1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thể chế chính trị ở một số nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới tiểu luận cao học

43 635 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 247 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính trị không chỉ là một tiểu hệ thống thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, có tác động ảnh hưởng tới các yếu tố quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng xã hội mà quan trọng còn là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái và các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội. Mỗi bộ phận của chính trị lại có những chức năng riêng và đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Sự liên kết đó tạo thành một cơ chế hoạt động nhịp nhàng, giúp cho thống trị đạt được mục tiêu của mình. Trong đó, hệ thống chính trị là công cụ, là phương tiện và là phương thức tổ chức thực tiễn quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Hệ thống chính trị giúp bảo vệ và đem lại lợi ích cho giai cấp thống trị, giúp giai cấp thống trị duy trì trật tự an ninh chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, nó còn có vai trò to lớn trong việc quản lý các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như: kinh tế, văn hoá, quốc phòng, ngoại giao… Hệ thống chính trị có vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia. Một hệ thống chính trị có kết cấu hợp lý và các thành phần trong đó có mối quan hệ chặt chẽ sẽ giúp mỗi quốc gia phát triển đi lên. Ngược lại hệ thống chính trị không ổn định sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia đó. Hơn nữa, ngành Khoa học Quản lý không chỉ yêu cầu người học cần trang bị những kiến thức vững chắc về các lĩnh vực chuyên môn mà còn đòi hỏi có những hiểu biết chung về chính trị xã hội, trong đó có hệ thống chính trị để sau khi tốt nghiệp có thể áp dụng những kiến thức đó vào công việc trong tương lai. Xuất phát từ những lý do trên nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “Thể chế chính trị ở một số nước TBCN trên thế giới” làm hướng nghiên cứu của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính trị không chỉ là một tiểu hệ thống thuộc kiến trúc thượng tầng xãhội, có tác động ảnh hưởng tới các yếu tố quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạtầng xã hội mà quan trọng còn là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, cácđảng phái và các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội Mỗi bộ phận củachính trị lại có những chức năng riêng và đồng thời có mối quan hệ chặt chẽvới nhau.Sự liên kết đó tạo thành một cơ chế hoạt động nhịp nhàng, giúp chothống trị đạt được mục tiêu của mình

Trong đó, hệ thống chính trị là công cụ, là phương tiện và là phươngthức tổ chức thực tiễn quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Hệ thốngchính trị giúp bảo vệ và đem lại lợi ích cho giai cấp thống trị, giúp giai cấpthống trị duy trì trật tự an ninh chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội Bêncạnh đó, nó còn có vai trò to lớn trong việc quản lý các lĩnh vực khác nhautrong đời sống xã hội như: kinh tế, văn hoá, quốc phòng, ngoại giao…

Hệ thống chính trị có vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia Một

hệ thống chính trị có kết cấu hợp lý và các thành phần trong đó có mối quan

hệ chặt chẽ sẽ giúp mỗi quốc gia phát triển đi lên Ngược lại hệ thống chínhtrị không ổn định sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia đó

Hơn nữa, ngành Khoa học Quản lý không chỉ yêu cầu người học cầntrang bị những kiến thức vững chắc về các lĩnh vực chuyên môn mà còn đòihỏi có những hiểu biết chung về chính trị - xã hội, trong đó có hệ thống chínhtrị để sau khi tốt nghiệp có thể áp dụng những kiến thức đó vào công việctrong tương lai

Xuất phát từ những lý do trên nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “Thể chế

chính trị ở một số nước TBCN trên thế giới” làm hướng nghiên cứu của

mình

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hệ thống chính trị là một nhân tố quan trọng của bất kỳ một nền chínhtrị nào trên thế giới Dựa vào việc tổ chức và hoạt động của một hệ thốngchính trị nào đó họ có thể nhận biết được hoạt động thực tiễn của nền chính trịtrong một quốc gia Do vậy hệ thống chính trị có vai trò quan trọng nên đã cónhiều công trình nghiên cứu khác nhau tiếp cận theo những khía cạnh rấtriêng với những mục tiêu khác nhau

Trong bài tiểu luận này em sẽ tiếp cận với khía cạnh rất riêng về hệthống chính trị theo cách nghiên cứu của mình nhằm làm sang tỏ các nội dungtrong bài

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị, mô hình hệ thốngchính trị và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự đổimới không ngừng của thế giới trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội Hơnnữa, việc nghiên cứu đề tài giúp chúng em củng cố thêm kiến thức về bài học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Bài tiểu luận này được thực hiện nhằm làm sáng tỏ những nhiệm vụnghiên cứu sau:

-Đưa ra một số khái niệm cơ bản

-Phân tích về chế độ đa đảng của một số nước trên thế giới

-Làm rõ tính tất yếu của chế độ nhất nguyên chính trị của Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận nghiên cứu về vấn đề Đảng trong các nước tư bản chủnghĩa và tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Bài tiểu luận này nghiên cứu trong phạm vi các nước tư bản: Mỹ, Liênhiệp vương quốc Anh và Bắc Ailen, Pháp, Đức, Liên Bang Nga, Khu vựcASEAN và tại Việt Nam

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng: Chủ yếu dự vào quan điểm chủ nghĩaMác- Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng Phép duy vật biện chứng gópphần phát hiện mâu thuẫn và động lực của sự phát triển chính trị xã hội Giúpgiải quyết một cách khoa học mối quan hệ giữa các mục tiêu chính trị vàphương tiện thực hiện mục tiêu đó

Phương pháp duy vật lịch sử: Nghiên cứu các hiện tượng, sự kiện chínhtrị thông qua việc nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóacủa hiện tượng, từ đó làm logic khách quan nội tại phản ánh bản chất và quyluật vận động của chính trị trong đời sống xã hội hiện thực Việc sử dụngđúng đắn phương pháp lịch sử cho phép khắc phục chủ quan duy ý chí trongnghiên cứu hệ thống chính trị

