Trong đời sống cũng như trong khoa học, chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ kiến thức, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về kiến thức. Theo các nhà sinh lí học, kiến thức là một dạng nhất định của những mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng của những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận thức. Như vậy, kiến thức chỉ tồn tại “tạm thời”, nếu không thường xuyên “nhắc lại” kiến thức sẽ bị xóa mờ và bị thay thế bởi kiến thức khác trên các vỏ bán cầu đại não. Các nhà giáo dục học cho rằng : “kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những quy tắc, lí thuyết của từng môn học mà học sinh cần phải học tập, nắm vững. Kết quả học tập môn học được đánh giá bằng khả năng nhận thức của học sinh với số lượng và chất lượng của kiến thức đó”[ 64; 84-85]. Như vậy, kiến thức không chỉ là mục tiêu HS cần phải đạt được trong quá trình học tập mà còn là tiêu chí đánh giá kết quả học tập của HS thông qua hoạt động kiểm tra. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “kiến thức là những điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà có” [50; 635]. Như vậy, tùy vào cách tiếp cận mà mỗi ngành khoa học sẽ có quan niệm khác nhau về thuật ngữ kiến thức, nhưng điểm chung của các quan niệm trên là đều coi kiến thức là kết quả của quá trình nhận thức. Dù theo quan niệm nào thì mọi ngành khoa học đều không thể phủ nhận vai trò của kiến thức với cuộc sống con người, kiến thức chính là một loại công cụ giúp con người tác động, chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên và xã hội. Đồng thời, trong quá trình đó con người cũng không ngừng trau dồi, bổ sung làm phong phú vốn kiến thức của mình. Tóm lại, có thể hiểu kiến thức là những hiểu biết về tự nhiên, xã hội mà con người có được do tìm hiểu hoặc do được giáo dục. Kiến thức lịch sử Kiến thức lịch sử là sự phản ánh quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội diễn ra theo trình tự thời gian, thông qua tìm hiểu, học tập mà con người tích lũy được. Kiến thức lịch sử cũng như kiến thức nói chung có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống của con người. Nắm vững kiến thức lịch sử là tiền đề để hiểu hiện tại một cách đúng đắn và khoa học từ đó có sự định hướng chính xác cho sự phát triển trong tương lai. Kiến thức lịch sử nghiên cứu những con người, sự kiện có thật, vì vậy nó có tác dụng lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành thế giới quan khoa học. Qua đó, có thể khẳng định kiến thức lịch sử không chỉ là phương tiện để con người nhận thức tự nhiên và xã hội mà còn là công cụ để cải tạo nó, trình độ nhận thức của con người càng cao thì kiến thức lịch sử càng phong phú, đa dạng. Như vậy, kiến thức lịch sử là sự phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, là kết quả của việc nghiên cứu khoa học lịch sử được sử dụng vào nhận thức và hoạt động xã hội, giúp con người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát triển của lịch sử loài người. Kiến thức liên môn Kiến thức liên môn là những kiến thức giao thoa giữa các môn học, những kiến thức ở những môn học khác nhau nhưng cùng đề cập đến một vấn đề. Do đó, trong bất kì môn học nào cũng có thể sử dụng KTLM vì mọi mặt của đời sống đều có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Sử dụng KTLM trong dạy học có ba mức độ: ở mức độ thấp, GV nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi HS nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi HS phải độc lập giải quyết các bài tập nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết. Như vậy, mức độ sử dụng KTLM càng cao thì nó càng gần với khái niệm “tích hợp”. Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc liên môn cũng như vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học nói chung và trong DHLS nói riêng chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa “liên môn” và “tích hợp”. Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp ( inte’gration (tiếng Pháp), integration(tiếng Anh) trong việc xây dựng chương trình dạy học. Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, “ nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”[17;308]. Trong khoa học giáo dục, tích hợp thể hiện ở việc liên kết các môn học có mối quan hệ với nhau, ở từng mức độ cụ thể sẽ cho kết quả là việc ra đời những môn học mới hoặc chỉ dừng lại ở việc “liên môn”. Kiến thức liên môn trong DHLS Chức năng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp cho HS những tri thức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người. Vì vậy, kiến thức lịch sử có liên quan chặt chẽ đến kiến thức của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trong quá trình giảng dạy, GV lịch sử phải tìm ra những khái niệm, những nội dung từ những môn học khác có thể sử dụng làm nổi bật kiến thức lịch sử HS cần lĩnh hội. Có như vậy, HS nắm kiến thức lịch sử mới vững chắc và việc giáo dục tư tưởng thông qua môn học mới đạt hiệu quả cao. Đối với HS, KTLM giúp các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử. Điều này khắc phục tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của HS. Nắm được mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống giữa các tri thức lịch sử, giúp HS có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT TRINH
sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nớc cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam (1945 - 1954) trung học phổ thông - chơng trình chuẩn
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Thế Bình
Phản biện 1: ……… Phản biện 2: ………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại
Khoa Hóa học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
Vào lúc: giờ ngày tháng năm .
