1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn tập môn văn minh văn hóa thế giới

20 564 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 44,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lêôna đơ Vanhxi 1452-1514 là người đạt được thành công ở mọi lĩnh vực, không chỉ trong hội họa mà còn cả trong toán học, vật lý học, thực vật học,…tuy nhiên hội họa mới là lĩnh vực chiếm

Trang 1

Đề cương ôn tập môn văn minh văn hóa thế giới Câu 1: trình bày đặc điểm và thành tựu của NT hội họa thời Tây Âu thời phục hưng

BL:

Từ thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XVII, ở Tây Âu diễn ra một phong trào Văn hóa mới gọi là phong trào Văn hóa phục hưng Đó là một phong trào văn hóa phát triển trên một quy mô rộng lớn, với nhiều lĩnh vực và mang nội dung của ý thức hệ tư sản trước khi diễn ra phong trào văn hóa Phục hưng Tây Âu bị giáo hội Cơ Đốc lũng loạn Giáo hội Cơ Đốc không chỉ tuyên truyền những tư tưởng duy tâm học, thần học giam hãm con người trong vòng lạc hậu, mê tín dị đoan mà còn thẳng tay tiêu diệt những tư tưởng tiến bộ và tinh thần khoa học Nhưng nền móng của chế độ phong kiến dần dần bị rạn nứt trước sự phát triển của sức sản xuất Từ thế kỉ XV, quan hệ tư bản chủ nghĩa hình thành ở các nước Tây Âu Trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng phong kiến sặc mùi tôn giáo- kinh viện chủ nghĩa Giai cấp tư sản đã phát triển hệ tư tưởng của mình và lập ra một nền văn hóa mới, phi tôn giáo Nền văn hóa ấy gồm nhiều lĩnh vực: tư tưởng triết học, văn học, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật,….và đã sinh sản ra rất nhiều bậc vĩ nhân về trình độ, về tinh thần và tính cách Đó là thời kì mà người Pháp gọi là Phục hưng Phong trào Văn hóa phục hưng ở Tây Âu đạt được những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, tiêu biểu nhất

là những thành tựu về văn học, hội họa và khoa học tự nhiên Những thành tựu của nghệ thuật phục hưng bao gồm: hội họa, điêu khắc, kiến trúc Nó được hình thành

và phát triển trong quá trình đấu tranh chống phong kiến và Giáo hội của giai cấp

tư sản trong hội họa và điêu khắc, các nghệ sĩ thời phục hưng chú ý nhiều đến việc biểu hiện cá tính, nội tâm; còn trong kiến trúc lại có sự phục hồi kiến trúc cổ điển

La Mã

Hội họa phục hưng bắt đầu từ Italia, sau đó lan tràn ảnh hưởng khắp châu Âu, đạt tới sự phát triển rực rỡ nhất vào cuối thế kỉ XV Giốttô (1267-1337) là người đặt nền tảng cho cho hội họa phục hưng Tác phẩm của giốttô hầu hết là bích họa Đến nay vẫn được giữ nguyên vẹn những tranh vẽ của ông tại nhà hát Arina ở thành phố Pađôva, gồm 36 bức tranh miêu tả gia đình và cuộc đời của Giêsu cùng một số bức tranh khác như: “Nụ hôn Do Thái”, “chạy chốn sang Ai Cập”,…

Trang 2

Người kế thừa xuất sắc Giốttô là Madátxiô(1401-1428) ông là người duy nhất thực

sự hiểu Giốttô đã khởi sự và làm cho những họa sĩ sau ông hiểu được điều đó Đóng góp lớn nhất của ông là luật xa gần trong hội họa để tạo ra những hình ảnh

ba chiều trong không gian thực, một phối cảnh thuần thục Những tác phẩm nổi tiếng của Madátxiô để lại cho hậu thế là: bức “Đức Mẹ Đồng Trinh và Chúa Hài Đồng ngồi trên ngai với các thiên thần”, bức bích họa “ba ngôi”, bức “Thánh Pie chữa bệnh bằng bóng của mình”,…đặc biệt là bức tranh “ Adam và Eva bị đuổi khỏi thiên đường” được coi là kiệt tác của Madátxiô

