1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012

109 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Mông ở Cao Bằng có 3 ngành là Mông Trắng, Mông Hoa và Mông Đen cư trú tập trung nhất tại hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình người Mông cùn

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 3

CHỮ KÝ XÁC NHẬN

PGS.TS Đàm Thị Uyên

Trang 4

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Đàm Thị Uyên Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả

Hoàng Thị Huyền

Trang 5

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện đề tài Nhờ đó tôi đã tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét quí báu của quí thầy cô thông qua buổi bảo vệ đề cương

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Đàm Thị Uyên đã trực

tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình công tác cũng như thực hiện luận văn

Trên hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến gia đình

đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt mọi công việc trong quá trình thực hiện luận văn Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới bạn bè và đồng nghiệp, luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè

Học viên

Hoàng Thị Huyền

Trang 6

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG 6

1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 6

1.2 Miền Tây Cao Bằng qua các thời kỳ lịch sử 11

1.3 Người Mông ở miền Tây Cao Bằng 13

1.4 Khái quát về kinh tế văn hóa của người Mông 17

1.4.1 Về kinh tế 17

1.4.2 Về văn hóa 19

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MÔNG Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2012 28

2.1 Tổ chức gia đình và dòng họ 28

2.1.1 Tổ chức gia đình 28

2.1.2 Tổ chức dòng họ 33

2.2 Tổ chức làng bản 43

2.2.1 Sự hình thành bản của người Mông 43

2.2.2 Bộ máy tự quản của bản 49

2.2.3 Những luật tục về đất đai, nguồn nước, chăn nuôi và các thể thức xử phạt vi phạm 51

2.2.4 Bản (giao) với quan hệ cộng đồng về tín ngưỡng và đời sống sinh hoạt 54 2.3 Mã phài 57

CHƯƠNG 3: TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI MÔNG Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2012 60

3.1 Tín ngưỡng dân gian 60

3.1.1 Luận thuyết “Vạn vật hữu linh” 60

3.1.2 Thờ cúng tổ tiên và các thần che chở cho gia đình 63

3.1.2.1 Thờ cúng tổ tiên 63

3.1.2.2 Thờ cúng các thần che chở cho gia đình 67

Trang 7

3.1.3 Thờ cúng thần của cộng đồng giao (bản) 70

3.1.4 Tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp 71

3.1.5 Tàn dư ma thuật 73

3.1.6 Sa man giáo 74

3.2 Tôn giáo 77

3.3 Giao thoa văn hóa của người Mông 84

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 8

iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảng thống kê các xã thuộc huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm năm 2007 13

Bảng 2: Bảng thống kê các thành phần dân tộc ở miền Tây Cao Bằng năm 2009 14 Bảng 3: Bảng tổng hợp hộ dân tộc thiểu số nghèo vay vốn theo quyết định 32/QĐ -TTg và quyết định 126/QQD -TTg từ năm 2007-2009 26

Bảng 4: Các hình thái gia đình người Mông ở miền Tây Cao Bằng năm 2009 29 Bảng 5: Bảng thống kê các dòng họ của người Mông ở miền Tây Cao Bằng năm 2009 34

Bảng 6 : Số hộ gia đình, nhân khẩu và bản của người Mông ở huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm 43

Bảng 7: Bảng thống kê các dòng họ người Mông 48

ở xã Đức Hạnh- Bảo Lâm (Cao Bằng) 48

Bảng 8: Bảng so sánh quan niệm và nghi thức thờ cúng tổ tiên 66

của người Mông với các dân tộc khác ở huyện Bảo Lạc ( Cao Bằng) 66

Bảng 9: Bảng khảo sát số liệu người Mông theo đạo Tin Lành 82

ở huyện Bảo Lạc 82

Trang 9

Ở Cao Bằng, dân tộc Tày chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp là dân tộc Nùng, Dao và Mông Người Mông ở Cao Bằng có 3 ngành là Mông Trắng, Mông Hoa và Mông Đen cư trú tập trung nhất tại hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình người Mông cùng các dân tộc thiểu số anh em khác ở Cao Bằng đã có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển chung của tỉnh Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, việc nâng cao đời sống kinh tế, trình độ dân trí của người Mông là việc làm rất cần thiết bởi lẽ các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng những phong tục, tập quán và tín ngưỡng nhằm lôi kéo đồng bào Mông chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”

Từ thực tế đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhằm giữ vững ổn định chính trị, xóa đói giảm nghèo, tăng cường giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc và trật tự an ninh quốc gia

Trong xã hội truyền thống của người Mông, tín ngưỡng tôn giáo luôn là một thành tố quan trọng, được coi là cốt lõi có ảnh hưởng và chi phối đến nhiều mặt của cuộc sống, những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo ấy còn là yếu

Trang 10

2

tố cốt lõi tạo dựng nên sự cố kết chặt chẽ của cộng đồng Vì vậy, việc tìm hiểu tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012 là hết sức cần thiết qua đó, nhằm góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Mông nói chung mà còn góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Tổ chức xã hội

và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012” làm luận văn thạc sĩ, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công tác nghiên cứu khoa học cũng như có một cái nhìn thấu đáo hơn, toàn diện hơn về người Mông ở Việt Nam nói chung và người Mông ở Cao Bằng nói riêng đang được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc

ở Việt Nam nói chung và của người Mông nói riêng nhằm bảo tồn phát huy

và gìn giữ các giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc, phục vụ cho quá trình phát triển đất nước, đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của những người đi trước đề cập đến một cách trực tiếp hay gián tiếp ở các khía cạnh khác nhau như:

- Trước hết là cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam các tỉnh phía

Bắc” của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1978 Đây là công

trình biên soạn về nguồn gốc lịch sử, đặc điểm kinh tế, quan hệ giai cấp xã hội… của các dân tộc ít người ở phía Bắc Việt Nam trong đó có dân tộc

Mông Tiếp đến tác phẩm: “Dân tộc Mông ở Việt Nam” (Hoàng Nam và Cư

Hoà Vần), năm 1994, cuốn sách giới thiệu một cách khái quát về lịch sử di

Trang 11

3

cư, tên gọi, địa bàn cư trú, phân nhóm sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần

của dân tộc Mông ở Việt Nam Tác phẩm “Văn hóa tâm linh của người

H’Mông ở Việt Nam truyền thống và hiện đại” của tác giả Vương Duy Quang,

xuất bản năm 2005 Tác giả phân tích về đời sống tâm linh của người H’Mông, những nét mới trong đời sống tâm linh hiện nay và những tác động của sự biến đổi đó tới văn hóa dân tộc H’Mông Đặc biệt phải nói đến bộ sách

“Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng”, Tỉnh ủy- Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng,

Nxb Chính trị Quốc Gia, năm 2008 Trong quyển II của bộ sách này đã đề cập khá rõ nét về tất cả các lĩnh vực từ điều kiện tự nhiên- kinh tế- văn hóa- xã hội đến lịch sử địa phương… của hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm (Cao Bằng)

Ngoài ra còn có cuốn “Dân ca các dân tộc ở Cao Bằng” của tác giả Đinh Trọng

Tuấn – Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2010 là công trình sưu tập hệ thống các bài hát dân ca của các dân tộc ở Cao Bằng, trong đó có dân tộc Mông Cuốn

sách “Phong tục tập quán một số dân tộc thiểu số” của nhóm tác giả Ninh

Văn Hiệp, Tuấn Dũng, Hoàng Quyết, Trương Thị Xúng và Bùi Ngọc Quang, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội năm 2012, các tác giả đã giới thiệu khái quát về phong tục tập quán trong sinh hoạt, lễ cưới, sinh đẻ, quan hệ xã hội, ma chay, tết và lễ hội của người Mông ở Cao Bằng