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trang 3- Thư viện của Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Giả thuyết khoa học 13
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
8 Đóng góp của luận văn 13
9 Cấu trúc của luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KTLM ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1.Một số quan niệm 15
1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT 22
1.1.3 Mối quan hệ kiến thức lịch sử và KTLM trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 28
1.1.4.Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 31
1.2 Cơ sở thực tiễn 37
1.2.1.Về phía GV 37
1.2.2.Về phía HS 41
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KTLM ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DHLS VIỆT NAM (1945-1954) LỚP 12 46
2.1.Vị trí, mục tiêu và nôi dung cơ bản của chương trình lịch sử Việt Nam (1945-1954) lớp 12 46
Trang 62.1.1 Vị trí 46
2.1.2.Mục tiêu 46
2.1.3.Nội dung kiến thức cơ bản 48
2.1.4 Xác định nội dung kiến thức lịch LSVN (1945 – 1954) cần sử dụng KTLM 49
2.2 Những yêu cầu khi sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS Việt Nam (1945 – 1954), lớp 12 THPT 53
2.3.Một số biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS Việt Nam( 1945 – 1954) 56
2.3.1.Sử dụng kiến thức địa lý trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 56
2.3.2.Sử dụng kiến thức văn học trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 64
2.3.3 Sử dụng kiến thức giáo dục công dân trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 74
2.3.4 Sử dụng âm nhạc trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 78
2.3.5 Sử dụng KTLM kết hợp với phương tiện kĩ thuật để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 81
2.4.Thực nghiệm sư phạm 85
2.4.1.Mục đích thực nghiệm 85
2.4.2.Nội dung thực nghiệm 85
2.4.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 86
2.4.4.Tiến hành thực nghiệm 86
2.4.5 Kết quả thực nghiệm 88
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn, đó không chỉ là nét văn hóatốt đẹp mà còn là vũ khí sắc bén giúp ta chiến thắng biết bao kẻ thù trong lịch sử Tronggiai đoạn hiện nay, khi chủ quyền đất nước đang bị đe dọa, kinh tế còn nhiều khó khăn, thìngọn lửa truyền thống yêu nước được truyền từ hàng ngàn năm lịch sử lại rừng rực cháytrong trái tim mỗi người Việt Nam, trong đó có thế hệ trẻ Lòng yêu nước của thế hệ trẻngày nay được thể hiện không chỉ bằng việc xếp bút nghiên lên đường giết giặc, mà cònbằng việc trang bị cho mình sức mạnh tri thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời là người luôn dành tình cảm yêu mến và quan tâmđến sự nghiệp “trồng người” Trong thư gửi cán bộ, cô giáo, công nhân viên, HS, sinh viên
nhân dịp bắt đầu năm học mới (16/10/1968), Bác viết: “Trên nền tảng giáo dục chính trị
và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đặt ra và trong một thời gian không xa đạt được những đỉnh cao của khoa học kĩ thuật”[10; 190-191] Lời dặn dò của
Người chính là mục tiêu của ngành giáo dục nói chung và của môn Lịch sử nói riêng Bộmôn Lịch sử ngoài việc trang bị cho HS những kiến thức lịch sử còn có sở trường và ưuthế trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho HS Bản thân những trang sử vàng chóilọi của dân tộc đã là những bài học sinh động đối với các em, nhiệm vụ của người GV làlàm cho những bài học ấy trở nên gần gũi, dễ hiểu, tạo được hứng thú học tập với HS.Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một bộ phận HS đang có tâm lí coi thường môn
Sử, coi nó là môn phụ, môn học thuộc Một trong những nguyên nhân khiến HS sợ họcLịch sử là do nhiều sự kiện, nhiều số liệu, khối lượng kiến thức lớn mà thời lượng ít dẫnđến tình trạng HS bị quá tải, GV phải dạy một cách nhồi nhét Vì vậy, giảm tải chươngtrình trở thành giải pháp tình thế, tuy nhiên đây không phải biện pháp ưu việt vì khi cắtgiảm nội dung sẽ không đảm bảo tính hệ thống, liên tục của lịch sử
Để khắc phục tình trạng này, một giải pháp hiệu quả chính là sử dụng KTLM trongDHLS Sử dụng nguyên tắc này tránh được sự trùng lặp dễ gây nhàm chán, đồng thời giúpcác em vận dụng được kiến thức của các môn học khác nhằm tiếp thu kiến thức lịch sử vàtạo hứng thú trong học tập
Trang 8Hơn nữa, việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và việc giáo dục truyền thốngyêu nước nói riêng không chỉ là nhiệm vụ của môn Lịch sử, mà đòi hỏi sự kết hợp của tất