Sau Madátxiô, Bốttixenli (1444-1510) là họa sĩ vĩ đại nhất của truyền thống hội họa Phirenxe Ông là họa sĩ đầu tiên của nghệ thuật Phục hưng Tây Âu không bị phụ thuộc nặng nề vào giáo điều của Kinh thánh Cơ đốc giáo Ông thích vẽ các thần Hy Lạp cả nam và nữ, và nhiều đề tài hư ảo khác Ông có lối vẽ rất độc đáo Trong tác phẩm như “mùa xuân”, “sự ra đời của thần Vênút”, “ba vua chiêm ngưỡng chúa hài đồng”,…ông thường diễn tả nhân vật của mình với nhiều hình thể mới mẻ có giới hạn rõ ràng và đường nét thanh mảnh, uyển chuyển, dịu dàng, thể hiện nhãn quan thi vị, trữ tình và đầy tính phúng dụ của ông

Cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI nghệ thuật phục hưng đạt đến độ viên mãn của nó Trong thời kì này xuất hiện các họa sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, đó là: Leona đơ Vanhxi, Mikenlănggiơ, Raphaen của Italia; Rembran, Hanxo, Đenpơ của Hà Lan, Lêôna đơ Vanhxi (1452-1514) là người đạt được thành công ở mọi lĩnh vực, không chỉ trong hội họa mà còn cả trong toán học, vật lý học, thực vật học,…tuy nhiên hội họa mới là lĩnh vực chiếm vị trí quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông Hội họa của ông có đăc điểm thiên về mô tả tính cách và khắc họa nội tâm nhân vật, màu sắc hài hòa và bố cục vững chắc đồng thời ông cũng áp dụng những nguyên tắc kỳ hà học vào hội họa Tác phẩm của ông gồm nhiều loại: từ các bản phác họa

sơ sài các máy móc chiến tranh đầy tưởng tượng, những hình vẽ nguệch ngoặc đến các bức chân dung tuyệt hảo Bức tranh “ La Giôcông”( hay còn gọi là Môna Lida) của ông là tác phẩm tuyệt tác nhất trong lịch sử hội họa thế giới Trong tác phẩm

đó ông miêu tả một thiếu phụ với khuôn mặt phảng phất một nụ cười và một nét huyền bí, mang đến cho người xem một cảm giác mãnh liệt về chủ nghĩa hiện thực Bức tranh “bữa tiệc cuối cùng” (còn gọi là Laxenno) cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Lêôna đơ Vanhxi Trong bức tranh này ông miêu tả chúa

Trang 3

Giêsu ngồi cùng với 12 tông đồ ngồi quanh một chiếc bàn dài Ông đã chon giây phút căng thẳng nhất khi Giêsu báo trước sự phản bội sắp đến, dùng nét mặt, dáng người để miêu tả sự phản bội của Giuđa và sự kinh hoàng của những vị tông đồ kia Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như: bức bích họa ở tu viện Milan, bức tranh “ Đức Mẹ Đồng Trinh trong hang đá”, bức “người đàn bà và con chồn” và một số các tác phẩm khác