Phương pháp mô hình hóa: Phương pháp này giúp ta có thể mô hìnhhoá cơ chế nào đó của hệ thống chính trị như các phần tử của hệ thống: Nhànước, cơ quan nhà nước…và sự tác động qua lại với các hệ thống chính trịkhác

Phương pháp so sánh: Cho phép ta nắm bắt được đối tượng nghiên cứuqua những nét tương đồng và khác biệt với đối tượng so sánh

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Cho phép ta tổng hợp nhữngkhía cạnh riêng lẻ, khác nhau và lặp đi lặp lại của hệ thống chính trị Từ đólàm cơ sở phân tích các diễn biến đời sống chính trị và đưa ra được nhữngnhận định chính xác

6 Đóng góp của tiểu luận

Bài tiểu luận được thực hiện nhằm giúp cho những ai quan tâm về chế

độ đa đảng tại một số nước tư bản chủ nghĩa điển hình có them những tài liệu

để đọc và hiểu hơn về bản chất của chế độ đa đảng tại các nước này Ngoài ratiểu luận cũng làm rõ những nội dung về việc nhất nguyên chính trị tại ViệtNam

7 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo,nội dung bài tiểu luận có 3 chương, 10 tiết

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM 1.1.Thể chế

Theo nghĩa rộng, thể chế dùng để chỉ một hệ thống những quy định,luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phươngthức vận hành của một xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

Theo nghĩa hẹp: thể chế dùng để chỉ một hệ thống những quy định, luật

lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức, phương thức vàvận hành của một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó trong một giaiđoạn lịch sử nhất định

1.1.1 Thể chế chính trị

Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợpthành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độchính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộcthượng tầng kiến trúc, là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dungcủa chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của giai cấp cầm quyền

Khái niệm thể chế chính trị bao gồm những nội dung chủ yếu sau:Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị tạo thành nhữngnguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, của hệthống chính trị Thể chế chính trị bao gồm thể chế nhà nước, thể chế các đảngchính trị, thể chế các tổ chức chính trị xã hội, trong đó, thể chế nhà nước làquan trọng nhất

Thể chế chính trị là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chínhtrị thuộc thượng tầng kiến trúc Song thể chế chính trị đồng thời lại là cơ sởchính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ chính trị xã hội

Hiệu lực, vai trò của thể chế chính trị tùy thuộc vào hiệu lực và vai tròcủa từng thể chế trong hệ thống chính trị cũng như của cơ chế vận hành củatoàn hệ thống, trong đó thể chế nhà nước là quan trọng nhất

Trang 5

1.1.2 Các Đảng phái chính trị

Trong xã hội hiện đại, đảng chính trị đã trở thành đại biểu thực thụ chocác lực lượng quần chúng nhất định trong quan hệ với quyền lực nhà nước.Hiện nay, các học giả tư sản có hàng trăm định nghĩa khác nhau về đảng chínhtrị Nhưng, từ sự ra đời và tồn tại của các đảng chính trị đã cho thấy rõ:

Đảng chính trị là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp Đảng rađời một cách tự giác khi cuộc đấu tranh giai cấp phát triển ở trình độ cao đếnmức cần phải có một tổ chức tham mưu lãnh đạo, điều hành thống nhất về tưtưởng và hành động của cả giai cấp Lịch sử đấu tranh giai cấp của nhân loạibao giờ cũng có những tổ chức tương tự như đảng chính trị Song, lịch sử thật

sự của đảng chính trị chỉ bắt đầu từ cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chốngphong kiến và phát triển mạnh mẽ trong xã hội hiện đại Đảng sẽ mất ý nghĩatồn tại khi sứ mệnh lịch sử của giai cấp đã hoàn thành

Đảng chính trị bao giờ cũng mang bản chất giai cấp Đảng chính trịkhông chỉ là đại diện cho hệ tư tưởng mà còn là tổ chức cao nhất, chặt chẽnhất của một giai cấp; tập hợp những người giác ngộ nhất, kiên quyết nhấttrong đấu tranh thực thi quyền lực và lợi ích giai cấp mình, nên không cóđảng nào là phi giai cấp hay siêu giai cấp Một giai cấp có thể có nhiều đảng,mỗi đảng đại diện cho một tầng lớp trong giai cấp và cũng là đại biểu cho cảgiai cấp đó Lênin đã viết: ''Cuộc đấu tranh của các chính đảng là biểu hiệnhoàn chỉnh, đầy đủ và rõ rệt nhất của cuộc đấu tranh chính trị của các giaicấp'' Các đảng chính trị đều hướng tới 1ãnh đạo, điều hành chính quyền nhànước, tổ chức cho giai cấp và các lực lượng ngoài giai cấp tiến hành đấu tranhtheo đường lối chính trị của mình.Đây là vấn đề có tính nguyên tắc

Bản chất giai cấp quy định vai trò lịch sử của đảng chính trị Vai trò củamột đảng chính trị đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố vàđiều kiện khác nhau, nhưng cơ bản nhất là phụ thuộc vào địa vị lịch sử và bảnchất giai cấp của đảng đó Cho nên, khi xem xét toàn diện một đảng, phải tìmcho được bản chất của nó Lênin đã nhấn mạnh: ''Để nhận rõ được cuộc đấu

Trang 6

tranh của các đảng, thì không nên tin ở lời nói, mà nên nghiên cứu lịch sử thật

sự của đảng, nghiên cứu chủ yếu là việc làm chứ không phải là những lời họnói về bản thân họ, xem họ giải quyết các vấn đề chính trị như thế nào, xemthái độ họ như thế nào trong những vấn đề có 1iên quan đến lợi ích thiết thâncủa các giai cấp khác nhau trong xã hội''

