1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG ôn tập THƯƠNG mại điện tử

78 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 280,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị diđộng thông minh mở ra cơ hội kinh doanh to lớn cho rất nhiều lĩnh vực kinh doanh, đồng thờicũng đặt ra thách thức to lớn c

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử

Câu 1: Phân biệt sự khác nhau giữa khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng và khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp?

Thương

mại

Được hiểu là toàn bộ những giao dịch

Giao dịch ở đây được hiểu theo nghĩarộng là việc cung cấp hoặc trao đổi hànghóa và dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đạidiện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoahồng, cho thuê dài hạn, xây dựng côngtrình, tư vấn, kỹ thuật công trình, đầu tư,cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thỏa thuậnkhai thác hoặc tô nhượng, liên doanh cáchình thức khác về đường biển, đườngkhông, đường sắt hoặc đường bộ (theonhư luật TMĐT của Ủy ban LHQ về luậtthương mại quốc tế)

Được hiểu là những giao dịchmua bán

Điện tử Được hiểu là những phương tiện điên tử

Phương tiện điện tử ở đây được hiểu là

các phương tiện hoạt động dựa trên côngnghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính,truyền dẫn không dây, quang học, điện tử

hoặc công nghệ tương tự Hiện nayphương tiện tử được sử dụng trongTMĐT gồm: điện thoại, máy điện báo(telex) và máy fax, phát thanh, truyềnhình thiết bị kỹ thuật số…và đặc biệt chủ

yếu nhất là mạng máy tính và internet

Được hiểu là internet và côngnghệ thông tin

Tổng quát TMĐT theo nghĩa rộng là các giao dịch

tài chính và thương mại bằng các phươngtiện điện tử mà chủ yếu là mạng truyềnthông, mạng máy tính và internet

TMĐT theo nghĩa hẹp bao gồmcác hoạt động thương mại đượcthực hiện thông qua mạngInternet và công nghệ thông tinmà không tính đến các phươngtiện điện tử khác như fax,telex…

Thời gian Nếu hiểu theo phương diện này thì

TMĐT không phải là một vấn đề mới mẻbởi những giao dịch điện tử được thực

Hiểu theo nghĩa này thì TMĐTmới chỉ tồn tại trong vài nămgần đây nhưng đã đạt được

Trang 2

hiện thông qua các phương tiện thông tinliên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay nhưfax, telex và đã trở nên rất quen thuộc.

những kết quả đáng quan tâm,và có thể nói là TMDT đang trởthành một cuộc cách mạng làmthay đổi cách thức mua sắm củacon người

Câu 2: Hạn chế mang tính kỹ thuật có là vấn đề khó khăn trong phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện nay không? Tại sao?

Hạn chế mang tính kỹ thuật có là vấn đề khó khăn trong phát triển TMĐT Việt Namhiện nay, bởi các lý do sau:

- Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy

- Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người dùng, nhấtlà trong TM ĐT

- Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn trong giai đoạn đang phát triển

- Khó khăn khi kết hợp các phần mềm TMĐT với các phần mềm ứng dụng và các cơsở dữ liệu truyền thống

- Cần có các máy chủ TM ĐT đặc biệt (công suất lớn, an toàn cao), đòi hỏi thêm chiphí đầu tư

- Chi phí truy cập Internet vẫn còn cao

- Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi hệ thống kho hàngtự động lớn

Câu 3: Hạn chế mang tính thương mại có là vấn đề khó khăn trong phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện nay không? Tại sao?

Hạn chế mang tính thương mai có là vấn đề khó khăn trong phát triển TMĐT Việt Namhiện nay, bởi các lý do sau:

- An ninh và riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối với người tham gia TMĐT

- Thiếu lòng tin vào TMĐT và người bán hàng trong TMĐT do không được gặp trựctiếp

- Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa được làm rõ

- Một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều kiện để TMĐT phát triển

- Các phương pháp đánh giá hiệu quả của TMĐT còn chưa đầy đủ, hoàn thiện

- Chuyển đổi thói quen tiêu dùng từ thực đến ảo cần thời gian

- Sự tin cậy đối với môi trường kinh doanh không giấy tờ, không tiếp xúc trực tiếp,giao dịch điện tử cần thời gian

- Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô (hoà vốn và có lãi)

- Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của TMĐT

- Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khó khăn hơn sau sự sụp đổ hàng loạt của các công tydot.com

Câu 4: Trình bày về mô hình TMĐT mua theo nhóm Groupon.

Trang 3

Mô hình groupon hay còn gọi là mua theo nhóm đem lại cho khách hàng trực tuyếnnhững cơ hội giảm giá cho các sản phẩm hay dịch vụ khi tổng số người tham gia mua đạt đượcmột con số tối thiểu nào đó mà nhà cung cấp đưa ra Groupon vốn là từ ghép giữa “group”(nhóm) và “coupon” (phiếu giảm giá) đem lại cho khách hàng trực tuyến những cơ hội giảmgiá cho sản phẩm, dịch vụ.

1 Lịch sử hình thành mô hình Groupon

Trang web đầu tiên về hình thức mua theo nhóm là trang mobshop.com thành lập năm

1998 Ngay sau khi Mobshop thành lập thì có rất nhiều các trang tương tự khác được thành lậpở Mỹ và Anh như LetBuyit.com, Onlinechoice, Economy.com những trang web này chỉ kháccác trang TMĐT khác ở giá cả của 1 loại sản phẩm không ổn đinh mà sẽ “biến động” theolượng người tham gia mua sắm trong 1 khoảng thời gian do nhà cung cấp đưa ra, lượng thamgia càng nhiều thì giá càng rẻ cho đến khi thời gian mua kết thúc Nhưng hình thức mua theonhóm truyền thống này không thật sự phát triển và gây được sự chú ý cho đến năm 2008 khi

mô hình trang Groupon ra đời Groupon là một mô hình đơn giản, tiện lợi và đặc biệt là thànhcông ấn tượng đã khơi dậy một trào lưu về mô hình mua theo nhóm trên toàn thế giới

Thu nhập năm 2009 của Groupon là 100tr USD, năm 2010 là 760tr USD Ngày 19/4 saukhi nhận 135tr USD đầu tư từ DST thì giá trị của Groupon đã tăng lên mức kỉ lục 1.35 tỷ USD.Sự thành công của groupon khơi dậy hàng loạt các trang web mô phỏng khác được thành lậpnhư Living Social, Gilt City, buy with me

2 Bản chất của Groupon

Groupon là một mô hình kết hợp giữa TMĐT và quảng cáo Groupon bao gồm 100 phầnthì chỉ có 10 phần là TMĐT Mục đích cuối cùng của groupon là quảng bá thương hiệu cho cảnhà cung cấp và cho chính mình Các nhà cung cấp đồng ý đưa ra khuyến mãi tới 60%, 70% vàthậm chí là 90% để thu hút lượng lớn khách hàng thì tính thế nào nhà cung cấp cũng bị lỗ.Nhưng nếu coi đây là một phương thức quảng cáo và các chi phí thông qua giảm giá là các chiphí dành cho quảng cáo thì lại thấy cực kì có lợi và cực kì đáng

Khi quảng cáo thông qua tổ chức mua theo nhóm thì nhà cung cấp sẽ chắc chắn tạo cơhội để khách hàng đích thân trải nghiệm sản phẩm của mình Nếu số người mua không đạt mưcyêu cầu thì hoạt động mua theo nhóm đó bị hủy, nhà cung cấp không mất gì mà vẫn đượcquảng cáo miễn phí trên website của Groupon Nhân viên thị trường của trang mua theo nhómcần phải nhấn mạnh cho NCC hiểu họ lên trang Web không chỉ bán sản phẩm mà chủ yếu là đểquảng cáo Đây cũng là lý do mà các hoạt động mua theo nhóm hướng vào ngành dịch vụ vìchi phí đầu vào thấp, dễ đàm phán để nhà cung cấp đưa ra mức giảm giá cao

3 Ưu điểm Groupon

- Mô hình Win-win-win của Groupon giúp khách hàng mua được hàng giá rẻ hơnbình thường khá nhiều nên họ có thể thoải mái lựa chọn kể cả những sản phẩm xa

xỉ so với mức thu nhập bản thân Mô hình này cũng giúp NCC có cơ hội thuquảng cáo, thu hút lượng lớn khách hàng với chi phí thấp hoặc cơ hội giải phónghàng tồn kho, hàng mùa thấp điểm trong ngắn hạn

- NCC dễ kiểm soát hiệu quả của quảng cáo bằng việc thu nhập thông tin kháchhàng và số người sử dụng dịch vụ NCC nhờ có thông tin khách hàng cũng dễ

Trang 4

dàng tiếp cận được với khách hàng hơn để đưa ra từng động thái thích hợp vớitừng nhóm khách hàng khác nhau

- Groupon mang lợi thế của 1 mô hình B2C cơ bản: yếu tố không gian, thời gian bị

gỡ bỏ, sản phẩm không phải trực tiếp của Website mà của nha cung ứng đăngquảng cáo, giá cả của các mặt hành cũng dễ đáp ứng mức cầu của người tiêudùng

4 Nhược điểm Groupon

Địa điểm chứa hàng hay tổ chức sự kiện đều của bên thứ 3, vì vậy rào cản gia nhậpngành tương đối thấp, không cần nhiều vốn đầu tư lớn nên có thể xảy ra trường hợp nhiều công

ty xấu sẽ chỉ “quảng cáo hờ”, chỉ lợi dụng hình thức mua nhóm để quảng cáo Họ cũng có thểđưa ra những sản phẩm với chất lượng trung bình hoặc không tốt như quảng cáo, cũng được đặtngang hàng với những công ty uy tín Người tiêu dùng không được hưởng quyền lợi cònGroupon mất đi sự tin tưởng của khách hàng Vì vậy nhược điểm và khó khăn lớn nhất củaGroupon là đảm bảo chất lượng hàng hóa và sản phẩm của mặt hàng, khẳng định được uy tínvới người tiêu dùng

Câu 5: Trình bày về mô hình TMĐT mạng xã hội Social Network.

Mạng xã hội (tên tiếng anh: social network) là dịch vụ kết nối những thành viên cùngsở thich trên internet với những mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian

- Tính Năng: chat, e‐mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận… Tạo ramột hệ thống trên nền Internet cho phép người dùng giao lưu và chia sẻ thông tinmột cách có hiệu quả, vượt ra ngoài những giới hạn về địa lý và thời gian

- Xây dựng lên một mẫu định danh trực tuyến nhằm phục vụ những yêu cầu côngcộng chung và những giá trị của cộng đồng

- Nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoayquanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết cáctổ chức xã hội

Theo định nghĩa của Stanley Milgram người đầu tiên xây dựng lý thuyết mạng xã hộihiện đại thì MXH là sự phản ánh mối quan hệ của các cá thể của một xã hội trong thế giới thựcvào trong máy tính được biểu diễn ở dạng đồ thị Mỗi cá nhân là một đỉnh và các cạnh là liênkết biểu hiện mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội

Một tính năng quan trọng của MXH là các thông tin được quản lý và truy cập bởi ngườidùng chủ sở hữu và người này sẽ chấp nhận quyền truy cập thông tin của mình cho các ngườidùng khác Tuy nhiên một số thông tin công khai sẽ được dùng làm nguồn dữ liệu cho MXH

- MXH xuất hiện đầu tiên năm 1995 của trang Classmate mục đích kết nối khách hàngcủa họ

- 1997: SixDegrees dùng MXH giao lưu kết nối khách hàng theo sở thích

- 2002: Friendster trở thành trào lưu ở Hoa Kỳ

- 2004: sự ra đời của MySpace thu hút hàng chục ngàn thành viên mỗi ngày

- 2006: Facebook ra đời đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống MXH trực tuyến.Lợi ích của MXH có thể mang lại cho DN:

Trang 5

- Thiết lập mối quan hệ với số đông khách hàng mục tiêu

- Khả năng lan truyền thông tin nhanh chóng

- Các hoạt động trực tuyến sẽ truyền cảm hứng cho các cuộc hội thoại trong “thế giớithực”

- Thông tin cá nhân khá chân thực về người dùng

- Cơ hội để kể chuyện về doanh nghiệp và sản phẩm của bạn đồng thời tăng độ nhậnbiết thương hiệu

- Gia tăng trải nghiệm của người dùng

Câu 6: So sánh các mô hình TMĐT.

TMĐT bao gồm 11 mô hình, so sánh trên 4 chỉ tiêu:

Chỉ tiêu Mô hình bảng hiệu

(Poster / Billboard Model)

Mô hình những trang vàng (Yellow Page Model )

Mô tả

mô hình

Mô hình này không khác nhiều so với

việc treo các bảng quảng cáo ngoài

trời

Mô hình bảng hiệu giúp đăng các

thông tin về công ty và sản phẩm qua

giao diện website riêng hay trên 1

website thông dụng nào đó

Giúp cho khách hàng tìm kiếm được

những thông tin cần thiết và những lý

do tin tưởng để đưa ra quyết định chọn

mua sản phẩm hay dịch vụ của bạn

 Điểm chính yếu cần làm trong

mô hình này là giúp cho khách hàng

biết địa chỉ (email, web, hay địa chỉ

thông thường) và cách liên hệ với

doanh nghiệp

Những tổ chức đứng ra lập trang webnày tạo ra một bảng danh mục cho phépcon trỏ nhấp đến các nguồn thông tinhay địa chỉ cung cấp sản phẩm Kháchhàng có thể tìm thông tin bằng cáchnhấn nút “tìm kiếm” (Search) bằng tên,ngành hay loại hình kinh doanh Có thểhọ thu một khoản phí nhỏ hoặc vì mụcđích phi lợi nhuận Nói chung quảng cáokiểu này cũng không tốn kém nhiều, trừkhi bạn muốn lập ra một trang web cungcấp thông tin hoàn chỉnh về một ngànhhàng để gây dựng danh tiếng cho côngty

Tính

thông

dụng

Chi phí không cao và đơn giản nên đây

là mô hình thông dụng hơn cả và có

thể sử dụng cho tất cả các loại hình

kinh doanh

Chi phí không cao và đơn giản nhưngkhông thể sử dụng cho hầu hết các loạihình kinh doanh do độ tin tưởng củangười tiêu dùng vào tùy ngành kinhdoanh

Áp dụng

tại Việt

Nam

Mô hình này là bước cơ bản cho những

công ty nhỏ, đặc biệt là công ty Việt

Nam muốn được gia nhập vào sân chơi

chung của mạng toàn cầu và hơn nữa

muốn thể hiện sự bắt kịp công nghệ

Mô hinh này thường áp dụng cho nhữngtổ chức chính phủ, các website hỗ trợcho một ngành hàng nào đó, các tờ báochuyên ngành hay một số công ty có têntuổi lớn