Mikenlănggiơ (1475-1564) sống cùng thời vs Lêôna đơ Vanhxi, là một nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thơ và một nhà danh nhân toàn diện, bậc thầy lớn nhất của lịch sử nghệ thuật nhân loại Những thành công trong hội họa của ông cũng đạt đến sự tuyệt đỉnh Kiệt tác của ông là bức bích họa khổng lồ (dài 34m, rộng 14m) trang trí ở trần nhà thờ xixtin ở điện Vatican Ông đã mất 4 năm mới hoàn thành xong tác phẩm, trong đó ông vẽ 343 nhân vật trong kinh Cựu ước và Tân ước cùng thánh kinh tạo thiên lập địa tác phẩm khiến người ta sửng sốt về màu sắc sống động của nó, còn các tác phẩm diễn tả với một hình thể khỏe mạnh, biểu lộ sức mạnh phi thường, phơi bày ước muốn của tác giả về một tương lai tốt đẹp, cũng như hi vọng và một niềm tin tốt đẹp Mikenlănggiơ đã tóm tắt tất cả kiến thức hội họa thời Phục hưng vào trong tác phẩm của ông-những kiến thức về viễn cảnh, cơ thể học và cử động của sinh vật Ông còn để lại một tác phẩm nổi tiếng nữa đó là “sự phán xét cuối cùng” vẽ trên tường đầy hồi của nhà thời Xixtin

Raphaen(1483-1520) cũng là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất, là họa sĩ số 1 của nhà thờ Cơ đốc giáo, tinh hoa của nghệ thuật Phục hưng Italia Ông là người có tài tinh lọc những j tốt đẹp nhất trong nghệ thuật của các họa sĩ tiền bối, đồng thời kết hợp giữa cái hiện tại với cái rất xưa, giữa huyền thoại với đời thường, giữa thiêng liêng thánh thiện với trần gian gần gũi,…để làm nên những tác phẩm bất hủ Bằng một sự lao động phi thường, trong cuộc đời 37 năm ngắn ngủi của mình, Raphaen

đã vẽ hàng nghìn bức tranh với nội dung thường là diễn tả những quang cảnh vui tươi, những hình ảnh êm dịu và nhất là những phụ nữ xinh đẹp, hiền hậu, những trẻ

em ngây thơ Raphaen đã diễn tả vẻ đẹp dịu dàng, bình dị của người phụ nữ, người

mẹ người ta say mê, chính điều đó đã làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên và giảm đi ý nghĩa trang nghiêm của hội họa thời cổ đại

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Raphaen là bức tranh “ Đức Mẹ Xixtin” có ở nhà thờ Xanh Xíchtơ, được vẽ theo yêu cầu của giáo hoàng Giuliút II Bức tranh có bố cục tài tình, khéo léo với 6 nhân vật trong đó có hình ảnh Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng

Trang 4

đang bồng bềnh trên mây Xung quanh khuôn mặt sáng ngời của Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng là vầng hào quang kì ảo Một tác ohaamr tiêu biểu khác của Raphaen là bức bích họa “Học viện Aten” tại cung điện của Tòa thánh Vaticang Đây lag bức tranh tường khổ lớn được ông xử lí một cách hoàn hảo đến mẫu mực các vẫn đề về hình họa, phối cảnh, bố cục, màu sắc,…ngoài hai tác phẩm trên, Raphaen còn để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như: “Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá”(1502); “Lễ cưới trinh nữ”(1504); “Tranh luận về lễ ban phước”(1509-1510),…

Phranxơ Hanxơ (khoảng 1497-1543) là người Hà Lan Ông là họa sĩ thiên về vẽ chân dung Nét biểu hiện trên các khuôn mặt chân dung của Hanxơ là sự biểu hiện gọi là thoáng quan Họa sĩ nắm bắt lấy một nụ cười, một nét nhăn nhó,…hay những biểu hiện chỉ thoáng qua trong giây phút, rồi thể hiện trong tác phẩm của mình bằng những nét chấm phá Một số tác phẩm: “kị sĩ đang cười”; “Hinlơ Bôbê”,…ngoài ra Hanxơ còn vẽ nhiều bức chân dung tập thể khác