Như vậy, về bản chất, đảng chính trị là đội tiên phong của giai cấp haytầng lớp, lãnh đạo tầng lớp hay giai cấp đó đấu tranh để hiện thực hóa quyềnlực, lợi ích của tầng lớp và cả giai cấp mà mình đại diện trong một hoàn cảnhlịch sử xác định

Đảng phái chính trị(thường được gọi vắn tắt là chính đảng hay đảng) làmột tổ chức chính trị tự nguyện với mục tiêu được một quyền lực chính trịnhất định trong chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch bầu

cử Các đảng thường có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưngcũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ Các đảngthường có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng của một tầng lớp, giaicấp, quốc gia để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp, giai cấp hay quốc gia đó.(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Trên thế giới hiện nay tồn tại hai dạngthể chế đảng chính trị bao gồm đơn đảng và đa đảng, trong đó, loại hình đađảng bao gồm lưỡng đảng, đa đảng và liên minh đảng cầm quyền

1.2 Khái niệm về chế độ đa đảng

Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị nhà nước trong đó lý do tồntại của các đảng là sự cạnh tranh về quyền lực Mỗi đảng thường là đại diệncho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau… theođuổi những lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiềumặt, từ chính sách đối nội, đối ngoại, đến quan điểm, hệ tư tưởng – chế độ xãhội và ngày nay còn là thái độ, ứng xử đối với môi trường

Đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thếgiới hiện nay Nói chung ở các nước tư bản, về hình thức, đa đảng chính trịđều "tự do”, "bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng

Trang 7

trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế chỉ có các đảng lớn, có thế lựcmới có khả năng chiến thắng và bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặclãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ Mặt khác, chế độ đa đảng ở phươngTây, về thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, vì tất cả cácđảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản.

1.2.1 Các hình thức đa Đảng

Căn cứ vào số lượng các đảng phái chính trị trong xã hội cũng nhưcách thức hoạt động của các đảng này, người ta phân chia thành 3 dạng: lưỡngđảng, đa đảng và liên minh đảng cầm quyền

Lưỡng đảng: đời sống chính trị của quốc gia do hai chính đảng chiphối, hoặc chỉ tồn tại hai đảng, hoặc nếu nhiều hơn thì các đảng khác đềukhông đủ thế lực, đều lu mờ trước sân khấu chính trị rồi ngả về ủng hộ mộttrong hai đảng

Đa đảng: Số lượng chính đảng chi phối đời sống chính trị của một quốcgia nhiều hơn hai đảng

Liên minh đảng cầm quyền: Trong các quốc gia có thể chế chính trị đađảng, một đảng nào đó chiếm được đa số (sau thắng lợi bầu cử), nhưng chưađạt đến mức độ tuyệt đối thì phải liên minh với một số đảng khác tạo thànhmột liên minh cầm quyền Khi đó giữa các đảng có sự dàn xếp với nhau, điềuhòa về các vị trí chủ chốt trong nội các, điều hòa về chính sách và quyền lực.Đảng nào chiếm số lượng cử tri đông nhất thì đảng đó có nhiều đại biểu trongquốc hội, có nhiều ghế trong chính phủ, chiếm nhiều vị trí chủ chốt trongchính quyền nhà nước

1.2.2 Nguồn gốc của chế độ đa Đảng

Sự xuất hiện học thuyết "tam quyền phân lập" (học thuyết phân chiaquyền lực) gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độphong kiến chuyên chế Để hạn chế quyền lực của nhà vua, các nhà tư tưởngcủa giai cấp tư sản đã đưa ra luận điểm về sự cần thiết phân chia quyền lựcnhà nước thành các nhánh quyền lực độc lập Những nhà tư tưởng này đã

Trang 8

nhận thấy ở các nhà nước quân chủ chuyên chế quyền lực nhà nước tập trungtrong tay một nhà quân chủ (một người), dẫn đến việc độc đoán, lạm quyền,tuỳ tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước.

Thuyết “Tam quyền phân lập" ra đời là một bước tiến bộ so với chế độquân chủ phong kiến Nó đã trở thành ngọn cờ tư tưởng tập hợp quần chúngchống chế độ phong kiến trong quá trình cách mạng tư sản thế kỷ XVII -XVIII Khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, học thuyết "Tam quyềnphân lập" trở thành nguyên tắc cơ bản về tổ chức hoạt động của nhà nước tưsản nhằm hạn chế sự độc quyền, lạm quyền, tuỳ tiện trong việc sử dụng quyềnlực nhà nước Nguyên tắc này đã tạo ra cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước tư sản

Học thuyết "Tam quyền phân lập" gắn liền và phù hợp với chế độ chínhtrị đa đảng của nhà nước tư sản Có nhà nước tư sản áp dụng học thuyết nàymột cách mềm dẻo (ở các nhà nước theo chính thể đại nghị, giữa hành pháp

và lập pháp có sự phối hợp với nhau và hành pháp chịu trách nhiệm trước lậppháp); có những nhà nước áp dụng học thuyết này một cách cứng rắn (ở cácnhà nước theo chính thể cộng hoà tổng thống có sự độc lập của các cơ quanquyền lực, hành pháp không chịu trách nhiệm trước lập pháp)

Như vậy, có thể thấy rằng, không có một khuôn mẫu cố định của họcthuyết "Tam quyền phân lập" để áp dụng chung cho mọi nhà nước tư sản vớicác hình thức nhà nước khác nhau và càng không thể có một khuôn mẫuchung về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước áp dụng chung cho mọinhà nước với những chế độ chính trị khác nhau Ngay đối với một đất nước,thì cách thức tổ chức và phân công quyền lực nhà nước cũng không phải làbất biến, mà phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cho phù hợp với từnggiai đoạn lịch sử của nước đó