Trên đây là những tài liệu vô cùng quý giá để chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

-Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm tìm hiểu về lịch sử tộc người Mông ở 2 huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng, tìm hiểu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học qua đó góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu địa phương

Trang 12

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu về tổ chức xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của người Mông

ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012, được dựa trên các nguồn

tư liệu sau đây:

+ Nguồn tư liệu chung: Cơ sở văn hóa Việt Nam; Các dân tộc ít người

ở Việt Nam các tỉnh phía Bắc; Dân tộc Mông ở Việt Nam, Văn hóa tâm linh của người H’Mông ở Việt Nam truyền thống và hiện đại…

+ Nguồn tư liệu địa phương như: Lịch sử tỉnh Cao Bằng; Địa chí huyện Bảo lạc, Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng; Báo cáo về tôn giáo của huyện Bảo Lạc, Thống kê dân số năm 2009…

Trong đợt thực tế tại địa phương vào tháng 10 năm 2012, tác giả đã có dịp khảo sát địa hình, cảnh quan, tổ chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào Mông và các tư liệu truyền miệng, bài ca dao, truyền thuyết dân gian, thơ

ca, gia phả về tộc người Mông…

- Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử

dụng và kết hợp một số phương pháp sau đây: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học, phương pháp

so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến 2012

Luận văn là tài liệu phục vụ cho quá trình giảng dạy môn lịch sử địa phương; là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành lịch sử, văn hóa Đồng thời

Trang 13

5

làm cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương hoạch định chính sách dân tộc, góp phần thực hiện mục tiêu bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Mông ở miền Tây Cao Bằng

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 89 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương sau:

Chương 1: Khái quát về miền Tây Cao Bằng

Chương 2: Tổ chức xã hội của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012

Chương 3: Tín ngưỡng và tôn giáo của người Mông ở miền Tây Cao Bằng từ năm 1945 đến năm 2012

Luận văn còn có các phần: Bản đồ hành chính và phụ lục

Trang 14

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH CAO BẰNG

Trang 15

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN BẢO LẠC – HUYỆN BẢO LÂM

TỈNH CAO BẰNG

Trang 16

LƯỢC ĐỒ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI MÔNG Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG

Trang 17

6

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG

1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Miền Tây Cao Bằng nằm ở phía tây của tỉnh Cao Bằng, bao gồm địa phận của 4 huyện: Nguyên Bình, Thông Nông, Bảo Lạc và Bảo Lâm Đây là khu vực có diện tích 3029,06 km2

với số dân khoảng 168796 người Trong đó, huyện Thông Nông có 10 xã và một thị trấn với diện tích 357,20 km2, dân số

23462 người Huyện Nguyên Bình có hai thị trấn và 18 xã với diện tích là 839,16 km2, dân số 39509 người Bảo Lạc có 16 xã và một trị trấn, diện tích

là 920,64 km2, dân số là 49648 người Huyện Bảo Lâm có 13 xã và một thị trấn với diện tích 91,06 km2, dân số là 56177 người [5] Nơi đây có đường biên giới giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp với tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp với Bắc Cạn, phía Đông giáp với huyện Hà Quảng, Hòa An (Trong quá trình nghiên cứu về miền Tây Cao Bằng luận văn chủ yếu nghiên cứu trên địa bàn hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm)

Đây là khu vực có địa hình rất phức tạp, hiểm trở, chủ yếu là núi đất xen kẽ với các núi đá: Phổ biến như ở huyện Bảo Lạc, là huyện bị chia cắt mạnh bởi hệ thống núi cao kéo dài, có độ dốc lớn, tiêu biểu là ngọn núi Phja

Dạ cao 1980 mét so với mặt nước biển, có độ cao trung bình so với mặt biển

là 1000m Huyện Bảo Lâm cũng là huyện có địa hình phức tạp, nhiều đèo dốc hiểm trở, có độ dốc lớn, núi non trùng điệp Với địa hình như vậy, gây rất nhiều khó khăn cho việc đi lại, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp và

sự phát triển kinh tế giao lưu với các vùng phụ cận

Miền Tây Cao Bằng bao gồm nhiều dãy núi cao, điển hình là ngọn núi Phja Dạ (Bảo Lạc) cao 1987m, được coi là nóc nhà phía đông Bắc Bộ, một cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ Đã có nhiều truyền thuyết về núi Phja Dạ vừa

Trang 18

7

thực vừa hư Truyền thuyết kể rằng, trên đỉnh núi có bãi đất bằng, có cây cam, quýt, lê, đào của tiên trồng, có ao (vũng) nước trong, sâu bên trong có con cá

to, lạ thỉnh thoảng nổi lên… [39,tr.129] Ngoài ra còn có các ngọn núi sau:

Núi Cày Tô ở xã Yên Thổ, cao 1000m so với mặt nước biển Núi có bảy ngọn nhấp nhô liên tiếp như hình mào gà, theo truyền thuyết ngày xưa núi Cày Tô phát ra âm thanh như tiếng gà gáy [39,tr.268]

Núi Nặm Chẳm (Phan Thanh) cao 1136m so với mực nước biển, ở phía tây bắc Đứng trên đỉnh núi có thể quan sát được tới núi Phja Dạ (Sơn Lộ) và một vùng biên giới xã Cô Ba, Cốc Pàng Trên núi có một cái ao thường xuyên

có nước, gọi là Pù Nặm Chẳm [39,tr.118]

Núi Chẻ Rào (Khánh Xuân) có độ cao 698m, ngọn núi độc lập nằm ở Cốc Pục liền bờ sông Gâm, trong lòng núi có hai cái hang, cửa hang quay ra hướng bắc giáp bờ sông Gâm chính diện xã Cô Ba [39,tr.108]

Rừng ở nơi đây vốn là một thảm thực vật phong phú và đa dạng sinh học, thích hợp cho sự phát triển những loại cây nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, các loại cây lấy gỗ, cây dược liệu (hà thủ ô, hoàng tinh, sâm đất…) Cùng với đó là hệ động vật đa dạng gồm các loại thú rừng như hươu, nai, lợn lòi, cầy hương, cáo, nhím, tê tê ; loại chim: diều hâu, cú mèo, họa mi, khướu, sáo, chích chòe; loại bò sát: tắc kè, kỳ đà, các loại rắn Diện tích rừng và đất rừng nơi đây từng bước được quy hoạch và khai thác hợp lý, đưa lại nguồn lợi lớn về kinh tế cho người dân nơi đây

Miền Tây Cao Bằng cũng là nơi có nhiều tài nguyên khoáng sản như quặng sắt ở Hưng Đạo, quặng bô xít, vàng ở Đình Phùng, Sơn Lộ, Sơn Lập… (Bảo Lạc) Còn tại huyện Bảo Lâm cũng là nơi lưu tụ nhiều khoáng sản quý hiếm: bạc, vàng, kim cương (độ tuổi còn non) và nhiều dãy núi đá vôi trùng điệp là nguồn thu nhập chính cho một số bà con trong vùng

Trong hệ thống sông suối nơi đây thì sông Gâm là con sông lớn nhất, bắt nguồn từ vùng núi cao gần 2000m, thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây- Trung

Trang 19

8

Quốc, chảy vào Việt Nam từ phía Bắc xuống phía Nam qua thị trấn Bảo Lạc (huyện Bảo Lạc) rồi chảy qua huyện Bảo Lâm (dài 32 km, diện tích mặt nước

là 304 ha) sang Hà Giang và Tuyên Quang

Sông Nho Quế chảy từ tỉnh Hà Giang sang địa phận xã Đức Hạnh huyện Bảo Lâm (chiều dài qua địa phận Bảo Lâm là 24 km, diện tích mặt nước 180 ha), rồi nhập vào sông Gâm tại Nà Pồng