Pitơ Bruêghen (1525-1564) cũng là một họa sĩ nổi tiếng của sứ Phlăngđrơ Ông vẽ nhiều tranh phác thảo và tranh sơn dầu về các đề tài sinh hoạt ở nông thôn, tập tục

xã hội và phong cảnh Những tác phẩm của ông như: “đám cưới nông dân”; “điệu múa của người nông dân”; “săn bắn mùa đông”;…được nhiều người yêu thích Đại diện xuất sắc nhất của hội họa Bắc Âu là Rembran (1606-1664) người Hà Lan Ông là thiên tài và cũng là biệt lệ trong hội họa không chỉ vì ông đã để lại một số lượng tranh khá đồ sộ (khoảng 350 tác phẩm) cho hậu thế, mà còn vì ông là một trong những họa sĩ vẽ chân dung và tranh sinh hoạt lớn nhất mọi thời đại Sáng tác của Rembran trong thời kì đầu thường tập trung vào các đề tài khai thác từ hiện thực cuộc sống, Kinh thánh, thần thoại hoặc truyền thuyết phương Đông Trong những tác phẩm của mình, Rembran đã đạt đến độ viên mãn trong việc xử lí đề tài,

bố cục và đặc biệt là biểu hiện tính cách nhân vật Dần dần, nghệ thuật của Rembran có những thay đổi quan trọng Ông đến với người lao động và ông được người lao động đưa lên ngang hàng với “bậc thánh” Nghệ thuật hội họa của Rembran thể hiện tính hiện thực, không mang nhiều chất lý tưởng hay thi vị hóa theo kiểu hội họa Phục hưng Itali, mà gần gũi với lối sống bộc trực, khỏe khoắn và nhẫn lại của người Bắc Âu, những người luôn phải đấu tranh với thiên nhiên để giành giật từng tấc đất những tác phẩm hội họa của Rembran mãi mãi là bài ca về giá trị con người

Trang 5

Đề 2: Trình bày những phát minh kĩ thuật và cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh BL:

“Cách mạng công nghiệp” là một thuật ngữ chỉ quá trình diễn ra một loạt các thay đổi tronh phương pháp lao động và tổ chức công nghiệp ở thế kỉ XVIII và XIX hay gọi tắt là quá trình cơ giới hóa sản xuất Nhờ có những thay đổi đó, cách thức sản xuất công trường thủ công đã chuyển sang cách thức sản xuất bằng máy, tổ chức sản xuất công trường thủ công chuyển thành tổ chức lao động của hệ thống các nhà máy xí nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp không chỉ là một bước chuyển đổi từ một phương thức sản xuất sử dụng công nghệ này sang một phương thức sản xuất

sử dụng công nghệ khác mà còn có cả những thay đổi cơ bản trong xã hội liên quan đến bước chuyển đổi ấy

Từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Châu Âu

và nước Mỹ Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trên những cơ sở những tiền đề

về kinh tế, chính trị và xã hội đã được hình thành trong các thời kì trước đó Sự phát triển của sức sản xuất là tiền đề quan trọng dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp Tiếp đến là những phát minh kĩ thuật, máy móc độc lập khoa học, không phụ thuộc vào khoa học thay thế sức lao động của con người Sự thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của các quốc gia tư bản chủ nghĩa Với những tiền đề quan trọng ở trên, tất cả đã dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp

Sự tiến bộ về kĩ thuật, sau đó là cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở nước Anh và được bắt đầu từ nghành dệt Từ thế kỉ XVIII, bên cạnh nghành dệt len truyền thống, ở Anh nghành dệt bông cũng phát triển Năm 1733, Giôn Cây (1704-1774), một người thợ dệt kiêm thợ máy, đã phát minh ra con thoi cơ khí, một kỹ thuật đầu tiên áp dụng vào máy dệt tay giúp người thợ làm được công việc mà trước đó phải cần đến hai người phát minh con thoi bay còn làm cho nằn suất dệt tăng gấp đôi và có thể dệt được những tấm vải khổ rộng, mịn màng và đẹp Năng suất dệt vải tăng lên đòi hỏi nghành kéo sợi cũng phải cải tiến để tăng mức sản xuất sợi Năm 1738, Giôn Oaitơ (1700-1766), một thợ mộc kiêm thợ cơ khí đã phát minh ra máy kéo sợi đầu tiên Tuy nhiên, máy kéo sợi của Giôn Oaitơ được áp dụng rất chậm vào sản xuất Hơn nữa, do nguồn động lực cơ giới của chiếc máy kéo sợi quá cồng kềnh nên các xưởng sản xuất nhỏ thời đó rất ít sử dụng nó

