Ở các hệ sinh thái đồng ruộng, khi đạt được cân bằng sinh học thì số lượng sâu hại không lớn nên tổn thất mùa màng do chúng gây ra không đáng kể. Vì vậy phấn đấu để đạt được trạng thái cân bằng sinh học trên đồng ruộng là mục tiêu theo đuổi của công tác BVTV hiện đại và tiến bộ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀBước sang thế kỷ 21 loài người nhận thức rõ hơn với những thách thức về an ninh lương thực, ô nhiễm môi trường, giảm sút đa dạng sinh học và sự nóng nên của trái đất Hàng loạt các giống cây trồng mới có tiềm năng năng suất cao được đưa vào sản xuất và kèm theo đó là sự phát sinh mạnh, liên tục với mật độ cao của sâu bệnh gây hại làm ảnh hưởng lớn tới năng suất và chất lượng nông sản Để phòng trừ dịch hại, người nông dân đã dùng các biện pháp hoá học Việc sử dụng không ngừng và gia tăng thuốc trừ sâu hoá học nhiều khi dẫn đến lạm dụng thuốc gây tính kháng thuốc ở sâu hại, để lại dư lượng hoá chất trong nông sản Nhưng khi chất lượng cuộc sống con người ngày càng nâng cao thì lại càng đòi hỏi các sản phẩm nông nghiệp và môi trường an toàn Điều đó đã dạt ra những thách thức mới cho ngành bảo vệ thực vật.
Trong tự nhiên, các quần thể sinh vật sống trong từng khu vực, trong từng hệ sinh thái luôn tồn tại nhiều mối quan hệhỗ trợ và đối kháng lẫn nhau, tác động tương hỗ với nhau thông qua những mối quan hệ dinh dưỡng và sự tác động của những nhân tố sinh thái, sinh học khác nhau Trong quá trình phát triển, tiến hoá, những mối liên hệ tác dộng tương hỗ đó dần dần thiết lập nên thế cân bằng động, cân bằng sinh học Cân bằng sinh học cũng luôn luôn dao động và được điều chỉnh trong một biên độ nào đó, trước hết là do điều kiện môi trường thường xuyên biến đổi Mặt khác bản thân quần thể cũng luôn có những biến động đặc thù của riêng mình Trong quá trình thích ứng để tồn tại mỗi quần xã có một phương thức thích ứng đặc trưng, nhằm duy trì sự cân bằng sinh học với độ ổn định tương đối
Ở các hệ sinh thái đồng ruộng, khi đạt được cân bằng sinh học thì số lượng sâu hại không lớn nên tổn thất mùa màng do chúng gây ra không đáng kể Vì vậy phấn đấu để đạt được trạng thái cân bằng sinh học trên đồng ruộng là mục tiêu theo đuổi của công tác BVTV hiện đại và tiến bộ
Trang 2NỘI DUNG
1 Thế nào là cân bằng sinh học:
Trạng thái tự nhiên mà ở đó mỗi thành viên của sinh quần đều giữ được tương quan số lượng tương đối điển hình, phù hợp với nhu cầu sinh tồn của loài mình, đảm bảo sự ổn định, hài hoà chung của cả sinh quần được gọi là sự cân bằng sinh học (Sinh quần là một phức hợp quần xã thực vật và động vật được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử, đặc trưng cho từng sinh cảnh.)