Xã hội tư bản lấy tự do cạnh tranh làm nền tảng cho sự tồn tại và pháttriển chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập Các giai cấp có lợi íchkhác nhau đều có quyền thành lập đảng chính trị của mình và được phép hoạt

Trang 9

động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước tư sản Trong xã hội ấy, các tậpđoàn tư bản lũng đoạn khác nhau cũng thành lập ra các đảng chính trị để bảo

vệ cho lợi ích của tập đoàn đó Họ ra sức công kích lẫn nhau Mỗi đảng đềuđưa ra cương lĩnh tranh cử nhằm lôi kéo các tầng lớp dân cư mong chiếmđược nhiều ghế trong các cuộc bầu cử quốc hội, giành chức vụ đứng đầu cơquan hành pháp (tổng thống, thủ tướng) để đứng ra thành lập chính phủ

Cơ chế đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập được coi như là cơ chếdân chủ nhất, thích hợp nhất trong một xã hội mà quyền lực nhà nước đượccoi là trung tâm giành giật trên chính trường của các thế lực tư sản Chừngnào trong xã hội còn sự cạnh tranh đối nghịch về lợi ích giữa các giai cấp, cáctập đoàn tư bản thì chừng ấy cơ chế đa đảng còn có thể phát huy tác dụng.Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng, mâu thuẫn giữa các đảng chính trị của các tậpđoàn tư bản khác nhau thường không phải là mâu thuẫn một mất, một còn.Nói chung, về bản chất nó đều bảo vệ quyền lợi cơ bản của giai cấp tư sản đãđược xác định trong Hiến pháp mà bất kỳ đảng nào cũng đều phải tuân theo.Các đảng ấy chỉ khác nhau về lợi ích cục bộ, còn về cơ bản nó vẫn thống nhấtvới nhau và khi cần phải bảo vệ lợi ích chung thì nó vẫn cố kết với nhau nhưbàn thạch Do đó, dù có mâu thuẫn, nhưng cuối cùng, sau những ván bàichính trị, họ vẫn có thể nhân nhượng nhau, hợp tác với nhau, chia sẻ quyềnlực cho nhau; thành ra cơ chế đa đảng, xét đến cùng thì bản chất vẫn là một,vẫn chỉ là đảng của giai cấp tư sản thay nhau nắm giữ quyền lực nhà nước

Chế độ đa đảng tồn tại ở nhiều nước trên thế giới còn do những yếu tốlịch sử, trong quá trình đấu tranh giành độc lập, hoặc phá bỏ chế độ phongkiến, trong suốt quá trình phát triển kinh tế, văn hóa của từng quốc gia Từ khigiai cấp tư sản nắm giữ được ngọn cờ dân tộc, biến dân tộc đó thành dân tộc -

tư sản thì toàn bộ dân cư của quốc gia đều vận động trong quỹ đạo của giaicấp tư sản

Trang 10

1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của chế độ đa Đảng

1.2.3.1 Ưu điểm

Đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản

và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ độcquyền, độc đoán, hạn chế sự lạm quyền, tuỳ tiện sử dụng quyền lực

1.2.3.2 Nhược điểm

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhìn thấy những hạn chế của thuyết phânquyền và đã chỉ ra bản chất bên trong của nó và quyền lực nhà nước đượcsinh ra từ mâu thuẫn giai cấp Sự xuất hiện giai cấp, đồng thời cũng xuất hiệnnhà nước và cùng với nó là quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là quyềnlực của một nhóm chủ thể nhất định đối với toàn xã hội, với đặc thù sử dụngnhững biện pháp cưỡng chế mang tính nhà nước Quyền lực nhà nước làphạm trù thuộc thượng tầng kiến trúc, do đó, tính chất của quyền lực nhànước sẽ do hạ tầng cơ sở là các quan hệ kinh tế quy định Bộ phận cấu thànhquan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí của giai cấpcầm quyền Quyền lực nhà nước chỉ tồn tại thông qua bộ máy nhà nước Bộmáy này tạo nên sức mạnh của quyền lực nhà nước Bản thân nhà nước khôngphải là quyền lực, mà cùng với pháp luật chỉ là những công cụ thực hiệnquyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị, phục vụ lợiích của giai cấp thống trị và, do đó, về bản chất, nó là quyền lực thống nhất

Nguyên tắc phân quyền chỉ tồn tại khi có sự tranh giành quyền lực giữacác thế lực xã hội khác nhau Ở nhà nước tư sản, quyền lực nhà nước được tổchức theo nguyên tắc "Tam quyền phân lập", nhưng xét về bản chất, thì quyềnlực nhà nước lại thống nhất ở tính giai cấp và tính chính trị Trên thực tế, phânchia quyền lực hoàn toàn không tạo thành bức tường giữa các quyền lực, vì vềbản chất, quyền lực nhà nước là thống nhất trong một nhà nước thống nhất Vìvậy, ngay trong các nhà nước tư sản, bên cạnh tư tưởng về sự kiềm chế, đốitrọng giữa các quyền lực, đã đòi hỏi sự cần thiết về mối tương hỗ, phối hợpgiữa các quyền lực Đối với những vấn đề có tính nguyên tắc trong chính sách

Trang 11

nhà nước, thì mọi nhánh quyền lực đều phải hành động thống nhất với nhau,nếu không sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ và tan rã Như vậy, có thể thấyrằng, quan điểm về tổ chức phân chia quyền lực không có ý nghĩa tuyệt đối,phân chia quyền lực không loại trừ sự thống nhất trong chính sách nhà nước

về những vấn đề có tính nguyên tắc và sự tương hỗ, phối hợp giữa các nhánhquyền lực

Việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc "Tam quyền phânlập”, tuy có những mặt tích cực trong việc hạn chế sự lạm quyền, tuỳ tiện sửdụng quyền lực, nhưng mặt khác, lại tạo ra cơ chế kiềm chế, cản trở việc hìnhthành các cơ cấu, tổ chức nhà nước Vì vậy, trong những trường hợp này, đểgiải toả tình hình, các nhánh quyền lực nhà nước, các chính đảng, lực lượngđối lập buộc phải thoả hiệp với nhau