Trang 6

Từ những năm 60 của thế kỉ XVIII, trong nghành kéo sợi đã có nhiều phát minh, sáng chế giải quyết “nạn đói sợi” người đầu tiên giải quyết được “nạn đói sợi” là Giêm Hácgrivơ (1720-1778) Ông làm việc trong một công trường thủ công dệt vải bông lớn thời đó Vào năm 1764, ông phát minh ra chiếc máy kéo sợi và đặt tên nó

là “Giênny” (theo tên con giá ông) So với máy kéo sợi Oaitơ, máy kéo sợi Giênny của Hácgryvơ đơn giản hơn, không cần nguồn động lực cơ giới nào, vẫn chỉ là guồng sợi cũ nhưng có thêm bộ phận kéo rút sợi, kéo được 8 sợi và sau đó tăng lên

18 sợi cùng một lúc

Do kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, giá thành rẻ, không cồng kềnh, không cần sử dụng nguồn động lực cơ giới, nên máy Giênny của Hácgrivơ được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong nghành kéo sợi lúc bấy giờ Vào năm 1788, ở Anh có 20000 chiếc Tuy nhiên, nhược điểm của máy Giênny kéo ra sợi nhỏ, độ bền không cao nên nó vẫn chưa thỏa mãn được yêu cầu của kỹ thuật kéo sợi

Năm 1769, Risác Áccraitơ (1732-1792) đã chế tạo máy kéo sợi chạy bằng bánh xe nước nên được gọi là máy kéo sợi nước Đến năm 1771, ông mở một xưởng kéo sợi lớn và sau một thời gian ngắn đã có 600 công nhân làm việc tại xưởng của ông

Vì vậy, Áccraitơ được coi là người đầu tiên xây dựng nên hệ thống công xưởng đại quy mô tư bản

Nhược điểm máy kéo sợi của Ácraitơ là sợi thô nhưng bền chắc vì vậy loại máy này và Giênny vẫn cần cải thiện khoảng từ năm 1774 đến năm 1779, một người thợ dệt là Samuen Crômtơn (1753-1827) đã kết hợp được ưu điểm của hai loại máy trên và cho ra một loại máy khá hoàn hảo và đặt tên là “con la” Máy này cho ra sợi rất thanh lại bền, chắc Đầu thế kỉ XIX, máy “con la” lại được Risơc Rôbớtsơn cải tiến thành máy tự động thay thế được cho cả những người kéo sợi lành nghề nhất

Sau khi “nạn đói sợi” được giải quyết, tình trạng mất cân đối giữa kéo sợi cơ giới

và dệt thủ công thô sơ lại sảy ra, đòi hỏi nghành dệt phải cải tiến Năm 1875, một mục sư là Cáctơraitơ phát minh ra chiếc máy dệt cơ khí Với chiếc máy dệt này, các động tác căn bản của quá trình dệt vải đã được cơ giới hóa Sau đó chiếc máy dệt còn được cải tiến để có thể dệt được số lượng vài tương đương với 40 người thợ thủ công Năm 1791, một công xưởng dệt vải đã được xây dựng

Trang 7

Ngoài phát minh ra máy kéo sợi và máy dệt, nhiều loại máy phối hợp khác cũng được phát minh: máy chải bông, máy tẩy, máy nhuộm,…đồng thời sự phát triển của máy kéo sợi và dệt còn có tác dụng thúc đẩy và kích thích các nghành sản xuất khác như khai mỏ, luyện kim,…phát triển

Tuy nhiên, máy kéo sợi, máy dệt và nhiều loại máy khác là những loại máy công

cụ, cần có một động lực để chuyển động Lúc bấy giờ, sức nước là nguồn động lực được sử dụng nhiều nhất và rẻ tiền nhất Các công trường thường xây dựng bên bờ sông Do điều kiện tự nhiên không hợp lý vì vậy nhu cầu cần một thứ máy với nguồn động lực độc lập không chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên là một nhu cầu thiết yếu