cả các môn học trong chương trình Ví như môn Địa lý cung cấp những kiến thức về điềukiện tự nhiên, về cương vực lãnh thổ… từ đó HS có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ lãnhthổ Tổ quốc, có động lực phát triển kinh tế làm cho nước ta ngày càng giầu đẹp Môn Ngữvăn làm cho các em hiểu những giá trị tinh thần, nét đẹp văn hóa dân tộc, có tác dụng lớntrong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, bồi dưỡng lòng yêu nước Môn Giáo dục côngdân bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, tintưởng vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn… Điều này được Đảng nhấn mạnh
trong văn kiện Đại hội lần thứ VIII: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Coi trọng hơn nữa các môn về khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, Lịch sử dân tộc, Địa lý, Văn hóa Việt Nam”.[41;30]
Xuất phát từ sự cần thiết phải giáo dục truyền thống yêu nước cho HS, và tính tất yếu
của việc sử dụng KTLM trong DHLS chúng tôi lựa chọn vấn đề “Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chương trình chuẩn” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sử dụng KTLM và giáo dục truyền thống yêu nước cho HS thông qua DHLSkhông phải là vấn đề mới Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm, luận văn,luận án đề cập về vấn đề này Trong quá trình tìm tòi nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận đượcmột số nguồn tài liệu như sau:
2.1 Tài liệu nước ngoài
Nhà giáo dục học T.A.ILina trong quyển “Giáo dục học” (NXB Giáo dục Hà Nội,
1973) khẳng định: “Ngày nay không có một khoa học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng ngày và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau”
[37;245] Tác giả đã nêu lên tính phổ biến cũng như sự cần thiết của việc kết hợp kiến thứccủa những ngành khoa học khác nhau phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy một ngành khoahọc cụ thể
Trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”(NXB Giáo dục, 1976), các tác giả
M.Alêcxêep, Ônhisuc đã nêu lên vai trò của nguyên tắc liên môn là “bồi dưỡng cho học
Trang 9sinh các thủ thuật và phương pháp tư duy logic sẽ góp phần thực hiện một trong nhưng yêu cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác lập các mối liên hệ chặt chẽ giữa các
bộ môn” [1; 100] Như vậy, mục tiêu quan trọng của mọi thủ thuật, phương pháp tư duy
logic đều nhằm làm nổi bật mối quan hệ giữa các môn học, điều này có ý nghĩa cả về kiếnthức và rèn luyện kĩ năng cho HS
I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thếnào?” (NXB Giáo dục, 1979) đã nêu rõ tác dụng, ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức các
môn học: “Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn đề mà các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc một môn học nào đó cũng gây cho học sinh niềm hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới”[25;102].
Những kiến thức mới, phong phú thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau vừa làm sáng tỏnội dung mà HS đang học, vừa tạo hứng thú cho các em trong học tập
Nhà giáo dục học N.U.Savin nêu rõ: “Nền học vấn phổ thông phản ánh đầy đủ và chính xác nhất tri thức khoa học và thực tiễn của nhân loại và nó thực sự là toàn diện Ở
đó đã kết hợp một cách hữu cơ các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy con người đã đạt được sự hài hòa giữa học vấn về nhân văn và về tự nhiên ”(Giáo dục học – NXB Giáo
dục 1983) [52;87] Bản thân chương trình học tập phổ thông đã có sự kết hợp hài hòanhững tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Nhiệm vụ của người GV là khai thác và sửdụng nguồn tri thức ấy cho hiệu quả
N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” (NXB Giáo Dục 1973),
đã viết “để có một giờ học tốt, người giáo viên phải kết hợp được nhiều khâu khác nhau quan trọng nhất là tham khảo các tài liệu để làm cho nội dung bài giảng phong phú, chính xác…”[16;23] Tác giả nêu rõ tầm quan trọng của việc tham khảo nhiều nguồn tài liệu,
nhiều nguồn tri thức làm cho bài giảng sinh động và hấp dẫn Cũng trong tác phẩm này, tác
giả khẳng định “Giáo dục chứ không phải học thuộc lòng… cần phải hiểu cho đúng vai trò của phần tài liệu dự định để giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ” [16; 30].
Khi trình bày về sự phát triển của khoa học lịch sử N.A Erôphêep đã đề cập đến rấtnhiều vấn đề về lịch sử xã hội, về văn hóa, tư tưởng, triết học, về nhiều lĩnh vực chuyênmôn của khoa học lân cận, “họ hàng” với khoa học lịch sử Trong cuốn “Lịch sử là
gì”(NXB Giáo dục 1981) ông khẳng định: “Không có một bộ môn khoa học nào có thể phát triển một cách đơn độc”[21;147] Tác giả nêu rõ mối quan hệ giữa lịch sử với các
khoa học nghiên cứu xã hội khác nhau, như xã hội học, dân tộc học, tâm lí xã hội…rất chặt
Trang 10chẽ “Sở dĩ các ngành khoa học này xích gần nhau vì chúng cùng nghiên cứu một đối tượng như nhau” [21;147].