Thể chế đa đảng cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi íchcục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải-trái, đúng - sai, không tôn trọng những lợi ích chính đáng của nhân dân Thực

tế đã và đang diễn ra ở không ít các quốc gia là các đảng tranh giành quyềnlực, đấu đá lẫn nhau, gây ra rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Thậm chí, sự tranh giành quyền lực giữa các đảng đã đẩy một số nướclâm vào khủng hoảng chính trị, chẳng những quyền dân chủ của người dânkhông được đảm bảo mà tính mạng của họ cũng bị đe dọa

Ví dụ: Cuộc xung đột giữa những người "áo đỏ” với Chính phủ đươngnhiệm ở Thái Lan và cuộc xung đột giữa chính phủ và phe đối lập Cư-rơ-gư-xtan vừa qua là những ví dụ Đảng phái chính trị (hàng trăm đảng phái) và dothế lực quân phiệt Thái Lan cố tình dùng quyền lực của mình để đàn áp phongtrào dân chủ và thanh trừng lẫn nhau, nên trong 66 năm (từ sau Cách mạng tưsản năm 1932 – 1998), Thái Lan đã trải qua 33 cuộc đảo chính, bình quân cứ

2 năm lại có một cuộc đảo chính thay đổi chính phủ

Ví dụ: Tháng 5/2010, Thủ tướng Anh Gordon Brown- lãnh đạo Côngđảng đã bất ngờ tuyên bố sẽ từ chức lãnh đạo Công đảng sau khi đảng này

Trang 12

thất bại trong cuộc bầu cử cuối tuần trước Trong cuộc bầu cử này, đảng Bảothủ chiếm được nhiều số ghế nhất nhưng không đủ đa số để thành lập chínhphủ Quốc hội Anh đã rơi vào trạng thái “treo” do không đảng nào thu đủ đa

số cần thiết 326 ghế để giành quyền đứng ra thành lập chính phủ Lãnh đạoĐảng Bảo thủ David Cameron trở thành thủ tướng đứng ra lập nội các mớitrong sự liên minh với đảng Dân chủ tự do của ông Nick Clegg Đây là chínhphủ liên minh đầu tiên kể từ năm 1935 tới nay

Trang 13

Chương 2:

CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Mỹ

Hoa Kỳ là liên bang tồn tại lâu đời nhất trên thế giới Ở nước Mỹ cónhiều chính đảng, mỗi đảng đều đại diện cho lợi ích của những bộ phận dân

cư khác nhau Nhưng từ ngày thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) tớinay, không đảng nào có đủ sức mạnh cạnh tranh với hai đảng (Đảng Cộng hòa

và Đảng Dân chủ) đại diện cho hai tập đoàn tư bản kếch xù Thành thử lịch sửNhà nước Mỹ, kể từ khi họ giành được độc lập tới nay, là lịch sử đấu tranh,giành giật giữa hai chính đảng mà kết cục là Đảng Dân chủ và Đảng Cộnghòa thay nhau cầm quyền Các chính đảng khác đều không đủ thế lực, đều lu

mờ trước sân khấu chính trị rồi ngả về ủng hộ một trong hai đảng

2.1.1 Sự hình thành hệ thống hai đảng (lưỡng đảng)

Hình thành từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XVIII, dưới chính quyền Tổngthống Oasinhtơn Do không được Tổng thống ủng hộ, Jephesơn tập hợp thànhnhóm Cộng hòa đổi tên thành Cộng Hòa – Dân chủ, tiền thân của Đảng Dânchủ sau này

Đến năm 1824, đảng phân liệt thành nhiều phe phái và phân chia thànhhai nhóm chống đối nhau: Đảng Dân chủ (đại diện cho chế độ nô lệ ở miềnNam) và Đảng Uých (đại diện cho các chủ ngân hàng, tư sản và chủ đồn điềnmiền Nam)

Trong những năm 1850, Đảng Uých sụp đỗ và đến 1854, những ngườithuộc Đảng Uých và những người thuộc Đảng Dân chủ có xu hướng chốngchế độ nô lệ đã thành lập Đảng Cộng hòa (đại diện cho quyền lợi của miềnBắc và miền Tây) Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau nắm chínhquyền cho đến ngày nay

Trang 14

Ngoài ra, ở Mỹ còn tồn tại một số đảng khác như: Đảng Dân túy, Cấptiến, Độc lập, Cải cách, Đảng Cộng sản Mỹ (được thành lập 1920).

2.1.2 Đặc điểm

Chính trị tại Hoa Kỳ hoạt động dưới một hệ thống lưỡng đảng gần nhưsuốt chiều dài lịch sử Hoa Kỳ Đối với các chức vụ được đưa ra bầu cử ở cáccấp, bầu cử sơ bộ do tiểu bang đảm trách sẽ được tổ chức để chọn ra các ứng

cử viên của từng đảng chính yếu để chuẩn bị cho tổng tuyển cử sau đó Từ lầntổng tuyển cử năm 1856, hai đảng có ảnh hưởng chi phối là Đảng Dân chủđược thành lập năm 1824 (mặc dù nguồn gốc của đảng có thể lần tìm ngược

về năm 1792), và Đảng Cộng hòa thành lập năm 1854

Có nhiều chính đảng, mỗi đảng đại diện cho lợi ích của những bộ phậndân cư khác nhau à các chính đảng khác đều không đủ thế lực, đều lu mờ vàngả về ủng hộ một trong hai đảng