Trang 6

hiện đại Xây dựng một website không

quá khó và nó còn có ý nghĩa rất to

lớn, mang lại không chỉ uy tín cho

công ty, mà còn là một lý do tin tưởng

của khách hàng Vì có tầm quan trọng

như vậy nên việc xây dựng mô hình

bảng hiệu không thể sơ sài và thiếu

đầu tư đúng đắn, không những kém

hiệu quả mà đôi khi còn phản tác dụng

Ví dụ Website của Biti’s được xây dựng khá

bắt mắt với những thông tin cần thiết

dành cho người tiêu dùng và những ai

quan tâm Hơn thế nữa, địa chỉ web

luôn xuất hiện trên các phương tiện

thông tin và giao dịch của công ty như:

quảng cáo, giấy tiêu đề, bìa thư, fax và

danh thiếp Biti’s nhờ đó đã thực hiện

truyền thông rất tốt cho việc quảng bá

website của mình

Niên giám “Những trang vàng” của HàNội được xây dựng không lâu nhưng đãđược rất nhiều người biết đến vì sự tiệndụng và khả năng cung cấp thông tin củanó Được hỗ trợ bởi công cụ tìm kiếm vàkhả năng phân loại cao, đây là một trong

số ít website được sự đầu tư và quan tâmđúng mức của một doanh nghiệp nhànước

Chỉ tiêu Mô hình cuốn sách hướng dẫn điểu khiển

(Cyber Brochure Model)

Mô hình quảng cáo (Advertising Model)

Mô tả

mô hình

Website sẽ được xây dựng tương tự so với

một cuốn sách chi tiết hướng dẫn tất cả về

sản phẩm và về công ty Đây là mộ hình

cung cấp thông tin và phân loại sản phẩm chi

tiết, kể cả tư vấn về cách sử dụng và dịch vụ

khuyến mãi, các bài viết liên quan đến sản

phẩm Phạm vi hướng dẫn là tất cả những gì

liên quan trong phạm vi một doanh nghiệp,

cho phép xem thư mục các mặt hàng theo thể

loại và tên, chi tiết về giá cả Nhiều trang

web còn lập ra một mẫu đơn thiết kế sẵn đề

khách hàng có thể yêu cầu đặt hàng theo

những lựa chọn của họ Tuy nhiên đây vẫn

chưa phải là một cửa hàng vì mô hình này

không hỗ trợ bán trực tiếp qua mạng

Đây là các trang web có công cụtìm kiếm cực mạnh, giúp kháchhàng tiết kiệm thời gian lướt netvà có số liệu so sánh giữa cáctrang với nhau Không chỉ đưa rawebsite, mô hình quảng cáo cũngcó chức năng hiển thị cung cấpkhông gian quảng cáo trên trangweb bên cạnh việc hỗ trợ tìmkiếm Một số trang web còn cókhả năng “quảng cáo theo yêucầu” Chẳng hạn bạn đang tìmkiếm một loại thông tin nào đó,biểu ngữ (banner) có chứa thôngtin về sản phẩm tương ứng sẽ xuấthiện trên màn hình

Tính Đây là một mô hình phổ biến trên thế giới vì

Trang 7

dụng

nó cung cấp những tiện ích cần thiết cho

khách hàng trong việc tìm hiểu kỹ về sản

phẩm cũng như đối thoại gián tiếp với công

ty

Áp dụng

tại Việt

Nam

Các công ty thành lập gân đây thường xây

dựng theo mô hình này Nó cũng đòi hỏi đầu

tư một mức tương đối để có thể xây dựng và

duy trì website như một công cụ quảng cáo

và giới thiệu hiệu quả cho không chỉ khách

hàng mà còn cho những đối tượng liên quan

Mô hình này thích hợp cho cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụtrên mạng hay tiếp thị cho nhiềumặt hàng, nhiều chủng loại sảnphẩm

kiếm ra đời mà tiêu biểu làGoogle, Yahoo, Goto đại diện chosự phát triển như vũ bão của môhình này

Chỉ tiêu Mô hình thuê bao

Mô hình này được mô phỏng như là 1

câu lạc bộ dành riêng cho hội viên và

khách hàng Nó bắt buộc khách hàng

đăng kí tên và mật khẩu để truy cập

vào nội dung chính của website, có thể

phải trả tiền để có được những quyền

lợi đặc biệt Mô hình đăng ký cũng

tương tự như bạn đặt mua 1 kì báo

hàng tháng hay hàng quí, nhờ đó bạn

có thể đọc và tìm thấy những thông tin

bổ ích hơn hẳn so với những người chỉ

tham quan chứ không đăng ký

Mô hình hoạt động như 1 cửa hàng mở24h/ngày, 7 ngày 1 tuần , đây được xemlà dịch vụ thông tin hoàn hảo nhất Môhình này không chỉ giúp làm tiếp thị chosản phẩm và dịch vụ ngay trên mạng, nócòn giúp mua bán trực tiếp từ website và

hỗ trợ tối đa cho khách hàng Bên cạnhviệc trưng bày các mặt hàng thì site cũngcung cấp nhiều chức năng giúp việc muabán trở nên dễ dàng hơn như thanh toántrực tuyến, cấp mật mã riêng cho hộiviên, lập ra danh sách khách hàngthường xuyên để gửi những thông tinmới nhất về sản phẩm

Tính

thông

dụng

Hiện nay rất nhiều trang web có mục

đăng ký để khuyến khích tính tương

tác giữa công ty và khách hàng

Khá phổ biến, phù hợp với các doanhnghiệp vừa và nhỏ

Áp dụng

tại Việt

Nam

Hình thức này thường được sử dụng do

các doanh nghiệp có sản phẩm/dịch vụ

có thể phân phối trực tiếp trên mạng

như báo điện tử, phần mềm, tư vấn…

Là loại mô hình mà hầu hết các doanhnghiệp vừa và nhỏ của VN đều áp dụngđược

Trang 8

Ví dụ Amazon (www.amazon.com) là một ví

dụ điển hình cho sự ra đời và phát triểncủa mô hình này

Cùng với Amazon là hàng loạt các công

ty DOTCOM khác ra đời và phát triểntốc độ chóng mặt ,

Chỉ tiêu Mô hình sàn giao dịch đấu giá trực tuyến

Mô hình đấu giá cho phép người mua và

người bán tham gia trên một cửa hàng ảo và

được quyền đưa giá trên một phòng đấu giá

ảo do mình tạo ra Đây là phương thức hữu

hiệu để tìm kiếm sản phẩm hay mua sản

phẩm với giá tốt nhất Ngòai ra còn có mô

hình đấu giá ngược(Reverve Auction

Model), nhà cung cấp cho phép người mua

chọn giá theo ý muốn rồi sau đó sẽ căn cứ

vào đó để quyết định bán sản phẩm với mức

giá được đề nghị hay không

Mô hình hội thương là khi mộtwebsite đứng ra kêu gọi các chủwebsite tham gia làm các dịch vụcủa mình

Các website xây dựng mối quan hệvới nhau, tạo điều kiện cho ngườitruy cập một cách nhanh chóng vàtiện lợi Nó hoạt động như một hiệphội các website liên kết với nhau,để không chỉ thu hút một lượng lớnđối tượng khách hàng mục tiêu màcòn hỗ trợ cho nhau trong việccung cấp dịch vụ và sự thoa rmãntối đa nhu cầu của khách hàng.Tính

thông

dụng

Mô hình này khá mới mẻ và rất được ưa

chuộng hiện nay

Mô hình này ít được mọi người biêtđến vì nó mang tính nội bộ, chỉđược giới thiệu trong phạm vi cácwebsite với nhau

Áp dụng

tại Việt

Nam

Thực trạng của VN hiện nay thì chưa phải

là thời điểm thích hợp để quan tâm đến loại

mô hình này

Ví dụ Ebay (www.ebay.com) là một trang web

thành công nhất sử dụng mô hình này

Mô hình của Amazon cũng đã ápdụng hội thương kêu gọi sự thamgia của các website khác làm điểmgiới thiệu phân phối cho Amazon,để được hưởng chênh lệch mộtkhoản hoa hồng

Trang 9

Chỉ tiêu Mô hình cổng

(Portal Model)

Mô hình giá động (Dynamic pricing Model)

Mô hình mạng xã hội (Social network)

Mô tả

mô hình

Là mô hình cung cấp

nhiều loại dịch vụ

Internet trên cùng một

trang chủ Phần lớn các

website sử dụng mô

hình hội thị ngoài

nhiệm vụ chính còn

cung cấp một số dịch

vụ miễn phí như công

cụ tìm kiếm, tin tức

trong và ngoài nước,

nơi truy tìm hàng bán,

email hay phòng thoại

(chat room) và các diễn

đàn

Mô hình này sẽ mang lạinhiều lợi ích cho kháchhàng trong việc mua đượcmột món hàng với giá rẻnhất khách hàng có thể sosánh giá cả của các E- shopđể khách hàng có thể muahàng ở nơi rẻ nhất, có thể

gom nhiều người cùng nhucầu mua 1 loại sản phẩm lạiđể được hưởng ưu tiên mua

sỉ với giá rẻ hơn

Thu nhập của website nàychủ yếu là tiền của ngườibán

Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng

Anh: social network) làdịch vụ nối kết các thànhviên cùng sở thích trênInternet lại với nhau vớinhiều mục đích khác nhaukhông phân biệt khônggian và thời gian

Mạng xã hội có nhữngtính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voicechat, chia sẻ file, blog và

xã luận Mạng đổi mớihoàn toàn cách cư dânmạng liên kết với nhau vàtrở thành một phần tất yếucủa mỗi ngày cho hàngtrăm triệu thành viên khắpthế giới[1] Các dịch vụnày có nhiều phương cáchđể các thành viên tìmkiếm bạn bè, đối tác: dựatheo group (ví dụ như têntrường hoặc tên thànhphố), dựa trên thông tincá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name),hoặc dựa trên sở thích cánhân (như thể thao, phimảnh, sách báo, hoặc canhạc), lĩnh vực quan tâm:kinh doanh, mua bán

Tính

thông

dụng

Đây là một mô hình

tổng hợp nhiều chức

năng, ngày càng được

ưa chuộng vì sự đa

Ứng dụng rộng rãi cáctính năng, liên kết cácthành viên tạo cho mạng

xã hội có tính thông dụng

Trang 10

dạng của nó cao.

Ví dụ Yahoo là một trong

những mô hình hội thị

thành công nhất, với

hàng loạt các chức

năng tuyệt vời

Hiện nay thế giới có hàngtrăm mạng mạng xã hộikhác nhau, với MySpacevà

Facebook Orkut FriendsterZing Me, YuMe,Tamtay

Câu 7: Một khách hàng vào website Amazon.com lựa chọn một số cuốn tiểu thuyết, thanh toán bằng thẻ tín dụng và lựa chọn phương thức giao hàng qua bưu điện Đây là mức độ phát triển nào trong TMĐT?

Nếu chia TMĐT thành 6 cấp độ phát triển thì hình thức giao dịch trên đang ở cấp độ 6 Cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta có thể truy cập vào mộtnguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim,v.v…) và thực hiện các loại giao dịch

-Câu 8: Đặc trưng: “Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không cần phải tiếp xúc với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước” có ý nghĩa thế nào ở Việt Nam hiện nay?

Đa số người VN từ trước tới nay vẫn luôn giữ thói quen giao dịch truyền thống, tức làviệc trao đổi giữa người mua và người bán phải được diễn ra một cách trực tiếp, người báncung cấp trực tiếp hàng và người mua được quyền xem xét, lựa chọn trực tiếp số hàng hóa đó.Tuy nhiên cách thức giao dịch như vậy chỉ thuận tiện trong trường hợp người mua và ngườibán có khoảng cách địa lý không quá xa Chính vì vậy khi TM ĐT được ứng dụng vào trongcác giao dịch tại VN đã đem lại ý nghĩa thiết thực không chỉ đối với KH, NCC – những ngườitrực tiếp tham gia giao dịch, mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của xã hội Cụ thể là :

- Đối với nhà cung cấp :

 Thay vì phải trưng bày trực tiếp sản phẩm thì NCC chỉ cần chụp hình sản phẩmrồi đưa lên website là có thể giới thiệu sản phẩm tới khách hàng, do đó tiết kiệmđược chi phí thuê địa điểm trưng bày

 Tiết kiệm thời gian và chi phí marketing quảng bá sản phẩm Bởi chỉ cần thiết kếwebsite riêng và sự hỗ trợ của các đối tác chuyên nghiệp là có thể giới thiệu sảnphẩm đến rất nhiều khách hàng tiềm năng

 Thể hiện tính chuyên nghiệp của đơn vị cung cấp, đơn giản hóa và chuẩn hóa cácquy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cậnthông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạtđộng kinh doanh

 Đối với những doanh nghiệp mới thành lập thì yếu tố ‘‘người mua và người bánkhông cần phải biết nhau từ trước’’ có thể coi là một lợi thế quan trọng, vì thông

Trang 11

thường nếu kinh doanh theo loại hình truyền thống thì khách hàng sẽ chỉ tintưởng và lựa chọn những doanh nghiệp lâu năm, đã có tiếng Còn khi kd dướihình thức TMDT thì sẽ không phân biệt là DN mới hay cũ, miễn là cung cấphàng đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng

- Đối với người mua :

 Tiết kiệm thời gian và công sức Thay vì phải đến tận nơi để mua hàng thì kháchhàng chỉ cần ngồi ở và click chuột, sản phẩm sẽ đc mang tới tận nơi trong khoảngthời gian nhất định Điều này thích hợp cho như người thích mua sắm nhưng quábận mải với công việc, không có thời gian đi và những người có nhu cầu về sảnphẩm, dịch vụ nhưng do khoảng các địa lý quá xa, không thể tới tận nơi có hàngđược

 Tiết kiệm chi phí đi lại Mặc dù việc giao dịch trực tuyến phát sinh thêm chi phíchuyển hàng song chi phí này lại tiết kiệm hơn nhiều so với việc phải trực tiếp tớinơi cung cấp

- Đối với xã hội :

 Thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân

 Góp phần hoàn thiện và phát triển hạ tầng công nghệ của đất nước

Câu 9: Đặc trưng: “Tốc độ giao dịch nhanh chóng” có ý nghĩa thế nào ở Việt Nam hiện nay?

Trước đây, để thực hiện một giao dịch thương mại truyền thống chúng ta cần phải mất 1khoảng thời gian dài Nhưng với ứng dụng TMĐT ta chỉ cần bấm 1 phím là 1 giao dịch hay 1hợp đồng được ký kết Tại Việt Nam hiện nay thì tốc độ giao dịch có ý nghĩa rất quan trọng đốivới các doanh nghiệp thương mại điện tử

- Trước hết là về tốc độ đường truyền Internet tại Việt Nam hiện nay đã tương đối đápứng được nhu cầu của người dùng Các nhà cung cấp mạng hiện nay vẫn đang trongquá trình nâng cao chất lượng hệ thống truyền thông Chiến lược hỗ trợ chi phí lắpđặt để đổi mới đường truyền từ cáp đồng sang cáp quang là một bước tiến đáng kểtrong việc nâng cao tốc độ đường truyền để hỗ trợ cho các giao dịch TMĐT đượcthực hiện nhanh chóng Bên cạnh đó thì các nhà mạng cũng không ngừng áp dụngcông nghệ tiên tiến kĩ thuật để nâng cao tốc độ đường truyền

- Về sự tương tác giữa các trang TMĐT và người tiêu dùng vẫn còn nhiều rào cản,người dùng cảm thấy chưa tin tưởng vào TMĐT còn các trang TMĐT thì đang trongquá trình hoàn thiện việc chăm sóc khách hàng ngày 1 tốt hơn

Số liệu khảo sát trực tuyến của công ty nghiên cứu thị trường Epinion (Đan Mạch) vừathực hiện tại Việt Nam vào tháng 10/2015 đưa ra cho thấy, gần 50% người dùng Internet cómua sắm online, trong đó, nhóm sản phẩm phổ biến nhất là thời trang, mỹ phẩm, đồ gia dụngvà thiết bị di động

Nhu cầu mua sắm online lớn là vậy nhưng hiện giờ, các trang Thương mại điện tử(TMĐT) vẫn chưa thoát ra được cái bóng của “online”, chưa chú ý đến cảm nhận và trảinghiệm thực của khách hàng Theo các chuyên gia, các trang TMĐT muốn phát triển và giữ uy

Trang 12

tín, cần luôn chú trọng tạo lòng tin cho người tiêu dùng Trong đó, đảm bảo chất lượng sảnphẩm dịch vụ và chăm sóc khách hàng là những yếu tố hàng đầu cần lưu tâm.

Nhận thức được điều này, một số trang TMĐT như Tiki, Zalora, theW.com.vn đã cónhững chính sách phục vụ khác biệt, ban đầu được người tiêu dùng đánh giá khá tốt Là mộttrang TMĐT mới, định vị chăm sóc khách hàng trở thành yếu tố quan trọng nhất của dịch vụ,theW hỗ trợ tối đa khách hàng trong việc đặt mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ, mọi phản hồi,thắc mắc của khách hàng đều được theW tận tình giải đáp và xử lý đảm bảo mọi quyền lợi củangười tiêu dùng Đặc biệt, theW luôn gây ấn tượng bởi những món quà bất ngờ cho các thượngkhách

Hy vọng với những đổi mới trong Chăm sóc khách hàng, TMĐT Việt Nam sẽ thay đổinhìn nhận của người tiêu dùng về mua sắm online

Câu 10: Chức năng lưu thông của TMĐT có ý nghĩa thế nào trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay?

Tổ chức lưu thông hàng hóa trong và ngoài nước là thông qua hoạt động mua bán để nốiliền một cách có kế hoạch giữa giữa sản xuất và tiêu dùng, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tiêudung của toàn xã hội về hàng hóa và dịch vụ trên các mặt về số lượng, chất lượng, cơ cấu hànghóa theo không gian, thời gian

Lưu thông trong thương mại điện tử còn đưa hàng hóa từ người bán tới người mua trênphạm vi toàn cầu, giúp cho doanh nghiệp, cá nhân nắm rõ nhu cầu và thị hiếu của khách hàngmột cách gần nhất trong quá trình quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng So với thương mạitruyền thống, nó tạo ra môi trường cạnh tranh mạnh mẽ giữa giữa các công ty, doanh nghiệpvừa và nhỏ

 Ứng dụng

Internet chính thức xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1997 Sau 15 năm, Internet đã thâmnhập sâu sắc và toàn diện vào mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội Trên nền tảng công nghệInternet, thương mại điện tử ở Việt Nam đã hình thành và phát triển nhanh chóng trong nhữngnăm gần đây

Kết quả điều tra sơ bộ tình hình ứng dụng thương mại điện tử tại các doanh nghiệp phụcvụ Chương trình Chỉ số thương mại điện tử 2012 cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụngemail trong hoạt động kinh doanh với các mục tiêu chủ yếu là quảng bá, giới thiệu doanhnghiệp, trao đổi thông tin kinh doanh và chăm sóc khách hàng Trên 40% doanh nghiệp thamgia điều tra có website và 12% doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử Hoạt độngkinh doanh trên các website liên tục tăng về chất lượng với 36% các website cho phép đặt hàngtrực tuyến, 20% doanh nghiệp cho biết tham gia các sàn thương mại điện tử mang lại hiệu quảcao

Môi trường kinh doanh trực tuyến tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra áp lực cạnhtranh gay gắt Doanh nghiệp nào nắm bắt được xu hướng mới có thể lớn mạnh rất nhanh, trongkhi đó doanh nghiệp nào lỗi nhịp với xu hướng mới có thể mất khách hàng trong một thời gianngắn

Trang 13

Trước hết, mọi doanh nghiệp cần phải tìm hiểu những cơ hội to lớn mà điện toán đámmây có thể đem lại Đặc biệt, với điện toán đám mây các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể điềuchỉnh chiến lược đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng thuê dịch vụ và tập trungnguồn lực cho hoạt động kinh doanh trực tuyến Sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị diđộng thông minh mở ra cơ hội kinh doanh to lớn cho rất nhiều lĩnh vực kinh doanh, đồng thờicũng đặt ra thách thức to lớn cho những doanh nghiệp không quan tâm thỏa đáng tới môitrường mới này.

Những xu hướng mới trong tiếp thị trực tuyến và thanh toán trên nền tảng công nghệInternet cũng tác động sâu sắc tới mọi doanh nghiệp.Có thể thấy ở các nước phát triển tỷ lệ cácdoanh nghiệp xuất hiện trên các mạng xã hội là rất cao Các doanh nghiệp Việt Nam cần nắmbắt xu hướng mới này để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả nhất

Nắm bắt các xu hướng mới trong thương mại điện tử đã khó, nhưng còn khó hơn khithay đổi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với các xu hướng mới này trong bốicảnh nguồn nhân lực chất lượng cao về thương mại điện tử còn khan hiếm Ngày càng nhiềungười Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh niên sinh viên mơ ước trở thành doanh nhân thànhđạt với thương mại điện tử

Câu 11: Chức năng phân phối của TMĐT có ý nghĩa thế nào trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay?

Sự phát triển nhanh và mạnh của hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam hiện nayđang từng bước thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người dân, tác động tích cực đến quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế thị trường và không thể không nhắc đến những ứng dụng của thươngmại điện tử trong việc phát triển của hệ thống phân phối hàng hóa đó

Thương mại điện tử hỗ trợ rất hiệu quả cho các quá trình quản lý hệ thống phân phốihàng hóa, do đó, để phát triển các hệ thống phân phối hàng hóa hiện đại, cần thúc đẩy nhanhviệc ứng dụng thương mại điện tử trong phân phối hàng hóa ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam đã có một số hệ thống thương mại điện tử tiêu biểu như: sàn giao dịch địa ốc,siêu thị máy tính (Blue Sky, Book Store, E – businetss), sàn giao dịch điện tử của PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng rất nhiều siêu thị điện tử khác Việc giao dịch chủyếu được thực hiện qua các hình thức như: thư điện tử, fax, điện thoại trên mạng, tìm các đốitác, bạn hàng qua mạng, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị, thanh toán điện tử, giao dịch điện tử,tìm hàng hóa trong các cửa hàng ảo, trao đổi dữ liệu điện tử … với chủ yếu các mặt hàng thíchhợp bán trên mạng như: sách, dụng cụ nấu ăn, vật lưu niệm, văn phòng phẩm, linh kiện điện tử,

Việc phát triển các kênh phân phối hàng hóa qua mạng sẽ giúp doanh nghiệp thuận tiện,giảm chi phí trong tìm kiếm, giao dịch, đàm phán với các thành viên; cung cấp kịp thời chokhách hàng những thông tin về giá cả, dịch vụ điều kiện mua hàng Theo khảo sát của Công tyVinalink, ở Việt Nam hiện có khoảng 9.300 trang web B2C (từ doanh nghiệp đến khách hàng)cung cấp các hình thức mua bán thông qua việc đặt hàng trên trang web hoặc qua điện thoại vớidoanh thu vào khoảng 450 triệu đô-la Mỹ, chiếm 0,5% GDP Còn về loại hình B2B (từ doanhnghiệp đến doanh nghiệp), có gần 3.000 doanh nghiệp với doanh thu khoảng 1,5 tỷ đô-la Mỹ

Trang 14

Như vậy, làm một phép cộng đơn giản có thể thấy cả B2B và B2C đã chiếm gần 2,5% GDP.Ngoài sự tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp thì sự tăng trưởng về ngành nghề kinh doanhthương mại điện tử cũng mang lại một cái nhìn lạc quan Từ hàng tiêu dùng, điện máy, sáchbáo cho đến các hàng hóa nội dung số, dịch vụ giá trị gia tăng đều có mặt trong danh mục kinhdoanh trực tuyến ở Việt Nam Đến nay, lĩnh vực này cũng không còn xa lạ với người sử dụngtại Việt Nam như giai đoạn ban đầu 2000-2005 Đa số các doanh nghiệp đều có trang web và

đa số người tiêu dùng thành thị đều sử dụng Internet để tìm kiếm mặt hàng họ cần

Như vậy, mặc dù đã có bước phát triển, song việc áp dụng thương mại điện tử của cácdoanh nghiệp trong quá trình tổ chức và điều phối hệ thống phân phối hàng hóa chưa thật sựsôi động Những điển hình thành công trong thực tế cũng cho thấy, việc áp dụng thương mạiđiện tử ở nước ta mới thực hiện ở một cấp độ lẻ tẻ, chưa hình thành được hệ thống liên kết chặtchẽ được tổ chức và điều phối qua mạng

Câu 12: Đặc trưng: “Trong TMĐT, độ lớn về quy mô và vị trí của các doanh nghiệp trở nên không quan trọng” có ý nghĩa thế nào ở Việt Nam hiện nay?

Trong thương mại truyền thống, độ lớn và vị trí có ảnh hưởng quan trọng với sự thànhcông trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì trong thương mại điện tử, điều nàykhông còn đúng nữa

Trong thương mại điện tử, bất kỳ là lớn hay nhỏ, doanh nghiệp đều có thể dễ dàng truynhập đến các khách hàng tiềm năng Internet không giống như thế giới hiện thực mà trong đóvị trí và độ lớn của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với khách hàng.Thành công này đã được chứng tỏ bởi các doanh nghiệp mới được thành lập như Amazon.com,etrade và e-toys, tất cả đã xác định lại các thị trường tương ứng của mình và hiện nay chiếm thịphần lớn trên Internet Các công ty này chưa tồn tại trước khi có Internet Ngày nay, họ đã cóthể cạnh tranh với các công ty tồn tại lâu đời, có cơ sở hạ tầng vững mạnh và quyền lực muabán lớn bằng cách sử dụng sự hiểu biết và linh hoạt để tận dụng ưu thế của môi trường mới.Một ưu thế của sự hiện diện trên Web là nó không có vị trí xác định, kể cả múi giờ và biên giớilãnh thổ Thông qua Web, doanh nghiệp có thể tiếp cận với các khách hàng ở các vùng địa lýmà trước đây họ không thể vươn tới được

Nhiều người tham quan website của doanh nghiệp không ý thức được về độ lớn cũngnhư vị trí của doanh nghiệp Với một website, doanh nghiệp có thể dễ dàng hỗ trợ khách hàngở bất kỳ đâu trên thế giới Múi giờ không còn trở nên quan trọng nữa Các CSDL và thư điện tửcũng giúp các doanh nghiệp trong việc cung cấp cho khách hàng các yêu cầu về thông tin haydịch vụ Doanh nghiệp có thể duy trì hay giảm số lượng nhân viên hiện tại mà vẫn có thể cungcấp cho các khách hàng hiện tại và tương lai nhiều thời gian hỗ trợ và phục vụ hơn Không cókhoảng thời gian trễ giữa việc công bố thông tin trên website và việc khách hàng truy nhập đếncác thông tin này Doanh nghiệp có thể theo dõi các sản phẩm mới và các chiến dịch marketingngay lập tức Các thông điệp, sự sắp xếp và trọng tâm của các chiến dịch marketing trực tuyếncó thể được phân nhỏ với chi phí rất ít và không có thời gian trễ

Trang 15

Câu 13: Đặc trưng: “Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn trong TMĐT, nó dần được xoá mờ” có ý nghĩa thế nào ở Việt Nam hiện nay?

“Xu hướng toàn cầu hoá thông tin đang xoá mờ những giới hạn về không gian kinhdoanh, không gian văn hóa Thương mại điện tử xuyên biên giới (cross-border e-commerce)cũng nằm trong xu thế đó, trở thành một trào lưu mà doanh nghiệp và người tiêu dùng phải chútrọng”

Thử hình dung, khách hàng ở Việt Nam có thể nhanh chóng (và dễ dàng) tìm chiếc điệnthoại iPhone đảm bảo chất lượng và có giá tốt nhất từ Mỹ, thông qua Google Shopping haynhững nhà cung cấp dịch vụ tương tự, đặt và nhận hàng tại Việt Nam Rõ ràng mô hình này sẽmang lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng, giúp họ chọn đúng và tốt nhất hàng hoá ở cả hai yếu

tố chất lượng và giá cả

Tại Việt Nam đã có thử nghiệm mô hình TMĐT xuyên biên giới Mô hình chính thốngcả về nguồn hàng và thanh toán như ChoDienTu với eBay và PayPal Ở đó, nguồn hàng từeBay.com được đồng bộ hoá tại eBay.vn và niêm yết bằng VND Nhà cung cấp dịch vụ sẽ đảmbảo việc thanh toán và giao nhận xuyên biên giới cho người tiêu dùng tại Việt Nam Đây làbước khởi đầu để Việt Nam tham gia thị trường giao dịch TMĐT xuyên biên giới, tuy vậy kênhthương mại này vẫn đang chỉ một chiều: người Việt Nam có thể mua hàng từ Mỹ, nhưng ngườiMỹ chưa dễ mua hàng từ Việt Nam

Một mô hình khác là đặt hàng – mua hộ tại các trang web như muahangmy, aloola,hangnhat… Các công ty nhận tiền đặt cọc, sau đó mua hộ hàng tại các nước khác và gởi đếnngười mua Phần lớn hàng hoá mua theo mô hình này được vận chuyển theo dạng xách tay, giácả mềm hơn nhưng không thể thường xuyên và cũng khó đảm bảo chất lượng như hàng hoámua trực tiếp từ nhà cung cấp

Sau ba năm phát triển, mô hình TMĐT xuyên biên giới tại Việt Nam vẫn còn nhiều khókhăn Dù nhu cầu lớn nhưng nếu thiếu hạ tầng hoàn chỉnh về thanh toán điện tử, hệ thống giaonhận cũng như cam kết chất lượng từ các nhà cung cấp thì người tiêu dùng chưa thể an tâm.Ngoài ra, việc chấp nhận thanh toán điện tử qua tài khoản ATM hay thẻ tín dụng chưa pháttriển mạnh tại Việt Nam, đang là khó khăn lớn cho nền TMĐT Việt Nam nói chung

Tại hội thảo Xúc tiến thương mại điện tử Việt – Nhật cuối năm 2011, nhiều nhà đầu tưNhật mong muốn phối hợp với các đối tác Việt Nam xây dựng hệ thống TMĐT xuyên biêngiới Họ nhận định đây là xu thế tất yếu và mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêudùng khi doanh nghiệp Nhật có thể bán hàng trực tiếp đến người dùng Việt Nam mà không vấpphải các rào cản giao thương truyền thống Nhà cung cấp cam kết đảm bảo chất lượng sảnphẩm (vì được bán trực tiếp) và mức giá tốt nhờ cắt giảm các chi phí trung gian Nhà cung cấpthay vì đầu tư tốn kém vào các kênh phân phối truyền thống tại thị trường họ tham gia (ví dụdoanh nghiệp Nhật đầu tư vào hệ thống phân phối Việt Nam), có thể giảm giá bán và chia sẻthêm lợi nhuận cho nhà cung cấp hạ tầng TMĐT xuyên biên giới

Nhu cầu và sự chuẩn bị của các nhà cung cấp nước ngoài vào Việt Nam cũng là cơ hộicho TMĐT xuyên biên giới trong nước phát triển Bài toán khó hiện vẫn là chi phí đầu tư lớncho hạ tầng TMĐT xuyên biên giới mà không đơn giản một vài công ty là có thể đứng ra xâydựng Điều này còn đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa bốn nhà: nhà cung cấp nước ngoài; nhàphân phối TMĐT trong nước; nhà cung cấp giải pháp giao nhận; và giải pháp thanh toán điện

Trang 16

tử Cho đến nay, Việt Nam vẫn còn thiếu một đầu tàu TMĐT đủ mạnh để liên kết các thành tốnày và chuẩn hoá được mô hình.

Sau cùng, cần môi trường TMĐT song phương để người tiêu dùng các nước có thể muahàng Việt Nam Mô hình này đã được áp dụng thành công trên thế giới như eBay – NetPrice(TMĐT song phương Mỹ – Nhật); Alibaba – NetPrice (TMĐT song phương Trung – Nhật)…

II Chương 2: Hạ tầng phát triển thương mại điện tử

Câu 1: Có các loại tấn công kỹ thuật nào trên Internet? Loại nào đang phổ biến hiện nay?

Các cuộc tấn công kĩ thuật là một cuộc tấn công mà đối thủ tìm cách xâm nhập bằngcách sử dụng các phần mềm đặc biệt hoặc các kiến thức hệ thống hoặc các kiến thức chuyêngia Trên mạng Website TMĐT thường có khả năng gặp các loại tấn công sau:

- Tấn công từ chối dịch vụ( DOS – Denial of service) là một cuộc tấn công trên Website

trong đó kẻ tấn công sẽ sử dụng một phần mềm đặc biệt để gửi một loạt các nhóm dữliệu dưới dạng thư yêu cầu, đơn hàng v v vào Website mục tiêu với mục đích làm choWebsite quá tải không thể phục vụ ai được nữa

- Tấn công từ chối dịch vụ phân tán ( DDOS – Distributed denial of service) là một

cuộc tấn công từ chối dịch vụ trong đó những kẻ tấn công lấy trộm được quyền quản trịmạng bất hợp pháp vào càng nhiều máy tính càng tốt trên mạng Internet và để gửi giữliệu vào máy tính mục tiêu từ rất nhiều máy tính khác nhau để cho không phát hiện đượcđối thủ

- Tấn công từ chối dịch vụ theo phương pháp phản xạ DRDoS (Distributed Reflection Denial of Service).Để thực hiện "Tấn công từ chối dịch vụ phân tán DDoS",

kẻ tấn công tìm cách chiếm dụng và điều khiển nhiều máy tính hoặc mạng máy tínhtrung gian (đóng vai trò zombie) từ nhiều nơi để đồng loạt gửi ào ạt các gói tin (packet)với số lượng rất lớn, mục đích chiếm dụng tài nguyên và làm tràn ngập đường truyềncủa một mục tiêu xác định nào đó Riêng "Tấn công từ chối dịch vụ phản xạ DRDoS"chỉ mới xuất hiện gần đây nhưng lại là loại nguy hiểm nhất Nếu được thực hiện bởi cáchacker chuyên nghiệp, không một hệ thống nào có thể đứng vững được trước nó Đángnói hơn, hiện cũng đã xuất hiện nhiều loại virus, worm, trojan có chức năng tự độngthực hiện tấn công DoS

Đây có lẽ là kiểu tấn công lợi hại nhất và làm boot máy tính của đối phương nhanh gọnnhất Cách làm thì cũng tương tự như DDos nhưng thay vì tấn công bằng nhiều máytính thì người tấn công chỉ cần dùng một máy tấn công thông qua các server lớn trên thếgiới Vẫn với phương pháp giả mạo địa chỉ IP của victim , kẻ tấn công sẽ gởi các gói tinđến các server mạnh nhất, nhanh nhất và có đường truyền rộng nhất như Yahoo,v.v… ,các server này sẽ phản hồi các gói tin đó đến địa chỉ của victim Việc cùng một lúc nhậnđược nhiều gói tin thông qua các server lớn này sẽ nhanh chóng làm nghẽn đườngtruyền của máy tính nạn nhân và làm crash , reboot máy tính đó Cách tấn công này lợihại ở chỗ chỉ cần một máy có kết nối Internet đơn giản với đường truyền bình thường

Trang 17

cũng có thể đánh bật được hệ thống có đường truyền tốt nhất thế giới nếu như ta khôngkịp ngăn chặn.

- Thời gian đầu DOS được coi là kĩ thuật được các hacker rất ưa chuộng và sử dụng nhiều, tuy nhiên vào những năm gần đây XSS – Cross-Site Scripting đã thay thế vị trí này ( 8/2014)

XSS là một trong những kĩ thuật tấn công phổ biến nhất hiện nay, đồng thời nó cũng làmột trong những vấn đề bảo mật quan trọng đối với các nhà phát triển web và cả những ngườisử dụng web Bất kì một website nào cho phép người sử dụng đăng thông tin mà không có sựkiểm tra chặt chẽ các đoạn mã nguy hiểm thì đều có thể tiềm ẩn các lỗi XSS

Tin tặc tấn công bằng cách chèn vào các website động (ASP, PHP, CGI, JSP …) nhữngthẻ HTML hay những đoạn mã script nguy hiểm có thể gây nguy hại cho những người sử dụngkhác Trong đó, những đoạn mã nguy hiểm đựơc chèn vào hầu hết được viết bằng các Client-Site Script như JavaScript, JScript, DHTML và cũng có thể là cả các thẻ HTML

Nếu như các kĩ thuật tấn công khác có thể làm thay đổi được dữ liệu nguồn của webserver (mã nguồn, cấu trúc, cơ sở dữ liệu) thì XSS chỉ gây tổn hại đối với website ở phía clientmà nạn nhân trực tiếp là những người khách duyệt site đó

Biện pháp đối phó:

 Chỉ cho phép những dữ liệu hợp lệ, từ chối nhận các dữ liệu sai, thường xuyên kiểm tra và lọc dữ liệu đầu vào

 Sử dụng Mod_Security để lọc một số dữ liệu tấn công XSS

Câu 2: Có các loại mã hoá nào phổ biến trong TMĐT? Tình hình ứng dụng hiện nay?

Để đảm bảo an toàn bảo mật cho các giao dịch, người ta dùng hệ thống khóa mã và kĩ thuật

mã hóa cho các giao dịch TMĐT Mã hóa là quá trình trộn văn bản với khóa mã tạo thànhvăn bản không thể đọc được truyền trên mạng Khi nhận được bản mã phải dùng khóa mãđể giải thành bản: văn bản gốc, văn bản đã giải mã, văn bản đã mã hóa, thuật toán mã hóa,khóa mã Mã hóa là tiền đề cho sự thiết lập các vẫn đề liên quan đến bảo mật và an ninhtrên mạng

Có 2 phương pháp mã hóa phổ biến nhất: Phương pháp mã hóa đối xứng( khóa riêng) vàphương pháp mã hóa dùng từ khóa công khai

- Phương pháp mã hóa đối xứng: là sử dụng một mật mã khóa để mã và giải mã Nhưvậy người gửi và người nhận đều sử dụng cùng một từ khóa Đây là phương pháp mãcổ điển Thuật toán mã hóa được sử dụng nhiều là DES( Data Encryption Standard).Về lí thuyết, khóa đối xứng có thể giải được nhưng thời gian để giải mã rất lâu và tốnkém Nếu độ dài từ khóa càng lớn thì khả năng giải càng khó Giao thức SET đãdùng phương pháp này với độ dài từ khóa là 64 bit Hình dưới đây trình bày qui trình

mã hóa sử dụng khóa đối xứng:

Trang 18

- Một phương pháp mã khác thuận tiện hơn là mã có từ khóa công khai Phương phápnày sử dụng một cặp từ khóa: khóa chung và khóa riêng Đặc điểm chung duy nhấtlà dữ liệu đã mã với một từ khóa trong cặp thì chỉ được giải với từ khóa kia trongcùng cặp từ khóa.

Trang 19

Muốn sử dụng phương pháp từ khóa công khai, người ta phải tạo ra các cặp từ khóa vàphân phát chúng Các từ khóa phải đảm bảo được giữ bí mật giữa các người sử dụng Hìnhthành một cơ quan chuyên quản lí các từ khóa thông qua cấp phát chứng thực số Cơ quan này

sẽ chịu trách nhiệm định danh người sử dụng, đưa ra chứng chỉ điện tử và kiểm định giá trị củachúng Chứng thực số đã được áp dụng trong các hệ thống thanh toán nổi tiếng hiện nay củaTMĐT là Verisign và CyberTrust Người sử dụng phải trả một khoản phí để nhận được mộtchứng thực số Cấp độ xác nhận càng cao thì phí càng lớn Cơ quan phát hành chứng thực số cóthể là doanh nghiệp hay cơ quan chính phủ

- Trên thực tế về khía cạnh an toàn, các thuật toán mật mã hóa khóa bất đối xứng cũngkhông khác nhiều so với các thuật toán mã hóa đối xứng Có những thuật toán đượcdùng rộng rãi, có thuật toán chủ yếu trên lí thuyết, có thuật toán vẫn được xem làtoàn, có thuật toán đã bị phá vỡ Cũng cần lưu ý là những thuật toán được dùng rộngrãi không phải lúc nào cũng đảm bảo an toàn Một số thuật toán có những chứngminh về độ an toàn với những tiêu chuẩn khác nhau Nhiều chứng minh gắn việc phá

vỡ thuật toán với những bài toán nổi tiếng vẫn được cho là không có lời giải trongthời gian đa thức Nhìn chung chưa có thuật toán nào được chứng minh là an toàntuyệt đối Vì vậy cũng giống như tất cả các thuật toán mật mã nói chung, các thuậttoán mã hóa công khai cần phải được sử dụng một cách thận trọng

Câu 3: Thực trạng về hạ tầng pháp lý TMĐT ở Việt Nam hiện nay?

Trang 20

- Thương mại điện tử (TMĐT) về cơ bản là việc ứng dụng các phương tiện điện tửvào hoạt động kinh doanh, thương mại Chủ thể tham gia hoạt động TMĐT bêncạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về TMĐT, còn phải thực hiện các quyđịnh pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân sự….

- Trong tiến trình hội nhập với thế giới, Việt Nam tham gia ủng hộ “chương trình hành động chung” mà khối APEC về thực hiện“Thương mại phi giấy tờ” vào

năm 2005 đối với các nước phát triển và năm 2010 đối với các nước đang pháttriển Việt Nam cũng tích cực tham gia vào lộ trình tự doa hóa của hiệp địnhkhung e – ASEAN và thực hiện theo “các nguyên tắc chỉ đạo TMĐT” mà cácnước trong khối đã thông qua Chính vì thế trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đãđịnh hình một khung pháp lí quan trọng làm nền tảng đáp ứng những đòi hỏi củapháp lí quốc tế để có thể hòa nhập và theo kịp các nước trong khu vực và trên thếgiới

- Về khung pháp luật kinh doanh, ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội thông quahai luật mới: Luật đầu tư số 67/2014/QH13 và Luật Doanh nghiệp số68/2014/QH13, hai luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2015 Về phápluật chuyên ngành lĩnh vực TMĐT, ngày 05 tháng 12 năm 2014, Bộ CôngThương đã ban hành Thông tư số 47/2014/TTBCT quy định về quản lý websitethương mại điện tử Với sự ra đời của hai luật trên và Thông tư số 47/2014/TT-BCT, năm 2014 là năm đánh dấu nhiều thay đổi về khung pháp lý cho hoạt độngTMĐT của Việt Nam

- Ngoài ra, ngày 11 tháng 5 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 689/QĐTTg phê duyệt Chương trình phát triển thương mại điện tử(TMĐT) quốc gia giai đoạn 2014 - 2020 Quyết định 689/QĐ-TTg với mục tiêuchung nhằm xây dựng các hạ tầng cơ bản và triển khai các giải pháp, hoạt động

hỗ trợ phát triển lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam, đưa TMĐT trở thành hoạt độngphổ biến, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nănglực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Bên cạnh đó, năm 2014 cũng là năm chứng kiến một số sự kiện quan trọngcủa TMĐT Việt Nam điển hình như ngày 5 tháng 12 năm 2014, Bộ CôngThương đã ban hành Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý websitethương mại điện tử; đồng thời tổ chức thành công Ngày mua sắm trực tuyến

2014, đây là sự kiện lần đầu tiên được triển khai nhằm tạo cơ hội, hỗ trợ, thúcđẩy TMĐT đến gần với doanh nghiệp và người dân

Câu 4: Trình bày về các mô hình kinh doanh bán lẻ trực tuyến?

Như chúng ta đã biết các giao dịch trong TMĐT chủ yếu có 2 loại: doanh nghiệp – doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp – người tiêu dùng (B2C)

Trước đây, TMĐT chủ yếu chỉ được thực hiện giữa các doanh nghiệp Song càng ngày loại hình B2C, nói một cách khác là bán lẻ trong TMĐT, càng được phát triển rộng rãi Để thiết lập một mẫu kinh doanh của tiếp thị điện tử hướng tới người tiêu dùng, chúng ta phải xác định các

Trang 21

yếu tố quan trọng tạo nên các hình mẫu TMĐT (e-business) Bán lẻ điện tử(E- tailing) là việc bán lẻ được thực hiện trực tuyến trên mạng internet Hiện nay doanh số bán lẻ ngày càng tăng, nó thể hiện mức độ thâm nhập TMĐT vào đời sống xã hội Theo thống kế của Mỹ, mặc dù chỉ chiếm hơn 3% tổng số bán lẻ ở Mỹ, thương mại B2C đã đóng góp đến 18% doanh số của một

số ngành như phần mềm máy tính, dịch vụ du lịch và âm nhạc Điều này mở ra cơ hội tốt cho các nhà cung cấp từ các nước đang phát triển

Tiếp thị trực tiếp đối ngược tiếp thị gián tiếp

Tiếp thị trực tiếp có nghĩa là các nhà sản xuất quảng cáo và phân phối các sản phẩm của chính họ đến khách hàng thông qua cửa hàng điện tử dựa trên internet(hay các phương tiện tiếp thị từ

xa khác) mà không cần sự can thiệp của bất kì người trung gian nào Công ty máy tính Dell thuộc loại này Trái lại, tiếp thị gián tiếp có nghĩa là sản phẩm được phân phối qua những người trung gian thứ 3, như các khu mua bán điện tửu(e-mail)

Các nhà sản xuất có thể bán các sản phẩm của họ trên Internet nếu các cửa hàng điện tử của họ có tính “dễ mục kích” cao Tuy nhiên, khả năng “mục kích” trực tiếp Công ty và nhãn hiệu hiệu quả thấp hay việc quản lí một máy chủ độc lập không được chứng minh là hợp lí về mặt kinh tế, đây là có thể là trường hợp của các công ty nhỏ, hàng hóa có thể được trưng bày tốt hơn ở những email bên thứ ba nổi tiếng

Tiếp thị ảo hoàn toàn đối ngược tiếp thị ảo một phần

Tiếp thị ảo hoàn toàn(hay tiếp thị ảo thuần túy) có nghĩa là các công ty như Amazon bán các sản phẩm và dịch vụ của họ chỉ thông qua Internet, trong khi tiếp thị ảo một phần có nghĩa là công ty như Bames & Noble bán hàng không chỉ qua Internet mà còn qua các cửa hàng thực truyền thống Các công ty tiếp thị ảo hoàn toàn là những công ty mới, khởi phát trong kỉ

nguyên TMĐT, trong khi tiếp thị ảo một phần là sự hồi đáp của các công ty đã hiện hữu, các công ty đã tiến hành kinh doanh qua các kênh phân phối khác

Nhà phân phối điện tử (electronic distnbutor) đối ngược người trung gian điện tử

(electronic broker)

Trong số những người trung gian điện tử, chúng ta hãy phân biệt những nhà phân phối điện tử với những người trung gian điện tử tùy theo một người trung gian điện tử có chịu trách nhiệm hoàn tất và đảm bảo đơn hàng hay không Những người trung gian điện tử chỉ giới thiệu các nhà cung cấp, những người kinh doanh mặt hàng mà khách hàng đang tìm kiếm

Các cửa hàng điện tử như Dell, amazon and Wal-mart online thuộc loại các nhà phân phối điện tử, trong khi Internet Mall (www.internet.mall), Bestbook-buys.com và Compare.net thuộc loạicác nhà trung gian điện tử Các site thư mục như Yahoo và Excite cũng có thể được nhìn nhận như là đóng vai trò người trung gian điện tử Tiền thanh toán có thể do người trung gian cũng như nhà cung cấp thu nhận tùy theo Hợp đồng giữa người trung gian và nhà cung cấp

Các cửa hàng điện tử đối ngược với khu mua bán điện tử

Trang 22

Xác định sự khác nhau giữa một cửa hàng điện tử (e-store) và một khu mua bán điện tử (email)là điều không dễ dàng Trong thế giới vật lí (thực ), một khu mua bán là một tập hợp các cửa hàng và các cửa hàng trong khu mua bán là những nhà phân phối độc lập Với các hiểu này, vaitrò của các người trung gian thư mục điện tử cùng với các cửa hàng điện tử được tập hợp lại thích hợp với vai trò của khu mua bán điện tử Tuy nhiên nhiều cửa hàng bách hóa trực tuyến gọi các site của họ là các khu mua bán điện tử thay vì là các cửa hàng điện tửu Thuật ngữ khu mua bán điện tửđôi khi được sử dụng như một thuật ngữ phổ biến rộng rãi chỉ các shop và các cửa hàng điện tử cũng như là một khu mua bán.

Tuy nhiên chúng ta cần phải chấp nhận một định nghĩa mặc định để làm rõ khái niệm Ở đây chúng ta sẽ thừa nhận nhiều cửa hàng độc lập như là tiêu chuẩn giả định để phân biệt các khu mua bán điện tử với các cửa hàng điện tử Do đó chúng ta có thể định nghĩa một cửa hàng điện tử như là một nhà phân phối điện tử mà việc kinh doanh hàng hóa của họ được thực hiện bởi một sự quản lí đơn nhất Một khu mua bán điện tử là một nhà phân phối điện tử hay người trung gian điện tử mà việc kinh doanh hàng hóa của họ được nhiều hơn một cửa hàng điện tử thực hiện

Các khu mua bán điện tử/cửa hàng điện tử tổng hợp đối ngược với các khu mua bán điện tử/ cửa hàng điện tử chuyên biệt

Các emalls/stores tổng hợp kinh doanh các loại hàng khác nhau, do đó danh mục các hàng hóa cung cấp rất lớn Các cửa hàng bách hóa trực tiếp thuộc loại này Trái lại, các emalls/stores chỉ tập trung vào một loại hình hàng hóa đặc biệt Các cửa hàng sách ảo như Amazon thuộc loại emalls chuyên biệt và Dell công ty tập trung vào chính những sản phẩm máy tính của mình, thuộc loại e-store chuyên biệt

Loại hình chiến lược hành động trước đối ngược với chiến lược phản hồi hướng tới tiếp thị ảo.

Loại hình chiến lược hành động trước hướng tới tiếp thị ảo có nghĩa là kênh phân phối chủ yếu của một công ty là Intemet và việc quản lí nội bộ như là quản lí kho và quản lý hoạt động được tập trung vào việc lợi dụng những lợi ích của tiếp thị ảo Trái lại một chiến lược phản hồi ở tư thế hướng tới tiếp thị ảo có nghĩa là kênh phân phối thực truyền thống tiếp tục là kênh chủ yếu của nó, mặc dù công ty mở một kênh phân phối trực tuyến Do đó kiểu cách quản lí nội bộ vẫn không thay đổi

Ví dụ, Dell thực hiện một loại chiến lược hành động trước trong khi sử dụng kênh tiếp thị ảo, liên hệ trực tiếp với khách hàng và làm cho hệ thống sản xuất trở nên linh hoạt đối với việc tùy biến rộng rãi Tuy nhiên một số nhà sản xuất máy tính cá nhân khác chỉ chuyển sang tiếp thị ảo một cách phản ứng như là một kênh phân phối bổ sung mà không thay đổi phương thức phân phối và sản xuất truyền thống Nhiều công ty tiếp thị ảo thuần túy mới thành lập theo kiểu loại hình chiến lược phản hồi Hai vấn đề cơ bản mà công ty sẽ phải đối mặt là loại hình chiến lược nào có tính cạnh tranh hơn trong quá trình hoạt động lâu dài và một công ty sẽ chuyển đổi như thế nào về một loại hình chiến lược hiệu quả hơn với một điều kiện ban đầu có sẵn

Tiếp thị toàn cầu đối với tiếp thị khu vực

Trang 23

Mặc dù internet được kết nối toàn thế giới, một số sản phẩm dịch vụ không thể cung cấp toàn cầu Ví dụ hàng hóa dễ hỏng hóc như tạp phẩm không thể giao khoảng cách xa

Peapod(www.peapod.com) một dịch vụ cung cấp hàng tạp phẩm có trụ sở ở Evanston, Illinois thuộc loại này Chi phí giao hàng có thể giới hạn phạm vi dịch vụ là một vùng nào đó, các đường biên giới chính thức giới hạn dịch vụ trong trường hợp của Ngân hàng và bảo hiểm, ngôn ngữ cũng có thể giới hạn phạm vi kinh doanh Do đó, việc quản lí phải quyết định phạm

vi địa lí của hoạt động kinh doanh khi xem xét yếu tố này

Dịch vụ bán hàng đối ngược dịch vụ bán hàng

Các website của một số công ty được sử dụng chủ yếu là hay chỉ là cho dịch vụ khách hàng Tất cả các công ty phần cứng và phần mềm máy tính lớn đều cung cấp các site dịch vụ khách hàng, các site này nghiên cứu được mức độ hài lòng của khách hàng trong khi giảm được chi phí duy trì nhân viên ở trung tâm gọi Ví dụ như Intel từ năm 1998 đã sử dụng site của mình trước hết là dịch vụ khách hàng Một số công ty sử dụng 2 site: một cho việc bán hàng và một cho dịch vụ Lập kế hoạch chuyển biến tình trạng hiện thời thành hình mẫu kinh doanh đã hướng tới là vẫn đề quan tâm của các nhà quản lí Xét theo các khía cạnh của TMĐT, họ có thểphân tích mô hình kinh doanh hiện tại của công ty và thiết lập một mô hình thích hợp cho tương lai

Câu 5: Nêu một số giải pháp bảo mật trong TMĐT.

Khi thực hiện kinh doanh TMĐT phải chú ý đến quản lí an toàn bảo mật, vừa bảo veeh chodoanh nghiệp, vừa bảo vệ cho khách hàng Những bất cập xảy ra thường do thông tin an toànbảo mật không được đánh giá hết, ranh giới an toàn bảo mật được xác định quá hẹp, quy trìnhquản lí an toàn bảo mật không còn phù hợp và không phân công rõ trách nhiệm an toàn bảomật

Quản lí rủi ro an toàn bảo mật là một hệ thống xác định khả năng tấn công vào bảo mật khácnhau, cũng như xác định các hành động cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế cuộc tấn công đó.Quá trình quản lí rủi ro an toàn bảo mật gồm: Đánh giá, lập kế hoạch, thực hiện và giám sát

 Trong giai đoạn đánh giá, phải đánh giá hết các rủi ro an toàn bảo mật của hệ thống hiệncó, các khả năng có thể bị tấn công của hệ thống và các mối đe dọa tiềm năng bị tấncông Trong giai đoạn lập kế hoạch, phải xác định một tập hợp các dấu hiệu để xác địnhmức độ báo động về an toàn bảo mật, xác định các biện pháp phòng ngừa và chống lạicác đe dọa

 Trong giai đoạn thực hiện triển khai các biện pháp phòng ngừa và lựa chọn các côngnghệ thích hợp phòng chống Một số phương pháp an toàn bảo mật thường được ápdụng là:

- Hệ thống xác thực: là hệ thống xác định các bên tham gia hợp pháp để có thể tiến hành

giao dịch, xác định các hành động họ được phép để thực hiện và hạn chế các hành độngđó chỉ cần thiết để khởi động và hoàn thành một giao dịch

Trang 24

- Cơ chế kiểm soát truy cập: là một cơ chế hạn chế các hành động có thể được thực hiện

bởi một cá nhân hoặc nhóm đã được xác thực

- Thẻ thụ động là một thiết bị nhớ (thẻ từ) được sử dụng trong hệ thống xác thực hai

nhân tố chứa mã bí mật

- Thẻ tích cực: là một thiết bị diện tử nhỏ đứng riêng trong hệ thống xác thực hai nhân tố

tạo ra một mật khẩu một lần

 Trong giai đoạn giám sát, cần đánh giá biện pháp nào tốt và thành công, biện pháp nàokhông thành công và cần phải thay đổi, có loại đe dọa mới không, đã có sự thay đổitrong công nghệ không và có nội dung kinh doanh nào mới cần được bảo vệ không

Câu 6: Nêu vai trò của khoá bí mật và khoá công khai.

- Mã khóa bí mật (mã hóa đối xứng-mã hóa khóa riêng):

+ Sử dụng cùng 1 khóa bởi người gửi (cho việc mã hóa) và người nhận (cho việc giải mã)

+ Thuật toán được chấp nhận rộng rãi nhất cho việc mã hóa khóa bí mật là thuật toán chuẩn mã hóa dữ liệu (DES) Giao thức SET chấp nhận thuật toán DES với chìa khóa 64bit của nó Thuật toán này có thể phá mã được nhưng phải mất nhiều năm với chi phí hàng triệu đôla

+ Người gửi và người nhận thông điệp phải chia sẻ 1 bí mật, gọi là chìa khóa

- Mã khóa công khai (mã hóa không đối xứng ):

+ Sử dụng 2 khóa khác nhau, 1 khóa công khai (để mã hóa thông điệp tất cả người sử – tất cả người sử dụng được phép biết) và một khóa riêng (để giải mã thông điệp chỉ có người sở hữu nó – tất cả người sử biết)

+ Thuật toán được chấp nhận rộng rãi nhất cho việc mã hóa công khai là thuật toán RSAvới nhiều kích cỡ khác nhau (1024 bit) Thuật toán này không bao giờ bị phá bởi các hacker, do đó nó được xem là phương pháp mã hóa an toàn nhất được biết cho đến nay.+ Thông điệp được mã hóa chỉ có thể được giải mã với chìa khóa riêng của người nhận

Vai trò rõ ràng nhất của mật mã hóa khóa công khai là bảo mật: một văn bản được mã hóa bằng khóa công khai của một người sử dụng thì chỉ có thể giải mã với khóa bí mậtcủa người đó

-Các thuật toán tạo chữ ký số khóa công khai có thể dùng để nhận thực Một người sử dụng có thể mã hóa văn bản với khóa bí mật của mình Nếu một người khác có thể giải

mã với khóa công khai của người gửi thì có thể tin rằng văn bản thực sự xuất phát từ người gắn với khóa công khai đó

Câu 7: Từ chối dịch vụ (DDOS) là gì?

Tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDOS - Distributed denial-of-service) là một cuộc tấncông từ chối dịch vụ trong đó những kẻ tấn công lấy trộm được quyền quản trị mạng bất hợppháp vào càng nhiều máy tính càng tốt trên mạng internet và để gửi dữ liệu vào máy tính mụctiêu từ rất nhiều máy tính khác nhau đến làm cho không thể phát hiện được đối thủ

Trang 25

Câu 8: Wal-mart xây dựng một website để bán các sản phẩm của mình, tuy nhiên đa số các hoạt động của công ty vẫn được thực hiện tại các cửa hàng bán lẻ Đây là hình thức nào của B2C?

Hình thức kinh doanh củaWall – mart được gọi là nhà bán lẻ điện tử lai ghép Trong thời đạicông nghệ thông tin phát triển, một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp sở hữu các nhà kho,của hàng hiện đại đang tận dụng sự phát triển và sức mạnh của môi trường Internet để hỗ trợphát triển các hoạt động thương mại truyền thống Một nhà bán lẻ hỗn hợp là sự kết hợp giữamột nhà bán lẻ truyền thống và một trangWeb giao dịch trực tuyến Wall – mart khởi sự doanhnghiệp từ một nhà bán lẻ truyền thống với những của hàng đại diện, gian trưng bày sản phẩm,nhưng qua thời gian, họ dần dần ứng dụng sự tiện lợi của các giao dịch trực tuyến vào dâytruyền thanh toán

Các nhà bán lẻ truyền thống ra đời trước, họ xây dựng sự nghiệp kinh doanh của mình trongthế giới thực với các cửa hàng trưng bày và nhà kho rộng lớn Các nhà bán lẻ truyền thốngthường tiến hành phân phối sản phẩm qua một kênh duy nhất là các cửa hàng trưng bày sảnphẩm của mình Ngày nay, trong thời đại số các nhà bán lẻ hiện đại thông qua các cửa hàngtrực tuyến, qua nhận dạng giọng nói, các thiết bị di động và các trangWeb cho phép khách hàngtương tác với người bán hàng Wall – mart là nhà bán lẻ xuất phát từ của hàng truyền thốngphát triển thành một website

Câu 9: Khoảng 2h chiều, Mr.Bean dùng thiết bị di động cầm tay PDA để truy cập vào một cửa hàng bán đồ tạp hoá trực tuyến Ông ta đặt mua một vài món đồ cho bữa tối, khi về nhà tất cả mọi thứ đã được giao đến cửa Giải thích đây là loại hình TMĐT gì?

Mr.Bean dùng thiết bị di động cầm tay PDA để truy cập vào cửa hàng bán đồ tạp hóa trực tuyếnvà hàng hóa đặt mua được giao đến đúng thời gian và địa điểm Đây được gọi là hình thức muasắm trực tuyến Mua sắm trực tuyến là quá trình mà người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá,

dịch vụ từ một người bán trong thời gian thực, mà không có một dịch vụ trung gian,qua Internet Nó là một hình thức thương mại điện tử Một cửa hàng trực tuyến, eShop, cửahàng điện tử, internet cửa hàng, webshop, webstore, cửa hàng trực tuyến, hoặc cửa hàng ảo gợilên sự tương tự vật lý của sản phẩm, dịch vụ mua tại một cửa hàng bán lẻ gạch-và-vữa hoặctrong một trung tâm mua sắm Quá trình này được gọi là B2C TMĐT giữa doanh nghiệp vàngười tiêu dùng hay B2C là hình thức giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùngtrong đó các giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị điện toán vàmạng truyền thông Thực chất đó là hình thức các doanh nghiệp bán các hàng hóa, dịch vụ củamình cho khách hàng và sử dụng mạng Internet làm môi trường trao đổi thông tin Phương thứcthanh toán và giao hàng rất đa dạng

Câu 10: Anh/chị hãy cho biết thực trạng thanh toán điện tử và chuyển phát vật lý ở Việt Nam hiện nay có những khó khăn và thuận lợi gì?

a Thực trạng thanh toán điện tử

- Khó khăn:

 Hệ thống chưa đáp ứng được tốc độ mua bán qua mạng, phụ thuộc vào các hình thứcthanh toán truyền thống như bằng séc, điện chuyển tiền (T/T) hay thư tín dụng (L/C),…gây mất thời gian và chi phí điện thoại, telex

Trang 26

 Dịch vụ ngân hàng điện tử e – banking hiện chỉ dừng lại ở mức phục vụ cho các nhu cầucá nhân và các vụ mua bán nhỏ.

 Các thanh toán lớn giữa các doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào séc

 Chưa có mạng thanh toán toàn cầu cho hệ thống, các ngân hàng chậm chạp thay đổi,không kịp sự bùng nổ của thương mại điện tử Các giao dịch điện tử đôi khi còn mấtthời gian

 Đang từng bước hoàn thiện hệ thống bảo mật

b Thực trạng chuyển phát vật lý

- Khó khăn:

 Doanh nghiệp khó xây dựng được hệ thống giá cước hợp lý theo từng cự ly, khu vực địalý khác nhau do không chủ động được việc tự đầu tư hệ thống chuyển phát hàng hóa,còn phải thuê ngoài hoặc liên kết kinh doanh (thuê các hãng vận chuyển chuyên nghiệp,các doanh nghiệp bưu chính,…)

 Chưa chiếm được thị phần chuyển phát hàng thực phẩm tươi sống do khách hàng chưatin vào tính nhanh chóng, tiện lợi, an toàn và chất lượng hàng hóa Hơn nữa phí vậnchuyển còn cao

 Tính chuyên nghiệp và kinh nghiệm trong việc chuyển phát còn thấp, đôi khi gây khóchịu cho khách hàng và khiến khách hàng có cái nhìn xấu về việc giao hàng chuyểnphát

 Chi phí vận chuyển không cao nhưng do chồng nhiều loại phí trong quá trình vậnchuyển khiến cho giá thành vận chuyển tăng gấp 2 – 3 lần gây khó chịu cho khách hàng

- Thuận lợi:

 Phát triển nhiều công ty vận chuyển chuyên nghiệp, đảm bảo uy tín trong việc vậnchuyển đường dài Hơn nữa khi các đối tác ký kết vận chuyển hợp đồng sẽ đảm bảo việccung cấp nhiều dịch vụ đơn lẻ và trọn gói khác nhau theo yêu cầu của khách hàng vềlịch trình, địa điểm và thời gian cũng như những dịch vụ đăc biệt như dịch vụ bảo vệ,dịch vụ vận chuyển liên kết tuyến, dịch vụ bốc dỡ, chất xếp hàng hóa, làm các giấy tờ,thủ tục hải quan

 Đã có nhiều doanh nghiệp lớn tự xây dựng được bộ phận chuyển phát riêng

 Hệ thống hạ tầng giao thông tại Việt Nam cũng tương đối thuận tiện so với thời kỳ đầu,hàng hóa đã có thể về được tận các khu vực xa xôi, hẻo lánh, các vùng quê

Trang 27

Câu 11: Anh/chị hãy cho biết những vấn đề khó khắn liên quan đến ứng dụng TMĐT mà anh/chị có thể gặp phải khi triển khai kế hoạch kinh doanh, cho biết phương án giải quyết vấn đề?

Để ứng dụng được TMĐT vào mô hình kinh doanh thì trong việc triển khai kế hoạch kinhdoanh còn phải quan tâm đến nhiều vấn đề hơn so với việc kinh doanh truyền thống như lựachọn phương thức thanh toán, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh hoặc xây dựng phương thức vậnchuyển

Các khó khăn liên quan đến ứng dụng TMĐT có thể gặp phải là:

1 Tìm hiểu đối thủ cạnh tranh

2 Lựa chọn phương thức thanh toán

3 Kế hoạch vận chuyển

Câu 12: Hãy cho biết nhận định của anh/chị vầ vấn đề Nhân lực để phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện nay.

Tại Việt Nam, TMĐT cũng như các khu vực TMĐT chung trên toàn cầu, đó là ngoài yêu cầuđặt ra với các nhà cung ứng sản phẩm còn có trình độ, khả năng của người mua hàng Nhìnchung, nguồn nhân lực TMĐT còn cần phải phát triển nhiều hơn nữa trong đó với từng mảngcó những yêu cầu riêng:

1 Người quản lý

Đây là những người ra quyết định kiểm soát các nguồn lực được dùng trong hệ thống, cóquyền lực tác động vào việc phát triển hệ thống Đây là những người đưa ra chiến lượccủa tổ chức hoặc phê duyệt các phương án phát triển mới

Tại Việt Nam hiện nay, hầu như các nhà quản lý đều là những người có tuổi đời trẻ, có

xu hướng tư duy mới hội nhập thế giới nên việc phát triển TMĐT đang ngày càng đượcthúc đẩy trên quy mô toàn bộ Những thế hệ mới với mong muốn khởi nghiệp nhưng chỉcó nguồn vốn nhỏ lẻ thì TMĐT chính là nguồn đất màu mở để phát triển

Nhưng ngược lại cũng còn tồn tại những thế hệ lớp trước chưa muốn đổi mới, khiến choTMĐT phát triển còn trì trệ do bị vướng tại điểm này Bởi thế, các doanh nghiệp nàykhông sớm thì muộn cũng bị cô lập trong sự phát triển hoặc buộc phải thay đổi để hộinhập

2 Chuyên gia

TMĐT được hình thành từ các khái niệm về CNTT, máy tính và mạng Internet Do vậycác chuyển gia CNTT là những người tham gia quyết định việc chuyển loại hình kinhdoanh thương mại truyền thống sang kinh doanh TMĐT Những chuyên gia CNTT đóngvai trò hết sức quan trọng góp phần đưa hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng hay ngườisử dụng Internet

Tại Việt Nam, mảng nhân lực này dường như phát triển khá tốt Điển hình là lực lượngcác nhà quản lý luôn luôn có một hoặc hai người có chuyên môn giỏi CNTT, có đủ sứcđiều hành và khai thác mạng, có khả năng thực hiện tốt các giao dịch trên mạng Hơnnữa các nhà quản lý cũng liên tục làm việc và tham khảo ý kiến của các phân tích viênvà thiết kế viên phân tích thiết kế Vị trí của các chuyên gia CNTT được đánh giá cao vàngay cả họ cũng có kiến thức chuyên môn về kinh doanh và marketing

Trang 28

3 Nhân viên tác nghiệp

Chính là đội ngũ nhân viên kinh doanh nhưng đặt trong TMĐT, họ phải có trình độ kỹthuật nhất định về máy tính và Internet để chủ động điều hành tác nghiệp Người sửdụng cuối tương tác với hệ thống theo sự cần thiết hoặc tùy chọn Đây là những ngườiquyết định đưa những thông tin đầu vào gì cho một mô hình TMĐT và cũng chính họ làngười gián tiếp tiếp xúc và xử lý dữ liệu và thông tin từ khách hàng

Khi yêu cầu hiện tại của mọi người đi làm đều là có kiến thức nhất định về máy tính vàmạng Internet thì đây không còn là vấn đề lớn mà còn là thế mạnh cho TMĐT ViệtNam Điều quan trọng là phương thức các nhân viên tác nghiệp tiếp xúc với khách hàngvà thái độ mà họ mang lại cũng như sự thuận tiện cho khách hàng sử dụng

4 Khách hàng

Số người tiêu dùng quyết định sự thành bại của một sản phẩm hay dịch vụ Muốn pháttriển TMĐT thì đông đảo người tiêu dùng phải hiểu biết và sử dụng được Internet TạiViệt Nam số lượng người sử dụng đã đạt hơn 5%, tức là đã vượt ngưỡng điều kiện pháttriển và đa số công chúng cũng biết cách làm việc trên mạng hoặc sử dụng tương đối tốtcác kỹ năng về CNTT Tuy nhiên, rào cản tại Việt Nam chính là người tiêu dùng cònhạn chế trong việc sử dụng các công cụ thanh toán điện tử và việc đọc hiểu tiếng Anhcũng không tốt (hơn 80% nội dung trên Internet được biểu thị bằng tiếng Anh) nênlượng khách hàng TMĐT chưa được cao

III Chương 3: Các hình thức giao dịch thương mại điện tử

Câu 1: Giao dịch thương mại điện tử là gì?

Theo Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam: “Giao dịch điện tử là giao dịch có sửdụng thông điệp dữ liệu được thực hiện bằng phương tiện điện tử”

Theo bản chất của giao dịch hay phân loại theo đối tượng tham gia vào giao dịch(Player), giao dịch TMĐT (electronic commerce transaction), với chữ “thương mại”được hiện đầy đủ các nội dung đã ghi trong Đạo luật mẫu về TMĐT của Liên Hợp quốc,diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) Doanh nghiệp (Business), (2)Chính phủ (Adminitration hoặc Government), (3) Người tiêu dùng (Consumer)

Câu 2: Có nhứng loại hình giao dịch TMĐT nào?

Các loại hình giao dịch TMĐT bao gồm:

B2C – Giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng: mục đích là dẫn tới việcngười tiêu dùng có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng (home shopping)B2B – Giữa các doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán và thanh toánhàng hoá và lao vụ, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và kinhdoanh

B2G – Giữa doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích (1)mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến (online government procurement), (2) các mụcđích quản lý (thuế, hải quan v.v…), (3) thông tin

C2G – Giữa người tiêu dùng với các cơ quan chính phủ: các vấn đề về (1) thuế, (2)dịch vụ hải quan và công chứng…, (3) thông tin

Trang 29

G2G – Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin.

C2C: Việc kinh doanh TMĐT giữa 2 nhóm đối tượng trong đó người bán và ngườimua đều là cá nhân Ví dụ như website đấu giá trực tuyến www.ebay.com hay cácwebsite rao vặt v.v…là nới mà người mua và người bán đều là cá nhân

Trong các loại hình giao dịch nói trên, giao dịch giữa doanh nghiệp với nhau là dạngchủ yếu của giao dịch TMĐT, và giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau chủ yếudùng phương thức trao đổi dữ liệu điện tử, tức EDI

Câu 3: Giao dịch B2B là gì?

B2B (Business to Business) là hình thức giao dịch được thực hiện giữa các doanhnghiệp trong đócác giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bịđiện toán và mạng truyền thông, người ta còn là e-B2B hay thường gọi là B2B Độnglực then chốt của B2B là nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường, phát triển dựa vàomạng lưới internet băng thông rộng và an toàn, hợp tác với nhà cung cấp và người mua,tiết kiệm chi phí, tăng tốc độ thương mại, cải thiện hợp tác, ứng dụng kỹ thuật tiên tiếncho việc hội nhập bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

Câu 4: Giao dịch B2C là gì?

Bán lẻ điện tử là việc bán lẻ được thực hiện trực tuyến trên mạng internet Hiện naydoanh số bán lẻ điện tử ngày càng tăng, nó thể hiện mức độ thâm nhập TMĐT vào đờisống xã hội

Việc bán lẻ được thực hiện trên internet còn được gọi là bán lẻ điện tử (e-retailing)và những người tiến hành công việc đó được gọi là người bán lẻ điện tử (e-retailer) Bán

lẻ điện tử giúp các nhà sản xuất dễ dàng bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng màkhông cần sự tham gia của các trung gian khác Khái niệm bán lẻ và bán lẻ điện tử mô tảviệc bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng hay còn được gọi là B2C EC (Business

to Consumer electronic commerce)

Câu 5: Bán lẻ trực tuyến khác với bán lẻ truyền thống như thế nào?

1 Sự phát triển

có học (Tăng

doanh thu và

tăng số lượng

khách hàng)

- Mở rộng trong bán lẻtruyền thống yêu cầumở rộng mặt bằng và

không gian

- Mở rộng của bán lẻđiện tử thông qua việctăng cường máy chủvà kênh phân phối

2 Sự phát triển

cơ học (Khi

- Tăng tác động từ

marketing để chuyểndịch khách hàng chỉtham quan (Windowshoppers) sang khách

- Yêu cầu sự phát triểncủa công nghệ để đẩmbảo khả năng cungcấp dịch vụ

- Tăng tác độngmarketing để chuyểntừ khách xem hàng

Trang 30

hàng) hàng thân thiết “pane shoppers” sang

khách mua hàng

3 Công nghệ - Sử dụng công nghệ tự

động (như hệ thốngPOS)

- Dẫn đầu công nghệ

- Thu thuận lợi từ việckhách lướt web

- Công nghệ sau bán

technologies)

- Công nghệ thông tin

4 Quan hệ khách

hàng - Tính bền vững caovới khách hàng

- Tính cam kết, cộngtác cao

- Quan hệ khách hànghữu hình

- Tính bền vững thấp vìhợp tác với kháchhàng vô danh

- Tính cam kết cộng tácthấp

- Quan hệ khách hàngảo

5 Nhận thức mua

bán

- Việc khách hàng nhậnthức sản phẩm ở mứcđộ thấp sẽ tạo chongười bán xây dựngniềm tin dễ hơn

- Việc khách hàng nhậnthức sản phẩm ở mứcđộ cao sẽ gây khókhăn cho người bántrong việc xây dựngniềm tin

- Khách hàng trungthành sẽ tiếp tục muasản phẩm trong tươnglai

- Nhiều đối thủ cạnhtranh

- Khu vực khách hàngrộng lớn

- Tồn tại khách hàngnặc danh

- Cần nhiều tài nguyênđể nâng cao sự trungthành của khách hàng

- Sự trung thành củakhách hàng không ổnđịnh

8 Chi phí trong

chuỗi cung ứng - Chi phí cao dễ biếnđộng - Chi phí thấp

9 Cá biệt hoá và

cá nhân hoá - Đắt, hiệu quả chậm - Nhanh, hiệu quả

10 Thay đổi giá

và mức chênh

Trang 31

kịp xu hướng chậm nhanh

Câu 6: Sự khác nhau giữa sàn giao dịch đa chiều và sàn giao dịch trực tuyến?

Chỉ tiêu Sàn giao dịch đa chiều Sàn giao dịch trực tuyến

a Mức độ tin cậy - Do khách hàng

đến trực tiếp cửahàng để thực hiệngiao dịch nên có

mức độ tin cậycao hơn Tuynhiên nguy cơ rủi

ro vẫn có thể xảyra

- Khách hàng thựchiện giao dịchqua mạng và các

truyền thông tinnên có độ tin cậythấp hơn, các bêntham gia giaodịch không gặpmặt trực tiếp nêncó độ tin cậy thấphơn

phụ thuộc vào hệ

thống xử lý và

trình độ của nhânviên, thường chỉgiới hạn trongmột mức độ nhấtđịnh

- Tốc độ giao dịchlớn, giao dịch cóthể được thựchiện thông quavài cú clickchuột

c Khối lượng giao dịch - Khối lượng giao

dịch thường bị

giới hạn dokhông đủ nhânviên hay tàinguyên để thựchiện

- Khối lượng giaodịch lớn, có thểthực hiện nhiềugiao dịch trongmột khaorng thờigian nhất định

Câu 7: Trung gian môi giới điện tử là gì?

Người môi giới điện tử (The digital middleman) hay nó còn có tên gọi khác là ngườitrung gian điện tử (electronic broker)

Theo từ điển TMĐT electronic brocker (e-brocker): những nhà trung gian điện tửthiết lập site TMĐT dưới dạng siêu cửa hàng điện tử cho nhiều nhà cung cấp khác nhau.Nhà trung gian điện tử chỉ thiết lập các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho siêu cửa hàng điện tửmà không có trách nhiệm vè thực hiện đơn hàng và bảo hành

Môi giới điện tử trong môi trường TMĐT có thể là một công ty hoặc một hãng viễnthông trên mạng internet, tại ra một môi trường làm việc trên mạng và sau đó thu hútmột số doanh nghiệp vào đó để quảng cáo sản phẩm của họ

C âu 8: Sự khác biệt giữa nhà phân phối điện tử vs nhà môi giới điện tử?

Trang 32

Nhà phân phối điện tử (electronic distributers) khác với người trung gian điện tử(electronic brocker) Trong số những nguời trung gian điện tử chúng ta có thể phân biệtnhững nhà phân phối điện tử với những người trung gian điện tử tuỳ theo một ngườitrung gian điện tử có chịu trách nhiệm hoàn tất và bảo đảm đơn hàng hay không.

Nhà phân phối điện tử chịu trách nhiệm về tiếp nhận hoá đơn và thực hiện đơn hàngcũng như bảo hành sản phẩm (đói ngược với nhà môi giới điện tử)

Còn những người trung gian điện tử chỉ giới thiệu các nhà cung cấp, những ngườikinh doanh các mặt hàng mà khách hàng đang tìm kiếm các cửa hàng điện tử như Dell,Amazon, Wal-mart online thuộc loại các nhà phân phối điện tử, trong khi internet mail(www.internet.mail), bestbook-buys.com và compare.net thuộc loại các nhà trung gianđiện tử các site thư mục như Yahoo và Excite cũng có thể được nhìn nhận như là đóngvai trò nguời trung gian điện tử tiền thanh toán có thể do người trung gian cũng như nhàcung cấp thu nhận tuỳ theo hợp đồng giữa người trung gian và nhà cung cấp

C âu 9: Hai sinh viên dùng mạng Internet để trao đổi thông tin, hình ảnh và video clip nhằm thực hiện bài tập lớn ở trường Đây là hình thức giao dịch điện tử gì? Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về hình thức này.

Hai sinh viên này sử dụng hình thức giao dịch điện tử C2C (Customer to customer).Đây là loại hình giao dịch mà cả hai bên tham gia đều là cá nhân Một số thông tin vềhình thức này như sau:

C2C là hình thức TMĐT giữa những người tiêu dùng với nhau Loại hình TMĐTnày được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và đấu giá trên mạng, đặcbiệt với các ngành theo trục dọc nới các công ty/doanh nghiệp có thể đầu thầu chonhững cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau Đây là tiềm năng lớn nhất cho việcphát triển các thị trường mới

Loại hình TMĐT này tới theo 3 dạng:

- Đấu giá giá trên một cổng, chẳng hạn như ebay, cho phép đấu giá trên trên mạng chonhững mặt hàng được bán trên web

- Hệ thống hai đầu như Napster (một giao thức chia sẻ dữ liệu giữa người sử dụngdiễn đàn nói chuyện IRC) và các hình thức tra đổi tập tin và tiền

- Quảng cáo phân loại tại một cổng như Excite Classifields, và eWanted (một thịtrường mạng trao đổi qua lại nơi người mua và người bán có thể thương thuyết vàvới đặc thù “người mua hướng tới & muốn quảng cáo”)

C âu 10: Một nhà máy đường nhận được thư mời thầu tự động để cung cấp hàng cho một siêu thị, sau khi chào hàng với một mức giá thấp nhất đã ký kết được hợp đồng cung cấp hàng cho siêu thị này Đây là ví dụ về hình thức giao dịch nào trong TMĐT?trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nó.

Đây là hình thức Đấu thầu trực tuyến (electronic tendering/reverse auction) trong

TMĐT

Trang 33

Trong những lĩnh vực dịch vụ đang được trực tuyến hóa, thì đấu thầu điện tử là mộttrong những phương thức đang rất được quan tâm vì những khả năng hữu hiệu mà nómang lại Tạp chí VSCI xin giới thiệu một xu hướng mới cho các nhà quản trị mua hàng– quản trị dự án: xu hướng đấu thầu trực tuyến cùng với những giá trị hữu ích sẽ là giảipháp cho bài toán về tối ưu chi phí.

Trong những lĩnh vực dịch vụ đang được trực tuyến hóa, thì đấu thầu điện tử là mộttrong những phương thức đang rất được quan tâm vì những khả năng hữu hiệu mà nómang lại, vì nếu xây dựng thành công thì sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nước ta trong quátrình xây dựng và phát triển Hiện nay, giá trị đấu thầu cho những hạng mục mua sắmcông chiếm 40% GDP Điện tử hóa qui trình đấu thầu thể hiện tính minh bạch công khaivà tiết kiệm chi phí so với cách thức thông thường Bộ Kế Hoạch Đầu Tư đã thực hiệngiai đoạn thử nghiệm hệ thống từ 2009 và cuối 2011 là kết thúc, trong năm 2012 dự kiến

sẽ có một hệ thống hoàn chỉnh

Lợi ích của đấu thầu trực tuyến

Thứ nhất - Tiện lợi về thời gian và địa lý: Để chuẩn bị mở thầu một dự án, đội ngũquản lý dự án và ban tư vấn dự án liên kết làm việc với nhau mà không bị ràng buộc vềthời gian ngay cả khác nhau về múi giờ Ví dụ một dự án xây dựng hệ thống MRT trongtương lai của Việt Nam, đội ngũ kỹ sư và ban tư vấn dự án có thể từ nhiều nước khácnhau sẽ thay phiên nhau làm việc mà không bị ngắt quãng thời gian Họ có thể cùng làmviệc trên cùng hạng mục mà không sợ bị trùng lập Họ không cần phải tới Việt Nam làmviệc để giảm tối thiểu việc đi lại của các chuyên gia Họ sẽ tập trung vào công việcchuyên môn của mình nhiều hơn Sau khi dự án hoàn chỉnh để mở thầu, các nhà thầu sẽđược mời tham gia mà họ không cần phải đi đến địa điểm nhận hay nộp hồ sơ như trướckia Chỉ cần những thao tác đơn giản, họ có thể xem xét hồ sơ thầu và cung cấp thôngtin trực tiếp Điều này không những chỉ phù hợp với những nhà thầu trong nước mà cóthể áp dụng cho những nhà thầu trên khắp thế giới có thể cùng tham gia

Thứ hai - Tiện lợi tạo và quản lý thư viện văn bản và ngay cả nhưng biểu mẫu củagói thầu và hỗ trợ đa ngôn ngữ: Một dự án có thể bao gồm nhiều ngôn ngữ khác nhaudùng cho các nhà thầu từ các nước khác nhau nếu không thể sử dụng được tiếng Anh.Trong quá trình mở thầu cho đến kết thúc, những bước đầu được ghi nhận lại trên hệthống Những thông tin này hoàn toàn được bảo mật nên hạn chế tối đa được việc gianlận Nếu có thì sẽ bị phát hiện kịp thời hay có thể truy tìm được nguồn gốc

Dễ sử dụng

Nâng cao hiệu suất quản lý dự án

Tiết kiệm chi phí

Chuyên gia kỹ sư của nhà thầu không cần phải là một chuyên viên về công nghệthông tin Thao tác rất đơn giản Chỉ cần họ sử dụng được chương trình truy cập internetthì có thể sử dụng được ngay sau khi đọc những hướng dẫn dành cho nhà dự thầu Cònvề phía đội ngũ quản lý dự án và tư vấn, họ cần phải có một thời gian huấn luyện cáchthức để phân tích dự án và ứng dụng mô hình mới Việc này trung bình họ sẽ mất mộtkhoản thời gian từ 1 đến 2 tuần để hiểu rõ công việc

C âu 11: Công ty EcomPro đã kinh doanh được 50 năm, thế hệ EcomPro3 quyết định mở một kênh bán hàng trực tuyến để tăng cường quảng cáo và bán hàng cho cửa hàng truyền thống Đây là ví dụ về hình thức kinh doanh trực tuyến nào? Anh/chị hãy trình bày một số nội dung quan trọng để tiến hành thực hiện hoạt động này của công ty.

Trang 34

Quyết định của công ty EcomPro là một ví dụ về hình thức kinh doanh bán lẻ điện tửlai ghép, cụ thể là hình thức click and motar Một số nội dung quan trọng như sau:

Nhà bán lẻ điện tử lai ghép (Click and mortar retailers) được chia làm 2 dạng dựavào nguồn gốc hình thành doanh nghiệp click and mortar là mô hình doanh nghiệp xâydựng trang web nhằm phát triển hoạt động của công ty như Walmart.comHomedepot.com, Shaperimage.com Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển,chúng ta đang chứng kiến những tình thế phát triển đảo ngược so với lý thuyết truyềnthống Một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp sở hữu các nhà kho, cửa hàng đại diệnđang tận dụng sự phát triển và sức mạnh của môi trường internet để hỗ trợ các hoạt độngthương mại truyền thống Dell là nhà tiên phong trong lĩnh vực bán lẻ máy tính, mộttrong số những nhà sản xuất và phân phối máy tính cá nhân lớn nhất thế giới, đang báncác sản phẩm của mình cùng lúc qua trang web và các cửa hàng trưng bày sản phẩm.Một nhà bán lẻ hỗn hợp là sự kếp hợp giữa nhà bán lẻ truyền thống và một trang webgiao dịch trực tuyến Rất nhiều nhà bán lẻ hỗn hợp khởi sự doanh nghiệp từ một nhà bán

lẻ truyền thống với những cửa hàng đại diện, gian trưng bày sản phẩm, nhưng qua thờigian, họ dần dần ứng dụng sự tiện lợi của các gian giao dịch trực tuyến vào dây chuyềnthanh toán như walmart.com Ngoài ra, có những doanh nghiệp bắt đầu công việc kinhdoanh từ cửa hàng trực tuyến, sau đó phát triển các cửa hàng dự trữ, nhà kho trên thựctế

Ngày nay trong thời đại số các nhà bán lẻ hiện đại click and mortar thông qua cấccửa hàng trực tuyến, qua nhận dạng giọng nói, các thiết bị di động và các trang web chophép khách hàng tương tác với người bán hàng Những nhà bán lẻ tiến hành thương mạiđồng thời tại các cửa hàng tiện lợi và trên các trang Web bán lẻ ( mô hình kinh doanh đaphương tiện) được coi là các nhà bán lẻ click-and motar Họ có thể là những bán lẻ xuấtphát từ cửa hàng truyền thống ( brick-only) phát triển thành các trung tâm brick-and-click như Macy’s (macys.com), Sears (sears.com), Wal-mart (walmart.com), Target(tearget.com) Expedia là đại diện cho nền công nghiệp du lịch và sự phát triển của Delltrong nền công nghiệp máy tính là những ví dụ về các công ty đi từ click only đến clickand brick

C âu 12: Dell computers cho phép khách hàng thiết kế máy tính phù hợp với các nhu cầu cụ thể của họ Đây là ví dụ về mô hình TMĐT nào?

Mô hình của công ty Dell Computers là ví dụ về hình thức kinh doanh bán lẻ điện tửlai ghép, cụ thể là hình thức click and motar

Nhà bán lẻ điện tử lai ghép (Click and mortar retailers) được chia làm 2 dạng dựavào nguồn gốc hình thành doanh nghiệp click and mortar là mô hình doanh nghiệp xâydựng trang web nhằm phát triển hoạt động của công ty như Walmart.comHomedepot.com, Shaperimage.com Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển,chúng ta đang chứng kiến những tình thế phát triển đảo ngược so với lý thuyết truyềnthống Một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp sở hữu các nhà kho, cửa hàng đại diện

Trang 35

đang tận dụng sự phát triển và sức mạnh của môi trường internet để hỗ trợ các hoạt độngthương mại truyền thống Dell là nhà tiên phong trong lĩnh vực bán lẻ máy tính, mộttrong số những nhà sản xuất và phân phối máy tính cá nhân lớn nhất thế giới, đang báncác sản phẩm của mình cùng lúc qua trang web và các cửa hàng trưng bày sản phẩm.Một nhà bán lẻ hỗn hợp là sự kếp hợp giữa nhà bán lẻ truyền thống và một trang webgiao dịch trực tuyến Rất nhiều nhà bán lẻ hỗn hợp khởi sự doanh nghiệp từ một nhà bán

lẻ truyền thống với những cửa hàng đại diện, gian trưng bày sản phẩm, nhưng qua thờigian, họ dần dần ứng dụng sự tiện lợi của các gian giao dịch trực tuyến vào dây chuyềnthanh toán như walmart.com Ngoài ra, có những doanh nghiệp bắt đầu công việc kinhdoanh từ cửa hàng trực tuyến, sau đó phát triển các cửa hàng dự trữ, nhà kho trên thựctế

Ngày nay trong thời đại số các nhà bán lẻ hiện đại click and mortar thông qua cấccửa hàng trực tuyến, qua nhận dạng giọng nói, các thiết bị di động và các trang web chophép khách hàng tương tác với người bán hàng Những nhà bán lẻ tiến hành thương mạiđồng thời tại các cửa hàng tiện lợi và trên các trang Web bán lẻ ( mô hình kinh doanh đaphương tiện) được coi là các nhà bán lẻ click-and motar Họ có thể là những bán lẻ xuấtphát từ cửa hàng truyền thống ( brick-only) phát triển thành các trung tâm brick-and-click như Macy’s (macys.com), Sears (sears.com), Wal-mart (walmart.com), Target(tearget.com) Expedia là đại diện cho nền công nghiệp du lịch và sự phát triển của Delltrong nền công nghiệp máy tính là những ví dụ về các công ty đi từ click only đến clickand brick

IV Chương 4: Thanh toán điện tử

1 Phân biệt Home banking và Internet banking Cho ví dụ cụ thể.

Khái

niệm Home Banking là một loại dịch vụngân hàng điện tử cho phép khách

hàng có thể chủ động kiểm soát

hoạt động giao dịch ngân hàng từ

văn phòng của họ

Internet Banking là một loại dịchvụ ngân hàng điện từ cho phépkhách hàng có thể giao dịch ngânhàng thông qua mạng Internet vàobất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu mà

khách hàng cho là phù hợp nhất

Nguồn Máy tính, Modem, đường điện

thoại truy cập và chương trình

phầm mềm đặc biệt do ngân hàng

- Thư tín dụng

- Các dịch vụ tài khoản

- Các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm

- Các dịch vụ thông tin, tư vấn và

chăm sóc khách hàng

Ví dụ Dịch vụ Home Banking của Ngân

hàng Á Châu Dịch vụ Internet Banking củaNgân hàng TechcomBank

2 Trình bày về các dịch vụ thanh toán trực tuyến, trong số các dịch vụ đó, dịch

vụ nào đã được triển khai ở Việt Nam hiện nay?

Trang 36

1 Các dịch vụ thanh toán trực tuyến

A - Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Tel banking)

Telephone banking là một tiện ích ngân hàng mà khi sử dụng nó khách hàng chỉcần dùng hệ thống điện thoại thông thường Chỉ với một máy điện thoại (cố định hay

di động) và ở bất kỳ nơi nào, với những thao tác đơn giản nhất, khách hàng có thểtruy cập được những thông tin mới nhất về số dư tài khoản khách hàng, tỷgiá hối đoái, lãi suất tiền gửi, tiền vay v.v Đây là hệ thống trả lời tự động, hoạtđộng liên tục 24/24 giờ trong ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một nămnên khách hàng hoàn toàn chủ động sử dụng khi cần thiết

Khách hàng được cấp một mật khẩu và số PIN để có thể truy cập kiểm tra tàikhoản,xem báo cáo các khoản chi tiêu chỉ đơn giản thông qua các phím trên điệnthoại Các chi phí cho dịch vụ này sẽ được gửi đến cho khách hàng thông quacác hoá đơn điện thoại thông thường

B - Dịch vụ ngân hàng tại nhà (PC/ Home banking)

Dịch vụ ngân hàng tại nhà là một loại dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép kháchhàng có thể chủ động kiểm soát hoạt động giao dịch ngân hàng từ văn phòng của họ.Hệ thống này giúp khách hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc vì họkhông cần phải đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, khách hàng sẽ có nhiều thờigian hơn để tập trung vào các hoạt động kinh doanh của mình Khách hàng cũngkhông còn phải lo lắng về các loại giấy tờ sổ sách phức tạp

Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng cần có máy tính với cấu hình phù hợp,modem, đường điện thoại truy cập và một chương trình phần mềm đặc biệt do ngânhàng cung cấp

C - Dịch vụ ngân hàng qua mạng di động (Mobile Banking)

Đối với loại hình này, thẻ thông minh đóng một vai trò hết sức quan trọng, lưu trữmọi thông thông tin liên quan đến người sử dụng và tình hình tài chính của họ Thẻthông minh trong điện thoại di động thường được biết đến dưới cái tên viết tắt SIM(Subscriber Identity Module) Hệ thống mạng điện thoại di động sử dụng giao thứckhông dây (WAP – Wireless Applications Protocol) và việc kiểm soát bảo mật thôngtin sẽ tiến hành trên thẻ thông minh (số SIM) Bên cạnh việc tiến hành giao dịch vàchuyển tiền giữa các tài khoản, dịch vụ này chủ yếu được sử dụng để nhận các thôngtin thị trường cập nhật nhất, đặc biệt là giá cả chứng khoán và ngoại hối Tuy nhiênkhông phải quốc gia nào cũng có thể sử dụng dịch vụ này mà còn phải tuỳ thuộc vàosự phát triển của ngành viễn thông ở mỗi quốc gia

D - Dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet banking)

Internet banking là một loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại và còn khá mới mẻ.Nó cho phép khách hàng có thể giao dịch ngân hàng thông qua mạng Internet vào bấtcứ lúc nào, ở bất cứ đâu mà khách hàng cho là phù hợp nhất Do đó, khách hàng cóthể làm giao dịch 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần tại nhà riêng hoặc ở vănphòng, khi đang trong nước hay đi nước ngoài Sự ra đời của internet banking thựcsự là một cuộc cách mạng, nó thúc đẩy các giao dịch xảy ra nhanh hơn, tiết kiệmđược rất nhiều thời gian và tiền của cho cả khách hàng lẫn ngân hàng và cho xã hộinói chung

Trang 37

Để sử dụng dịch vụ Internet Banking khách hàng cần có máy tính, modem,đường điện thoại truy cập.Khách hàng chỉ cần truy cập trực tiếp vào trang web củangân hàng và sử dụng các dịch vụ được cung cấp.

E - Dịch vụ thanh toán bằng thẻ ghi nợ EFTPOS

Dịch vụ thanh toán bằng thẻ ghi nợ EFTPOS (Electronic Funds Transfer PointSale) thực chất chính là dịch vụ chuyển tiền điện tử tại các điểm bán hàng, áp dụngkhi khách hàng thực hiện các hoạt động mua hàng tại các điểm bán vật lý, thí dụ nhưviệc thanh toán tại các siêu thị hay tại các trạm bán xăng dầu

EFT chuyển các khoản tiền bắt đầu được thông qua một thiết bị điện tử, điệnthoại, qua bộ điều giải (modem), qua máy tính hay qua băng từ để tiến hành đặthàng, cung cấp thông tin cần thiết hay cho một tổ chức tài chính quyền ghi nợ/có mộttài khoản…v.v EFT sử dụng máy tính và các thiết bị viễn thông phục vụ việc cungứng và chuyển tiền hay chuyển tài sản tài chính khác Toàn bộ quá trình đều đượcthực hiện trên cơ sở chuyển dịch thông tin

Dịch vụ thanh toán bằng thẻ ghi nợ EFFTPOS được sử dụng rất hiệu quả trongquá trình thanh toán đối với các giao dịch mua bán hàng hoá dịch vụ và thông tin.Chuyển khoản điện tử đang được thực hiện phổ biến trên các mạng như SWIFT,FEDWIRE, CHIPS Ba mạng này sử dụng để thực hiện các giao dịch chuyển tiền cógiá trị lớn

F - Thanh toán bằng EDI

EDI (electronic data interchange)- trao đổi dữ liệu điện tử là công nghệ cho phéptrao đổi trực tiếp dữ liệu có cấu trúc giữa các máy tính thông qua phương tiện điệntử Hiểu một cách đơn giản hơn, EDI chính là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng “có cấutrúc” (structured form), (có cấu trúc nghĩa là các thông tin được trao đổi giữa các đốitác thoả thuận với nhau tuân thủ theo một khuôn dạng nào đó) từ máy tính điện tửnày sang máy tính điện tử khác, giữa các doanh nghiệp hoặc các đơn vị đã thỏa thuậnbuôn bán với nhau, theo cách này sẽ tự động hóa hoàn

toàn không cần có sự can thiệp của con người

2 Các dịch vụ thanh toán trực tuyến được sử dụng ở Việt Nam hiện nay:

- Tel Banking

- Mobile Banking

- Home Banking

- Internet Banking

3 So sánh các loại thẻ trong thanh toán điện tử.

Giống Thẻ thanh toán điện tử là một phương thức thanh toán mà người sở hữuthẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa hịch vụ hya rút tiền mặt

tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động

nghệ khắc chữ nổi

Hiện nay không

- Chứa được ít thôngtin, không đưa raquyết định được

- Chứa được nhiềuthông tin, có thể raquyết định

Trang 38

còn được sử dụng

do công nghệ thô

sơ, dễ bị giả mạo

- Ít đảm bảo an toànvà bí mật - Thực sự đảm bảoan toàn và bí mật

Thẻ tín dụng Thẻ ghi nợ Thẻ rút tiền mặt

- Có quan hệ vaynợ với ngân hàng

- Chi tiêu theo hạnmức tín dụng dongân hàng cungcấp

- Không có quan hệ

vay nợ với ngânhàng

- Chi tiêu trực tiếptrên tài khoản tiềngửi của mình tại ngânhàng

- Chỉ dùng để rúttiền mặt

- Chủ thẻ phải ký

quỹ tiền gửi vào tàikhoản của ngân hànghoặc chủ thẻ đượccấp tín dụng thấu chimới sử dụng được

Thẻ do tổ chức phingân hàng phát hành

Thẻ đồng thươnghiệuLà loại thẻ do

ngân hàng pháthành giúp kháchhàng sử dụng một

số tiền do ngânhàng cấp tín dụng

Là loại thẻ du lịch,giải trí của các tậpđoàn kinh doanh lớnhoặc các công tyxăng dầu lớn, các cửahiệu lớn… phát hành

Là sản phẩm thẻđược phát hành dựatrên thỏa thuận hợptác giữa ngân hàngphát hành với cácđối tác liên kết củangân hàng

4 Thanh toán điện tử B2B có gì khác biệt so với các thanh toán điện tử khác?

Thanh toán điện tử giữa các doanh nghiệp thường có giá trị lớn hơn và phức tạp hơnrất

nhiều các thanh toán thực hiện với khách hàng cá nhân Quá trình mua hàng và thanhtoán bao gồm nhiều chủng loại mặt hàng và cùng với nó là các phương thức vậnchuyển Giao dịch giữa doanh nghiệp thường phát sinh nhiều tranh cãi, đòi hỏinhững nỗ lực đáng kể để giải quyết Cơ sở hạ tầng cho các hệ thống thanhtoán và hiển thị hóa đơn điện tử giữa doanh nghiệp còn chưa hoan thiện

5 So sánh tiền điện tử, séc điện tử, ví điện tử.

So sánh Tiền điện tử Ví điện tử Séc điện tử

Giống Đều là một trong những phương tiện trong thanh toán điệntử, được bảo mật thông tin cho người sử dụng và ứng

dụng cho mọi đối tượng

Khác Đơn vị tạo ra Cá nhân, không

lưu hành toàn cầu Tổ chức Tổ chức

Thông tin

Không lưu trữ

thông tin ngườidùng, được bảomật bằng chữ số

Không chứa thôngtin người dùng mà

chứa thông tin thẻtín dụng

Chứa thông tincá nhân ngườisử dụng

Tính chất Thanh toán điện

tử

Thanh toán điện tử Không thanh

toán điện tử

Thực trạng VN Chưa phát triển Đã và đang phát Chưa phát triển

Trang 39

triểnPhương pháp

lưu trữ

Trực tuyếnNgoại tuyến

Ngoại tuyến Trực tuyến

6 Quá trình kiểm tra xác định xem thông tin về thẻ có chính xác không và số dư tiền trên thẻ có đủ để thanh toán cho giao dịch hay không được gọi là gì?

Xác thực tài khoản – Authorization

7 Quá trình chuyển tiền từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán được gọi là gì?

Thanh toán – Settlement

8 Khách hàng đặt hàng mua sách qua mạng và mắc một lỗi nhập số lượng hàng cần mua, thay vì mua 10 đã nhập nhầm là mua 100 cuốn sách, số tiền thanh toán bằng thẻ tín dụng đã bị trừ đủ cho 100 cuốn sách Người mua thông báo bằng email cho người bán về lỗi trên ngay sau đó Một tuần sau, khi nhận được lô hàng, người mua trả lại 90 cuốn sách cho người bán Người bán không chấp nhận vì hợp đồng đã được thực hiện Người bán đã xử lý đúng hay sai nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT điều 15??

Điều 15 Lỗi nhập thông tin trong chứng từ điện tử

1 Trường hợp một cá nhân mắc phải lỗi nhập thông tin trong một chứng từ điện tử được sử dụng để trao đổi với hệ thống thông tin tự động của bên khác nhưng hệ thống thông tin tự động này không hỗ trợ cho cá nhân đó sửa lại lỗi thì cá nhân đó hoặc người đại diện của mình có quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi nếu tuân thủ hai điều kiện sau:

a) Ngay khi biết có lỗi, cá nhân hoặc đại diện của cá nhân đó thông báo cho bên kia về lỗi và nêu rõ mình đã mắc phải lỗi trong chứng từ điện tử này

b) Cá nhân hoặc đại diện của cá nhân đó vẫn chưa sử dụng hoặc có được bất kỳ lợi ích vật chất hay giá trị nào từ hàng hóa hay dịch vụ nhận được từ bên kia

2 Quyền rút bỏ phần chứng từ điện tử có lỗi không ảnh hưởng tới việc áp dụng phápluật quy định về hậu quả các lỗi phát sinh ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này

=> Theo điều 15 thì người bán xử lý như vậy là đúng, do người mua khi nhập sai không phản ánh lại cho bên bán về lỗi cũng như đưa ra thỏa thuận giữa 2 bên

9 Một loại thẻ thanh toán cho phép chủ thẻ sử dụng một tài khoản tiền để thanh toán với giới hạn nhất định do công ty cấp thẻ đưa ra và thường yêu cầu một

tỷ suất lợi nhuận khá cao đối với những khoản thanh toán không được trả đúng hạn Đây là loại thẻ nào?

Thẻ tín dụng – Credit Card

10 Ông Nam sử dụng thẻ để mua một số sách trên mạng các khoản thanh toán bị trừ trực tiếp từ tài khoản tiền gửi của ông đặt tại ngân hàng Citibank Ông chỉ được chi tiêu giới hạn trong số tiền có trong tài khoản Trong trường hợp này, ông Nam đã sử dụng loại thẻ nào?

Thẻ ghi nợ - Debit Card

Ngày đăng: 01/07/2016, 07:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w