Vào năm 1711, một người thợ rèn là Tômát Niucômen (1663-1729) đã chế tạo ra một máy hơi nước dùng để bơm nước Loại máy này được sử dụng nhiều ở các nước châu Âu và châu Mỹ suốt thế kỉ XVIII Tuy nhiên máy rất cồng kềnh, chạy không đều và tốn nhiều nhiên liệu, công suất không cao và giá thành đắt nên chỉ được dùng hút nước ở các hầm mỏ Đến năm 1769, Giêm Oát một thợ sửa chữa máy ở trường đại học Glaxgô, đã chế tạo ra máy hơi nước, một phát minh kĩ thuật

vĩ đại của thế kỉ XVIII và ông tiếp tục cải tiến máy của mình Năm 1874, ông cho

ra đời chiếc máy hơi nước có chuyển động xoay tròn đều với tác dụng kép, hiệu suất cao, dùng được cho bất kì loại công cụ nào và hầu như phụ thuộc rất ít vào điều kiện tại nơi hoạt động

Phát minh máy hơi nước của Giêm Oát được coi là sự mở đầu của quá trình cơ giới hóa, mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng công nghiệp Sau khi máy hơi nước được phát minh và hoàn thiện nó đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nghành sản xuất Vào năm 1800, nước Anh có 321 máy hơi nước với tổng coogn suất 5210 mã lực, đến năm 1825 có 15000 máy hơi nước với tổng công suất là 375000 mã lực Đầu thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp nước Anh bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ Không chỉ đòi hỏi có nhiều máy móc mà còn phải nâng cao công suất, tốc độ, độ chính xác của các cơ cấu máy công cụ khi chúng hoạt động Do vậy, nghành cơ khí chế tạo máy trở thành nghành chủ chốt vì vậy nhiều loại máy được phát minh như: máy phay, máy tiện, máy hơi,…Năm 1794, Henri Mốtxli(1771-1831) đã chế tạo thành công giá giữ dao cơ khí cho máy tiện Sáng chế này được coi là mốc mở đầu cho giai đoạn thay đổi kĩ thuật chế tạo máy Nhờ có bộ phận giá

Trang 8

giữ dao mà người ta chế tạo được rất nhiều các bộ phận lớn nhỏ của máy với độ chính xác rất cao

Từ những năm 30 đến năm 40 của thế kỉ XIX, giá giữ dao được sử dụng rộng rãi ở tất cả các máy móc công cụ dùng để chế tạo máy Từ đây nền công nghiệp chế tạo máy của nước Anh đã đượ cơ giới hóa (dùng máy chế tạo máy), nó đánh dấu cuộc cách mạng công nghiệp Anh đã được hoàn thành

Cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa đến sự thay đổi lớn trong lĩnh vực sản xuất kinh tế ở Anh Do sản xuất bằng máy móc, số lượng công nhân tăng lên, chất lượng và giá trị sản phẩm tăng lên, giá thành sản phẩm hạ, điều này phản ánh sự tăng tiến của năng suất lao động và sự tiến bộ của lực lượng sản xuất Anh trở thành cường quốc công nghiệp lớn nhất châu Âu thời bấy giờ

Sự phát triển của công nghiệp làm biến đổi sâu sắc bản đồ địa lý của Anh Trước đây, phần lớn trung tâm công nghiệp và các vùng đông dân tập trung ở miền Nam, nhưng sau cách mạng công nghiệp một số vùng công nghiệp mới được xây dựng ở miền Bắc, nhiều thành phố mới phát triển nhanh chóng, dân cư tăng nhanh Liverpool, Manchester, Birmingham là những trung tâm công nghiệp và là những thành phố phát triển ở Anh