Trong tự nhiên, cụ thể là trong một sinh quần, sự tập hợp của các loài thực vật và động vật ở hoàn cảnh khác nhau chủ yếu là do quan hệ dinh dưỡng và chúng đều tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất sinh học ở đó Tuỳ theo phương thức trao đổi chất, chúng có thể thuộc vào 1 trong 3 pha lần lượt sau đây: Sản xuất - tiêu thụ - tái sản xuất Một tập hợp như vậy được goi là “Dây chuyền dinh dưỡng” hay “ Chuỗi thức ăn”
Trong sinh quần đồng rưộng, một chuỗi thức ăn bắt đấu từ mắt xích thức ăn thứ nhất - sinh vật sản xuất, thường là cây trồng Mắt xích thứ 2 - sâu hại cây trồng, là sinh vật tiêu thụ bậc 1 Mắt xích thứ 3 - sinh vật kí sinh hoặc bắt mồi, là
kẻ thù tự nhiên của bọn sâu hại trên cây trồng nói trên Chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 2 và là sinh vật có ích Mắt xích thứ 4 hay sinh vật tiêu thụ bậc 3 là nhóm sinh vật sử dụng nhóm kẻ thù tự nhiên này làm thức ăn, do vậy là nhóm sinh vật có hại Tuỳ theo sự phong phú của sinh quần, chuỗi thức ăn có thể có thêm một vài mắt xích nữa tiếp theo Riêng với nhóm sinh vật tái sản xuất, thường là các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ, khó phát hiên được bằng mắt thường, do đó người ta không thể hiện chúng trên chuỗi thức ăn Song thực chất chúng có mặt ở mọi chuỗi thức
ăn và là thành phần không thể thiếu để đảm bảo chu trình tuần hoàn vật chất sinh học trên toàn hành tinh của chúng ta
Có thể thấy hoạt động dinh dưỡng diễn ra cùng một lúc trong chuỗi thức ăn tạo nên các cặp quan hệ đối kháng và hỗ trợ giữa các mắt xích của chuỗi thức ăn
Trang 3Cụ thể ở đây, các cặp quan hệ giữa cây trồng và sâu hại (mắt xich 1 và mắt xích 2), giữa sâu hại và kể thù tự nhiên (mắt xích2 và mắt xích 3) là quan hệ đối kháng Đây là kiêu quan hệ tự giác Tong lúc đó các cặp quan hệ giữa cây trồng và kẻ thù
tự nhiên của sâu hại (mắt xích 1 và mắt xích 3), giữa sâu hại và bọn gây hại cho nhóm kẻ thù tự nhiên (mắt xích 2 và mắt xích 4) lại có quan hệ hỗ trợ Đây là quan
hệ gián tiếp, không phải quan hệ tự giác mà chỉ là hệ quả Rõ ràng khi nhận đựơc cùng một lúc cả hai lực tác động đối kháng và hỗ trợ thì cơ hội “đứng vững” của từng mắt xích là hiện thực và hoàn toàn có thể hiểu được
Nên hiểu rằng mối quan hệ giữa các mắt xích trong một chuỗi thức ăn là kết quả của một quá trình thích nghi qua lại và đồng tiến hoá để cùng tồn tại Như vậy các chuỗi thức ăn đã được hình thành và tồn tại trong suốt quá trình phát triển lịch
sử củ tự nhiên Tuy nhiên do chịu tác động không đồng đều của điều kiên ngoại cảnh, tương quan số lượng của một chuỗi thức ăn luôn biến động, song bao giờ cũng tuan theo quy luật hình tháp số lượng (Elton, 1927) Theo quy luật này, sinh vật lượng của từng mắt xích bao giờ cũng giảm dần từ mắt xích đầu tiên đến các mắt xích tiếp theo Điều này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết chuyển rời dòng năng lượng, đảm bảo cho mỗi chuỗi thức luôn có cơ hội tồn tại một cách tương đối
ổn định
Cần thấy thêm rằng trong một sinh quần đồng ruộng không phải chỉ có một chuỗi thức ăn đơn lẻ mà bao giờ cũng đồng thời tồn tại nhiều chuỗi thức ăn Các chuỗi thức ăn này không phải tách biệt nhau mà có quan hệ đan xen với nhau do
có một số mắt xích chung Một tập hợp các chuỗi thức ăn có quan hệ qua lại với nhau bởi các mắt xích chung gọi là lưới thức ăn Có thế xem lưới thức ăn là biểu hiện cấu trúc của một sinh quần Trong một lưới thức ăn mỗi mắt xích không chỉ
có mối quan hệ tương tác với các mắt xích khác trong một chuỗi thức ăn mà nó phụ thuộc vào mà còn có ảnh hưởng tương tác ở các mức độ khác nhau với một số măt xích trong sinh quần Trong mối quan hệ rộng lớn và sâu xa này, mỗi mắt xích, hay thành viên của sinh quần có thêm cơ hội để tồn tại, thể hiện số lượng cá
Trang 4thể thích hợp của chúng Trạng thái tự nhiên mà ở đó mỗi thành viên của sinh quần đều giữ được tương quan số lượng tương đối điển hình, phù hợp với nhu cầu sinh tồn tại của loài mình, đảm bảo sự ổn định, hài hoà chung của cả sinh quần được gọi là sự cân bằng sinh học.