Hệ thống Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa ở Mỹ không gắn bó và kỷluật Nội bộ các đảng không đồng nhất, thiếu sự gắn kết do nền tảng xã hộimỗi đảng khác nhau nhưng đều cùng bảo vệ quyền lợi cơ bản của giai cấp tưsản à tổ chức và hoạt động của hai đảng như hai tổ chức bầu cử

Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa như hai tổ chức tranh cử thườngtrực Khi bầu cử kết thúc thì hoạt động của các đảng cũng dừng

Tổ chức lỏng lẻo, quyền lực phân tán, không có nội quy, kỷ luật, chếđịnh đảng viên Không có tôn chỉ lâu dài, không có cương lĩnh cố định

Các tổ chức trong đảng hoạt động độc lập, quan hệ trên dưới rời rạc.Tuy nhiên, hai đảng thống nhất ở mục tiêu chung là bảo vệ chế độ sởhữu tư nhân, hiến pháp liên bang, thể chế chính trị đương thời,…

2.2 Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen

2.2.1 Sự hình thành hệ thống đa đảng

Các đảng chính trị ở Vương quốc Anh ra đời vào giữa thế kỷ thứ 19 Từ

đó đến những năm 1920, Đảng Bảo thủ và Đảng Tự do thống trị đời sốngchính trị ở Vương quốc Anh Tuy nhiên, năm 1923, Công Đảng – một liên

Trang 15

minh giữa các nghiệp đoàn và nhiều tổ chức theo đường lối xã hội chủ nghĩa– giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử và lên nắm quyền trong một thờigian ngắn.

Trong suốt Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai, trong khoảng thời gian từnăm 1939 đến năm 1945, Chính phủ Vương quốc Anh là một liên minh hiệuquả của ba chính đảng

Từ sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai năm 1945, đảngBảo thủ và Công đảng luôn thống lĩnh chính trị nước Anh, thay nhau lên nắmquyền từ đó đến nay

Đảng Tự do sáp nhập với Đảng Dân chủ Xã hội mới được thành lậpnăm 1988 để lập ra đảng Dân chủ Tự do và trở thành đảng lớn thứ ba ởVương quốc Anh Ba đảng này đại diện cho phái đoàn của Vương quốc Anhtrong Nghị viện châu Âu và các cơ quan phân cấp ở Xcốt-len và xứ Uên

Bắc Ai-len khác với các nước khác trong Vương quốc Anh ở chỗ sựgắn kết đảng phái chủ yếu dựa trên gốc gác tôn giáo và dân tộc của cá nhân.Đảng Dân chủ Tự do và Công đảng không tranh giành bầu cử ở đây ĐảngBảo thủ có tham gia tranh giành ghế, nhưng nhận được rất ít sự ủng hộ trongcác cuộc bầu cử gần đây

Ở Vương quốc Anh có ba chính đảng chính, gồm Công Đảng, ĐảngBảo thủ và Đảng Dân chủ Tự do.Một số đảng phái chính trị nhỏ khác cũng cóđại diện trong nghị viện Vương quốc Anh và châu Âu, và trong các cơ quanchính quyền phân cấp ở Xcốt-len, xứ Uên và Bắc Ai-len

Có một số đảng theo đường lối dân tộc chủ nghĩa ở Xcốt-len – ĐảngDân tộc Xcốt-len – và ở xứ Uên – Đảng Plaid Cymru

Bắc Ai-len có một số đảng bị chia tách chủ yếu dựa trên đường lối dântộc và tôn giáo Các đảng như vậy bao gồm Đảng của những người liên hiệpUlster (Ulster Unionists), Đảng của những người liên hiệp Dân chủ(Democratic Unionists), Đảng Dân chủ và Lao động (Social Democratic andLabour Party) và Đảng Sinn Féin

Trang 16

Đảng Xanh (Green Party) và Đảng Độc lập Vương quốc Anh (UKIndependence Party) cũng nhận được khá nhiều sự ủng hộ.

2.2.2 Đặc điểm

Không giống các quốc gia châu Âu khác, Liên hiệp Vương quốc Anh

sử dụng hệ thống một đại biểu cho một đơn vị bầu cử (first-past-the-postsystem) để tuyển chọn thành viên Quốc hội Do đó, các cuộc tuyển cử và cácchính đảng tại Anh bị chi phối bởi Luật Duverger, dẫn đến việc qui tụ các ýthức hệ chính trị tương đồng về một vài chính đảng lớn và hạn chế khả năngcủa các đảng nhỏ giành được quyền đại diện tại Quốc hội

Trong lịch sử, chính trường Anh quốc bị chi phối bởi hệ thống lưỡngđảng, mặc dù hiện nay có ba chính đảng đang kiểm soát hệ thống chính trị tạiđây Lúc đầu, Bảo thủ và Tự do là hai chính đảng thống trị chính trường,nhưng Đảng Tự do sụp đổ vào đầu thế kỷ 20 và được thế chỗ bởi Đảng Laođộng Trong thập niên 1980, các đảng viên Tự do sáp nhập với Đảng Dân chủ

Xã hội để thành lập thành lập Đảng Dân chủ Tự do, có đủ thực lực để đượcxem là một chính đảng lớn Còn có các chính đảng nhỏ hơn tham gia vào cáccuộc tuyển cử Trong số này có vài đảng giành được ghế tại Quốc hội

Sự tồn tại của hai đảng đối lập trong hoạt động nhà nước đã góp phầnhạn chế đáng kể sự lạm quyền Một trong những biểu hiện rõ rệt của nó là chế

độ nội các bóng “shadow cabinet” ở Anh Theo đó, đảng đối lập thành lập ramột chính phủ riêng của mình với chức năng chủ yếu là phản biện lại chínhsách của chính phủ đương nhiệm và trong trường hợp đảng cầm quyền buộcphải ra đi, chính phủ “trong bóng tối” này sẽ tiếp quản nhiệm vụ mới mộtcách tương đối dễ dàng và suôn xẻ