Nhà giáo dục học Shore B.M khi nói về công tác giảng dạy những học sinh giỏi đã đề
xuất: “Hỗ trợ học sinh tiếp cận các tài liệu cần thiết, chẳng hạn các em tiếp xúc với các lớp
và các tài liệu trình độ cao, hợp tác với những giáo viên khác và các chuyên gia trong các lĩnh vực, làm cầu nối học sinh với các chuyên gia đó”(Journal for the education of the Gifted
– 1996)[69; 138] Việc cho HS tiếp xúc với những nguồn kiến thức thuộc nhiều lĩnh vựcchính là cách bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng cho bộ phận học sinh giỏi
Theo Mitchell R.D tiêu chí để đánh giá một “giáo viên hiệu quả” là “khả năng để ứng dụng và kết hợp các kiến thức hoặc các kĩ năng khác nhau đối với một nhóm học sinh nhất định trong một bối cảnh nhất định”(The American School Broad – 1998)[66, 27] Nuthall G trong “Elementary School journal”(1999) đã nêu: “các câu chuyện thì hết sức đa dạng về các thông tin bổ trợ và có mối liên hệ với trải nghiệm cá nhân, đồng thời được tích hợp và gắn kết với nhau bằng một cấu trúc quen thuộc”[68; 337] Theo đó, sử
dụng các thông tin bổ trợ cũng là một biện pháp truyền đạt kiến thức mới
Bàn về những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả, Molnar A, Smith P cho
rằng: “Người giáo viên hiệu quả tận dụng sự liên quan lẫn nhau giữa các môn học trong
cả khung chương trình và sự sáp nhập nhiều môn học khác vào thực hành giảng dạy”[67;
165](Education Evaluation and Policy Analysis – 1999) Cũng nói về vấn đề này, James H.Stronge trong cuốn “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” (NXB Giáo dục
2011), do Lê Văn Canh dịch đã nhận định: “Giảng dạy là nơi gặp gỡ của nhiều ngành học phức hợp và liên quan đến việc tương tác với nhiều học sinh đa dạng và phức hợp”[53;
93]
Trong cuốn “Nghệ thuật và khoa học dạy học”( NXB Giáo dục 2011) của tác giả
Robert J Marzano do GS TS Nguyễn Hữu Châu dịch, đã khẳng định “Trong thực tế, không có một chiến thuật dạy học riêng lẻ nào đáp ứng được yêu cầu của việc xử lí tích cực kiến thức trong quá trình trải nghiệm với kiến thức trọng tâm mới” [38; 47] Trong một tác phẩm khác cộng tác với J Pickering và E Pollock, J Marzano đã đề xuất “trong một đơn vị bài học, giáo viên có thể đưa ra nhiều chi tiết cho học sinh học trong đó có liên quan đến sự kiện, tiến trình, cảnh huống…”[39; 164](Các phương pháp dạy học hiệu quả -
NXB Giáo dục 2011) Theo những nhận định nêu trên, việc sử dụng nhiều nguồn kiếnthức, kết hợp nhiều phương pháp là cách thức đưa dạy học trở thành một nghệ thuật
Trang 11Các tác phẩm kể trên đã đề cập đến một số khía cạnh của việc sử dụng KTLM nhưvai trò, ý nghĩa, tác dụng của KTLM trong một số trường hợp Một số ý kiến cho rằng việcvận dụng sáng tạo nhiều nguồn kiến thức khác nhau trong bài giảng chính là tiêu chí đánhgiá một người GV giỏi.
2.2 Tài liệu trong nước
- Tài liệu tâm lí học và giáo dục học
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”( NXB Giáo dục 1987)nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng
kiến thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau”.[42;123] Như vậy, khi GV sử dụng KTLM trong
dạy học, phân tích để HS thấy được mối liên hệ giữa các môn học chính là đang thựchiện nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng tư duy biện chứng và rèn luyện khả năng phân tíchcho HS
Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật” (NXB
Đại học Quốc gia, Hà Nội 2002), cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng”.[24;15] Tác giả đã
đề cập đến một khả năng khác của vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học Một chuyênngành nghiên cứu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về những mối liên hệ qua lại giữa các ngànhkhoa học sẽ là đóng góp lớn cho giáo dục học hiện nay
Tác giả Đoàn Huy Oánh trong tác phẩm “Tâm lý sư phạm” ( NXB Đại học Quốc Gia
Tp Hồ Chí Minh, 2005) đã nêu “Bên cạnh chương trình Giáo dục công dân riêng biệt, các môn học về văn học, lịch sử cũng là những bài học quý giá giảng dạy về luân lí, đạo đức, nhân cách” [ 49; 247] Cũng trong tác phẩm này, tác giả khẳng định “ngày này, các nhà tâm lý giáo dục nhận định rằng, giáo viên cần có khả năng hiểu biết nhiều phương diện kiến thức”[49; 248] Như vậy theo đánh giá của một nhà tâm lí học, KTLM có vai trò lớn
trong giáo dục HS Đồng thời, để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, GV phải am hiểu nhiều lĩnhvực để ứng dụng vào bài giảng, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn HS
Giáo trình “Giáo dục học” – Trần Thị Tuyết Oanh ( Tập 1 NXB Đại học Sư phạm,2006), đã nêu: Một trong số những phẩm chất nhân cách con người Việt Nam cần giữ gìn
và phát huy là lòng yêu nước Theo tác giả tình cảm này có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ
Trang 12trong tâm thức của mỗi người Việt Nam Lòng yêu nước trở thành một trong những tiêuchí đánh giá phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam.
- Giáo trình lịch sử
Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị (NXBGiáo dục 1992), đã dành hẳn một phần để nói về chức năng giáo dục của bộ môn Lịch sử ởtrường phổ thông trong đó có giáo dục truyền thống yêu nước Giáo trình “Phương phápdạy học lịch sử” tập 1 GS Phan Ngọc Liên (chủ biên), PGS Trịnh Đình Tùng, GS
Nguyễn Thị Côi (NXB Đại Học Sư Phạm 2009) đã nêu: “Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có khả năng giáo dục học sinh truyền thống tốt đẹp về lòng yêu nước… phải nắm vững kiến thức lịch sử và truyền thống đấu tranh kiên cường của ông cha để từ đó xác nhận rõ trách nhiệm của mình với cuộc sống hiện tại …”[34;212] Ngoài ra, các tác giả còn
phân tích những biểu hiện của lòng yêu nước qua những nét chung và những nét riêng củatừng thời kì Các cuốn giáo trình qua mỗi thời kì đều có sự bổ sung, đổi mới nhưng luônkhẳng định tầm quan trọng của vấn đề giáo dục truyền thống yêu nước Đây là cơ sở đểtiếp thu mọi nguồn tri thức mới
Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 do GS TS Phan Ngọc Liên (chủbiên), PGS.TS Trịnh Đình Tùng, GS.TS Nguyễn Thị Côi, (NXB Đại học sư phạm 2010) đã
trình bày một cách rất khái quát về nguyên tắc liên môn: “… việc nắm vững các sự kiện lịch sử liên quan chặt chẽ với việc hiểu biết tri thức về nhiều môn khoa học xã hội và nhân văn (văn học, giáo dục công dân, triết học, địa lý) và cả về khoa học tự nhiên…”.[35;259]
Bên cạnh đó giáo trình còn đề cập tới tư tưởng tích hợp và phân biệt giữa nguyên tắc liênmôn và nguyên tắc tích hợp
tự hào, tự tin, ý chí tự lực, tự cường của tuổi trẻ, thôi thúc họ vươn lên”[54; 26] Ngoài ra,
tác giả nêu những nội dung chủ yếu về truyền thống cần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ cũng nhưnhững hình thức, phương pháp giáo dục truyền thống cho các em
Trang 13GS Trần Văn Giàu trong cuốn “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”(NXB Khoa Học Xã Hội 1980) đã nêu lên những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp củadân tộc ta trong đó nhấn mạnh truyền thống yêu nước chống ngoại xâm qua các thời kì lịchsử.
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của hội giáodục lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội do GS Phan Ngọc Liên chủ biên có các bàiviết về việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh, sử dụng tài liệu văn kiện Đảng… đây cũng làmột khía cạnh của vấn đề sử dụng KTLM trong DHLS Ngoài ra, cũng trong tác phẩm này,các tác giả đã viết một chuyên đề về giáo dục HS qua DHLS Trong đó, nhiều bài viết củacác tác giả như Thái Văn Long, Trần Vĩnh Tường… đã khai thác những nội dung củatruyền thống yêu nước có thể giáo dục HS Theo đó, yêu nước là yêu CNXH, kính yêu lãnhtụ…
Tác phẩm “Hồ Chí Minh với sử học” của GS Phan Ngọc Liên cũng đã phân tíchhiệu quả to lớn của việc sử dụng các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh trong DHLS.Nói về vai trò của các loại tài liệu trong bài giảng lịch sử, tác giả Trần Viết Thụ trongcuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội,
2009) khẳng định: “Nguồn tài liệu mà giáo viên đưa vào bài giảng phong phú đa dạng không chỉ làm sâu sắc nội dung sách giáo khoa, mà còn mở rộng hiểu biết của học sinh về kiến thức văn hóa nói chung như khảo cổ học, triết học, văn học, nghệ thuật, địa lí…”[12;
111] Điều này chứng tỏ, nếu GV khai thác tốt nguồn KTLM không chỉ khắc sâu nội dunglịch sử mà còn bổ sung cho HS kiến thức về những lĩnh vực khác, các em thấy được mốiliên hệ giữa các nguồn kiến thức
Nội dung giáo dục truyền thống cũng được đề cập đến trong tác phẩm: “Giáo dụctruyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay” (NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2009)của tác giả Nghiêm Đình Vỳ, trong đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáodục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay
Trong cuốn “Phương pháp luận sử học” (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011), GSPhan Ngọc Liên đã phân tích những điểm chung và những điểm khác nhau giữa khoa họclịch sử và khoa học tự nhiên Trong đó, tác giả nêu lên điểm chung đó là đối tượng nghiêncứu đều là thực tại xã hội và những quy luật chung
- Các tạp chí khoa học chuyên ngành
Trang 14Bên cạnh các cuốn giáo trình và sách chuyên khảo, nhiều bài viết trên các tạp chícũng đề cập tới nội dung sử dụng KTLM và giáo dục truyền thống yêu nước NguyễnQuang Vinh có bài “Dạy học các môn học theo quan điểm liên môn( tạp chí Nghiên cứuGiáo dục số 10/1986) Bài “Mấy biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục qua một bài họclịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 -1988) Bài “Giáodục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ qua bộ môn lịch sử” của GS Phan Ngọc Liên,PGS Trịnh Đình Tùng, GS Nguyễn Thị Côi (tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 – 1992).Trần Văn Cường - “Vận dụng nguyên tắc liên môn trong DHLS ở trường THPT”(tạp chíNghiên cứu Giáo dục số 7/1997) Trong bài “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy họccác vấn đề văn hóa trong SGK Lịch Sử” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” số 12 – 1997),tác giả Trần Viết Thụ đã đi sâu nghiên cứu việc vận dụng kiến thức các môn học khác vàodạy các nội dung văn hóa của môn lịch sử, Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên môn
- một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của HS” (trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
số 4/1999)…
Ngoài ra, vấn đề trên cũng được một số luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp củasinh viên đề cập tới như: Luận văn “Giáo dục lòng yêu quê hương cho HS phổ thông trunghọc qua DHLS địa phương ( tỉnh Nghĩa Bình)” của tác giả Trần Quốc Tuấn bảo vệ năm
1986 (trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội ), trong đó tác giả nêu những đặc trưng của lòngyêu nước, yêu quê hương là mức độ thấp của lòng yêu nước Cùng quan điểm với tác giảTrần Quốc Tuấn có khóa luận của Võ Thị Hồng Nhi “Giáo dục lòng yêu quê hương đấtnước cho HS qua khai thác và sử dụng tư liệu lịch sử địa phương trong DHLS bài nội khóa
ở trường THPT Hà Tĩnh” (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – 2004) Trần Viết Thụ vớiluận án “Giảng dạy những nội dung văn hóa trong khóa trình lịch sử dân tộc ở trườngPTTH”, đề cập đến những phương pháp giảng dạy nội dung văn hóa, trong đó sử dụngKTLM là một biện pháp hiệu quả Khóa luận “ Giáo dục truyền thống yêu nước cho HSkhi dạy học phần LSVN từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XV ở lớp 10 THPT (chương trìnhchuẩn) (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – 2009), Luận văn của Nguyễn Thị Nhung “Sửdụng KTLM để gây hứng thú học tập LSVN từ năm 1930 đến năm 1945 ở trường THPT(chương trình chuẩn)”…
Những tài liệu kể trên đã khẳng định tính phổ biến của vấn đề sử dụng KTLM trongdạy học Các tác giả đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa của việc kết hợp kiến thức của nhiều ngànhkhoa học trong học tập một bộ môn nhất định Việc làm đó góp phần phát huy tính tích cực,
Trang 15chủ động của HS trong học tập Đồng thời, các tác phẩm khẳng định, vận dụng linh hoạtnhiều nguồn kiến thức là khả năng cần có ở một GV Những nguồn tài liệu trên nhấn mạnh
sự cần thiết của nhiệm vụ giáo dục nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước nói riêng,phản ánh một số khía cạnh của truyền thống yêu nước
Tuy nhiên, chưa có tác phẩm nào đề cập tới những biện pháp cụ thể để khai thác, sửdụng KTLM và sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước Kế thừa thành quả của cáccông trình trước đó, luận văn đi sâu nghiên cứu những biện pháp cụ thể để sử dụng KTLMnhằm giáo dục truyền thống yêu nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là: quá trình sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyềnthống yêu nước cho HS
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu các biện pháp sử dụng KTLM đểgiáo dục truyền thống yêu nước cho HS Chủ yếu nghiên cứu nội dung phần LSVN giaiđoạn 1945 – 1954 và tập trung khai thác các kiến thức: văn học, địa lý, giáo dục công dân,
âm nhạc để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
- Phạm vi điều tra thực tiễn chúng tôi tiến hành ở một số tỉnh phía Bắc, và tiến hànhthực nghiệm sư phạm một bài lịch sử nội khóa
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM trongDHLS, luận văn đề ra các biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nướccho HS
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM trong DHLS
+ Xác định nội dung cơ bản cần giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
+ Điều tra thực tiễn rút ra kết luận
+ Đề xuất các biện pháp vận dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước choHS
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp mà luận văn đã đề ra, từ đó rút
ra kết luận khoa học về việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
Trang 16tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phương pháp DHLS và truyềnthống yêu nước
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các tài liệu: Tâm lí học, Giáo dục học, các tài liệu giáo dục khác, tàiliệu lịch sử, phương pháp DHLS, chương trình SGK THPT và các tài liệu có liên quankhác
+ Điều tra cơ bản: tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu điều tra đối với GV và HS+ Thực nghiệm sư phạm bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápkết thúc (1953 – 1954) (tiết 1) Địa bàn thực nghiệm: trường THPT Tân Lạc – Tân lạc –Hòa Bình
+ Sử dụng phương pháp toán học thống kê trên cơ sở so sánh các giá trị thu đượcgiữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá hiệu quả của những biện pháp dạy học
mà đề tài đưa ra
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các biện pháp sử dụng KTLM theo đúng yêu cầu đề tài nêu ra thì sẽtạo hứng thú cho học sinh trong học tập lịch sử, nâng cao hiệu quả DHLS nói chung,nâng cao chất lượng giáo dục và cụ thể là giáo dục truyền thống yêu nước nói riêng
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú thêm lí luận về việc sử dụngKTLM trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp tác giả biết cách khai thác, vận dụngKTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS
8 Đóng góp của luận văn
- Khẳng định vị trí và vai trò của việc sử dụng KTLM trong DHLS và ý nghĩa của nókhi vận dụng để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
- Phản ánh được thực trạng giáo dục truyền thống yêu nước ở trường THPT hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để sử dụng KTLM nhằm giáo dục truyền thốngyêu nước cho HS trong DHLS LSVN giai đoạn 1945 – 1954 ở trường THPT, nhằm nângcao hiệu quả bài học lịch sử
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn cấu trúc thành hai
Trang 17Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyềnthống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho
HS trong DHLS Việt Nam (1945-1954) lớp 12
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
Trong đời sống cũng như trong khoa học, chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ
kiến thức, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về kiến thức.
Theo các nhà sinh lí học, kiến thức là một dạng nhất định của những mối liên hệ tạm
thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng của những kích thích bên ngoài vàhoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận thức Như vậy, kiến thức chỉ tồn tại “tạm thời”,nếu không thường xuyên “nhắc lại” kiến thức sẽ bị xóa mờ và bị thay thế bởi kiến thứckhác trên các vỏ bán cầu đại não
Các nhà giáo dục học cho rằng : “kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những quy tắc, lí thuyết của từng môn học mà học sinh cần phải học tập, nắm vững Kết quả học tập môn học được đánh giá bằng khả năng nhận thức của học sinh với số lượng
và chất lượng của kiến thức đó”[ 64; 84-85] Như vậy, kiến thức không chỉ là mục tiêu HS
cần phải đạt được trong quá trình học tập mà còn là tiêu chí đánh giá kết quả học tập của
HS thông qua hoạt động kiểm tra
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “kiến thức là những điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà có” [50; 635].
Như vậy, tùy vào cách tiếp cận mà mỗi ngành khoa học sẽ có quan niệm khác nhau
về thuật ngữ kiến thức, nhưng điểm chung của các quan niệm trên là đều coi kiến thức làkết quả của quá trình nhận thức Dù theo quan niệm nào thì mọi ngành khoa học đều khôngthể phủ nhận vai trò của kiến thức với cuộc sống con người, kiến thức chính là một loạicông cụ giúp con người tác động, chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên và xã hội Đồngthời, trong quá trình đó con người cũng không ngừng trau dồi, bổ sung làm phong phú vốn
Trang 19kiến thức của mình Tóm lại, có thể hiểu kiến thức là những hiểu biết về tự nhiên, xã hội
mà con người có được do tìm hiểu hoặc do được giáo dục
Kiến thức lịch sử
Kiến thức lịch sử là sự phản ánh quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự
nhiên và xã hội diễn ra theo trình tự thời gian, thông qua tìm hiểu, học tập mà con ngườitích lũy được Kiến thức lịch sử cũng như kiến thức nói chung có ý nghĩa rất lớn trongcuộc sống của con người Nắm vững kiến thức lịch sử là tiền đề để hiểu hiện tại một cáchđúng đắn và khoa học từ đó có sự định hướng chính xác cho sự phát triển trong tương lai.Kiến thức lịch sử nghiên cứu những con người, sự kiện có thật, vì vậy nó có tác dụng lớntrong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành thế giới quan khoa học Qua đó, cóthể khẳng định kiến thức lịch sử không chỉ là phương tiện để con người nhận thức tự nhiên
và xã hội mà còn là công cụ để cải tạo nó, trình độ nhận thức của con người càng cao thìkiến thức lịch sử càng phong phú, đa dạng
Như vậy, kiến thức lịch sử là sự phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, là kết quả củaviệc nghiên cứu khoa học lịch sử được sử dụng vào nhận thức và hoạt động xã hội, giúpcon người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát triển của lịch sử loài người
Kiến thức liên môn
Kiến thức liên môn là những kiến thức giao thoa giữa các môn học, những kiến thức
ở những môn học khác nhau nhưng cùng đề cập đến một vấn đề Do đó, trong bất kì mônhọc nào cũng có thể sử dụng KTLM vì mọi mặt của đời sống đều có mối quan hệ gắn bómật thiết với nhau Sử dụng KTLM trong dạy học có ba mức độ: ở mức độ thấp, GV nhắclại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi HS nhớ lại và vận dụngkiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi HS phải độc lập giải quyết cácbài tập nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết
Như vậy, mức độ sử dụng KTLM càng cao thì nó càng gần với khái niệm “tích hợp”
Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc liên môn cũng như vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học nóichung và trong DHLS nói riêng chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa “liên môn” và
“tích hợp”
Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp( inte’gration (tiếng Pháp), integration(tiếng Anh) trong việc xây dựng chương trình dạy
học Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, “ nó chỉ trạng thái liên kết các phần
tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”[17;308] Trong
Trang 20khoa học giáo dục, tích hợp thể hiện ở việc liên kết các môn học có mối quan hệ với nhau,
ở từng mức độ cụ thể sẽ cho kết quả là việc ra đời những môn học mới hoặc chỉ dừng lại ởviệc “liên môn”
Kiến thức liên môn trong DHLS
Chức năng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp cho HS những trithức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người Vì vậy, kiến thứclịch sử có liên quan chặt chẽ đến kiến thức của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội Trong quá trình giảng dạy, GV lịch sử phải tìm ra những khái niệm, những nộidung từ những môn học khác có thể sử dụng làm nổi bật kiến thức lịch sử HS cần lĩnh hội
Có như vậy, HS nắm kiến thức lịch sử mới vững chắc và việc giáo dục tư tưởng thông quamôn học mới đạt hiệu quả cao
Đối với HS, KTLM giúp các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục,thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử Điều này khắc phục tình trạng rời rạc, tảnmạn trong kiến thức của HS Nắm được mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệthống giữa các tri thức lịch sử, giúp HS có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất,quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử
Để sử dụng KTLM vào DHLS đạt hiệu quả cao, người GV lịch sử không chỉ nắmvững kiến thức lịch sử mà còn phải nắm vững nội dung, chương trình các môn học đượcgiảng dạy trong trường phổ thông có liên quan đến môn lịch sử, trước hết chính là nhữngmôn học “gần gũi” với lịch sử như: Văn học, Địa lí, Giáo dục công dân…Học sinh có vaitrò chủ động, tích cực trong việc học tập vì khi học lịch sử theo phương pháp này HS phảihuy động những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện Đồng thời, HS được
ôn tập, củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức cao hơn và biết vận dụng thông minh kiếnthức
Giáo dục truyền thống và truyền thống yêu nước trong DHLS
Giáo dục
Theo Từ điển Tiếng Việt, giáo dục là “hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [50; 395] Theo đó,
hoạt động giáo dục cần có hai chủ thể là người giáo dục và người được giáo dục, và hoạtđộng này nhằm xây dựng, hình thành nên những phẩm chất, năng lực như mục tiêu đã đề
Trang 21ra trước đó.