Sự cân bằng sinh học trong tự nhiên không phải ổn định mãi mãi mà luôn có biến động Hiện tượng mật độ của một quần thể đựơc duy trì trong một phạm vi giới hạn biến động tương đối trong suốt cả một thời gian dưới tác động của các yếu tố sinh vật học và vật lí của môi trường được gọi là sự điều chỉnh tự nhiên Giới hạn trên và dưới của mật độ trung bình ít biến đổi rõ rệt Chỉ khi nào bản thân những yếu tố điều chỉnh thay đổi hoặc có sự xuất hiện nhân tố mới thì giới hạn trên và giới hạn dưới mới thay đổi tác dụng của điều chỉnh tự nhiên lên mật độ quần hể trong một thời gian nào đó thường mang tính quy luật Đó là sai khác cơ bản với sự tác động làm giảm đột ngột số lượng cá thể của một loài sâu gây hại trên cây trồng bởi thuốc bảo vệ thực vật Thêm vào đó sự thay đổi tính ăn qua từng pha phát triển, sự di cư theo mùa hoặc sự phát tán đột xuất của các loài côn trùng
từ sinh cảnh này đến sinh cảnh khác có thể dẫn đến sự cấu trúc lại chuỗi thức ăn Hơn nữa các mắt xích không chỉ chịu tác động qua lại lẫn nhau mà còn chịu tác động của ngoại cảnh nên có thể làm thay đổi đột ngột tương quan giữa các mắt xích, gây đảo lộn chuỗi thức ăn hay có thể là cả lưới thức ăn và từ đó dần đến sự mất cân bằng trong sinh quần
Trong số những nhân tố điều chỉnh mật độ thì các nhân tố sinh học thường giữ một vai trò quan trọng, nhiều khi có tác dụng quyết định Sự điều chỉnh mật độ trung bình của các quần thể do tác động của các vạt kí sinh, vật ăn thịt hoặc các vật gây bệnh xuống mức độ thấp hơn gọi là điều chỉnh sinh học, nên về bản chất thì điều chỉnh sinh học là một bộ phận của điều chỉnh tự nhiên
2 Tại sao cân bằng sinh học lại là mục tiêu cao nhất của bảo vệ thực vật hiện đại?
Trang 5Chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, đòi hỏi các sản phẩm nông nghiệp và môi trường an toàn Điều này chỉ có thể đạt được khi mối cân bằng sinh học trong tự nhiên đựơc duy trì ổn định.
Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay với hàng loạt các yếu tố thường xuyên thay đổi trong quá trình canh tác từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch, việc gia tăng đầu vào (giống, phân hoá học, thuốc trừ dịch hại,…) đã và đang làm giảm sự đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh học Hệ quả là nhiều loài thiên địch giảm
số lượng nghiêm trọng, không khống chế được dịch hại và do đó dịch hại bùng phát số lượng quá mức, gây thiệt hại ngày một nhiều với cây trồng Để giữ vững năng suất, người ta lại phải sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, chủ yếu là các loại thuốc hoá học và cứ như thế vòng luẩn quẩn tăng sản lượng, tăng đầu vào, nguy cơ sản phẩm không an toàn và ô nhiễm môi trường lại diễn ra Trong thời gian tương đối dài, khoảng 30 năm (từ năm 1950 đến năm 1980) để đảm bảo sản lượng nông sản, con người đã sử dụng chủ yếu các biện pháp phòng trừ hoá học, coi đó là biện pháp chủ đạo thậm chí nhiều vùng trên thế giới coi đó là biện pháp duy nhất trong bảo vệ cây trồng
Bài học thấm thía được đúc kết từ thực tiễn và từ cảnh báo sớm về “mùa xuân im lặng” của Carson (1962) nêu cảnh tượng trong tương lai nếu tiếp tục sử dụng các loại thuốc hoá học sẽ không còn nghe được tiếng chim hót, ve kêu và dàn đồng ca vĩ đại của các loài côn trùng biến mất, làm cho mùa xuân chỉ còn im lặng đã thực sự cảnh tỉnh nhiều quốc gia trong việc định hướng sử dụng thuốc hoá học BVTV
Để tiến tới khả năng điều khiển hệ sinh thái đồng ruộng nhằm thiết lập và duy trì mối cân bằng sinh học, việc hiểu biết tường tận cấu trúc và hoạt động của sinh quần là điều không thể thiếu Từ hiểu biết cơ bản này, chúng ta có cơ sở để lựa chọn những biện pháp kĩ thuật tác động nhằm hỗ trợ hoặc tăng cường các mắt xích cần bảo vệ, đồng thời hạn chế hoặc làm suy yếu các mắt xích có hại Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là sự ứng dụng nguyên lý trên vào công tác
Trang 6bảo vệ thực vật hiện nay Thực tế cũng chứng minh rằng độ ổn định của sinh quần luôn tỉ lệ với số lượng các mối quan hệ trong sinh quần, như nhận định của Mc Arthur ( K Watt, 1971 ) Do đó trong các nỗ lực nhằm tăng cường các mối cân bằng trong tự nhiên, các biện pháp bảo vệ và tăng cường sự đa dạng sinh học trong các sinh quần đồng ruộng là rất có ý nghĩa, tác dụng.
