồng Những kiếnthức về đất hoặc liên quan đến đất trồng qua quá trình sản xuất, ông cha ta đã đúc rútthành kinh nghiệm và đã đề ra những biện pháp sử dụng đất có cơ sở khoa học vữngchắc Dựa theo nguồn gốc phát sinh và đặc điểm sử dụng đất, đã nêu ra cách phân

loại như: Đất đồi, đất phù sa, đất chua mặn, đất mặn, đất bạc màu, đất gan gà, v.v; hoặc dựa vào màu sắc để phân ra đất đỏ, đất xám, v.v; hoặc dựa theo thành phần cơ giới như: Đất sét, đất thịt, đất cát non, đất cát già, v.v; hoặc dựa vào độ phì nhiêu đất

để phân ra “nhất đẳng điền”, “nhị đẳng điền”; hoặc phân theo địa hình như: Đất cao,

đất vàn, đất trũng, đất chiêm trũng hoặc phân theo các loại hình sử dụng đất như: Đất một vụ lúa, đất chuyên màu, v.v Những kiến thức đó đã được đúc kết dựa trên

kinh nghiệm thực tế và đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất

Hệ PLĐ của VN được xây dựng từ hơn 30 năm trước, cơ bản dựa theo trườngphái phân loại phát sinh học của Liên Bang Nga, đồng thời chú ý tới các đặc điểm

và tính chất tác động trực tiếp đến nông nghiệp (nhất là thực vật) Khoa học đất pháttriển đã thúc đẩy công tác nghiên cứu về đất nói chung và PLĐ nói riêng ở nước ta

Có thể chia công tác nghiên cứu PLĐ ở nước ta ra các giai đoạn sau:

a- Trước năm 1954:

Trước khi giành được hòa bình độc lập, nước ta là nước có nền sản xuất nôngnghiệp lạc hậu Những nghiên cứu về đất một cách khoa học rất hiếm hoi NgườiPháp, trong quá trình khai phá đất để lập các đồn điền ở Đông Dương, đã bắt đầutriển khai một số nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình của: Nha Canh nông

và Thương mại Đông Dương (1898), Phòng phân tích Hóa học nông nghiệp và Kỹnghệ Sài Gòn (1898), Nha Canh nông Nam Kỳ (1899) Năm 1886, Pavie và cộng

sự đã tiến hành khảo sát đất khu vực Trung Lào - Trung Bộ và Đông Nam Bộ VN.Kết quả khảo sát này đã được công bố vào năm 1890 và được xem như tài liệunghiên cứu đất đầu tiên của VN và cả Đông Dương Tiếp sau đó, có thể kể đến một

số công trình nghiên cứu về đất của P Morange: Báo cáo kết quả của phòng phân

tích Nam Bộ và Một số nhận xét về thành phần lý, hóa học đất lúa Nam Bộ; J.

Lan: Đất trong nông nghiệp; F Roule và Thân Trọng Khôi: Đất và cây trồng vùng

Thanh Hóa; R.F Auriol và Lâm Văn Vãng: Nghiên cứu về đất và nước bị nhiễm phèn; Y Henry: Đất đỏ và đất đen trên bazan ở Đông Dương - Sử dụng những đất này, v.v

Từ những năm 1930, Castagnol E.M và các cộng sự đã có những công trình

nghiên cứu sâu và khá chính quy sau: Mối quan hệ giữa khả năng phân tán và dung

tích hấp thu của đất với thành phần của phức hệ keo; Nghiên cứu các loại đá ong

Trang 24

chính ở Đông Dương; ả nh hưởng của các quá trình sinh học đến tính chất lý, hóa học của đất nhiệt đới; Nghiên cứu so sánh các loại đất chính ở vùng Bắc Đông Dương; và Nghiên cứu các loại đất phiến thạch ở Phú Hộ

Castagnol E.M đã dựa vào đặc điểm của các quá trình hình thành đất và địa hình,phân chia đất Đông Dương (trong đó có đất VN) thành hai nhóm:

- Nhóm đất đỏ Lateritic gồm có:

1 Đất đỏ Lateritic trên núi

2 Đất đỏ Lateritic trên đá vôi vùng đồi núi

3 Đất đỏ Lateritic vùng đồi trên đá macma bazơ

4 Đất đỏ Lateritic vùng đồi trên các đá mẹ giàu silic (macma chua)

- Nhóm đất phù sa gồm có:

1 Đất phù sa nghèo kiềm thổ

2 Đất phù sa giàu kiềm thổ

3 Đất phù sa của các dãy đất cao miền châu thổ (đất phù sa đỏ)

Tại Nam Kỳ, có thể kể đến các công trình nghiên cứu đất của B Tkatchenko,

công bố trên IDEO và BEI vào những năm 1934-1940: Nhận xét về quá trình hình

thành kết von đá ong trong đất xám Nam Bộ; Góp phần nghiên cứu quá trình thổ nhưỡng của một số loại đất phát triển trên đá đa-xit ở tỉnh Đồng Nai Thượng; Góp phần nghiên cứu các đốm rỉ quan sát thấy trên các vườn cà phê ở tỉnh Đồng Nai Thượng, v.v.

b- Từ năm 1955 đến 1975:

Do đất nước bị chia cắt, nên công tác nghiên cứu đất và PLĐ được thực hiệnriêng lẻ ở từng miền:

(i) Các công trình nghiên cứu về PLĐ ở miền Bắc:

Năm 1955, Viện Khảo cứu Nông-Lâm Trung ương được thành lập và cácnghiên cứu về đất được tiến hành với quy mô nhỏ Công tác nghiên cứu và giảngdạy khoa học đất được đẩy mạnh khi thành lập Học viện Nông Lâm và Viện Khảocứu Trồng trọt Vào cuối năm 1956, được sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, V.M.Fridland (Phơ-rít-lan), công tác điều tra đất toàn miền Bắc được tiến hành Đội ngũ

cán bộ thổ nhưỡng nước ta cũng bắt đầu trưởng thành vào thời kỳ này Sơ đồ thổ

nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ xích 1/1.000.000 do V.M Fridland, Vũ Ngọc Tuyên,

Tôn Thất Chiểu, Đỗ ánh, Trần Văn Nam, Nguyễn Văn Dũng xây dựng năm 1958

và Bản chú giải (kèm theo sơ đồ) do V.M Fridland, Vũ Ngọc Tuyên, Phạm Tám,

Nguyễn Đình Toại xây dựng được in một năm sau đó (Học viện Nông Lâm, HàNội, 1959) Đây có thể coi là tài liệu cơ bản và quan trọng về đất và PLĐ đầu tiêncủa nước ta

Ngày đăng: 06/07/2016, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w