Một trong những hệ quả quan trọng nhất của cách mạng công nghiệp Anh là sự thay đổi căn bản trong cấu trúc giai cấp của dân cư Anh: Tư sản và vô sản trở thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội Với việc sử dụng máy móc một cách rộng rãi, công nhân bị bóc lột thậm tệ, trở nên phụ thuộc vào máy móc Khi những công xưởng đầu tiên xuất hiện, lao động đàn bà và trẻ em thay thế cho lao động nam giới, họ bị đối xử tàn tệ và bị bóc lột tàn nhẫn, lương công nhân nữ và trẻ em rất thấp Ngày làm việc bị kéo dài, điều kiện lao động tồi tệ, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn Vì vậy, ngay từ lúc mới ra đời, giai cấp công nhân Anh đã đứng lên đấu tranh nhưng do ý thức chính trị còn non kém nên những cuộc đấu tranh ban đầu của họ mang tính tự phát thể hiện qua phong trào đập phá máy móc Phong trào này phát triển và lan rộng từ những năm 70 của thế kỉ XVIII đến những năm đầu thế kỉ XIX Phải trải qua một thời gian dài đấu tranh, giai cấp công nhân mới nhận thức được nguyên nhân của sự cùng khổ của họ là do sự bóc lột của giai cấp tư sản, từ đó phong trào công nhân có những chuyển biến rõ rệt.

Trang 9

Đề 3: Trình bày đặc điểm và thành tựu của NT điêu khắc Hy Lạp và La Mã cổ đại BL:

Vào khoảng thế kỉ VIII trước công nguyên, một nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời

và tồn tại ở phía bên kia Địa Trung Hải đến thế kỉ thứ II trước Công Nguyên Đó là nhà nước Hi Lạp cổ đại Vị trí địa lí của Hi Lạp không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhưng rất thuận lợi trong việc giao thông đường biển Hy lạp rất dồi dào về tài nguyên thiên nhiên như: vàng, bạc, đồng, sắt,…đã tạo điều kiện cho sù phát triển thủ công nghiệp Hi Lạp là mét trung tâm công nghiệp lớn nhất của Châu

Âu về sản xuất thủ công nghiệp và ngoại thương Đây là cơ sở lớn góp phần thúc đẩy sự phát triển củ nền văn minh Hi lạp, trong đó nghệ thuật điêu khắc và nghệ thuật kiến trúc

Nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đã đóng góp vào nền văn minh nhân loại những tác phẩm lớn trong lĩnh vực điêu khắc và kiến trúc Phong cách nghệ thuật đặc trưng này đã có sức ảnh hưởng đến nghệ thuật khắp thế giới cho đến tận hôm nay

Về điêu khắc, Hy Lạp cổ đại đạt được những thành tựu rất xuất sắc Bằng những đường nét tinh xảo, các nghệ sĩ điêu khắc của Hy Lạp đã gạt bỏ những nguyên tắc xây dựng nhân vật tĩnh, công thức và làm toát lên được sức mạnh tư tưởng của tác phẩm Đối tượng miêu tả thường là các nhân vật trong thần thoại và cả những sinh hoạt trong đời sống hằng ngày

Những tác phẩm cổ nhất Hy Lạp được tìm thấy trên đảo Crét Đó là những pho tượng nhỏ bằng đất sét, bằng các loại đá cứng, ngọc trắng và cả ngà voi Những mẫu vật tìm thấy đều thể hiện khuynh hướng tự nhiên, sắc sảo, mềm mại, tinh tế và hoàn thiện, cảm xúc nhạy bén

Vào thế kỷ V-IV TCN, nghệ thuật điêu khắc của Hy Lạp đạt được thành tựu rực rỡ nhất Trong lĩnh vực điêu khắc đã hình thành và trở nên phổ biến một phong cách nghiêm ngặt là: những bức tượng người cũng như thần thánh đều có một tỷ lệ chính xác và cân đối với vóc dáng khỏe đẹp và hình tượng sinh động Những đại diện xuất sắc nhất nền nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp cổ đại là: Mirông, Pôliclét, Praxiten, Piphây, Xcôpa và Phiđiát

