Lời nói đầu: được sửa đổi theo hướng nêu khái quát, cô đọng và súc tích hơn về truyền thống, lịch sử vẻ vang của đất nước, lịch sử lập hiến của nước ta; nhiệm vụ cách mạng trong giai đo
Trang 1Thể chế chính trị Câu 1 : Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1992 sửa đổi?
Lời nói đầu: được sửa đổi theo hướng nêu khái quát, cô đọng và súc tích hơn về
truyền thống, lịch sử vẻ vang của đất nước, lịch sử lập hiến của nước ta; nhiệm vụ
cách mạng trong giai đoạn mới.Hiến pháp đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và
khẳng định chủ quyền của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Chương I: Chế độ chính trị, được xây dựng trên cơ sở sửa đổi tên chương I ( Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Chế độ chính trị) và gộp với chương XI - Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô và ngày quốc khánh
Chương II: - Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Chương này được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại chương V -
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Khẳng định “Ở nước CHXHCNVN, các
quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Đó là
quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, quyền được bảo đảm
an sinh xã hội, quyền kết hôn và ly hôn, quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43),
Chương III - Về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi
trường Chương này được xây dựng trên cơ sở gộp chương II - Chế độ kinh tế và chương III (Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ) của HP năm 1992 nhằm thể hiện sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường
Chương IV - Về bảo vệ Tổ quốc - giữ nội dung và bố cục của chương IV của HP
năm 1992 HP xác định bảo vệ Tổ quốc VNXHCN là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, phải được thể hiện trên tất
cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại HP khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sự gắn kết giữa nhiệm vụ đối ngoại với quốc phòng, an
Trang 2ninh trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện nghĩa vụ quốc tế và góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới
Chương V - Quốc hội HP khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Chương VI - Chủ tịch nước - tiếp tục giữ các quy định của HP năm 1992 về vị
trí, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước
CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại HP sắp xếp, bổ sung để làm rõ hơn nhiệm
vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
Chương VII - Chính phủ : tiếp tục kế thừa quy định của HP năm 1992 về vị trí,
chức năng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và bổ sung quy định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
Chương VIII - Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, HP bổ sung quy định
tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp Đồng thời, sửa đổi quy định về hệ thống
tổ chức tòa án cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo hướng không xác định cấp tòa án cụ thể trong Hiến pháp mà để luật quy định Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Toà án
Chương IX - Chính quyền địa phương, được xây dựng trên cơ sở đổi tên chương
IX (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) của Hiến pháp năm 1992
Chương X - Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước Chương này có 3
điều (120, 121, 122), tất cả là điều mới.Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.Kiểm toán Nhà
nướcĐây là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật, có chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công
Chương XI - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp tiếp tục khẳng
định HP là luật cơ bản của nước CHXHCNVN, có hiệu lực pháp lý cao nhất; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Mọi vi phạm Hiến pháp đều
bị xử lý
Câu 2 : Cho biết vị trí, tính chất của Chính Phủ ?
Khẳng định : Chính Phủ là cơ quan chấp hành của Quốc Hội, đồng thời là cơ quan
hành chính Nhà nước cao nhất của Nhà nước CHXHCNVN
Trang 3 Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc Hội có trách nhiệm chủ yếu phải cụ thể hóa Hiến pháp, các luật và nghị quyết của Quốc Hội thành những văn bản dưới luật; đồng thời bàn biện pháp, phân công chỉ đạo thực hiện những quy định trong Hiến pháp, các luật nghị quyết Quốc Hội thành hiện thực
Hoạt động quản lý hành chính của Chính Phủ bao trùm lên toàn bộ XHCN và tổ chức kinh tế, trên tất cả các lĩnh vực và hoạt động này đồng nhất, phù hợp với sự quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước
(Ví dụ : trong việc quản lý cán bộ của các cơ quan Nhà Nước, Chính phủ đều có những quy định về chính sách, chế độ trong việc đào tạo, sử dụng tiền lương, trong khen thưởng, kỉ luật…)
Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất Dưới chính phủ là những cơ quan quản lý thuộc Chính Phủ cả một ngành, một lĩnh vực nhất định Những cơ quan nhỏ hơn không thuộc sự quản lý của Chính Phủ nhưng vẫn phải đặt dưới sự lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của Chính Phủ
Đối với các cơ quan nhà nước khác như : Quốc Hội, Tòa án nhân dân, viện kiểm soát thì việc quản lý hành chính nhà nước không phải là hoạt động chủ yếu Ngược lại, đối với Chính Phủ hay UBND các cấp thì hoạt động quản lý hành chính Nhà nước là chủ yếu và được gọi là Chức năng của cơ quan đó
Những năm vừa qua, tính chất và vị trí của Chính Phủ có sự thay đổi theo xu hướng Cùng với quá trình phát triển của CMVN, tính chất và vị trí của Chính phủ cũng được hoàn thiện … để Chính Phủ không làm thay công việc của Quốc Hội, của các đơn vị kinh tế… Tiếp tục từng bước đặt Chính phủ vào đúng vị trí của
mình – là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN.
Câu 3 : Làm rõ Vai trò của Đảng Cộng Sản trong Thể chế chính trị
VN ?
Trang 4 Đảng Cộng Sản - là lực lượng tiên tiến nhất của CNXH, Chủ nghĩa Mác Lê Nin là nền tảng tư tưởng của CNXH.