Sông Neo bắt nguồn từ vùng núi Phja Oắc chảy theo hướng Đông Bắc, qua Đình Phùng, Huy Giáp, chảy xuống Nà Tồng- Hưng Đạo, về Hồng Trị rồi

đổ vào sông Gâm tại thị trấn Bảo Lạc Lòng sông Neo rộng trung bình 30 mét,

độ sâu trung bình 1,5 mét, lưu lượng nước và dòng chảy không ổn định [1,tr.15]

Sông Năng bắt nguồn từ núi Phja Dạ, chảy qua địa phận xã Sơn Lộ (Bảo Lạc) khoảng 15km rồi đi qua hồ Ba Bể (Bắc Cạn) rồi đổ ra sông Gâm, sau đó gặp sông Lô ở Tuyên Quang, được phù sa bồi đắp hai bên bờ sông tạo nên ruộng đồng bằng phẳng, hình thành các thôn xóm, vùng thấp tương đối tập trung Sông Năng có độ dốc đều, không có thác, không có đá to, chỉ có đá nhỏ

và cát Sông Năng rộng trung bình 15m, độ sâu tùy theo mùa mưa hay mùa khô, lưu lượng dòng chảy bình thường Sông Năng ngoài cung cấp nước tưới tiêu chính còn có số lượng cá đáng kể và lượng cát phục vụ cho việc xây dựng

Ngoài ra còn có nhiều suối nhỏ rải khắp trên địa bàn hai huyện như: suối Khuổi Mảng, Nà Đức, Khuổi Giào (Bảo Lạc), suối Khuổi Vác, Nà Tồng,

Nà Làng (Bảo Lâm)… Các suối này thường ngắn, dốc, lòng suối nhỏ, quanh

co uốn khúc, mùa mưa nước lên nhanh thường tạo lũ ống, lũ quét

Các con sông lớn chảy qua qua địa bàn hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm là nguồn thủy năng dồi dào, nguồn năng lượng quan trọng cho việc phát triển kinh tế- xã hội của hai huyện Bên cạnh đó hệ thống sông, suối còn là nguồn cung cấp cá, tôm dồi dào với các loại cá quý hiếm như: cá anh vũ, cá rầm xanh, cá lăng, cá chiên, cá bỗng, tôm nước ngọt…

Trang 20

9

Về giao thông: Hệ thống giao thông đường bộ chủ yếu của hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm là tuyến Quốc lộ 34, từ thị xã Cao Bằng- Nguyên Bình- Tĩnh Túc- Bảo Lạc- Bảo Lâm dài hơn 180 km, nối sang Bắc Mê (Hà Giang)

và Na Hang (Tuyên Quang) Ngoài ra đường quốc lộ 34 còn chạy qua các xã trong địa bàn hai huyện Ở huyện Bảo Lạc đường Quốc lộ 34 đi qua thị trấn Bảo Lạc dài 4km, rộng 7 – 9 km, xã Đình Phùng dài 6km, xã Hồng Trị dài 12km, xã Huy Giáp dài 10km và đều là đường nhựa, xã Thượng Hà dài 6km [39, tr.144] Ở huyện Bảo Lâm đường Quốc lộ 34 đi qua xã Lý Bôn dài 9km,

xã Nam Quang đường Quốc lộ 34 đi qua có đoạn rải đá 2km, đường đất dài 10km [39,tr.204], trên đoạn đường đó xe con, xe máy, xe công nông có thể đi lại được

Khí hậu: Với địa hình phần lớn là núi cao và dốc, chia cắt mạnh nên tính chất khí hậu rất khắc nghiệt Nơi đây mang đầy đủ tính chất vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Khí hậu về mùa đông rét, mùa hè rất khô và nóng

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,20C Về mùa nóng nhiệt độ cao, cao nhất là 39o

C [1,tr15] Mùa đông lạnh với nhiệt độ thấp, tháng 1 là tháng

có nhiệt độ lạnh nhất, trung bình vào khoảng 13,5oC, có những lúc nhiệt độ xuống thấp nhất là -1oC và thường xuất hiện băng giá và sương muối ở một số

xã trên địa bàn huyện Bảo Lạc như: Xuân Trường, Hồng An, Huy Giáp, Đình Phùng, Phan Thanh

Lượng mưa trung bình hàng năm cao, lên tới 1276 mm Trong đó lượng mưa lớn nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, ngày mưa cao nhất lên tới 158,6 mm

Độ ẩm trung bình hàng năm là 80%, cao nhất là 85% (vào các tháng 8,

11 và tháng 12) và thấp nhất là 67% (tháng 3)

Tài nguyên đất nơi đây khá đa dạng, theo số liệu điều tra khảo sát thực địa tại huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm có những nhóm đất chính sau đây:

Trang 21

10

Nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét và biến chất: Nhóm đất này phân

bố hầu hết trên địa bàn các xã của hai huyện, riêng ở xã Hồng An (Bảo Lạc) không có nhóm đất này

Nhóm đất mùn đỏ vàng trên đá sét biến chất: Với diện tích khoảng

8100 ha được phân bố ở các xã Mông Ân, Vĩnh Phong, Vĩnh Quang, Đức Hạnh, Quảng Lâm, Yên Thổ, Thái Học (Bảo Lâm) Còn tại huyện Bảo Lạc, nhóm đất này được phân bố hầu hết ở các xã trong huyện, trừ xã Bảo Toàn, Sơn Lộ, Sơn Lập và thị trấn Bảo Lạc là không có nhóm đất này

Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát: Nhóm đất này được phân bố ở các xã Cốc Pàng, Cô Ba, Bảo Toàn, Thượng Hà, Hồng Trị, Kim Cúc, Sơn Lộ, Sơn Lập và Đình Phùng (Bảo Lạc) Tại huyện Bảo Lâm, nhóm đất này có diện tích khoảng 5200 ha được phân bố tai các xã Vĩnh Quang, Lý Bôn, Nam Quang, Tân Việt, Quảng Lâm và Yên Thổ

Nhóm đất đỏ vàng trên đá Mácma axít: Nhóm đất này tập trung ở các

xã Sơn Lộ, Sơn Lập, Đình Phùng (Bảo Lạc) Ở Huyện Bảo Lâm, nhóm đất này được phân bố ở các xã Vĩnh Phong, Mông Ân và Thái Học với diện tích khoảng 4200 ha

Đất phù sa sông suối: Có diện tích khoảng 140 ha được phân bố ở các

xã Quảng Lâm và Yên Thổ (Bảo Lâm) Ở Bảo Lạc nhóm đất này được phân

bố tập trung ở các xã Sơn Lộ, Sơn Lập, Hưng Thịnh và Hưng Đạo

Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Có diện tích khoảng 300 ha thuộc địa bàn 3 xã Đức Hạnh, Quảng Lâm và Tân Việt Tại huyện Bảo Lạc, trừ các xã Cốc Pàng, Khánh Xuân, Xuân Trường, Phan Thanh, Hồng Trị là không có nhóm đất này, còn lại được phân bố ở hầu hết các xã trong huyện

Núi đá vôi: Diện tích núi đá vôi phân bố hầu hết ở các xã trên địa bàn hai huyện, riêng ở huyện Bảo Lạc trừ xã Cốc Pàng, xã Bảo Toàn và thị trấn Bảo Lạc là không có

Trang 22

11

Nhìn chung nguồn tài nguyên đất của huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm khá đa dạng và phong phú với sự góp mặt của nhiều nhóm đất Việt Nam Đây chính là nguồn tài nguyên quý hiếm khẳng định thế mạnh của hai huyện là phát triển trồng cây công nghiệp, cây lâu năm, cây dược liệu, cây đặc sản và chăn nuôi đại gia súc