Các đảng được tổ chức chặt chẽ, luôn thống nhất nhưng không cócương lĩnh lâu dài và điều lệ

Các đảng phái tìm cách tác động đến sự hình thành bộ máy nhà nướcbằng cách cử ra ứng cử viên tham gia tranh cử vào các cơ quan lập pháp, hànhpháp

Trang 17

Tác động đến hoạt động của bộ máy nhà nước: điều này được thể hiện

ở sự kiểm soát và tác động của đảng đến các thành viên của nó khi họ thamgia chính quyền, đặc biệt là họ khi nắm giữ những chức vụ lãnh đạo cấp cao(như tổng thống, thủ tướng) Thông qua các đảng viên cốt cán đó, đảng khéoléo đưa những chủ trương, đường lối của mình vào chính sách, pháp luật củanhà nước theo hướng có lợi cho đảng mình

Hệ thống chính phủ Anh được áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới - một

di sản từ thời quá khứ thực dân — chủ yếu tại các quốc gia trong Khối Thịnhvượng chung Anh Thành viên Nghị viện (Member of Parliement) chiếm đa

số trong Hạ viện thường là phái có quyền chỉ định thủ tướng - thường là lãnhđạo của đảng lớn nhất hay, nếu không có đảng nào chiếm đa số, là liên minhlớn nhất

2.3 Pháp

2.3.1 Sự hình thành hệ thống đa đảng

Hiện nay ở Pháp có trên 20 đảng, tập hợp thành hai phe: tả và hữu.Trong phe tả lại chia thành tả, trung tả, cực tả Trong phe hữu có hữu, trunghữu và cực hữu

*Đảng xã hội Pháp:

Năm 1901, ở Pháp tồn tại hai Đảng Xã hội, một Đảng theo xu hướngMacxít, một Đảng chống Macxít Năm 1905, hai Đảng này sáp nhập thànhPhân bộ Pháp của Quốc tế Công nhân Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, nội

bộ đảng lại chia rẽ, đa số đảng viên ủng hộ Chính phủ tham gia chiến tranh

Từ Đại hội Tua thàng 12 – 1920, ¾ số đại biểu tán thành tham gia quốc

tế cộng sản và tách ra thành lập Đảng Cộng sản Đảng xã hội suy yếu Nhưng

từ năm 1924, PS liên kết với những người cấp tiến, khôi phục lực lượng vàdần dần trở thành Đảng lớn trong quốc hội, nhiều thời kỳ giành quyền thànhlập Chính phủ

Cử tri cửa PS tương đối đồng đều trong các tầng lớp dân cư, nhưngnhiều nhất là công nhân, những người làm công ăn lương, thu nhập thấp

Trang 18

Tổ chức đảng gồm 3 cấp: trung ương, tỉnh và đảng bộ cơ sở, không cócấp chi bộ Cơ quan quyền lực cao nhất là đại hội đảng, họp mỗi năm một lần,bầu ban chấp hành (Hội đồng toàn quốc) gồm 27 người, đứng đầu là Bí thưthứ nhất Tuy nhiên trong nội bộ Đảng vẫn còn tồn tại các phe nhóm, mâuthuẫn với nhau.

* Đảng liên minh vì nền cộng hòa (OPR)

Tiền thân của đảng này là tập hợp dân tộc Pháp, do Đờ Gôn thành lậpnăm 1947 Đảng trải qua nhiều lần đổi tên: Liên minh vì nền cộng hoà mới(1958), Liên minh dân chủ vì nền cộng hoà (1968) Đảng có tên như hiện nay

từ namư 1976, dưới sự lãnh đạo của ông Chirac

Từ năm 1958 – 1978, Đảng này đã trở thành đảng cánh hữu lớn nhấtnước Pháp, có số lượng cử tri và nghị sĩ cao nhất Cử tri của Đảng là nhữngngười làm nghề tự do: thợ thủ công, thương gia, công chức cao cấp, tín đồThiên chúa giáo

Đảng được tổ chức thành 3 cấp: trung ương, tỉnh và các đơn vị bầu cử Cơquan cao nhất là đại hội đảng Đại hội bầu ban chấp hành trung ương, Bộ chínhtrị Hen nay Đảng có 12 đảng viên là Nghị sĩ Châu Âu Bộ máy tổ chức củaĐảng gọn nhẹ, chỉ có khoảng 70 người chuyên trách ở trung ương Cấp tỉnh có

Bí thư, tỉnh uỷ, các đơn vị bầu cử có Bí thư, đảng uỷ Hoạt động của Đảng thôngqua các đảng viên nắm giữ các chức vụ trong chính phủ và Quốc hội

*Đảng cộng sản (PCF)

Đảng thành lập năm 1920, do tách ra từ Đảng Xã hội Đảng đóng vaitrò đặc biệt quan trọng trong thời kỳ Mặt trận Bình dân năm 1935, lãnh đạophong trào chống chủ nghĩa phatxít Đảng đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giaicấp công nhân và nhân dân lao động Đảng lien minh với Đảng Xã hội trongcác cuộc bầu cử, tham gia Chính phủ của phe tả vào các thời kỳ: 1945 – 1947,

1980 – 1984, 1997 – 2002 Trong cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội năm