3 Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM
Theo nhóm chuyên gia của tổ chức nông lương thế giới (FAO), “Quản lý dịch hại tổng hợp” là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại
ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế
3.1 Nguyên tắc trong quản lý dịch hại tổng hợp
Trồng và chăm cây khoẻ
Thăm đồng thường xuyên
Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng
Phòng trừ dịch hại
Bảo vệ thiên địch
3.2 Nội dung quản lý dịch hại tổng hợp
Trong quản lý dịch hại tổng hợp có rất nhiều nội dung cần chú ý:
Biện pháp canh tác (Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng, luân canh, thời vụ gieo trồng thích hợp, sử dụng hạt giống khoẻ, giống chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày, gieo trồng với mật độ hợp lý, sử dụng phân bón hợp lí) Biện pháp thủ công (Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng, dùng rào chà tướp lá phun sâu cuốn lá, đào hang
bắt chuột).Biện pháp sinh học và biện pháp hoá học Ở đây chúng tôi tập trung phân tích khía cạnh phòng trừ bằng biên pháp sinh học.
Trang 7Muốn tạo ra sự cân bằng sinh học trong BVTV thì chúng ta phải có biện pháp thích hợp với từng khu vực, từng vùng cụ thể Ở Việt Nam và trên Thế giới đã có những giải pháp khá phong phú như sau:
- Sử dụng thiên địch hoặc vi sinh vật trong tự nhiên để khống chế dịch hại
- Sử dụng công nghệ sinh học để tuyển chọn các dòng vi sinh vật hiệu quả
Trong bài tiểu luận này chúng tôi chỉ giới thiệu một số loài côn trùng là thiên địch của sâu hại đã được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp để phòng trừ sâu hại,
Trang 8tạo cân bằng sinh thái trong quần thể đồng ruộng, bảo vệ môi trường và đem lại phẩm chất tốt, năng suất cây trồng cao cho người nông dân.
* Côn trùng ký sinh
Ký sinh được dùng để chỉ các loài côn trùng (hoặc chân đốt khác) ký sinh trên sâu hại Hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ qua lại giữa các sinh vật rất phức tạp và đặc trưng, Hiện tượng côn trùng ký sinh sâu hại rất phổ biến trong tự nhiên, Đây là một dạng quan hệ qua lại lợi một chiều, trong đó loài được lợi (loài
ký sinh) sử dụng loài sinh vật sống khác (vật chủ) làm thức ăn và nơi ở cho một phần nào đó trong chu kỳ vòng đời của nó
Ký sinh trong bảo vệ thực vật là một dạng đặc biệt của hiện tượng ký sinh, thông thường vật ký sinh sử dụng hết hoàn toàn các mô của cơ thể vật chủ, và vật
ký sinh thường gây chết vật chủ ngay sai khi chúng hoàn thành phát dục Loài ký sinh trong BVTV có các đặc điểm sau:
- Trưởng thành cái của loài ký sinh tìm vật chủ để đẻ trứng, ấu trùng ký sinh không tự tìm vật chủ;
- Trong quá trình phát dục, mỗi một cá thể ký sinh thường chỉ liên quan đến một cá thể vật chủ;
- Hầu hết các côn trùng ký sinh sâu hại có biến thái hoàn toàn, chỉ pha ấu trùng của chúng có kiểu sống ký sinh, còn khi ở pha trưởng thành thì chúng sống
tự do
Côn trùng ký sinh trong BVTV rất đa dạng Tuỳ theo tính chuyên hoá với vật chủ, tập tính hay vị trí trong chuỗi thức ăn maf có thể phân biệt thành nhiều nhóm
ký sinh khác nhau
Các nhóm côn tùng ký sinh theo các tiêu chí vừa nêu như sau:
- Theo vị trí sinh sống của các ký sinh ở bên trong hay bên ngoài cơ thể vật chủ mà phân biệt ký sinh trong và ký sinh ngoài Ký sinh trong (hay nội ký
Trang 9sinh) gồm các loài ký sinh mà quá trình phát triển của chúng xảy ra ở bên trong cơ thể vật chủ Thí dụ, các loài ong đen kén trắng Apanteles, Cotesia, các ong ký sinh nhộng,… Ký sinh ngoài (hay ngoại ký sinh) gồm các ký sinh mà quá trình phát triển của chúng xảy ra trên bề mặt cơ thể vật chủ Thí dụ, các loài ong Bracon ký sinh sâu non côn trùng cánh vảy, ong kiến Drynidae ký sinh trên lưng rầy lưng trắng, rầy nâu,…
- Mỗi một loài côn trùng ký sinh, thông thường chỉ liên quan với một pha phát dục nào đó của vật chủ, Theo mối quan hệ của loài côn trùng ký sinh với pha phát dục của sâu hại mà phân biệt thành các nhóm ký sinh như : ký sinh trứng ( họ Trichogrammatidae, họ Myraridae, Scelionidae, ); ký sinh sâu non (ký sinh ấu trùng) ( họ Ichneumonidae, Braconidae, Elasmidae,…); ký sinh nhộng ( họ Ichneumonidae, Chalcididae, Tachinidae,…); và ký sinh trưởng thành ( ong thuộc giống Dinocampus, họ Dryinidae )
- Theo số lượng cá thể của một lài kí sinh và số lượng loài kí sinh hoàn thành phát dục trong một cá thể vật chủ mà phân biệt kí sinh đơn (Apanteles cypris, Bracon hispae, Charops bicolor, Cotesia plutellae,…); kí sinh tập thể ( Ong Goniozus hanoiensis, Cotesia ruficrus,…); đa kí sinh ( trong một trứng cuốn lá lớn
có thể có ong đen Telenomus và ong mắt đỏ Trichogramma cùng kí sinh); kí sinh
đa phôi ( Ong Copisomopsis, Conidosoma sp , Ageniaspis citricola)
- Theo mối quan hệ đối với vật chủ và giữa các loài kí sinh với nhau, có thể phân biệt các kí sinh thành nhóm kí sinh bậc 1 ( Ong Telenomus dignus, Trichogramma chilonis,…); nhóm kí sinh bậc 2 là các loài kí sinh trên kí sinh bậc
1 ( Ong Trichomalopsis apanteloctena kí sinh ong Apanteles cyrpis, Cotesia ruficrus, C kariyai,…); nhóm kí sinh bậc 3 là các loài kí sinh trên các loài kí sinh bậc 2 ( Ong Tẻtestichus coerulescens kí sinh ong Habrocytus thyridopterigis, ong
H thyridopterigis lại kí sinh trên ong Itoplectis conquisitor và ong này mới là ong
kí sinh trên sâu hại Dipron similis)
* Côn trùng bắt mồi:
Trang 10Nói tới loài bắt mồi là nói tới quan hệ bắt mồi - vật mồi Đây là một dạng quan hệ qua lại, trong đó một loài săn bắt loài khác để làm thức ăn và thường dẫn đến cái chết của vật mồi trong một thời gian ngắn.
Loài bắt mồi trong BVTV cũng có những nét riêng biệt, đó là : Các loài bắt mồi trong BVTV không chỉ có phụ miệng nhai mà có cả phụ miệng chích hút
và có đặc điểm như sau:
- Phải tự tìm kiếm con mồi để làm thức ăn
- Gây ra cái chết cho con mồi trong một thời gian ngắn
- Để hoàn thành phát dục, mỗi cá thể bắt mồi phải tiêu diệt nhiều con mồi
- Các loài bắt mồi có 2 kiểu ăn mồi là: Nhai nghiền con mồi và hút dinh dưỡng từ con mồi
Theo sự thích nghi của các pha phát dục với kiẻu sống bắt mồi phân biệt tất
cả các loài côn trùng bắt mồi thành những nhóm sau:
+ Nhóm 1: Gồm các loài có kiểu bắt mồi ở cả pha trưởng thành và pha ấu trùng ( gồm nhiều loài như bọ rùa, bọ xít ăn sâu,…)
+ Nhóm 2: Gồm các loài có kiểu bắt mồi chỉ ở pha ấu trùng ( gồm các loài như họ ruồi ăn rệp muội Syrphidae, họ ruồi bạc Chamaemyiidae hay họ muỗi năn Ceciđomyiiae)
+ Nhóm 3: Gồm các loài có kiểu bắt mồi chỉ ở pha trưởng thành ( gồm các loài như họ kiến Formisidae, ong kiến Dryinidae, một số loài cách cứng ngắn họ Staphylinidae)
* Đặc điểm của việc ứng dụng thiên địch trong đấu tranh sinh học hay nói cách khác là tạo ra sự cân bằng sinh học trong sinh quần:
Để sử dụng các loài côn trùng kí sinh và bắt mồi theo hướng thả bổ sung vào sinh quần thì phải nhân nuôi chúng với số lượng lớn Côn trùng kí sinh và bắt mồi rất đa dạng Việc ứng dụng chúng trong đấu tranh sinh học phụ thuộc vào
Trang 11từng loại kí sinh và bắt mồi được sử dụng Tuy nhiên khi ứng dụng bất kì loài thiên địch nào trong phòng chống côn trùng gây hại cũng phải lưu ý một số điểm sau:
- Cần chú sử dụng những chủng địa phương của các loài kí sinh/bắt mồi để nhân nuôi, nhằm nâng cao khả năng thích ứng của kí sinh/bắt mồi khi thả vào sinh quần nông lâm nghiệp
- Trước hết cần dự báo được tình hình phát sinh phát triển của loài côn trùng gây hại cần phòng trừ, Trên cơ sở đó thành lập kế hoạch mua/sản xuất lượng lớn loài kí sinh hay bắt mồi cần sử dụng đối với loài sâu hại cần phòng trừ Kế hoạch sao cho không cần bảo quản thiên địch quá dài trong nhiệt dọ thấp Sau khi nuôi nhân thiên địch nếu chưa sử dụng phải bảo quản ở nhiệt độ thấp Thời gian bảo quản trước sử dụng càng dài làm giảm hiệu quả của kí sinh và bắt mồi
- Cùng như VSV, khi nhân nuôi trong điều kiện nhân tạo càng dài loài kí sinh/bắt mồi càng bị thoái hoá, giảm hiệu quả khống chế sâu hại Vì vậy cần định
kì phục tráng nguồn thiên dịch để nhân nuôi lượng lớn
- Phải xác định được thời điểm thả kí sinh/bắt mồi sao cho khi thả chúng vào sinh quần thì phải trùng với thời gian có pha phát dục của sâu hại thích hợp là vật chủ/con mồi của đối tượng thiên địch
- Thả kí sinh/bắt mồi tránh các thời gian nắng nóng nhất trong ngày, nên thả vào sáng sớm hoặc chiều tối
- Không thả kí sinh/bắt mồi trước khi có gió mạnh, mưa
- Tuỳ đôi tượng kí sinh bắt mồi định sử dụng mà chọn pha phát dục để thả vào sinh quần cho phù họp Đối với bọ mắt vàng Chrysopa carnea thì sử dụng ấu trùng tuổi 2 để thả, ong mắt đỏ được sử dụng pha nhộng sắp vũ hoá trưởng thành
để thả,…
- Các kí sinh/bắt mồi sau khi nhân nuôi lượng lớn trong điều kiện nhân tạo được đem thả ra đồng ruộng theo 2 cách: thả tràn ngập và bổ sung để tự tích luỹ