Mirông nổi tiếng với những bức tượng diễn tả một cách tinh tế về sức mạnh, vóc dáng khỏe khoắn và nội tâm con người Tiêu biểu là bức tượng “người ném đĩa” Pôliclét nổi tiếng với những bức tượng mô tả chính xác cơ thể người nhue tác phẩm “người cầm giáo” hoặc “nữ chiến sĩ Amadôn bị thương” Ông được coi là mẫu mực về cách điêu khắc nên những mẫu hình lý tưởng Piphây và Xcôpa là những nghệ sĩ tạc tượng Môdôlớt và những bức phù điêu xung quanh lăng mộ Môdôlớt, đó được đánh giá là những kiệt tác đạt đến trình độ đỉnh cao

Nghệ sĩ vĩ đại nhất của Hy Lạp là Phiđiát Ông vừa là kiến trúc sư, vừa là nhà ddieu khắc Ông là tác giả bức tượng thần Atêna trog quần thể Acrôpôn ở Aten Ông cũng là tác giả của hai bức phù điêu trang trí hai diềm mái hình tam giác rất lớn ở hai mặt chính của đền Páctênông Bức diềm phía đông mô tả sự tích ra đời

Trang 10

của thần Atêna Bức diềm phía tây mô tả cuộc chiến giữa thần Atêna và thần Pôxâyđông để giành quyền bảo hộ miền Áttích Đặc biệt ông là tác giả của bức tượng thần Dớt ở ngôi đền Ôlympia Bức tượng được làm bằng ngà voi và vàng; và được coi là một trong bảy kì quan của thế giới cổ đại,…

La Mã cổ đại hay Rome cổ đại là một nền văn minh phồn thịnh, bắt đầu trên Bán đảo Ý từ thế kỉ 8 trước Công nguyên Trải dài qua Địa Trung Hải, và với trung tâm

là Roma, La Mã cổ đại là một trong những nền văn minh lớn nhất thế giới trong thời kỳ cổ đại Những thành tựu của văn minh La Mã cổ đại bao gồm: pháp luật, văn học, sử học và nghệ thuật

Nghệ thuật cổ La Mã phát triển đồng thời với quá trình phát triển của xã hội La

Mã So với lĩnh vực văn học, sử học và tư tưởng thì nghệ thuật La Mã cổ không phát triển rực rỡ bằng nhưng nhờ sự sang tạo của người La Mã mà nghệ thuật của

họ có một vị trí xứng đáng trong nền văn minh nhân loại Trong lĩnh vực nghệ thuật thì kiến trúc thành công hơn cả Điêu khắc La Mã chịu ảnh hưởng những kiểu mẫu của Hy Lạp, nhưng người La Mã rất chú ý tới tính hiện thực của đối tượng miêu tả Vì thế, trong điêu khắc, nếu như các nghệ sĩ Hy Lạp hướng tới mô tả vẻ đẹp lý tưởng, tạo ra những hình mẫu hơn là những cá nhân riêng lẻ thì các nghệ sĩ

La Mã thường có xu hướng tả chân riêng biệt để phản ánh cá tính cơ bản của đối tượng miêu tả điều này thể hiện rõ nhất trong các bức tượng hoàng đế như: tượng Xêda với gương mặt mạnh mẽ, tự tin và thể hiện tham vọng; tượng Ôguyxtơ với khuôn mặt lúc trẻ thể hiện quyết tâm mang tính bản năng;…

Trong các bức phù điêu trên tường của các dinh thự, đền thờ và các khải hoàn môn hoàn toàn vắng bóng sự cách điệu như thường thấy ở phù điêu các dân tọc khác Những bức phù điêu nổi tiếng của La Mã là bức phù điêu trên khải hoàn môn Titút

và nhất là bức phù điêu trên cột Tragian

Ngày đăng: 01/07/2016, 07:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w