2002 Đảng bị thất bại nặng nề

Trang 19

Những năm gần đây, nhất là từ khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Châu Âu,

uy tín của Đảng bị giảm sút và hiện nay đang trong thời kỳ khủng hoảng

Đảng có khoảng 60 vạn đảng viên, tổ chức theo nguyên tắc tập trungdân chủ, sinh hoạt theo đơn vị lãnh thổ, đơn vị sản xuất Cơ quan cao nhất làđại hội Đảng, nhiệm kỳ 3 năm Đại hội bầu ban chấp hành trung ương, Bộchính trị, Ban Bí thư, bầu Hội đồng Kiểm tra chính trị, Hội đồng Kiểm tra Tàichính Hội đồng Dân tộc của Đảng là Cơ quan cố vấn gồm các thành viên là

uỷ viên Bộ Chính trị, các Nghị sĩ, Bí thư Đảng uỷ các xí nghiệp lớn

* Đảng Xanh

Ra đời vào những năm 1980, Đảng Xanh là một đảng có ảnh hưởnglớn trong phe tả, đấu tranh bảo vệ môi trường, chống chiến tranh Đảng nàychủ trương xây dưng nền kinh tế tương trợ, đáp ứng lợi ích chung, tăng lươngcho người lao động, cải cáh lương hưu, áp dụng tuần làm việc 35 giờ Đảngkêu gọi tiết kiệm năng lượng, đa dạng hoá các nguồn năng lượng tái tạonhưng chống các nhà máy điện nguyên tử

*Đảng Mặt trận Dân tộc

Là Đảng cực hữu thành lập năm 1972, lãnh tụ của đảng là ông Le Pen.Bản chất đảng là quốc gia chủ nghĩa, bài ngoại, than Phatxít chống Cộng hoà.Đảng chủ trương thanh trừng sắc tộc, cho rằng giữa các chủng tộc không thể

có sự bình đẳng về khả năng cũng như trình tự tiến hoá

Trung tâm dân chủ xã hội: là đảng tư sản, thành lập 5-1976

Đảng xã hội thống nhất: thành lập năm 1960, do tách ra từ đảng Xã hội,

có ảnh hưởng trong bộ phận trí thức và sinh viên

Trang 20

Đảng Công nhân đấu tranh cực tả.

Liên đoàn những người cộng sản cách mạng là đảng cực tả

Đảng dân chủ tự do (phe hữu)

Đảng Phong trào những người săn bắn

Phong trào Quốc gia những người cộng hòa (cực hữu)

2.3.2 Đặc điểm

Khác với Mỹ, sự khác biệt giữa các Đảng là không lớn, ở Pháp cácđảng phân thành hai cực đối lập và sự liên kết trong đảng rất chặt chẽ, cácđảng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt nghị quyết của đảng Đặc trưng của hệthống đảng ở Pháp là chưa có đảng nào chiếm đa số tuyệt đối trong các cuộcbầu cử, nên các đảng phải liên minh với nhau

Hệ thống đảng phái ở Pháp tương đối phức tạp, số lượng đảng nhiều,các liên minh đảng không chặt chẽ dẫn đến thiếu ổn định, chính phủ thườngxuyên thay đổi Đứng đầu phe tả, nhưng Đảng Xã hội có xu hướng trung tả,ngả dần về phía hữu, có chính sách gần với đảng Liên minh vì nền cộng hòa,một đảng trung hữu Hai đảng này thay nhau cầm quyền hàng chục năm,nhưng không tạo ra bước về phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy ngườidân Pháp muốn có sự đổi mới Đã có nhiều cử tri bỏ phiếu cho các đảng cựchữu hoặc cực tả gây nên biên động lớn về chính trị

2.4 Đức

2.4.1 Sự hình thành hệ thống đa đảng

Từ thế kỷ 19, nước Đức đã duy trì hệ thống đa đảng Gần đây nhất năm

1994, Quốc hội ban hành luật về các đảng chính trị Thông qua bầu cử, cácđảng cạnh tranh nhau để nắm quyền lực nhà nước

*Đảng Xã hội-Dân chủ (SPD)

Đảng ra đời năm 1963, đã 4 lần cầm quyền Đợt dài nhất từ năm

1969-1982, trong liên minh với Đảng Dân chủ-Tự do

Trang 21

Hiện nay SPD có gần 1 triệu đảng viên Đó là các nhân viên, công chứcnhà nước, trong đó công nhân chiếm ¼ Bộ máy SPD gọn nhẹ từ trung ươngđến địa phương, chỉ từ cấp khu vực trở lên mới có người chuyên trách.

SPD từ chối chủ nghĩa Mác, điều hòa lợi ích lao động và tư bản bằngcon đường cải cách kinh tế-xã hội Chủ trương xây dựng một nền “kinh tế thịtrường xã hội” với đặc trưng: tư hữu hóa tự do kinh doanh, nhà nước quản lýphát triển kinh tế thông qua pháp luật và ủy ban chống độc quyền để điềuchỉnh và giảm bớt cạnh tranh, cân bằng xã hội thông qua các chính sách bảohiểm, đền bù xã hội và trợ cấp xã hội Đảng nhấn mạnh vai trò kiểm sóat củanhà nước trong quản lý kinh tế

SPD chủ trương cố gắng làm dịu tình hình quốc tế, phát triển quan hệvới các nước xã hội chủ nghĩa, đòi giảm vũ khí hạt nhân, phi quân sự hóa vũtrụ Đảng là thành viên sáng lập và nhiều năm liền đứng đầu Quốc tế Xã hội

*Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU)

Đảng thành lập năm 1945, gồm những người theo đạo Thiên chúa giáo

và Tin lành, đại diện cho tầng lớp đại tư bản và giáo sĩ Ngoài ra trong CDUcòn có các công chức, nông dân khá giả, công nhân xây dựng Hiện nay, CDU

* Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo (CSU)

Thành lập năm 1945, là đảng cực hữu, họat động chủ yếu ở bangBavaria, thực chất là một bộ phận của CDU Đảng có khoảng 178.000 đảngviên Cơ quan ngôn luận của đảng là Liên minh ở Đức, Vì một liên minh ởĐức và Tạp chí nguỵêt san tư tưởng chính trị Đức

* Đảng Dân chủ-Tự do (FDP)

Thành lập năm 1948, đại diện cho xu hướng tự do, tư bản độc quyền,đảng quan tâm tới lợi ích của các nhà kinh doanh vừa và nhỏ, công chức, viên

Ngày đăng: 20/08/2017, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w