Với điều kiện thực tế của miền Tây Cao Bằng về thời tiết, khí hậu, đất đai, nhu cầu thị trường đều rất thuận lợi cho việc sản xuất đa dạng hóa cây trồng vật nuôi Hiện nay, nơi đây có rất nhiều sản phẩm là cây đặc sản được thị trường ưa thích như mận đỏ, lê vàng, lạc đỏ vùng cao Ngoài sản phẩm cây trồng còn có sản phẩm vật nuôi có thể cạnh tranh trên thị trường như gà đen,

bò mông…

Bảo Lạc, Bảo Lâm là hai huyện miền núi phía tây tỉnh Cao Bằng, nơi đây có điều kiện tự nhiên tương đối phức tạp, địa hình núi non hiểm trở chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao và thấp cùng với đó là khí hậu khắc nghiệt Từ những điều kiện thực tế của địa phương phần nào cũng đã chi phối đến đời sống kinh tế xã hội của người dân nơi đây

1.2 Miền Tây Cao Bằng qua các thời kỳ lịch sử

Thời Lý, châu Bảo Lạc thuộc châu Quảng Nguyên Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi làm huyện Định Châu, sau lại đổi thành châu Bảo Lạc Đầu thời Nguyễn vẫn giữ nguyên, thuộc xứ Tuyên Quang, gồm 4 tổng và 21 xã Tổng Vân Quang có 6 xã, tổng Đông Quang có 4 xã, tổng Mông Ân có 5 xã, tổng Yên Phú có 6 xã Năm Minh Mệnh thứ 14 (1835) Nông Văn Vân khởi nghĩa chống lại triều đình Sau khi dẹp được Nông Văn Vân, năm 1835 Minh Mệnh bỏ châu Bảo Lạc chia đất thành huyện Vĩnh Điện và Để Định Cuối thế

kỷ XIX, châu Bảo Lạc được lập lại thuộc tỉnh Hà Giang Những năm đầu thế

kỷ XX, châu Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng [38,tr.381-382]

Châu Bảo Lạc bao gồm 2 tổng: tổng Nam Quang và tổng Mông Ân Trong đó tổng Nam Quang gồm các xã: Ân Quang, Yên Lạc, Yên Đức, Gia

Trang 23

và một phần xã Huy Giáp và Hưng Đạo ngày nay), xã Thượng Yên (gồm các xã Hồng Trị và Hưng Đạo ngày nay, xã Vĩnh Phong và một phần xã Vĩnh Quang của huyện Bảo Lâm ngày nay), xã Yên Lạng (nay là xã Thượng Hà và Bảo Toàn), xã Nặm Quét (nay là xã Cô Ba), xã Cốc Pàng (gồm các xã Cốc Pàng và Đức Hạnh ngày nay) và xã Yên Đức (gồm xã Lý Bôn và Vĩnh Quang ngày nay, thuộc huyện Bảo Lâm) Tổng Mông Ân gồm các xã: Nam Cao, xã Quan Quang (nay là xã Nam Quang và Tân Việt thuộc huyện Bảo Lâm), xã Mông Ân (ngày nay là xã Mông Ân, Quảng Lâm và một phần xã Thái Học thuộc huyện Bảo Lâm), xã Mông Yên, xã Lạc Thổ, xã Yên Thổ và một phần xã Thái Học ngày nay thuộc huyện Bảo Lâm

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, địa giới hành chính huyện Bảo Lạc tiếp tục có sự thay đổi Theo Sắc lệnh số 1, ngày 20-12-1946, huyện Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng Đến ngày 27-12-1975, Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa V ra nghị quyết hợp nhất tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng Đến ngày 29-12-1978, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa VI ra Nghị quyết chia tỉnh Cao Lạng thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, theo đó huyện Bảo Lạc là một trong 12 huyện và thị xã của tỉnh Cao Bằng

Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng vùng biên giới phía Bắc, ngày 25 tháng 9 năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định

số 52/2000/NĐ-CP, tách 10 xã của huyện Bảo Lạc để thành lập huyện Bảo Lâm Huyện Bảo Lâm có 90249 ha diện tích tự nhiên và 44333 nhân khẩu, gồm 10 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Đức Hạnh, Lý Bôn, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong, Nam Quang, Tân Việt, Quảng Lâm, Mông Ân, Thái

Trang 24

13

Học, Yên Thổ Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Bảo Lạc còn

91926 ha diện tích tự nhiên, 45796 nhân khẩu và 17 đơn vị hành chính trực thuộc

Bảng 1: Bảng thống kê các xã thuộc huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm năm 2007

1 Thị trấn Bảo Lạc 1 Thị trấn Pác Miầu

Nguồn: Phòng thống kê huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm

Có thể nói, miền Tây Cao Bằng là vùng đất có nhiều sự thay đổi về tên gọi Song chính sự thay đổi này phần nào cũng ảnh hưởng đến nhiều vấn đề, một mặt làm thay đổi diện mạo về mảnh đất nơi đây mặt khác sự thay đổi này cũng ảnh hưởng đến sự có mặt của các dân tộc trên địa bàn cùng với đó là những ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, xã hội văn hóa của các dân tộc đối với

sự phát triển của đất nước

1.3 Người Mông ở miền Tây Cao Bằng

Miền Tây Cao Bằng là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em như: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô… Theo số liệu mới nhất năm 2009, nơi đây hiện có 104.739 nhân khẩu được phân bố theo các dân tộc sau:

Trang 25

(gồm hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm)

-Nguồn gốc lịch sử của người Mông

Người Mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Mông – Dao

và được mọi người biết đến với các tên gọi như Mèo, Mán, Miêu, H’mông…

Từ những thế kỷ trước khi di cư đến Việt Nam, người Hán gọi người Mông là

“Mèo” Tộc danh Mèo theo âm Hán Việt là “Miêu” Đây là tên gọi một tộc người sớm biết nghề trồng lúa nước ở vùng hồ Bành Lãi và hồ Động Đình (Trung Quốc), lâu dần trở thành tên gọi chính thức Trong các tài liệu “ Bắc cương kỳ giới”, “Đại Nam nhất thống chí” cũng nhắc đến người Mèo với các tên gọi là “Miêu tộc” hay “Miêu dân” [37,tr.8] Lê Qúy Đôn cũng có nhắc đến dân tộc Mông với tên gọi “Sơn miêu”, “họ đều ở nơi đại sơn lâm, cày cấy thì đốt nương, đào hốc bỏ thóc, chỗ ở nay đây mai đó không nhất định, họ ở đâu cũng nộp quý và thuế cho dân bản xứ, giỏi nghề bắn tên nỏ" [11,tr.336] Hay như trong sách Đồng Khánh dư địa chí cũng có nhắc đến người Mèo, “ người Mèo ở đỉnh núi, áo quần đơn giản, không trang sức hoa văn” [36,tr.871] Như vậy tên gọi Mèo hay Miêu là những tên gọi còn H’mông hay Mông là tên tự gọi của người Mông, Mông có nghĩa là “người”

Trang 26

15

Theo truyền thuyết, tổ tiên của người Mông đã ở vùng hồ Bành Lãi và

hồ Động Đình ở Trung Quốc từ hàng nghìn năm trước công nguyên Trong suốt hàng chục thế kỷ, người Mông di cư theo hướng Tây- Tây Nam, tập trung đông nhất ở Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây

và Quý Châu (Trung Quốc) trước khi đến Việt Nam Từ Trung Quốc, người Mông đã di cư đến Việt Nam trong những thời gian và nhiều đợt khác nhau Nguyên nhân của các cuộc di cư của người Mông với mong muốn thoát khỏi tình trạng áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến, muốn thoát khỏi sự tàn sát sau những cuộc phản kháng, muốn có nơi sinh sống tốt hơn, tìm cuộc sống

tự do và công bằng

Lịch sử thiên di của người Mông vào Việt Nam gắn liền với quá trình

đi tìm nơi sinh sống ổn định Người Mông di cư vào Việt Nam chia thành nhiều đợt, trong đó có 3 đợt thiên di lớn đó là:

Đợt 1: Có khoảng 100 hộ, thuộc các họ Lù, Giàng từ Qúy Châu đến khu vực huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), thời gian này vào quãng cuối đời Minh, đầu đời Thanh của lịch sử Trung Quốc, tương đương với những năm có phong trào của người Miêu ở Qúy Châu chống lại chính sách

“cải tổ quy lưu” (bãi bỏ quan thổ ty người Mông, lập thổ ty người Hán để cai trị) và bị thất bại, cách ngày nay trên 300 năm

Đợt 2: Cách đây 300 năm, là giai đoạn người Mông di cư đến đông nhất Họ vào theo 2 đường chính: một đường tiếp tục tràn vào cao nguyên Đồng Văn rồi sang Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc Mê, Xí Mần, Hoàng Su Phì ( Hà Giang), một đường vào Si Ma Cai và huyện Bắc Hà (Lào Cai) Đợt di cư này

có liên quan đến sự thất bại cuộc đấu tranh của người Mông ở Qúy Châu chống lại vua Càn Long và Gia Khánh từ những năm 1796-1820

Đợt 3: Đây cũng là đợt người Mông di cư vào Việt Nam đông nhất, cách đây khoảng 200 năm Phần lớn họ từ Qúy Châu, có một số ở Quảng Tây

và Vân Nam sang, chủ yếu vào các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao

Trang 27

16

Bằng… và một số địa phương khác Thời gian của cuộc thiên di này tương đương với thời kỳ của phong trào “Thái Bình Thiên Quốc” trong đó có người Miêu tham gia chống lại nhà Mãn Thanh từ năm 1840-1868 [37,tr.11]

Về sau, người Mông tiếp tục di cư sang Việt Nam Trong những đợt di

cư kể trên, người Mông đến Cao Bằng cũng nằm trong 3 đợt thiên di lớn đó Tuy người Mông đến Cao Bằng nói chung và đến miền Tây Cao Bằng nói riêng chia làm nhiều đợt khác nhau nhưng họ định cư ở đây nhiều đời và coi đây là mảnh đất quê hương, nơi làm ăn sinh sống của mình, họ đã tìm thấy miền đất tuy còn hoang sơ song đã hứa hẹn cuộc sống bình yên cho cộng đồng

Ở Cao Bằng, thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng, người Mông có 1.500 người, trong kháng chiến chống Pháp có 13.950 người; năm 1957 có 11.511 người; năm 1974 có 24.611 người; năm 1986 có 38.432 người; theo điều tra dân số năm 1999 có 41.437 người, chiếm 8,4% dân số của tỉnh [16,tr.394]

Hiện nay, người Mông ở Cao Bằng cư trú tập trung ở một số huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông, Hòa An, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Thạch An… Trong đó, riêng huyện Bảo Lạc (Bảo Lạc+ Bảo Lâm) người Mông chiếm trên 30,54% dân số của huyện, riêng xã Tân Việt (Bảo Lâm) có 100% người Mông sinh sống [16,tr.395]

Lịch sử thiên di của người Mông cũng là lịch sử đấu tranh không ngừng chống phong kiến áp bức dân tộc Đến Việt Nam họ mong muốn có cuộc sống

ổn định và ấm no hơn Nhưng ở đây họ cũng không thoát khỏi ách áp bức bóc lột, nhất là từ lúc thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị Bởi vậy, nhiều cuộc đấu tranh của người Mông cùng các dân tộc anh em thiểu số đã nổ ra ở Cao Bằng: đầu 1904, đồng bào Mông Trắng ở Lam Điền và Đại Bản (Cao Bằng) do một thiếu nữ Mông tên là Vừ Pà Déng cầm đầu phối hợp với người Dao phát động phong trào kháng Pháp hay cuộc đấu tranh chống phu, thuế của đồng bào Mông (1936- 1938) Trong những năm 1940- 1944, phong trào cách mạng ở vùng Mông Cao Bằng đã phát triển rộng rãi, dân nhiều xã, nhiều

Trang 28

1.4 Khái quát về kinh tế văn hóa của người Mông

1.4.1 Về kinh tế

Người Mông thường cư trú trên địa bàn núi cao nên nguồn sống chính của đồng bào chủ yếu dựa vào nương rẫy Nương rẫy của đồng bào được chia làm 2 loại, nương du canh và nương định canh (còn gọi là nương thổ canh), ở những nơi đất tương đối bằng nhưng không có điều kiện biến thành ruộng bậc thang, đồng bào đã tạo thành nương thổ canh để có thể trồng trọt được lâu dài Cây lương thực chính của người Mông là cây ngô và lúa nương ngoài ra còn

có các cây lương thực khác như khoai, sắn, dong giềng, đậu tương…

Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng nên ở vùng người Mông còn trồng được nhiều cây dược liệu có giá trị như đỗ trọng, tam thất, huyền sâm… và những loại cây ăn quả như mận tím, đào, lê, táo… đặc biệt có cây trồng được người Mông rất chăm chút là cây lanh Theo quan niệm của người Mông, người chết phải có áo bằng vải lanh thì mới được về đoàn tụ với tổ tiên Cho nên, mỗi người thiếu nữ Mông từ 16-17 tuổi đến các cụ già 60 tuổi đều có những đám lanh riêng cho mình

Môi trường canh tác chủ yếu của người Mông là nương rẫy, do đó công

cụ để làm nương rẫy truyền thống của người Mông là dao, cuốc, búa… Đối với nương du canh đồng bào chủ yếu sử dụng con dao phát và chiếc cuốc bướm Từ việc chặt cây, phá rừng, làm nương đến bới hốc, tra hạt hay làm cỏ, vun đất họ đều sử dụng 2 thứ công cụ này Ngoài hai công cụ chính ấy đồng bào còn một số đồ phụ trợ khác gồm chiếc địu để đựng hay địu để vận chuyển, nhíp để hái lúa… đối với nương định canh cày và cuốc bướm là công

Trang 29

18

cụ chính của đồng bào Có thể thấy công cụ canh tác trên nương của người Mông không nhiều và khá đơn giản tất cả các công cụ đó đều do đồng bào tự chế tác nhằm đáp ứng cho việc sản xuất trong điều kiện môi trường sống của

họ rất khắc nghiệt

Chăn nuôi cũng là ngành kinh tế bổ trợ quan trọng trong hệ thống kinh

tế nông nghiệp của người Mông Các loại gia súc, gia cầm chính thường được mọi gia đình chăn nuôi gồm có trâu, bò, ngựa, lợn, gà…mục đích chủ yếu của kinh tế chăn nuôi là nhằm thỏa mãn nhu cầu về sức kéo, vận chuyển và cung cấp thực phẩm cho đời sống hàng ngày của người Mông

Trong đời sống thường nhật của người Mông, việc săn bắt, đánh cá, hái lượm cũng có một vị trí khá quan trọng Người Mông thường thu hái các loại thảo quả, hà thủ ô, củ ấu… trong rừng, đó là những thứ có giá trị hàng hóa cao để trao đổi Ngoài mục đích tìm kiếm thêm nguồn thực phẩm, người Mông đi săn còn nhằm mục đích bảo vệ mùa màng Họ thường săn cá loại thú như: lợn rừng, cầy, chồn, khỉ… Với các loại vũ khí dành cho việc săn bắt là súng kíp, lao, nỏ và các loại cạm bẫy

Bên cạnh đó, người Mông còn có các nghề thủ công truyền thống như: đan đồ nan, dệt vải, làm giấy bản, rèn đúc nông cụ, vũ khí… đa số các nghề này đều được người Mông làm vào lúc nông nhàn Các sản phẩn của thủ công nghiệp chủ yếu nhằm thỏa mãn những nhu cầu của sản xuất nông phẩm và phục vụ đời sống hàng ngày

Để có thể duy trì được cuộc sống trên vùng núi cao, người Mông đã sớm thích nghi với vùng sinh thái Ở đây, họ đã xác lập được cho mình một

hệ thống nông nghiệp hoàn chỉnh bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, khai thác các nguồn lợi từ rừng Song, nông nghiệp vẫn là sản xuất nhỏ, năng suất thấp,

tự cung tự cấp, dựa vào kinh nghiệm nên hiệu quả đem lại về kinh tế chưa cao, đời sống vật chất của đồng bào vẫn còn khó khăn Tuy đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn nhưng không vì đó mà đời sống tinh thần kém phần

Trang 30

Nhà ở: Hiện nay phần lớn người Mông đã bỏ lối sống du canh du cư

Dù ở trên rẻo cao hay hạ sơn, các ngôi nhà thuộc làng bản của người Mông thường quần tụ theo họ, định cư lâu đời thành vùng rõ rệt Do ý thức định cư nên nhà của người Mông được làm khá khang trang, phần lớn nhà của người Mông là nhà trệt làm trên nền đất, nhà nửa sàn nửa đất, nhà cột gỗ xung quanh rào bằng cây hoặc bưng ván, lợp bằng tấm lợp hoặc bằng lá… Mặc dù nhà được làm theo cách nào đi chăng nữa thì nhà của người Mông thường thống nhất 3 gian, 2 cửa, 1 cửa chính, 1 cửa phụ và phải có 2 cửa sổ trở lên Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái dùng để đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng nhà chủ, gian bên phải đặt bếp sưởi và giường khách Gian giữa rộng

Trang 31

20

hơn để đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình Hai gian trái đặt cối xay ngô, giã gạo…xung quanh nhà thường được xếp đá làm hàng rào che chắn Nhà của người Mông bây giờ cũng có sân gác để giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm Ngô, lúa khi mang từ nương về bao giờ cũng được cất lên gác, khói bếp sẽ làm khô và giữ cho lương thực, thực phẩm không bị sâu mọt

Trang phục: Nếu như cách thức làm nhà của người Mông tương đối thống nhất thì trang phục cổ truyền của họ lại muôn hình, muôn vẻ, nhất là trang phục của nữ giới Một bộ trang phục của nữ giới bao giờ cũng gồm: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng, tạp dề đằng trước và đằng sau, đồ trang sức

và hầu hết đều mặc vải lanh Chính chất liệu vải lanh đã tạo cho trang phục của người Mông mang những nét riêng so với các dân tộc khác về màu sắc và đường nét hoa văn Người Mông ở Cao Bằng chủ yếu thuộc 3 nhóm là Mông Trắng, Mông Hoa và Mông Đen Tuy nhiên, trang phục giữa các nhóm của người Mông cũng có sự khác biệt đôi chút

Đối với phụ nữ nhóm Mông Trắng: Váy màu trắng được làm từ lanh, tấm váy là miếng vải rộng che từ bụng xuống đến bắp chân xếp thành nếp đều đặn thành một cái cạp váy, hai đầu có dây buộc Bên ngoài có một cái thắt lưng được thêu thùa, đằng trước đeo một cái tạp dề trang trí hoa văn đơn giản

Áo ngắn bằng thắt lưng tay áo được trang trí bằng mấy khoanh vải hoa hài hòa, áo được xẻ ngực Tóc được quấn thành một búi giữa trán hoặc cạo tóc xung quanh và để chỏm lớn trên đỉnh đầu

Nhóm Mông Đen: Váy nhuộm chàm, trang phục áo của người Mông đen có chiếc áo lót mặc phía trong màu đen được trang trí đẹp, tay áo, khăn đội đầu và cả xà cạp quấn chân cũng được thêu thùa trang trí khá cầu kỳ, màu sắc hài hòa, khăn đồng màu chàm với váy áo

Nhóm Mông Hoa: Trang phục của phụ nữ Mông Hoa rực rỡ và tinh xảo Chỉ với bốn màu chủ đạo xanh, đỏ, trắng, vàng của chỉ tơ tằm mà họa tiết của trang phục đã tỏa ra muôn sắc màu, tạo cảm giác trầm ấm Váy màu chàm

Trang 32

21

có thêu hoa hoặc in hoa bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu, khăn đội đầu được dệt theo hình ô vùng đen trắng Họ thường để tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả

Ngược lại với trang phục của nữ giới, trang phục của nam giới khá đơn giản và tương đối thống nhất giữa các nhóm Mông Hầu hết họ đều mặc quần cắt theo kiểu chân què, ống và đũng quần rất rộng, thích hợp với sinh hoạt ở vùng núi cao Áo giữa các nhóm Mông cũng có sự khác nhau đôi chút, nếu như áo của đàn ông nhóm Mông Hoa đều xẻ tà và cài khuy bên sườn, nền áo màu đen không trang trí thì áo của đàn ông nhóm Mông Trắng và Mông Đen thường ngắn, phía trước chỉ đủ che một phần ngực, từ gấu áo xuống tới cạp quần vẫn để hở một khoảng bụng chừng 5-7cm và bó sát vào thân Vì vậy, bên trong họ thường mặc một chiếc áo lót màu trắng dài hơn áo ngoài và cho vào trong quần

Nhìn chung, trang phục của nam giới được đơn giản hóa còn trang phục của phụ nữ Mông vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc mình

Lễ hội của người Mông là một hoạt động văn hóa đặc sắc, vừa mang ý nghĩa mừng công lao động, cầu chúc sức khỏe, cầu sinh sôi nảy nở, vừa là sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của những thành viên thuộc các thế hệ khác nhau trong cộng đồng Trong các ngày lễ, tết người Mông tổ chức hội vui đánh yếm, ném còn, đu quay, đánh cù, chơi quay… Đây chính là dịp để thanh niên nam nữ trổ tài và cũng chính là nơi họ gặp gỡ, tâm sự và tìm hạnh phúc cho mình

Hôn nhân của người Mông theo chế độ 1 vợ 1 chồng, cũng giống như những dân tộc khác, hôn nhân của người Mông được tiến hành theo 3 giai đoạn chính: lễ dạm ngõ, ăn hỏi và lễ cưới Bên cạnh đó 1 đặc điểm đặc sắc trong tình yêu hôn nhân của người Mông là tục cướp vợ (còn gọi là kéo vợ) Đây có thể là 1 nét văn hóa trong hôn nhân, tục kéo vợ này chỉ diễn ra khi con gái đã đến tuổi trưởng thành và tự do tìm bạn đời Nhưng lại không được sự

Trang 33

22

đồng ý của hai bên gia đình, hình thức này diễn ra để chống lại quyền áp đặt của cha mẹ và dòng họ về hôn nhân Nhưng ngày nay tục kéo vợ đã chuyển sang một hướng tích cực hơn, các cuộc kéo vợ là do thỏa thuận trước của các chàng trai, cô gái Hành động kéo vợ giờ đây khẳng định cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng gia đình của trai gái Mông

Cùng với chiều dài lịch sử người Mông sớm có một nền văn học dân gian phong phú với nhiều thể loại như: truyền thuyết, thần thoại, truyện thơ, truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, các làn điệu dân ca, ca dao Các tác phẩm phản ánh một cách chân thực khả năng sáng tạo của quần chúng cũng như bày

tỏ nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội, văn hóa và con người trong một thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông

Bên cạnh nét đặc sắc trong văn học dân gian Mông phải kể đến những bài dân ca Dân ca chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của người Mông, đó là những bài hát mang nội dung trữ tình, biểu lộ tình cảm, tâm tư nguyện vọng của đồng bào Mông trong những dịp cưới xin, hội

hè, hát giao duyên tỏ tình, ma chay… ẩn chứa trong đó biết bao niềm vui, nỗi buồn những cung bậc tình cảm khác nhau

Sống ở vùng núi cao gần thiên nhiên các hình thức nghệ thuật của người Mông cũng mang những đặc trưng riêng Người Mông sở hữu rất nhiều nhạc cụ truyền thống độc đáo như khèn, sáo trúc, đàn môi, kèn lá… những nhạc cụ này tuy hết sức giản dị nhưng lại vút lên biết bao âm thanh lúc trữ tình, thiết tha lúc hùng tráng, sục sôi Những âm thanh đó đã làm say lòng biết bao trái tim của các chàng trai cô gái Tiêu biểu cho những nhạc cụ đó phải kể đến chiếc khèn trúc, những chàng trai Mông thường thể hiện tài năng của mình bằng những điệu múa khèn rất đặc sắc trong các dịp đám cưới, phiên chợ, ngày lễ tết… tiếng khèn đã gắn kết những tâm hồn hòa quyện con người với thiên nhiên làm thành một nét đặc sắc trong đời sống tinh thần đậm bản sắc văn hóa đồng bào Mông

Trang 34

23

Cũng như bao dân tộc khác, tục ngữ Mông là một kho tàng tri thức về kinh nghiệm sống của đồng bào trong lịch sử Nội dung của tục ngữ được thể hiện trên 3 bình diện chính phản ánh kinh nghiệm sản xuất, mối quan hệ xã hội và lối sống cùng những ứng xử của đồng bào

Đặc biệt trong văn hóa dân gian của người Mông là nghệ thuật tạo hình Nghệ thuật này được thể hiện ở trang phục, đồ trang sức, tranh cắt giấy… Nếu như cách thức làm nhà của người Mông tương đối thống nhất, nhà cửa không gọt đẽo cầu kỳ thì trang phục của họ lại muôn hình muôn vẻ được thể hiện trên những mảng thêu trên váy, áo, khăn, thắt lưng, xà cạp Người phụ nữ Mông thể hiện vẻ đẹp và tài năng của mình bằng chính những mô típ trang trí hoa văn, cả về bố cục lẫn màu sắc trên những bộ váy áo của mình Trang phục của người Mông luôn có sự kết hợp hài hòa giữa các gam màu cũng như cách

bố trí họa tiết hoa văn, điều đó phần nào phản ánh được lối sống của người Mông, bản lĩnh phóng khoáng ngoan cường trước thiên nhiên khắc nghiệt Ngoài ra đồ trang sức cũng được làm rất tinh xảo qua các đường nét chạm khắc mang yếu tố thẩm mỹ cao, đồng thời cũng là biểu tượng cho sự giàu sang ngăn chặn tà ma theo quan niệm dân gian

Có thể nói, đồng bào Mông có đời sống vật chất, tinh thần khá phong phú góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Điều kiện sống trên vùng núi cao, thiên nhiên khắc nghiệt đã hình thành nên con người nơi đây với tinh thần cần cù, chịu thương, chịu khó, vượt qua mọi thách thức trước những khó khăn của thiên nhiên để sinh tồn Chính điều kiện sống đó đã tạo nên một bề dày truyền thống của người Mông

Đời sống đồng bào Mông ở Bảo Lạc và Bảo Lâm Cao Bằng có được bước chuyển biến tích cực từ khi Đảng và Nhà nước phê duyệt chương trình 135/ 1998/QĐ-TTg , đây là chương trình phát triển kinh tế, xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, được chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm 2006 và giai đoạn 2 từ năm

Trang 35

24

2006 đến năm 2010 [31] Tiếp đến là chương trình 134/2004/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ được thực hiện từ năm 2004, nội dung chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo, đời sống khó khăn, nhằm mục đích đẩy nhanh tiến độ xóa nghèo cho các hộ dân tộc thiểu số [31]

Kết quả làm chuyển biến đáng kể tình hình kinh tế - xã hội ở các xã, thôn, bản được thụ hưởng, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc Tổng số vốn của chương trình 135 giai đoạn 2006-2010 đầu tư trên địa bàn huyện Bảo Lâm (Cao Bằng) là 95234,40 triệu đồng, số giải ngân đến 15/10/2010 được 88901,35 triệu đồng, đạt 93,35% kế hoạch [44,tr.3]

Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đươc lồng ghép một số chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khai hoang bảo vệ rừng, vay vốn Đến nay, có 100% xã, thôn, bản thuộc diện hỗ trợ được tiếp cận với giống cây trồng, vật nuôi mới, trên 50% hộ nghèo được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức khuyến nông, khuyến lâm, thú y đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn Đặc biệt là 19 Công trình đường giao thông, 6 cầu treo; 1 cầu cứng 2 nhịp, 20 mương, đập, 6 lớp học được xây dựng, 4 trạm

y tế, 2 công trình điện sinh hoạt xóm, 2 nhà sinh hoạt cộng đồng, 2 công trình nước sinh hoạt tập trung, xây mới, mở rộng mặt bằng 4 chợ, hàng năm các công trình triển khai xây dựng quy hoạch, phù hợp với lòng dân, đảm bảo chất lượng và hiệu quả Mở các Lớp khuyến nông, khuyến lâm: 32 lớp với

1594 người được đào tạo; Lớp tư pháp gồm 21 lớp, số lượt người được đào tạo: 995; Lớp thú y: 14 lớp, số lượt người được đào tạo là 420; Lớp chính sách dân tộc, tôn giáo: 12 lớp, với 527 lượt người được đào tạo

Đối với chính sách hỗ trợ, cải thiện dịch vụ, nâng cao đời sống nhân dân và trợ giúp pháp lý đã góp phần tăng tỷ lệ học sinh chuyên cần, công tác

Trang 36

Tại huyện Bảo Lâm tổng số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn thuộc diện được vay vốn phát triển sản xuất theo quyết định 32 và quyết định 126 là

423 hộ trong đó: Tổng số hộ đã được vay vốn là 261 hộ, tổng số hộ chưa được vay là 162 hộ, cụ thể như sau:

Trang 37

Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu

Trang 38

27

Các chương trình, dự án, các chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư

ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và vùng đồng bào Mông nói riêng

đã phát huy tốt hiệu quả dự án, đáp ứng nhu cầu về cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

Tiểu kết: Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt thông qua các chương trình xóa đói giảm nghèo 135, 134…đời sống đồng bào tuy đã có chuyển biến đáng kể về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục góp phần giữ vững an ninh quốc phòng vùng biên cương Tổ quốc Tuy nhiên, đời sống của đồng bào Mông còn nhiều khó khăn bất cập, do tính đặc thù cư trú vùng núi cao, vùng sâu vùng xa nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, hơn nữa do trình độ dân trí thấp, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất còn hạn chế Việc thay đổi tập quán canh tác còn chậm, một số vùng đồng bào vẫn tiếp tục di cư Song vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và đặc điểm lịch sử, huyện Bảo lạc và huyện Bảo Lâm là hai huyện nghèo của tỉnh Cao Bằng

Trang 39

Cũng như các dân tộc khác, người Mông rất coi trọng mối quan hệ gia đình Gia đình chính là cái nôi hình thành và phát triển văn hóa truyền thống, bởi vậy muốn tìm hiểu văn hóa Mông cần tìm hiểu về gia đình người Mông Người Mông thường gọi gia đình là Chế ninh hoặc “dỉ” đều có nghĩa chỉ tập hợp người cùng sống chung, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu dưới một mái nhà Lúc đầu, các gia đình người Mông sống quần tụ bên nhau dưới một mái nhà lớn trong đó có đến ba hoặc bốn thế hệ, ví dụ như gia đình của ông Thào A Giàng ở bản Chẻ Lỳ B, xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) đến nay vẫn còn duy trì hình thái gia đình gồm ba thế hệ chung sống Đây là tàn

dư của hình thức đại gia đình còn tồn tại ở người Mông, nhưng về sau để đảm bảo cho cuộc sống kinh tế dần dần những gia đình lớn này có xu thế chia tách

ra thành những gia đình nhỏ và trở nên phổ biến cho đến nay Hiện nay các hình thái gia đình phổ biến của người Mông ở miền Tây Cao Bằng thường gặp là:

Trang 40

29

Bảng 4: Các hình thái gia đình người Mông ở miền Tây Cao Bằng

năm 2009

1 Hai vợ chồng và con cái chưa lập gia đình 55,84%

2 Hai vợ chồng cùng các con cái và bố mẹ

chồng hoặc một trong hai người đó

Xã hội truyền thống của người Mông có cấu trúc khá thống nhất, đó là một xã hội mang tính chất phụ quyền rất rõ nét và các gia đình của người Mông ở Cao Bằng nói chung và ở miền Tây Cao Bằng nói riêng cũng nằm trong tính chất xã hội truyền thống đó, với việc đề cao vai trò, quyền lợi cũng như trách nhiệm của người đàn ông- người chủ gia đình Chủ gia đình luôn là người có quyền hạn tối cao trong mọi công việc của gia đình, kể cả đối nội cũng như đối ngoại, điều này được phản ánh ngay trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình dù đó là gia đình lớn hay gia đình nhỏ

Trong bối cảnh của nền kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình người Mông đều trở thành những đơn vị kinh tế độc lập, tài sản của gia đình bao gồm nhà ở, ruộng nương, các nông cụ, các loại gia súc, gia cầm, tiền bạc…đó

là những tài sản để đảm bảo duy trì cho cuộc sống hàng ngày của người

Ngày đăng: 21/11/2014, 02:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bảo Lạc (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lạc (1930-2005), Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lạc (1930-2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bảo Lạc
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 2010
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bảo Lâm (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lâm (1930-2005), Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lâm (1930-2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bảo Lâm
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 2010
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1990), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập 2, Nxb Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập 2
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng
Nhà XB: Nxb Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cao Bằng
Năm: 1990
4. Bộ văn hóa thông tin, Vụ văn hóa dân tộc (2005), bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông
Tác giả: Bộ văn hóa thông tin, Vụ văn hóa dân tộc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
5. Cục thống kê tỉnh Cao Bằng (2010), Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Cao Bằng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
6. Diệp Trung Bình (2005), Hoa văn trên vải dân tộc Mông, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn trên vải dân tộc Mông
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2005
7. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin và viện văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin và viện văn hóa
Năm: 2008
8. Phan Hữu Dật (1999), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
9. Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh (2004), các dân tộc ở Hà Giang, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các dân tộc ở Hà Giang
Tác giả: Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
10. Bế Viết Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11. Lê Quý Đôn (1977), Kiến văn tiểu lục, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
12. Mai Thanh Hải (1996), Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, Nxb Vă n Hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Vă n Hóa Thông Tin
Năm: 1996
13. Lãnh Thị Bích Hòa: "Phong tục tập quán trong đời sống xã hội tộc người Mông ở một số tỉnh miền núi phía bắc". Tạp chí tâm lý học số 9-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán trong đời sống xã hội tộc người Mông ở một số tỉnh miền núi phía bắc
14. Hà Phương Thiện: “Hết vua lại đến chúa xuất hiện ở Bảo Lạc”. Đại đoàn kết số 14- 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hết vua lại đến chúa xuất hiện ở Bảo Lạc”
15. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phân viện Hà Nội (2002), Văn hóa bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng tây bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng tây bắc Việt Nam
Tác giả: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phân viện Hà Nội
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
16. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Ninh Văn Hiệp – Tuấn Dũng – Hoàng Quyết – Trương Thị Xúng – Bùi Quang Ngọc (2012), Phong tục tập quán một số dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán một số dân tộc thiểu số
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Ninh Văn Hiệp – Tuấn Dũng – Hoàng Quyết – Trương Thị Xúng – Bùi Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Huế (2011), Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía bắc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
18. Vũ Thị Minh Hương, Nguyễn Văn Huyên, Phillipe Papin (1999), Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ, Nxb Văn hóa thông tin, Cục lưu trữ nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ
Tác giả: Vũ Thị Minh Hương, Nguyễn Văn Huyên, Phillipe Papin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
19. Nguyễn Chí Huyên (chủ biên), Hoàng Hoa Toàn – Lương Văn Bảo (2000), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía bắc Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Huyên (chủ biên), Hoàng Hoa Toàn – Lương Văn Bảo
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2000
20. Nguyễn Khôi (2006), Các dân tộc ở Việt Nam cách dùng họ và đặt tên, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở Việt Nam cách dùng họ và đặt tên
Tác giả: Nguyễn Khôi
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng thống kê các xã thuộc huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm năm 2007 - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 1 Bảng thống kê các xã thuộc huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm năm 2007 (Trang 24)
Bảng 2: Bảng thống kê các thành phần dân tộc ở miền Tây - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 2 Bảng thống kê các thành phần dân tộc ở miền Tây (Trang 25)
Bảng 3: Bảng tổng hợp hộ dân tộc thiểu số nghèo vay vốn theo quyết định 32/QĐ -TTg và quyết định 126/QQD -TTg - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 3 Bảng tổng hợp hộ dân tộc thiểu số nghèo vay vốn theo quyết định 32/QĐ -TTg và quyết định 126/QQD -TTg (Trang 37)
Bảng 4: Các hình thái gia đình người Mông ở miền Tây Cao Bằng - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 4 Các hình thái gia đình người Mông ở miền Tây Cao Bằng (Trang 40)
Bảng 5: Bảng thống kê các dòng họ của người Mông - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 5 Bảng thống kê các dòng họ của người Mông (Trang 45)
Bảng 6 : Số hộ gia đình, nhân khẩu và bản của người Mông ở - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 6 Số hộ gia đình, nhân khẩu và bản của người Mông ở (Trang 54)
Bảng 7: Bảng thống kê các dòng họ người Mông   ở xã Đức Hạnh- Bảo Lâm (Cao Bằng) - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 7 Bảng thống kê các dòng họ người Mông ở xã Đức Hạnh- Bảo Lâm (Cao Bằng) (Trang 59)
Bảng 8: Bảng so sánh quan niệm và nghi thức thờ cúng tổ tiên  của người Mông với các dân tộc khác ở huyện Bảo Lạc ( Cao Bằng) - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 8 Bảng so sánh quan niệm và nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Mông với các dân tộc khác ở huyện Bảo Lạc ( Cao Bằng) (Trang 77)
Bảng 9: Bảng khảo sát số liệu người Mông theo đạo Tin Lành - tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của người mông ở miền tây cao bằng từ năm 1945 đến năm 2012
Bảng 9 Bảng khảo sát số liệu người Mông theo đạo Tin Lành (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w