• Ra đời hơn một nửa thế kỉ, một số luận điểm của học thuyết không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại nhưng vẫn giữ vững giá trị khoa học chân chính của nó
• Với những chi tiết khoa học này, Đảng CSVN có thể vạch ra chiến lược, chính sách phát triển phù hợp với quy luật, sức thuyết phục, động viên lớn; đồng thời có khả năng biến chiến lược, chủ trương chính sách của mình thành hiện thực
• Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống Chính trị có cơ sở về mặt tình cảm tinh thần ( thông qua thực tiễn đấu tranh kiên cường và cống hiến của
Đảng đã được lòng tin của đa số nhân dân )
• Đảng kiên trì đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng chống Chủ nghĩa đế quốc, Chủ nghĩa thực dân Cũ – mới hay phátxít…
Đảng CSVN đã được uy tín quốc tế lớn cũng như tình đoàn kết và sự giúp
đỡ từ phía phong trào cộng sản và nhân dân quốc tế Điều này cũng có tác dụng lớn đối với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN đối với
hệ thống chính trị trong nước
Câu 4 : Trình bày những sửa đổi cơ bản của Hiến pháp 1992 ?
- Một là, phần Lời nói đầu của Hiến pháp sửa đổi xúc tích, ngắn gọn hơn so
với Hiến pháp năm 1992.đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và khẳng định chủ quyền của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
- Hai là, Hiến pháp năm 1992 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân ở Chương 5, nhưng Hiến pháp sửa đổi đã đưa chế định này lên đặt ở Chương 2, như vậy đã thể hiện tầm quan trọng của chương về quyền con
người Thay cụm từ "mọi công dân" thành "mọi người", "Mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội"
Bổ sung thêm quy định: "Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật"
- Ba là, Hiến pháp sửa đổi lần này vẫn tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của
Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó thể hiện rõ hơn bản chất của Đảng một cách công khai.HP nhấn mạnh Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân Đó
là sức sống của Đảng
Trang 5Thêm vào đó, Đảng phải phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Nếu như quyết định không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân thì Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước dân tộc Đây là điểm rất mới của Hiến pháp
- Bốn là, Hiến pháp sửa đổi phân định rõ được chức năng nhiệm vụ cơ quan
lập pháp, tư pháp, hành pháp
• Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất của nước CHXHCNVN Quốc hội thực hiện quyền lập hiến
và lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước: quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
• Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
CHXHCNVN, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
Câu 5 : Vị trí, vai trò của Đảng cộng sản trong hệ thống Chính trị ?
- Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền Đó là sự lựa chọn của dân tộc ta, là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan
Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý
- Khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước pháp quyền và trong các điều kiện xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, mà biểu hiện tập trung nhất
là bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải phân định sự lãnh đạo của Đảng đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước
- Trong tổ chức của hệ thống chính trị :Đảng ta vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống, vừa là thành viên trong hệ thống chính trị Điều đó cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng và khả năng độc lập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các mối quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ
- Trong thực tiễn, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn được xác định trong từng mối quan hệ với từng thiết chế, tổ chức cụ thể trong hệ thống chính trị Vai trò cầm quyền và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước khác với sự lãnh đạo
Trang 6của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc hoặc đối với các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa
- Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng Tăng cường mối quan hệ của Đảng với các thành tố của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Câu 6 : Làm rõ vị trí, tính chất và chức năng của Quốc Hội?
VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT
Trong bộ máy nhà nước việt nam, quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
Vị trí đó được xác định trên cơ sở quy định của hiến pháp Theo Hiến Pháp
1992 “ Ở nước CHXHCNVN tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” Nhân dân
sử dụng quyền lực của mình bằng hai hình thức cơ bản: hình thức gián tiếp
và trực tiếp
• Hình thức trực tiếp tạo nên nền dân chủ trực tiếp
• Hình thức gián tiếp tạo nên nền dân chủ đại diện
Trong điều kiện hiện nay, dân chủ đại diện đóng vai trò quan trọng Nội dung thực hiện nền dân chủ gián tiếp bằng cách thông qua quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân , cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
• là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp,
• quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước,
• giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của nhà nước
Quốc hội, vì vậy thể hiện tính đại diện nhân dân và tính quyền lực cao nhất trong tổ chức và hoạt động của toàn bộ máy nhà nước
Trang 7 Với tính chất là cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống các cơ quan nhà nước của nhà nước ta, quốc hội là cơ quan được hiến pháp giành cho vị trí trang trọng nhất, cơ quan đầu tiên trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà
nước được hiến pháp quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN” (điều 83_ hp 1992)
Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân như thông qua hiến pháp, các đạo luật, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội,…
CHỨC NĂNG của QUỐC HỘI
• Quốc Hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
• Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của nhân dân
• Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả
Câu 7 : Vị trí , vai trò của UBND các cấp ?
Vị trí tính chất của UBND các cấp do Quốc Hội – cơ quan quyền lực cao
nhất – quy định trong Hiến Pháp và trong Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân
và Ủy ban nhân dân
Vị trí, tính chất, chức năng của Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, xã và các cấp tương đương được quy định tại Điều 194 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân: “Ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân bầu là
cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương… chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật,các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp …”
Do đó vị trí, tính chất của Ủy ban nhân dân được thể hiện ở hai điểm sau:
• Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Trang 8• Với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, ủy ban nhân dân
là cơ quan thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước, chấp hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp cũng như các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
Vị trí chức năng của UBND các cấp : Ủy ban nhân dân chỉ có một chức
năng, vai trò duy nhất là quản lí nhà nước, vì quản lí nhà nước là hoạt động chủ yếu, bao trùm lên toàn bộ hoạt động của ủy ban nhân dân Trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, Ủy ban nhân dân có quyền ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp với thực tế của địa phương mình, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và thu hút đầu
tư nước ngoài
Câu 8 : Vai trò của Tòa Án ND các cấp ?
Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân Do vậy, Toà án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước
Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân
sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Toà án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Toà án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm