Phân lập các chúng nấm Pyricularia Oryzae trên lúa, các biện pháp nuôi cấy, đánh giá khả năng kháng nhiễm bệnh đạo ôn trong các điều kiện thí nghiệm khác nhau. Kết quả đánh giá quan trọng trong nhien cưu benh đạo ôn ở cây lúa
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa ( tên khoa học Oryra Sativa) là một trong những cây ngũ cốc
chính cung cấp cung cấp lương thực cho con người Hiện nay trên thế giới
có khoảng trên 100 nước trồng lúa trong đó chủ yếu được trồng và tiêuthụ ở châu Á Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có sự tăngtrưởng đáng kể Tuy tổng sản lượng lúa đã tăng nhưng do dân số tăngmạnh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển nên vấn đề lương thực vẫn làyêu cầu cấp bách cần phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâudài
Ở Việt Nam nền sản xuất nông nghiệp đang ngày càng phát triển,
đã đạt được những thành tựu to lớn về năng suất cũng như chất lượng sảnphẩm Trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta lúa là cây lương thực chủyếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội ở nước ta Nghề trồnglúa chiếm tỷ trọng lớn: chiếm khoảng 70% số lao động và 80% diện tíchđất nông nghiệp cả nước Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạođứng thứ 2 trên thế giới Xuất khẩu lúa gạo góp phần quan trọng trongcông cuộc xây dựng đất nước, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam,đồng thời khẳng định vị trí tiềm năng, ưu thế to lớn của nông nghiệp nước
ta Tuy nhiên năng suất lúa ở nước ta không được ổn định, luôn bấp bênhtheo từng mùa vụ, theo từng năm do khí hậu thời tiết bất thuận, do thiêntai, do dịch hại đặc biệt do các bệnh hại gây ra
Trong quá trình phát triển của cây lúa, một số loại bệnh đã xuấthiện và gây hại nặng, trong dó có bệnh đạo ôn là một trong những bệnhphổ biến xuất hiện ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng
Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh hại nguy hiểm ở nước ta, bệnh gây
hại cả trên lá và cổ bông Bệnh do nấm Pyricularia Oryzae gây ra Mức
độ tác hại của bệnh thay đổi liên quan đến nhiều yếu tố như: giống lúa,
Trang 2thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, chế độ canh tác, mùa vụ, phân bón, khíhậu thời tiết Cây lúa khi bị bệnh đạo ôn lá và cổ bông làm cho bộ lá bịlụi, khô cháy, trỗ kém, bông gãy, hạt bị lép Nếu nhiễm bệnh ở thời kỳ trỗ
- ngậm sữa trên cổ bông làm cho toàn bộ bông bị bạc hoặc nhiều hạt léplửng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất thậm chí không cho thuhoạch
Trong những năm gần đây ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng nóichung và Hà Nội nói riêng bệnh này thường gây hại trên các giống lúađang trồng phổ biến như các giống lúa Nếp, Khang Dân, Xi23, C70,C71
Để có cơ sở cho công tác phòng chống bệnh đạo ôn đạt kết quả tốt,ngoài việc diều tra tình hình phát sinh, phát triển của bệnh trên đồng
ruộng thì việc xác định chủng sinh lý của nấm Pyricularia Oryzae gây
bệnh đạo ôn trên lúa và khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh bằng thuốc hóahọc cũng là một việc hết sức quan trọng
Được sự phân công của bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học –Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Được sự hướng dẫn của PGS.TSNguyễn Văn Viên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số mẫu
phân lập nấm Pyricularia Oryzae gây bệnh đạo ôn trên lúa vụ xuân 2010
ở vùng Hà Nội và phụ cận”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Nhằm xác định chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav gây
bệnh đạo ôn trên lúa Tìm hiểu một số đặc tính sinh học của nấm
Pyricularia oryzae Cav và biện pháp phòng trừ bệnh bằng thuốc trừ
nấm
Trang 31.2.2 Yêu cầu
- Thu thập mẫu bệnh đạo ôn trên lúa ở ngoài đồng để giám định
chủng sinh lý (race) nấm Pyricularia oryzae Cav.
- Nghiên cứu khả năng kháng bệnh đạo ôn của một số giống lúaViệt Nam đang gieo trồng trong sản xuất, lúa lai Trung Quốc nhập nội đối
với một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav.
- Nghiên cứu khả năng phát triển của nấm Pyricularia oryzae Cav.
trên một số môi trường nhân tạo
- Nghiên cứu khả năng hình thành bào tử của nấm Pyricularia
oryzae Cav khi nuôi cấy trên một số môi trường nhân tạo.
- Khảo sát hiệu lực của thuốc hóa học đối với nấm Pyricularia
oryzae Cav ở trong phòng thí nghiệm và đối với bệnh đạo ôn trên lúa
trong nhà lưới, ngoài đồng ruộng
Trang 4PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae Cav gây ra có lịch sử lâu
đời nhất trong các bệnh hại lúa Từ nhiều thế kỷ trước bệnh đạo ôn đãđược quan sát thấy ở các nước châu á (Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc,
ấn Độ, ở các nước vùng Trung á và Tây á), ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảoAntine, ở Bungari, Rumani, Bồ Đào Nha, Liên Xô cũ [19] Cho đếnkhoảng năm 1560 bệnh mới được phát hiện chính thức ở Italia, sau đóđược phát hiện ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm
1906, Ấn Độ năm 1913 [14]
2.1.1 Nguyên nhân gây bệnh và triệu chứng bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn trên lúa là loại bệnh truyền nhiễm do nấm Pyricularia
oryzae Cav gây ra Bệnh đã được phát hiện từ lâu xong phải đến năm
1871 Garovalio ở Italia cho đó là bệnh do nấm Pleospora oryzae Năm
1891, Cavara là người đầu tiên mô tả nấm bệnh trên cây lúa, xác định
chính thức nấm Pyricularia oryzae Cav là nguyên nhân gây nên bệnh đạo
ôn trên lúa theo phân loại nấm của Saccardo [19] Nấm Pyricularia
oryzae Cav còn có tên khác là Pyricularia grisea, Magnaporthe grisea
[14]
Bào tử nấm Pyricularia oryzae Cav có thể tồn tại trên bề mặt của
hạt thóc, sợi nấm ở dạng tiềm sinh có thể tồn tại ở các mô của phôi, nộinhũ, ở lớp vỏ trấu và mày hạt [30] Nấm tồn tại trên hạt cũng là một trongnhững nguyên nhân làm cho hạt biến màu và làm giảm sức sống của hạt[36]
Một lô hạt bị nhiễm nấm Pyricularia oryzae Cav nặng thu thập ở
Triều Tiên, tác giả Jinheung kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy65% bị nhiễm trên vỏ trấu, 25% nhiễm ở bên trong vỏ, 4% nhiễm trong
Trang 5phôi Lô hạt giống khác bị nhiễm tương tự khi gieo hạt kết quả có 7 - 8%cây con bị nhiễm bệnh và 90% cây con biểu hiện triệu chứng không rõràng [50].
Trong một nghiên cứu khác ở Mỹ cho thấy một mẫu hạt bị nhiễmbệnh đạo ôn với tỉ lệ nhiễm nấm trên bề mặt hạt là 40% thì kết quả có 3-13% cây con bị nhiễm bệnh [30]
Nấm gây bệnh đạo ôn có thể tấn công gây hại ở hầu hết các giaiđoạn sinh trưởng của cây lúa Triệu chứng điển hình của bệnh là các vếtđốm trên lá, lúc đầu là các đốm nhỏ hình tròn hoặc hình bầu dục có màuxanh xám hoặc xám sẫm, vết bệnh lan rộng nhanh trong điều kiện ẩm ướt
và có hình dạng mắt én, hình thoi ở giữa (trung tâm vết bệnh) có màu xámtrắng, có đường viền xung quanh màu nâu hoặc nâu đỏ Trên các giốnglúa nhiễm bệnh ở điều kiện ẩm độ cao, vết bệnh có thể phát triển kéo dàitới 1 - 1,5 cm và rộng từ 0,3 - 0,5 cm [52] Nấm bệnh còn có khả năngxâm nhiễm gây hại trên bẹ lá, đốt thân, đặc biệt là ở giai đoạn trưởngthành bệnh trên cổ bông và trên các gié của bông lúa gây thiệt hại chonăng suất [35], [52]
2.1.2 Thiệt hại năng suất do bệnh đạo ôn gây ra đối với cây lúa
Bệnh đạo ôn được coi là một trong những bệnh chính gây hạinghiêm trọng trên cây lúa, bệnh phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa và
có thể gây thành dịch trong những điều kiện thuận lợi ở nhiều quốc gia.Mức độ thiệt hại năng suất lúa do bệnh đạo ôn gây ra đã được nhiều tácgiả nghiên cứu
Hàng năm người ta đều có những ghi nhận về thiệt hại đáng kể dobệnh đạo ôn gây ra ở nhiều địa phương, mặc dù đã sử dụng rộng rãi nhiềuthuốc hóa học [52] Theo Padmanabhan (1965) [53], khi cây lúa bị bệnhđạo ôn cổ bông 1% thì năng suất có thể giảm từ 0,7 - 17,4% tùy thuộc vàocác nhân tố liên quan khác
Tại ấn Độ, năm 1950 sản lượng bị thiệt hại lên tới 75% [53] Ở
Trang 6Philippin đã có vài nghìn héc ta bị hại vì bệnh đạo ôn và sản lượng thấtthu ước tính khoảng 50% [15] ở Nhật Bản từ năm 1953 - 1960, hàng nămthiệt hại bình quân 2,89% tổng sản lượng lúa, mặc dù đã có nỗ lực sửdụng thuốc hóa học phun phòng trị bệnh [39] Năm 1988 dịch bệnh đạo
ôn gây thiệt hại nặng ở vùng duyên hải phía bắc Nhật Bản, tổng sản lượng
bị thiệt hại của quận Fukushima là 24%, có những nơi thiệt hại lên tới90% [43]
2.1.3 ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến sự phát sinh, phát triển và gây hại của bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn thường rất dễ phát sinh phát triển thành dịch trongđiều kiện thời tiết môi trường thuận lợi Các kết quả nghiên cứu cho thấymột số các yếu tố khí hậu thời tiết có ảnh hưởng rất quan trọng đến sựphát sinh và phát triển của bào tử nấm [33]
Ở điều kiện nhiệt độ cao giúp cho nấm bệnh gia tăng khả năng sinhbào tử [64] Trong khi đó ẩm độ không khí lại là nhân tố quan trọng cho
sự phát tán của bào tử [49]
- Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến bệnh đạo ôn
Nhiệt độ không khí là một trong những điều kiện ảnh hưởng quantrọng đến sự phát sinh phát triển của bệnh đạo ôn Bào tử nấm có thể nảymầm mạnh nhất khi nhiệt độ không khí từ 260C - 280C [38]
Sau khi bào tử nảy mầm là quá trình xâm nhiễm, quá trình này xảy
ra nhanh hoặc chậm chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện nhiệt độ ở nhiệt
độ 320C quá trình xâm nhiễm thực hiện trong 10 giờ, ở 280C là 8 giờ và ở
240C quá trình xâm nhiễm hoàn tất trong 6 giờ [40]
Nhiệt độ đất cũng có ảnh hưởng rất lớn đến bệnh, ở những vùng cónhiệt độ của đất là 200C là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, và mức
độ của bệnh nghiêm trọng hơn hẳn so với những nơi có nhiệt độ của đất là
240C và 320C [29]
Trang 7Khi cây mạ sinh trưởng ở nhiệt độ đất là 200C thì bệnh xảy ra nghiêmtrọng, bệnh nhẹ hơn ở nhiệt độ đất là 240C và 320C Ở nhiệt độ cao từ
200C - 290C các cây lúa trưởng thành chống chịu bệnh đạo ôn cổ bôngcao hơn so với trong điều kiện nhiệt độ từ 180C - 240C [29]
Nhiệt độ đất thấp trong khoảng từ 180C - 240C thích hợp không chỉcho bệnh phát triển gây hại giai đoạn trên lá mà còn là điều kiện thuận lợicho bệnh gây hại trên cổ bông Bệnh gây hại nhẹ nếu nhiệt độ trong đấtkhoảng từ 250C - 290C [42]
- Ảnh hưởng của ẩm độ không khí đến sự phát triển của bệnh đạo ôn
Ẩm độ không khí ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnhcũng được nhiều tác giả nghiên cứu
Ẩm độ không khí cao là điều kiện thích hợp cho sự phát triển củavết bệnh Bào tử nấm bệnh sẽ nảy mầm rất tốt trong điều kiện ẩm độkhông khí cao hoặc trên mặt lá lúa có các giọt nước đọng Ẩm độ khôngkhí thấp hơn 80% sẽ cản trở sự nảy mầm của bào tử [42]
Khi ẩm độ không khí cao làm cho mặt lá lúa bị ướt, nếu thời gianướt kéo dài từ 12-15 giờ sự sâm nhập của nấm vào mô lá sẽ tăng hơn 30%[46]
Cây lúa có biểu hiện triệu chứng bệnh tối đa sau 5 ngày khi bị lây
nhiễm bởi nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn với điều kiện
duy trì tình trạng ướt lá trong 20 giờ liên tục [32]
Ẩm độ của không khí và ẩm độ của đất có tác dụng lớn đến tínhmẫn cảm của cây lúa đối với bệnh đạo ôn Cây lúa thể hiện phản ứng mẫncảm đối với bệnh đạo ôn khi được gieo trồng trên nền đất khô, thể hiệnđặc tính chống chịu bệnh đạo ôn trung bình trên nền đất ẩm và chống chịubệnh đạo ôn tốt trong điều kiện ngập úng [41]
- Ảnh hưởng của sương mù đến sự phát triển của bệnh đạo ôn Sương mù là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh pháttriển của nấm bệnh Thời gian có sương mù càng dài thì bào tử nấm được
Trang 8phóng thích ra càng nhiều Thời gian có sương mù là 3 giờ thì một vếtbệnh có thể phóng thích ra 160 bào tử, còn có sương trong 15 giờ thì sốbào tử được phóng thích ra sẽ là 2600 [52].
Trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp và ổn định thì thời gian cósương mù là yếu tố quan trọng nhất đến sự phát triển của bệnh đạo ôn Sau
từ 6 - 8 giờ có sương là bắt đầu có sự xâm nhiễm của nấm bệnh vào lá lúa[44]
- Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự phát triển của bệnh đạo ôn
Ánh sáng mặt trời có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến bệnh đạo
ôn Thiếu ánh sáng sẽ làm giảm tính kháng của cây lúa đối với bệnh
Sự xâm nhiễm của nấm bệnh sẽ dễ dàng hơn trong điều kiện không
có ánh sáng Trên cây lúa sẽ cho vết bệnh điển hình nếu như trước khi lâynhiễm cây lúa được đặt trong bóng tối Khi vết bệnh mới hình thành nếutrong điều kiện nắng nhẹ hoặc bóng dâm sẽ kích thích sự lan rộng của vếtbệnh Còn sự phát triển tiếp tục về sau của vết bệnh thì cường độ ánh sángmạnh giúp cho bệnh phát triển tốt, (sự phát triển về sau của vết bệnh tỉ lệthuận với cường độ ánh sáng) bóng dâm cản trở sự phát triển của bệnh[51]
- Ảnh hưởng của gió tới sự phát sinh phát triển của bệnh đạo ônGió làm gia tăng sự nhiễm bệnh của cây lúa Gió thường là môitrường thuận lợi cho sự phát tán của bào tử nấm bệnh [54]
Vận tốc gió càng lớn thì mật độ bào tử trong không khí càng giảm.Trong điều kiện tốc độ gió trung bình khoảng 3,5m/s thích hợp nhất cho sựphát tán bào tử Tuy nhiên tốc độ gió là 1m/s thì số lượng bào tử nấmtrong một đơn vị thể tích không khí là cao nhất, trên độ cao 2m so với mặtđất [54]
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự phát triển của bệnh và nấm gâybệnh đạo ôn
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của dinh dưỡng đến nấm gây bệnh
Trang 9đạo ôn cho thấy một số axít amin rất cần thiết cho nấm sinh trưởng vàphát triển như Biotin, Thiamine Những môi trường giầu dinh dưỡng đạm
từ nguồn Peptone và dịch chiết của nấm men cũng làm tăng khả năng sảnsinh bào tử Môi trường bột mạch agar (OMA) cũng được sử dụng phổbiến trong nuôi cấy nấm bệnh để sản xuất bào tử cho lây nhiễm [52]
Nấm Pyricularia oryzae Cav có thể phát triển tốt trên nhiều loại
môi trường dinh dưỡng có chứa mô thực vật hoặc dịch chiết của câytrồng Khi nuôi cấy, cho thêm vào môi trường nuôi cấy dịch chiết của rơm
rạ sẽ kích thích sự sinh trưởng và sản sinh bào tử nấm [52]
Trong các loại phân bón đối với cây lúa thì phân đạm có ảnh hưởnglớn và rõ rệt nhất đối với bệnh đạo ôn Bón phân đạm không kết hợp vớibón lân và kali một cách hợp lý sẽ làm cho bệnh đạo ôn phát sinh và gâyhại Mức độ ảnh hưởng của phân đạm đến bệnh biến động tùy theo loạiđất, điều kiện dinh dưỡng trong đất, phương pháp bón và diễn biến khíhậu khi bón phân cho cây
Mức độ ảnh hưởng của hàm lượng đạm bón cho lúa đến sự gây hạicủa bệnh rất khác nhau trên từng vùng đất và từng vùng khí hậu cụ thể,không những vậy mà cách bón và loại phân cũng có ảnh hưởng rõ rệt.Nếu bón phân đạm tập chung thì bệnh sẽ nặng hơn là bón rải rác đều theothời gian
2.1.4 Các chủng sinh lý (race) nấm gây bệnh và tính chống chịu bệnh đạo ôn của các giống lúa
Trong tự nhiên, khả năng gây bệnh của nấm Pyricularia oryzae
Cav luôn luôn biến đổi do đột biến, do sự biến động của các yếu tố sinhthái khác nhau và các giống lúa khác nhau Từ đó hình thành lên các
chủng sinh lý (race) của nấm Pyricularia oryzae Cav khác nhau Những chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav không khác nhau về hình thái
mà chỉ khác nhau về sinh lý gây bệnh trên từng nhóm giống lúa riêng biệt
Việc nghiên cứu và phát hiện các nòi sinh lý nấm Pyricularia
Trang 10oryzae Cav gây bệnh đạo ôn lần đầu tiên tại Nhật Bản do Sasaki tiến
hành từ năm 1922 Nhưng chỉ sau khi sử dụng giống Futaba có gen Pi-avốn là giống kháng nòi nấm A dần dần trở thành giống nhiễm nặng thì
việc nghiên cứu về nòi nấm Pyricularia oryzae Cav thực sự được bắt đầu
triển khai từ năm 1950 trở đi ở Nhật Bản, Mỹ và một số nước khác Xongchưa có sự đồng nhất về việc sử dụng các giống lúa dùng để xác định nòinấm gây bệnh đạo ôn ở các nước, vì vậy các nòi nấm ở nước này khôngthể so sánh với các nòi đó ở nước khác được Để khắc phục tình trạng này
từ năm 1963 trở đi với sự hợp tác nghiên cứu quốc tế đã thống nhất sửdụng một số bộ giống chỉ thị tiêu chuẩn quốc tế (gồm 8 giống) để xác
định nòi sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav Các nước trên thế giới đã
xác định được 32 đến 64 nhóm nòi nấm gây bệnh đạo ôn ở nhiều nướcvới 256 nòi sinh lý Quần thể nấm gây bệnh bệnh đạo ôn ở mỗi vùng địa
lý có thể khác nhau và biến động theo thời gian và quy mô sử dụng cơ cấugiống lúa nhất định Nói cách khác trong mỗi quần thể nòi sinh lý nấm
Pyricularia oryzae Cav cũng chỉ có một số ít nòi chiếm ưu thế và gây hại
phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, vùng sinh thái và các đặc điểm của cácgiống lúa chủ lực trong cơ cấu giống đang trồng tại vùng sinh thái đó[19]
Từ năm 1976, Nhật Bản đã sử dụng bộ giống chỉ thị gồm 12 giống
có đơn gen kháng là các giống, Shin 2 (gen Pik-s mã số 1), Aichi Asahi(gen Pi-a mã số 2), Ishikari - shrroke (gen Pi-i mã số 4), Kanto 51 (gen Pi-k
mã số 10), Tsuyuake (gen Pik-m mã số 20), Fukunishiki (gen Pi-z mã số40), Yashiromochi (gen Pita mã số 100), PiNo4 (gen Pita-2 mã số 200),Toride1 (gen Piz-1 mã số 400), K60 (gen pik – p mã số 0.1), BL 1 (genPib mã số 0.2), K50 (gen Pit mã số 0.4) để tiến hành xác định các chủng
sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn trên lúa.
Cho tới hiện nay các nước trồng lúa đã và đang tiếp tục dùng bộgiống tiêu chuẩn xác định chủng sinh lý để xác định các chủng gây bệnh
Trang 11của nấm Pyricularia oryzae Cav.
Các giống lúa có phản ứng rất khác nhau đối với nấm gây bệnh đạo
ôn, thường các giống kháng không duy trì được tính kháng lâu dài mà rất
dễ nhiễm bệnh trở lại sau một thời gian gieo trồng Nguyên nhân quantrọng đó là do có sự phát triển các chủng sinh lý mới của nấm gây bệnhđạo ôn [52]
Theo báo cáo của Chung (1974) [37], khi đưa một giống lúa mớivào sản xuất là nguyên nhân xuất hiện một chủng nấm bệnh mới Sốchủng nấm gây bệnh cho lúa tùy thuộc vào vùng địa lý, trong một vùngsản xuất lúa có thể có nhiều chủng nấm gây bệnh khác nhau
Nguồn gen trong cây lúa quyết định tính kháng hoặc nhiễm bệnhcủa giống lúa, tuy nhiên các phản ứng đối với bệnh có các cơ chế khácnhau và còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như hàm lượng silic, nhữnghợp chất chứa đạm, ngoài ra còn có sự tương tác giữa các giống lúa vớicác chủng sinh lý nấm gây bệnh [52]
Phản ứng của cây lúa đối với bệnh còn phụ thuộc vào thời kỳ sinhtrưởng của cây, những lá non nhiễm bệnh nặng hơn những lá già [47].Cây lúa thường nhiễm bệnh nặng ở giai đoạn cây mạ và thời gian từ đẻnhánh tối đa đến giai đoạn trước khi trỗ bông [31]
Tính kháng bệnh ở trên các mô lá mới được sinh ra ở giai đoạn sau
sẽ tăng theo thời gian Những lá được sinh ra trên các cây lúa có tuổi sinh
lý cao hơn nhanh chóng có được các đặc tính này, vì vậy mà bệnh đạo ônthường gây hại nặng ở giai đoạn trước khi trỗ [34]
Các giống lúa chống bệnh đạo ôn giữ một vai trò quan trọng trong
hệ thống biện pháp phòng trừ tổng hợp Tính chống chịu bệnh đạo ôn do
hệ thống các gen kháng quyết định Tùy thuộc vào các loại gen kháng caohay kháng thấp, loại đơn gen hay đa gen của từng giống lúa mà thu đượccác giống lúa kháng dọc đơn gen hay kháng ngang đa gen ở các giốngkháng ngang đa gen thường có thể chống bệnh rộng với nhiều chủng sinh
Trang 12lý nấm gây bệnh đạo ôn Nhưng để có sự đánh giá về tính chống chịubệnh đạo ôn của các giống lúa một cách chính xác thì các nhà nghiên cứu
đã đề ra những phương pháp đánh giá ngoài đồng ruộng và đánh giá dựavào sự lây bệnh nhân tạo được bố trí bằng những thí nghiệm khác nhau vàquá trình nghiên cứu phải được tiến hành trong một thời gian dài thì mới
có thể đưa ra những kết quả đánh giá một cách chính xác
Nghiên cứu chọn tạo các giống có khả năng chống chịu bệnh đạo
ôn đã có lịch sử từ rất lâu: Mỹ năm 1921, Nhật Bản năm 1927, ấn Độ năm
1927, Thái Lan năm 1959 Xu hướng của khoa học chọn tạo giống hiệnnay là tạo ra các giống kháng đa gen hoặc giống có nhiều gen lớn để cótính chống bệnh đạo ôn phổ rộng Một số giống có tính kháng đa gen, cóphổ rộng đối với nhiều nòi sinh lý nấm gây bệnh đạo ôn đã được chọn tạo
ra, đó là một số giống lúa ấn Độ như giống R-176, ARC-15603,
IR305-4-20, ARC-4928, A36-3, Suwon215, CR10, Chokoto ở Nhật Bản thì cócác giống như Br-1, Sorachi, Ishikari, Hokushin-1 [19] Theo Ou (1985)[52], để chọn được các giống lúa có thể chống bệnh rộng, điều bắt buộc làphải tiến hành khảo nghiệm giống có quy mô quốc tế và cần phải tiếnhành thường xuyên Nhưng theo những ghi nhận của Viện lúa quốc tế(IRRI), tuy chúng ta đã thu được một số thành tựu đáng kể, xong nhữngkết quả đã thu được nói chung vẫn chưa đáp ứng được mong muốn Bởi
vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm được các giống lúa có khả năngchống chịu được với tất cả các chủng nấm gây bệnh đạo ôn
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nghiêncứu về tính chống chịu bền vững đối với bệnh đạo ôn của các giống lúa.Theo Yen W.H, Bonman J.M (1986) đưa ra khái niệm “Một giống lúađược coi là có khả năng kháng bệnh đạo ôn bền vững khi những vết bệnhxuất hiện trên cây lúa chỉ nhỏ li ti, không tiếp tục phát triển thêm và cũngkhông sản sinh ra bào tử mặc dù điều kiện ngoại cảnh rất thích hợp chobệnh đạo ôn phát triển" [6] Những giống lúa này có ý nghĩa rất lớn trong
Trang 13nghiên cứu chọn tạo giống kháng bệnh đạo ôn phục vụ cho sản xuất.
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Tính phổ biến và tác hại của bệnh đạo ôn
Do những thiệt hại nghiêm trọng của bệnh đạo ôn đối với cây lúa,việc nghiên cứu tìm ra những biện pháp hữu hiệu để hạn chế bệnh đạo ônđang đòi hỏi cấp bách, nhất là trong điều kiện thâm canh cao ở nước tabệnh đạo ôn còn được gọi là bệnh “tiêm lụi”, bệnh “cháy lá lúa” đã đượcbiết tới từ lâu Năm 1921 đã thấy bệnh xuất hiện trên lúa ở các tỉnh phíaNam (Fivin cent) sau đó phát hiện bệnh ở các tỉnh phía Bắc (Roger,1951), nhưng khi đó bệnh ít phổ biến, gây hại nhẹ không được chú ýnghiên cứu Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt đầu mộtthời kỳ phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, năm 1956một trong những khu vực trồng lúa cạn ở nông trường Đồng Giao bệnhđạo ôn bột phát làm chết lụi 200 ha lúa Sau đó gây bệnh nghiêm trọng ởHải Dương, Hà Đông, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều vùng khác
Có thể nói từ năm 1956 - 1961 là thời kỳ phát sinh dịch bệnh đạo ôn ởmiền Bắc Từ năm 1972 cho đến nay nhất là từ năm 1976 đến nay bệnhđạo ôn đã gây thành dịch phá hại ở nhiều vùng trọng điểm thâm canh lúathuộc đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh DuyênHải miền Trung và cả ở vùng Tây Nguyên, một số vùng trung du miềnnúi phía Bắc trên các giống lúa như NN8, IR1561-1-2, CR203, Nếp cáihoa vàng Trong điều kiện thời tiết vụ chiêm xuân ở miền bắc với sựthay đổi và tích lũy trong quần thể nòi nấm gây bệnh, với cơ cấu là sửdụng giống lúa NN8 là chủ yếu cho xuân chính vụ, xuân muộn chủ yếu làgiống CR203, IR1561-1-2, T1, TH2 đồng thời áp dụng biện pháp tăngcường lượng phân đạm vô cơ bón không hợp lý đã làm cho bệnh đạo ônphát triển mạnh Toàn miền Bắc riêng vụ đông xuân năm 1979 trên15.000 ha bị nhiễm bệnh đạo ôn, vụ đông xuân năm 1981 trên 40.000 ha
Trang 14bị nhiễm bệnh đạo ôn, vụ đông xuân năm 1982 trên 80.000 ha bị nhiễmbệnh đạo ôn, vụ đông xuân năm 1985 trên 160.000 ha bị nhiễm bệnh đạo
ôn và vụ đông xuân năm 1986 trên 60.600 ha bị nhiễm bệnh đạo ôn lá và59.377 ha nhiễm đạo ôn cổ bông Trong đó nhiều vùng nhiễm nặng làNghệ Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam Ninh và Hải Phòng Năm 1987 có trên150.000 nhiễm bệnh đạo ôn trong đó trên 10% diện tích nhiễm nặng, trên20.000 ha nhiễm đạo ôn cổ bông ở mức trung bình 3-5% ở mức nặng Cábiệt có những nơi đạo ôn cổ bông tới 60 - 70% [19]
Theo Phạm Văn Dư (1997) [10], ở Việt Nam liên tiếp trong nhữngnăm 1980, 1981, 1982 dịch bệnh đạo ôn gây hại nặng ở các tỉnh TiềnGiang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp và An Giang trên một số giống như
NN 3A, NN 7A, MTL 32, MTL 36 thiệt hại về năng suất khoảng 40%.Bệnh đạo ôn tái phát hàng năm và gây hại trên diện rộng, đến năm 1995các giống như IR 50404, OM 269-65 và một số giống lúa khác bị nhiễm ởhầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với trên 200.000 ha, mức thiệthại chung từ 10 - 15%
Năm 2001 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá là 336.370 ha, chiếmkhoảng 4,56% diện tích gieo cấy, trong đó diện tích nhiễm nặng là 5.790
ha, diện tích bị lụi là 62,4 ha Vụ đông xuân, bệnh gây hại nặng cục bộtrên giống lúa nhiễm như các giống lúa nếp, DT10, DT13, IR17494,IR38, IR1820, Q5 Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình và một vài tỉnhkhác vùng đồng bằng Bắc bộ Bệnh đạo ôn lá ở các tỉnh miền Trungkhoảng 7.780 ha Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát sinhtrên diện rộng, diện tích nhiễm 199.480 ha Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn
cổ bông khoảng 91.760 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 4.930 ha ởcác tỉnh phía Bắc bệnh hại chủ yếu trên các giống Q5, DT10, Khâm dục
ở các tỉnh vùng khu 4 và miền Trung bệnh hại chủ yếu ở Huế, QuảngNam, Đà Nẵng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vụ đông xuân có46.600 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông [2]
Trang 15Năm 2002 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá khoảng 208.399ha, trong
đó diện tích nhiễm nặng là 3.915ha ở các tỉnh phía Bắc, bệnh phát sinhcục bộ và gây hại chủ yếu trên lúa đông xuân trên các giống IR17494, IR
38, IR 1820, Q5 ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bệnh gây hạinặng hơn Tại các tỉnh miền Nam diện tích nhiễm bệnh toàn vùng là169.138 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1.084 ha Diện tích nhiễmbệnh đạo ôn cổ bông của cả nước là 42.684 ha, trong đó diện tích nhiễmnặng là 1.067 ha [3]
Năm 2003 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá là 265.216 ha, trong đódiện tích nhiễm nặng là 1.532 ha, diện tích bị lụi không đáng kể Bệnhgây hại chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tại các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long diện phân bố của bệnh rộng, diện tích nhiễm bệnhtoàn vùng là 254.149 ha Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông cả nước là25.715 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 166 ha [4]
Năm 2004 diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá 225.870 ha, trong đódiện tích nhiễm nặng là 5.716 ha, diện tích bị lụi không đáng kể Diện tíchnhiễm bệnh đạo ôn cổ bông là 40.470 ha, diện tích nhiễm nặng là 1.866
ha [5]
Vụ đông xuân năm 2003-2004 ở tỉnh Thái Bình bệnh đạo ôn gâyhại nặng trên các giống lúa D - ưu 527, Nhị ưu 838, VN10, Khang dân,Q5, các giống lúa Khang dân, Q5, Bắc thơm bị nhiễm bệnh đạo ôn nặnghơn các giống lúa lai Cuối tháng 4/2004 toàn tỉnh có 7.000 ha nhiễmbệnh đạo ôn trong đó có khoảng 500 ha nhiễm nặng và khoảng 100 hanhiễm rất nặng chủ yếu tập chung trên giống D - ưu 527, Nhị ưu 838 [26]
2.2.2 Hình thái nấm gây bệnh và triệu chứng bệnh đạo ôn
- Hình thái nấm gây bệnh
Cơ quan sinh trưởng của nấm Pyricularia oryzae Cav là sợi nấm
không màu, đa bào, phân nhiều nhánh, sống ký sinh trong mô thực vật.Nấm có thể hình thành “bào tử hậu” song ít gặp trong những điều kiện
Trang 16thông thường Bào tử hậu có sức sống lâu dài trên hai năm trong điều kiệnkhô Trong quá trình sinh sản vô tính hình thành cành bào tử phân sinh vàcác bào tử phân sinh Cành bào tử phân sinh có hình trụ thon dài, cong cóthể đa bào song phần lớn đơn bào, không đâm nhánh, phía trên cành sinh rabào tử phân sinh (conidi) Một cành bào tử có thể sinh ra 3 - 10 bào tử phânsinh Khi thành thục bào tử ngắt ra để lại vết hằn trên cành Cành bào tửmọc ra đơn lẻ hoặc thành cụm nhỏ chui qua lỗ trên lá, lộ thiên ra ngoài, dễdàng phát tán đi xa [19].
Bào tử phân sinh hình nụ sen hoặc hình quả lê, thường có từ 2 - 3vách ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào tử là(19 - 23 x 10-12àm) Kích thước của bào tử nấm biến đổi tùy thuộc vàomẫu phân lập, điều kiện ngoại cảnh cũng như các giống lúa khác nhau[14]
- Triệu chứng bệnh
Bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến khi lúa chín, bệnh
có thể xâm nhiễm gây hại ở bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié Dựa vàotính chất và vị trí bộ phận nhiễm bệnh người ta phân chia các dạng hìnhbệnh như đạo ôn lá, đạo ôn đốt thân, đạo ôn cổ bông [19]
Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ sau tạo thành hìnhthoi nhỏ màu nâu hồng hoặc nâu vàng, khi bệnh nặng cây mạ có thể bịhéo khô và chết [14]
Trên lá lúa vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu hơi vàng mờ.Vài ngày sau vết bệnh kéo dài về hai phía, phình rộng ở giữa tạo ra vếtbệnh có dạng hình thoi, mô ở giữa vết bệnh màu xám tro có viền màunâu, chung quanh vết bệnh có thể có quầng vàng Đây là triệu chứng vếtbệnh đặc trưng Trên một số giống nhiễm, trong điều kiện thời tiết phùhợp cho bệnh, điều kiện dinh dưỡng đạm quá nhiều, triệu chứng vết bệnhban đầu là một chấm nhỏ sau đó lớn rộng ra có mà xanh tái, kéo dài nhiềungày Đó là vết bệnh cấp tính, về sau mới chuyển thành vết bệnh đạo ôn
Trang 17đặc trưng là dạng vết bệnh mãn tính Vết bệnh hình thoi kích thước giaođộng khoảng từ 0,5mm - 0,1mm x 1 - 25mm Bệnh nặng nhiều vết bệnhnhỏ liên kết nối liền với nhau tạo thành một dải vết bệnh làm cho lá bịcháy, lụi đi nhanh chóng Vết bệnh trên cổ lá và cổ lá đòng có màu nâuhình khum theo chiều cong giữa cổ lá và phiến lá Khi cổ lá bị bệnh toàn
lá tái xanh, xám, khô lụi gẫy gục xuống [19]
Vết bệnh trên đốt thân đầu tiên là một đốm nhỏ nầu nâu đen, lớnrộng ra thành một vành tròn bao quanh đốt thân, lõm tóp lại màu nâu đen,khi trời mưa ẩm đốt thân bị bệnh mềm nhũn dễ bị gãy gập khi gặp gió[19]
Vết bệnh ở cổ bông, cổ gié lúc đầu là những đóm nhỏ về sau lan ratheo chiều dài làm cả đoạn cổ bông có màu nâu xám hoặc nâu đen, cổbông và cổ gié hơi teo thắt lại Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thìbông lúa bị lép, khô trắng, nếu xuất hiện muộn vào thời kỳ làm hạt đếnchín thì gây hiện tượng gãy cổ bông, cổ gié, làm giảm năng suất [19]
Vết bệnh ở hạt không định hình, cũng có màu nâu xám hoặc nâuđen, nấm ký sinh ở vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt, hạt giống bị bệnh lànguồn bệnh truyền từ vụ này sang vụ khác [14]
2.2.3 Những nghiên cứu về chủng sinh lý (race) nấm gây bệnh và tính chống bệnh đạo ôn của các giống lúa
Ở Việt Nam, năm 1951 Roger (người Pháp) đã xác định sự xuấthiện và gây hại của bệnh đạo ôn ở vùng Bắc bộ [14] Từ những năm 1976những khảo sát bước đầu về sự phổ biến các nhóm nòi nấm gây bệnh đạo
ôn được tiến hành ở Viện BVTV và Trường Đại học Nông nghiệp I chothấy toàn bộ 8 giống lúa trong bộ giống chỉ thị nòi quốc tế nhiễm bệnhkhác nhau trong một số vùng miền Bắc và miền Nam ở vùng Bắc Hàtoàn bộ giống chỉ thị nhóm nòi A, B, C, D, IE, IF, H đều bị nhiễm bệnhđạo ôn nặng ở cấp 5 đến cấp 9 Nhưng ở vùng Điện Biên 3 trong số 8giống lúa chỉ thị nòi quốc tế lại nhiễm bệnh đạo ôn rất nhẹ ở cấp bệnh 1 -
Trang 182 Cho đến năm 1985 - 1987 những kết quả nghiên cứu bổ xung đã bướcđầu khẳng định rõ hơn ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng chủ yếu có 3 nhómnòi nấm gây bệnh đạo ôn đó là nhóm nòi IB, IC và IF, trong đó nhóm nòi
IB phổ biến hơn chiếm ưu thế trong vụ đông xuân, còn nhóm nòi IC, IFtrong vụ xuân hè, nhóm nòi IC trong vụ hè thu [19]
Trong thí nghiệm với 12 nguồn mẫu nấm phân lập từ 12 tỉnh ở cácvùng địa lý khác nhau ở nước ta, có thể sơ bộ phân định ra 5 nhóm nòichủ yếu:
Nhóm nòi IA: ở vùng Sơn La
Nhóm nòi IB: ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghệ Tĩnh, HảiPhòng, Hà Nam Ninh, Hà Nội, Hải Hưng, Hà Bắc
Nhóm nòi IC: ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, Vĩnh Phú
Nhóm nòi ID: ở vùng Thái Bình, Hà Bắc
Nhóm nòi IF: ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng
Kết quả nghiên cứu phối hợp giữa Trường Đại học nôngnghiệp I và Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cho thấy các
nhóm nòi nấm Pyricularia oryzae Cav có tính độc khác nhau Mẫu phân
lập nấm ở vùng Nghệ Tĩnh có tính độc cao hơn so với vùng Điện Biên[19]
Các tác giả Lê Đình Đôn, Yukio Tosa, Hitoshi Nakayazshiki vàShigeyuki Mayama (1999) [48], khi nghiên cứu cấu trúc quần thể nấm
Pyricularia oryzae Cav ở Việt Nam đã thu thập 78 mẫu phân lập ở đồng
bằng sông Hồng (Hà Tây, Thái Bình) và đồng bằng sông Cửu Long (Long
An, Tiền Giang, Hậu Giang) Kết quả là 4 dòng nấm được tìm thấy ởmiền Bắc là: VL1, VL2, VL3, VL4 trong đó dòng VL2 chiếm ưu thế vàchỉ 1 dòng được tìm thấy ở đồng bằng sông Cửu Long là VL5 Trong sốcác mẫu phân lập tham gia thí nghiệm có 15 nòi được tìm ra đó là: 000,
002, 200, 122, 232, 102, 103, 105, 106, 107, 112, 132, 502, 505, 507 Sựphân bố các nòi này cũng khác nhau ở miền Bắc và miền Nam Nòi 000
Trang 19chiếm ưu thế ở đồng bằng sông Hồng còn ở đồng bằng sông Cửu Long thìnòi 102 lại chiếm ưu thế và không có nòi nào được tìm thấy ở cả hai đồngbằng.
Việc nghiên cứu và sử dụng các giống chống bệnh đạo ôn ở nước ta đượctiến hành rộng rãi Bước đầu đã phát hiện trong tập đoàn giống cổ truyềnViệt Nam có nhiều giống chống bệnh cao như Tẻ tép, Chiêm chanh PhúThọ, Chiêm bầu Thanh Hóa, Gié, Tép Sài Gòn, Nàng thơm, Nàng chét nhiều giống nhập nội được chọn lọc lai tạo có tính chống bệnh đạo ôn ởnhiều vùng như NN75-2, NN-3B, NN-3A, IR1820, IR56, IR64 [19]
Nghiên cứu của Lê Xuân Cuộc (1993) [7] về di truyền tính khángbệnh đạo ôn ở hai giống CH3 và CH133 do Viện cây lương thực và thựcphẩm chọn từ cặp lai DCH1/424 và lúa khô Nghệ An/ Xuân số 2 đã kếtluận: Mỗi giống có ít nhất một gen trội riêng kháng bệnh đạo ôn Đây là
cơ sở cho công tác lai tạo giống kháng bệnh đạo ôn có hiệu quả trong sảnxuất
Theo Lê Xuân Cuộc và cộng tác viên (1994) [8], các nòi nấm
Pyricularia oryzae Cav rất dễ biến dị và tạo ra nòi mới, sinh ra các độc
tính và khả năng xâm nhiễm khác nhau trên cây lúa
Hà Minh Trung và cộng tác viên (1996-1997) [24], đã nghiên cứuphản ứng của các giống lúa với các đơn bào tử nấm gây bệnh đạo ôn ởcác vùng sinh thái khác nhau cho thấy không phải một giống lúa bị nhiễmbệnh trên đồng ruộng là nhiễm tất cả các nguồn nấm gây bệnh đạo ôn,chúng chỉ nhiễm một vài isolate và cũng kháng với một vài isolate Ngay
cả giống Tẻ tép được coi là kháng bệnh cao nhưng cũng nhiễm một vài
isolate nấm Pyricularia oryzae Cav Tuy nhiên phải khẳng định Tẻ tép
kháng với hầu hết nguồn nấm gây bệnh đạo ôn ở các vùng khác nhau.Trong thí nghiệm tiến hành ở IRRI cuối năm 1995 đến đầu năm 1996 của
các giống lúa gieo cấy phổ biến ở nước ta với các nguồn nấm Pyricularia
oryzae Cav gây bệnh đạo ôn của IRRI cũng phần nào nói lên sự phong
Trang 20phú của quần thể nấm gây bệnh đạo ôn Đặc biệt là nấm bệnh đã gây hạiđược trên giống Tẻ tép thì có sức gây bệnh cao với các giống khác Dovậy việc tạo giống kháng bệnh đạo ôn bằng cách lai hữu tính giữa cácgiống có nguồn gen khác nhau sẽ tạo được con lai kháng bệnh trên đồngruộng.
Khi nghiên cứu về khả năng sản sinh thế hệ nấm Pyricularia
oryzae Cav mới trên một số giống lúa tác giả Hà Minh Trung và cộng tác
viên (1996 -1997) [24] cho thấy nguồn nấm Pyricularia oryzae Cav trên
đồng ruộng là rất phong phú, trong điều kiện tự nhiên quần thể nấm nàyluôn thay đổi mà nguyên nhân của nó là do quá trình đột biến, lai tạo và
sự di chuyển của nấm từ vùng này sang vùng khác Người ta nhận thấyrằng trên đồng ruộng gieo trồng một loại giống lúa chủ lực nhiều năm liền
sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng tính kháng của giống
Do vậy gieo cấy đa dạng hóa nguồn gen kháng bệnh trên đồng ruộng sẽgóp phần hạn chế cường độ dịch đạo ôn ở một địa phương
Lưu Văn Quỳnh và Bùi Bá Bổng (1998) [18], đánh giá tính khángbệnh đạo ôn của các giống lúa đang trồng phổ biến ở đồng bằng sông CửuLong, các dòng, giống triển vọng và các giống nhập nội cho thấy số lượnggiống kháng cao và kháng ổn định qua các vùng sinh thái ở đồng bằngsông Cửu Long thấp, trong khi đó giống nhiễm cao chiếm gần 30% vàgiống kháng không ổn định chiếm 50% số giống thử nghiệm
Lưu Vân Quỳnh và Bùi Bá Bổng (1998) [18] nghiên cứu về tínhkháng bền của 500 giống lúa đối với bệnh đạo ôn ở đồng bằng sông CửuLong qua 7 thí nghiệm đã xác định 16 giống lúa có chỉ số SDI bằng hoặcnhỏ hơn 5 được xem như là có khả năng kháng bền (tính kháng bền đượcxác định thông qua chỉ số SDI) trong khi đó Tẻ tép cho chỉ số SDI là 6.Giống IR64 được đưa vào sản xuất trên 10 năm vẫn duy trì tính khángbền
Nghiên cứu của Phan Hữu Tôn (2004) [22] trên 24 dòng giống lúa
Trang 21chứa các gen chống bệnh khác nhau với 4 isolate nấm Pyricularia oryzae
Cav Kết quả cho thấy có 8 dòng chống được 4 isolate, 10 dòng chốngđược 3 isolate, 3 dòng chống được 2 isolate và chỉ có 3 dòng chống được
1 isolate Như vậy các gen khác nhau thì khả năng chống các isolate bệnhđạo ôn cũng khác nhau
2.2.4 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn
Nấm gây bệnh đạo ôn có nhiều hình thức bảo tồn trong tự nhiên,bằng sợi nấm và các bào tử ở hạt giống, rơm rạ, cỏ dại, đất trồng, lúa chétsau gặt và truyền lan bằng nhiều con đường khác nhau Vì vậy để phòngngừa và khống chế bệnh gây hại cần thiết phải áp dụng đồng bộ một hệthống các biện pháp tổng hợp trong đó bao gồm các biện pháp kỹ thuậttrồng trọt, sử dụng giống kháng bệnh, cơ cấu giống theo mùa vụ thích hợpkết hợp với các biện pháp hóa học và vệ sinh đồng ruộng nhằm chủ độngphòng ngừa bệnh và ngăn chặn sự phát triển bệnh thành dịch, đảm bảođược năng suất ổn định của giống lúa gieo trồng [19]
Khi dịch bệnh đạo ôn xảy ra thì thuốc hóa học vẫn được coi là biệnpháp hữu hiệu để ngăn chặn dịch bệnh trên đồng ruộng Việc sử dụngthuốc có hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cao là vấn đề luôn luôn được ưu tiêntrong công tác nghiên cứu
Quá trình sử dụng thuốc trừ bệnh đạo ôn ở nước ta bắt đầu từ việcdùng Falidan 0,1% hoặc rắc hỗn hợp thuốc Falidan với vôi bột theo tỷ lệ1/20 - 1/10 khi bệnh phát sinh trên đồng ruộng Falidan có hiệu lực trừbệnh thấp, ít có tác dụng khi bệnh đã phát sinh thành dịch Hơn nữaFalidan lại là hợp chất thủy ngân độc cho người và gia súc và dễ gây cháy
lá lúa [19]
Mai Thị Liên, Hà Minh Trung và cộng tác viên (1994) [12]; NgôVĩnh Viễn, Hà Minh Trung và cộng tác viên (1991-1995) [27] đã khảo sáthiệu lực của 4 loại thuốc trừ bệnh đạo ôn Kitazin, Hinosan, Fujione,Kassai trong phòng thí nghiệm và trên đồng ruộng (vụ đông xuân năm
Trang 221992-1993) cho thấy thuốc Hinosan và Fujione có thể tiêu diệt được nấmtrên môi trường nhân tạo còn Kitazin chỉ ức chế được nấm không pháttriển chứ không thể tiêu diệt được nấm Trên đồng ruộng thuốc Kitazincũng kém hiệu lực trừ bệnh trên cả lá và cổ bông, Fujione có hiệu lực trừbệnh cao Đối với đạo ôn cổ bông thì biện pháp phun kép (phun thuốc 2lần 7 ngày trước trỗ phun lần 1, lần thứ 2 sau lần 1 là 7 ngày) cho hiệuquả trừ bệnh cao góp phần tăng năng suất lúa.
Hà Minh Trung (1996) [23] nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnhđạo ôn hại lúa ở các tỉnh miền Trung, trong thí nghiệm khảo sát hiệu lựctrừ đạo ôn của thuốc Fijione 40EC, Newhinosan 30EC, Beam 75wp chothấy thuốc Beam có hiệu lực trừ bệnh cao nhất Các thí nghiệm ở QuảngBình, Phú Yên đều cho thấy thuốc Beam 75wp có hiệu quả trừ bệnh caohơn các thuốc khác
Để phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông, theo Lê Lương Tề, (2000) [20]thì sử dụng thuốc Kassai 21.2WP với lượng 1 - 1,5kg/ha có hiệu quả tốtnhất
Bên cạnh đó một số biện pháp khác cũng được sử dụng như: Biện phápsinh học, biện pháp sử dụng giống kháng Nhưng không phổ biến
Trang 23PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
Bệnh đạo ôn lúa và nấm Pyricularia oryzae Cav
3.1.2 Vật liệu
3.1.2.1 Thuốc BVTV
Thuốc Thi Bao Linh 10FL, NaTiVo 750WG
3.1.2.2 Môi trường nuôi cấy nấm
* Môi trường PSA (Potato Sugar Agar):
- Thành phần: 200g khoai tây + 20g agar + 1 lit nước cất
- Dùng để giữ nấm
* Môi trường WA (WHater agar):
- Thành phần: 20g agar + 1 lit nước cất
- Dùng để dính bào tử nấm, lấy đơn bào tử trên kim thuỷ tinh trên kínhhiển vi
* Môi trường Cám-Agar
- Thành phần: 20g cám + 20g agar + 5g đường + 1 lit nước cất
- Dùng để sản xuất bào tử, lấy bào tử lây nhiễm trên lúa
Trang 24* Môi trường OMA:
- Thành phần: 50g OMA + 20g agar + 20g đường + 1 lit nước cất
- Dùng để sản xuất bào tử, lấy bào tử lây nhiễm trên lúa
* Môi trường bột mỳ agar: Bột mỳ 50g + đường saccaroza 20g + agar 20g+ 1000ml nước cất
* Môi trường bột gạo agar: Bột gạo 50g + đường saccaroza 20g + agar20g + 1000ml nước cất
- Mười hai giống lúa (của Nhật Bản) sử dụng để xác định chủng sinh lý
nấm Pyricularia oryzae Cav (giống chỉ thị)
Trang 25- Một số giống lúa Trung Quốc: D ưu 725, Đại Dương 2, Bồi tạp 49,Bắc ưu 253, Kim ưu 725, Nhị ưu 725, Q ưu 6, Q ưu số 1, D ưu 128,BN2, Bồi tạp Sơn Thanh, Thiên nguyên ưu 9, Q5, Khang Dân, D ưu600.
3.2 Nội dung
3.2.1 Điều tra, thu thập mẫu bệnh đạo ôn và phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav.
3.2.2 Xác định chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav
3.2.3 Nghiên cứu khả năng phát triển của một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav trên một số môi trường nhân tạo
3.2.4 Nghiên cứu khả năng kháng một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav của lúa
- Khả năng kháng một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav của các giống lúa Việt Nam đang được gieo cấy trong sản xuất.
- Khả năng kháng một số chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav của các giống lúa Trung Quốc nhập nội.
3.2.5 Khảo sát hiệu lực của thuốc ThiBaoLinh 10FL, NaTiVo 750WG
đối với nấm Pyricularia oryzae Cav trên môi trường nhân tạo, bệnh đạo ôn trên lúa trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng ruộng
- Hiệu lực của thuốc đối với nấm Pyricularia oryzae Cav trên môi
trường nhân tạo
- Hiệu lực của thuốc đối với bệnh đạo ôn trong điều kiện nhà lưới+ Lây bệnh trước - phun thuốc sau
+ Phun thuốc trước - lây bệnh sau
- Hiệu lực của thuốc NaTiVo 750WG, ThiBaoLinh 10FL đối với bệnhđạo ôn hại lúa ở ngoài đồng tại Song Hồ - Thuận Thành - Bắc Ninh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra bệnh và thu thập mẫu bệnh ở ngoài đồng
Trang 26- Thu thập mẫu bệnh trên lúa ở các giai đoạn đẻ nhánh: thu thậpmẫu lá.
- Mô tả triệu chứng trên lá và chụp ảnh minh hoạ
3.3.1.1 Phương pháp điều tra bệnh trên lúa ngoài đồng
- Ruộng điều tra: Trên giống lúa được chọn để điều tra tiến hành
- Điểm điều tra: Mỗi ruộng điều tra theo phương pháp 5 điểm chéogóc, mỗi điểm điều tra 10 khóm, khóm điều tra đầu tiên cách bờ ít nhất2m
- Chỉ tiêu điều tra: Điều tra số lá, bị bệnh và phân cấp lá bị bệnh đểtính tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%)
- Thời gian điều tra: 5 ngày điều tra một lần
* Cấp bệnh đạo ôn trên lá
Được chia theo thang 9 cấp của Viện BVTV:
- Cấp 0: Không có vết bệnh trên lá
- Cấp 1: Các vết bệnh màu nâu, nhỏ như mũi kim, không cóvùng sinh bào tử
- Cấp 2: Vết bệnh nhỏ, tròn hoặc thon dài, đường kính từ 1 - 2mm,
có viền nâu rõ rệt, hầu hết các lá dưới đều có vết bệnh
- Cấp 3: Vết bệnh tương tự như cấp 2, nhưng các lá phía trên cũng bịbệnh
- Cấp 4: Vết bệnh có dạng hình thoi điển hình, dài từ 3mm trở lên,diện tích bị bệnh ở các lá nhỏ hơn 4% diện tích lá
- Cấp 5: Vết bệnh điển hình, các vết bệnh có thể liên kết lại vớinhau, diện tích vết bệnh từ 4 - 10 % diện tích lá
- Cấp 6: Diện tích vết bệnh từ 10 - 25% diện tích lá
- Cấp 7: Diện tích vết bệnh từ 25 - 50% diện tích lá
- Cấp 8: Diện tích vết bệnh từ 50 - 75% diện tích lá
- Cấp 9: Diện tích vết bệnh chiếm trên 75% diện tích lá
3.3.1.2 Thu thập mẫu lúa bị bệnh đạo ôn
Trang 27Trên các ruộng lúa bị bệnh đã điều tra, tiến hành thu thập mẫu lá cóvết bệnh đạo ôn điển hình, cho vào túi nilon sạch có để giấy lọc (giấythấm) ẩm để giữ cho lá không bị khô, đem về phòng thí nghiệm để tiếnhành phân lập nấm
Khi thu mẫu phải ghi đầy đủ tên giống, tên địa phương, ngày thumẫu
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
3.3.2.1 Chuẩn bị dụng cụ nghiên cứu
- Hộp petri rửa sạch, để khô sau đó gói vào giấy báo, tiếp tục khửtrùng khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 150 - 160oC trong 3 giờ
- Các bình phun được rửa trước và sau sử dụng
- Các dụng cụ như que cấy, đũa thuỷ tinh phải khử trùng trên ngọnlửa đèn cồn trước và sau khi cấy nấm
3.3.2.2 Chuẩn bị môi trường nuôi cấy nấm
Các môi trường sau khi được pha chế và nấu xong thì cho vào 2/3bình tam giác 500ml bọc giấy bạc và được hấp khử trùng bằng nước nóng.Khử trùng xong, phân môi trường ra các hộp petri, để nguội sau đó cho vàocác túi nilon buộc chặt miệng túi để chống nhện xâm nhiễm Khi cần thìlấy ra sử dụng
Đối với môi trường nghiêng trong ống nghiệm, sau khi nấu môitrường PSA dùng bơm bơm môi trường vào từng ống nghiệm, mỗi ống 10
ml, sau đó đậy nút rồi hấp khử trùng bằng hơi nước nóng, sau khi hấp khửtrùng để các ống nghiệm nghiêng trên giá tạo mặt thạch nghiêng
3.3.2.3 Phương pháp phân lập mẫu theo phương pháp đơn bào tử
- Rửa sạch mẫu bệnh dưới vòi nước, đặt 1 tờ giấy lọc vào trong hộplồng Dùng bình tia, tia nước cất cho tờ giấy lọc ướt đều, đặt thanh thuỷtinh vào giữa hộp lồng, đặt 4 - 6 mẫu lúa có vết bệnh, gốc xuống phíadưới, đầu lên phía thanh thuỷ tinh để nước theo mạch dẫn đi lên, đặt hộp
Trang 28trong tủ định ôn 1 - 2 ngày ở 26 - 28oC, dùng kính lúp quan sát bào tử trênvết bệnh, đặt trên mặt bàn, trong phòng, nắp đĩa hơi mở một chút (đậynắp nghiêng, để một khe hở).
- Lấy đĩa WA, cầm úp mặt thạch, gấp đoạn lá hoặc cổ bông có vếtbệnh theo hình tam giác, dùng panh cặp và đặt cho bào tử ở vết bệnh dínhvào mặt thạch, dùng bút dạ khoanh khu vực đặt vết bệnh để khi đưa lênkính hiển vi dễ quan sát bào tử
- Dùng panh lấy một ít bông thấm nước nhúng vào cồn 96% rồi khửtrùng kim thuỷ tinh
- Đưa đĩa WA có bào tử lên kính hiển vi, quan sát và nhẹ nhàng lấybào tử vào đầu kim thuỷ tinh, vặn cho vật kính lên cao, đưa đĩa WA ra vàcho đĩa PSA vào theo chiều úp mặt thạch xuống phía dưới, dùng bút dạkhoanh 4 - 6 khoanh tròn, từ từ thả bào tử từ đầu kim thuỷ tinh vào đĩaPSA nơi đã đánh dấu khoanh tròn, thả 4 - 6 bào tử / đĩa
- Để đĩa trong tủ định ôn 26 - 28oC từ 3 - 4 ngày, bào tử phát triểnthành tản nấm, dùng que cấy cắt một mẩu thạch có sợi nấm non cấy vàoống nghiệm có PSA nghiêng, đặt ống này vào trong tủ 26 - 28oC, để nấmphát triển kín mặt môi trường, để ống nghiệm này ở nhiệt độ phòng 20oC,lấy nấm từ đây để làm các thí nghiệm nghiên cứu
3.3.2.4 Phương pháp lây bệnh nhân tạo
- Chuẩn bị nguồn bào tử: Chuẩn bị đĩa OMA hoặc Cám Agar đãđược khử trùng để lấy cấy nấm Lấy nấm từ ống PSA cấy vào đĩa OMA,mỗi isolate cấy 2 đĩa, mỗi đĩa cấy 3 điểm, đặt đĩa vào tủ định ôn trong 2tuần sợi nấm sẽ mọc kín đĩa môi trường
Lấy đĩa môi trường ra khỏi tủ, dùng bình tia, tia nước phun khôngion vào, dùng chổi lông quét lại nhiều lần trên mặt đĩa bằng bình tia chohết sợi nấm, vẩy cho chổi hết nước rồi quét khô mặt thạch Mỗi isolaterửa bằng một chổi, rửa song luộc chổi trong nước sôi
Trang 29Đặt đĩa môi trường vào buồng sáng, mở nắp đĩa đậy đĩa bằng giấynilon có lỗ, đặt đĩa trong buồng sáng 3 ngày.
Pha nước rửa bào tử: nước cất có Tween 20 nồng độ 1/10.000
Sau 3 ngày đưa đĩa ra, cho 20ml nước Tween 20 vào đĩa, rửa bào tửbằng chổi lông Đặt phễu trên bình tam giác loại 100ml, đặt giấy lọc thưahoặc 2 lớp vải màn trên phễu, lọc rửa bào tử từ 2 - 3 lần sẽ được khoảng60ml dung dịch bào tử, lọc song cho chổi, giấy lọc, phễu vào xoong nướcsôi, buộc thẻ vào bình tam giác, ghi tên isolate Mỗi isolate được rửa bằngmột chổi và được lọc bằng một phễu riêng, đựng trong một lọ riêng và cóthẻ ghi tên isolate riêng, tránh nhầm lẫn
Lấy một giọt dung dịch bào tử ở mỗi bình nhỏ lên lam, đặt lam trênkính hiển vi, soi bào tử và chụp ảnh minh họa
- Chuẩn bị cây mạ: Gieo 15 hạt lúa thành 2 hàng trên 1 khay, mỗikhay gieo 4 giống, mỗi giống được ghi thẻ riêng tránh nhầm lẫn, 21 ngàysau khi gieo hạt, cây lúa có từ 5 - 6 lá thì có thể sử dụng cho lây nhiễmbệnh
- Lây nhiễm: Phun dung dịch bào tử ướt đều lá lúa, cắm thẻ thínghiệm vào khay lúa, đặt các khay lúa này trong buồng sương hoặc trongbuồng có ẩm độ lớn hơn 90% trong thời gian 20 giờ (đặt khay ở tầng trêntrước, tầng dưới sau), sau đó đưa khay ra khỏi buồng sương, đặt khay lúavào trong chậu nước ở nhà lưới, hàng ngày kiểm tra nước của các chậu cókhay lúa, luôn luôn giữ cho khay lúa có đủ nước
3.3.2.5 Đánh giá mức độ bệnh sau khi lây
Sau khi lây bệnh được 7 ngày kiểm tra mức độ bệnh của từng câylúa, lá lúa Thang điểm đánh giá theo Kato (1993)
Trang 30- Mức nhiễm:
Cấp 3: Vết bệnh to hơn và có màu xám ở giữa - nhiễm (S)
Cấp 4: Vết bệnh đặc trưng hình thoi - nhiễm nặng (HS)
3.3.2.6 Phương pháp xác định chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae
Cav
Từ kết quả lây bệnh trên 12 giống lúa chỉ thị của Nhật Bản với các mẫu
phân lập nấm Pyricularia oryzae xây dựng bảng cấp bệnh, từ bảng cấp
bệnh xây dựng bảng tính kháng nhiễm của giống Dựa vào mã số của cácgiống lúa và phản ứng kháng nhiễm bệnh đạo ôn của lúa để xác định
chủng sinh lý (Race) của nấm Pyricularia oryzae bằng cách cộng mã số
của các giống lúa có phản ứng nhiễm bệnh theo hàng trăm, hàng chục,hàng đơn vị, hàng thập phân với nhau
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu khả năng phát triển của nấm Pyricularia oryzae Cav trên một số môi trường nhân tạo
+ Chuẩn bị môi trường nghiên cứu
Chuẩn bị 5 loại môi trường: PSA, OMA, cám agar, bột mỳ agar, bột gạoagar
+ Chuẩn bị nguồn nấm
Cấy nấm từ ống nghiệm (ống nguồn) vào đĩa Petri môi trường PSA, (cấy
1 điểm ở chính giữa đĩa) sau 4 – 6 ngày và dùng đó làm đĩa nguồn để cấynấm
+ Cấy nấm
Từ nguồn nấm Pyricularia oryzae Cav thuần đã mọc ở trên đĩa PSA,
dùng đột tròn có đường kính 5mm đột nấm ở đĩa nguồn theo đường trònđồng tâm sau đó dùng que cấy nấm lấy từng khoang cấy trên 5 loại môitrường đã chuẩn bị (mỗi đĩa cấy một khoanh ở chính giữa)
+ Theo dõi
Đo đường kính tản nấm sau cấy 2, 4, 6, 8, 10 ngày, mỗi đĩa đo 2 lần theohình dấu +
Trang 313.3.4 Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ nấm đối với nấm Pyricularia oryzae Cav trên môi trường nhân tạo và đối với bệnh đạo
ôn trên lúa
3.3.4.1 Nghiên cứu hiệu lực của thuốc ThiBaoLinh 10FL đối với các chủng sinh lý (race) nấm Pyricularia oryzae Cav trên môi trường nhân tạo
Thí nghiệm gồm 5 công thức:
- Công thức 1: Thi Bao Linh 10FL 0.005%
- Công thức 2: Thi Bao Linh 10FL 0.01%
- Công thức 3: Thi Bao Linh 10FL 0.03%
- Công thức 4: Thi Bao Linh 10FL 0.05%
- Công thức 5: Đối chứng (không dùng thuốc)
Hấp khử trùng môi trường PSA, để nguội ở nhiệt độ 50 - 60oC, sau đócân lượng thuốc cần thí nghiệm hoà với 100ml môi trường, mỗi công thứcchia ra 3 đĩa, mỗi đĩa ứng với 33ml Công thức đối chứng không dùngthuốc
Dùng đột, đột từng khoanh nấm có đường kính 3 - 5mm, cấy 1khoanh nấm vào giữa đĩa (phải chuẩn bị nguồn nấm trước 7 - 10 ngày)
- Xác định hiệu lực của thuốc đối với tản nấm
Để các đĩa nấm vào tủ định ôn 26 - 28oC, sau đó đo đường kính củatản nấm (đo gián tiếp qua đáy hộp petri) Đo vào sau cấy 2, 4, 6, 8, 10ngày
3.3.4.2 Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa của thuốc ThiBaoLinh 10FL trong điều kiện nhà lưới
Thí nghiệm gồm 3 công thức:
- Công thức 1: Thi Bao Linh 0.15%
- Công thức 2: Thi Bao Linh 0.3%
- Công thức 3: Đối chứng (không phun thuốc)
Trang 32Mỗi công thức nhắc lại 3 lần Pha thuốc thành các nồng độ cần thínghiệm, mỗi công thức là 100ml nước thuốc
- Chuẩn bị khay lúa
- Chuẩn bị nguồn bào tử
* Thí nghiệm lây bệnh trước - phun thuốc sau:
- Tiến hành lây bệnh nhân tạo: Theo phương lây bệnh nhân tạo
- Phun thuốc sau khi lây bệnh nhân tạo 1 ngày, phun thuốc ướt đều
lá lúa
- Thời gian theo dõi: Trước khi xử lý thuốc, sau xử lý thuốc 5 ngày,
10 ngày, 15 ngày
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%)
- Đánh giá: Tính hiệu lực thuốc theo công thức Henderson - Tilton
* Thí nghiệm phun thuốc trước - lây bệnh sau:
- Tiến hành phun thuốc trước khi lây bệnh 1 ngày, phun thuốc ướtđều mặt lá
- Tiến hành lây bệnh nhân tạo sau khi phun thuốc bằng phươngpháp lây bệnh nhân tạo
- Thời gian theo dõi: Sau khi lây nhiễm 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%)
- Đánh giá: Tính hiệu lực thuốc theo công thức Abbot
3.3.4.3 Hiệu lực của thuốc ThiBaoLinh 10FL và NaTiVo 750WG đối với bệnh đạo ôn trên lúa ngoài đồng ruộng
Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích là 100 m2
+ Thí nghiệm gồm 4 công thức:
- Công thức 1: ThiBaoLinh 0.3 l/ha
- Công thức 2: ThiBaoLinh 0.45 l/ha
- Công thức 3: NaTiVo 0.15 kg/ha
- Công thức 4: Đối chứng (không phun thuốc)
+ Ngày điều tra trước phun: 21/ 04/ 2010
Trang 33+ Ngày phun : 23/ 04/ 2010.
Phun bằng bình bơm tay đeo vai, lượng nước dùng là 500 l/ha
+ Ngày điều tra :
- Điều tra sau phun 5 ngày : 28/ 04/ 2010
- Điều tra sau phun 10 ngày : 03/ 05/ 2010
- Điều tra sau phun 15 ngày : 08/ 05/ 2010
- Chỉ tiêu điều tra : Điều tra tổng số lá, lá bị bệnh và phân cấp lá bị bệnh
HL (%) = C - T x 100
C
HL (%) : Hiệu lực của thuốc (%)
C : Tỷ lệ bệnh (%) ở công thức đối chứng sau xửlý
Trang 34T : Tỷ lệ bệnh (%) ở công thức thí nghiệm sau xửlý.
- Công thức: Henderson - Tilton, được sử dụng để xác định hiệu lựcthuốc ở thí nghiệm lây bệnh trước - xử lý thuốc sau
HL (%) = (1-
b a
b a
T C
C T
) x 100
HL (%) : Hiệu lực của thuốc
Ta : Chỉ số bệnh (%) ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Tb : Chỉ số bệnh (%) ở công thức thí nghiệm trước xử lý
Ca : Chỉ số bệnh (%) ở công thức đối chứng sau xử lý
Cb : Chỉ số bệnh (%) ở công thức đối chứng trước xử lý
3.3.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: 10/01/2010 - 25/06/2010
- Địa điểm:
1 Trường ĐHNN - Hà Nội, phòng thí nghiệm HAU - JICA
2 Một số địa điểm thuộc tỉnh Bắc Ninh
3.3.7 Xử lý số liệu
Theo chương trình IRRISTAT 5.0
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BỆNH, THU THẬP MẪU BỆNH VÀ
PHÂN LẬP NẤM Pyricularia oryzae Cav.
Trang 354.1.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh đạo ôn trên một số giống lúa và thu thập mẫu lúa bị bệnh vụ xuân 2008, 2009 và vụ xuân 2010.
Bảng 4.1 Tình hình bệnh đạo ôn hại lúa trên một số giống lúa vụ xuân
2008, 2009, 2010
1 Tam Á – Gia Đông – Thuận
Thành – Bắc Ninh
Xuân2008
Ninh
Xuân2008
Ninh
Xuân2008
Ninh
Xuân2009
5 Yên Phụ - Yên Phong – Bắc
Ninh
Xuân2009
Nếp HảiPhòng
Ghi chú:
TLB(% ) và CSB(%) ở thời điểm lúa làm đòng, mức độ bệnh cao nhất.
4.1.2 Kết quả phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav từ các mẫu lúa bị
Bảng 4.2: Các mẫu nấm Pyricularia oryzae Cav đã được phân lập
Trang 36lúa Pyricularia oryzae
Cav được phânlập thuần
1 Tam Á – Gia Đông –
109
4.2 NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CHỦNG SINH LÝ (RACE) TỪ CÁC
MẪU PHÂN LẬP (ISOLATE) NẤM Pyricularia oryzae Cav.
Chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu bệnh đạo ôn đưa về phòng thí
nghiệm để tiến hành phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav Theo phương pháp cấy đơn bào tử và thu được 5 mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae
Cav ( mẫu phân lập số 1,30, 35, 36,39) Bằng phương pháp lây bệnhnhân tạo, trong điều kiện nhà lưới chúng tôi thực hiện lây nhiễm các mẫu
phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav trên nhóm giống lúa chỉ thị của
Nhật Bản và kết quả phản ứng của nhóm giống lúa với các mẫu phân lập
nấm Pyricularia oryzae Cav được trình bày ở bảng 4.3.
Trang 37Phản ứng của các giống lúa chỉ thị với các mẫu phân lập nấm
Pyriculari oryzae Cav khác nhau thì mức độ biểu hiện bệnh trên các
giống lúa này là khác nhau
Bảng 4.3: Cấp bệnh đạo ôn trên nhóm giống lúa chỉ thị của Nhật Bản thông qua lây nhiễm bệnh nhân tạo trong nhà lưới vụ xuân 2010
Cấp bệnh đạo ôn trên các giống lúa lây nhiễm
bởi các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae
Trang 38Giống Fukunishiki khi lây nhiễm bởi các mẫu phân lập đều biểuhiện bệnh trên lá ở cấp 1.
Giống K59 khi lây nhiễm bởi mẫu phân lập 35, 36 thì mức độ bệnhbiểu hiện trên lá ở cấp 1, mẫu 30, 39 mức độ bệnh biểu hiện trên lá cấp 2,mẫu phân lập số 1 biểu hiện bệnh trên lá cấp 4
Các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav khi lây nhiễm trên
các giống lúa khác nhau thì mức độ bệnh biểu hiện cũng khác nhau
Mẫu phân lập số 1 khi lây nhiễm trên 12 giống lúa chỉ thị cho thấycác giống Aichi – asahi,Tsuyuake, Toride 1 không bị nhiễm bệnh, cácgiống Fukunishiki, K60, BL1 biểu hiện bệnh ở cấp 1,các giống Shin 2,Ishikari – shrroke, Yashiromochi có biểu hiện bệnh ở cấp 2, giống PiNo.4biểu hiện bệnh ở cấp 3, còn giống lúa Kanto 51 và K59 thì biểu hiện bệnh
ở cấp 4
Trang 39Mẫu phân lập số 35 khi lây nhiễm trên các giống lúa cho thấy giốngToride 1 không bị nhiễm bệnh, giống Aichi – asahi thì bệnh biểu hiện ởcấp 3 còn tất cả các giống còn lại thì bệnh chỉ biểu hiện ở cấp 1.
Mẫu phân lập 39 khi lây nhiễm trên các giống lúa cho thấy giốngToride 1 không bị nhiễn bệnh, các giống Ishikari – shrroke, Kanto 51,Tsuyuake,
Fukunishiki, Yashiromochi, PiNo.4, K60, BL1 biểu hiện bệnh ở cấp 1,giống K59 thì bệnh biểu hiện trên lá ở cấp 2, còn 2 giống Shin 2 và Aichi– asahi thì bệnh lại biểu hiện ở cấp 4
Mẫu phân lập số 109 khi lây nhiễm trên các giống lúa cho thấy chỉ
có giống Aichi – asahi bị nhiễm bệnh, giống Shin 2 nhiễm bệnh ở cấp 2,riêng giống Toride 1 không bị nhiễm bệnh, các giống còn lại nhiễm bệnh
ở cấp 1
Từ kết quả bảng 4.3 chúng tôi xác định khả năng kháng bệnh đạo
ôn của 12 giống lúa chỉ thị với các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae
Cav Kết quả được trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Mức độ kháng bệnh của nhóm giống lúa chỉ thị với các
mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav thông qua lây nhiễm bệnh
Cấp bệnh đạo ôn trên các giống lúa lây nhiễm
bởi các mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae
Trang 40Giống lúa Shin 2 có phản ứng kháng với các mẫu phân lập 1, 30,35,
109 có phản ứng nhiễm với mẫu phân lập 36 và có phản ứng nhiễm nặngvới mẫu phân lập 39
Các giống Aichi – asahi, Tsuyuake, Fukunishiki, Yashiromochi,Toride 1, K60, BL1 có phản ứng kháng với tất cả các mẫu phân lập.Trong đó giống Toride 1 có phản ứng kháng cao với tất cả các mẫu phânlập
Giống K59 thì lại có phản ứng kháng với các mẫu phân lập 30, 35,
36, 39, 109 nhưng lại nhiễm nặng với mẫu phân lập 1
Từ kết quả mức độ kháng bệnh của nhóm giống lúa chỉ thị với các
mẫu phân lập nấm Pyricularia oryzae Cav chúng tôi đã xác định được
chủng sinh lý của các mẫu phân lập, kết quả được trình bày ở bảng 4.5