Bên cạnh khái niệm về hoạt động giáo dục nói chung, các nhà giáo dục học quan
niệm giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người Sở dĩ nói giáo dục là hiện tượng xãhội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới được nảy sinh, phát triển và tồntại lâu dài Lúc đầu giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, diễn ra theo lối quan sát,bắt chước ngay trong quá trình lao động (săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồng trọt…) Về saugiáo dục trở thành một hoạt động tự giác có tổ chức, có mục đích, nội dung và phươngpháp… của con người Xã hội loài người ngày càng biến đổi theo hướng đi lên, giáo dụccũng phát triển và trở thành một hoạt động được tổ chức chuyên biệt: có chương trình, kếhoạch, có nội dung, phương pháp khoa học
Như vậy, hoạt động giáo dục dù nhìn nhận dưới góc độ nào cũng cần có ít nhất haichủ thể là người dạy và người học và mục tiêu là trang bị cho người học những phẩm chất,năng lực cần thiết trên cơ sở những kinh nghiệm của các thế hệ loài người Hoạt động giáodục trong nhà trường là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục Nó diễn ra có quy mô, bàibản nhất định với mục tiêu không chỉ trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn bồidưỡng phẩm chất đạo đức cho HS
Truyền thống
Theo “Bách khoa từ điển Xô Viết” truyền thống là: những yếu tố di tồn
văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống thể hiện trong một chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống Truyền thống tác động đến mọi xã hội và tất
cả mọi lực lượng trong đời sống xã hội.[17; 1339] Có thể nói, truyền thống là
những di sản của quá khứ về các mặt của đời sống được kết tinh và lưu truyền qua các thế hệ, ăn sâu vào tiềm thức của con người và được thể hiện qua phong cách sống, qua các mối quan hệ xã hội.
“Từ điển Tiếng Việt” giải thích truyền thống là “những thói quen hình
thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”[50; 443].
Trang 22Theo GS Phan Ngọc Liên, trong “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”,
“truyền thống là những yếu tố về sinh hoạt văn hóa, tư tưởng, tình cảm một địa phương, một đơn vị nào đó, được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ trước sang thế hệ sau Truyền thống có phần tích cực, giúp vào sự tồn tại và phát triển, như truyền thống yêu nước, lao động (truyền thống tốt đẹp), cũng
có phần tiêu cực phải xóa bỏ Dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, những truyền thống yêu quý lao động, yêu nước và cách mạng được kế tục và phát huy cao độ”[33; 443] Có những truyền thống tốt đẹp mà mọi thế hệ cần kế
thừa, phát huy nhằm phục vụ cho những mục đích cao quý, cho sự tiến bộ của
xã hội như: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết, truyền thống cần
cù, yêu lao động…Bên cạnh đó những nét tiêu cực, những hủ tục do tàn dư của xã hội cũ để lại như: mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ…thì phải kiên quyết xóa bỏ.
Tóm lại, truyền thống là những thói quen, những phong tục, tập quán
được truyền từ đời này sang đời khác, bao gồm cả những giá trị tốt đẹp và những hủ tục lạc hậu cần bài trừ Nhiệm vụ của nhà trường nói chung và của môn Lịch sử nói riêng là phải làm cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị của những truyền thống tốt đẹp, gìn giữ, phát triển nó đồng thời nhận biết và bài trừ những truyền thống không còn phù hợp với thời đại ngày nay.
Truyền thống yêu nước
Quan niệm về truyền thống yêu nước ở mỗi thời kì tùy vào giai cấp lãnh
đạo, nhiệm vụ của thời đại sẽ mang những nội dung khác nhau Trong thời phong kiến, “ái quốc” phải gắn liền với “trung quân”, yêu nước là phải trung thành với nhà vua Trong thời đại ngày nay, yêu nước gắn liền với yêu CNXH, dốc sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Lòng yêu nước là tình cảm tự nhiên của con người, nó trước hết là tình cảm yêu thương đùm bọc giữa những người thân trong gia đình, rộng hơn nữa
Trang 23là tình làng nghĩa xóm tương trợ, đỡ đần nhau, phát triển cao hơn chính là tình yêu quê hương, yêu những cảnh đẹp dù đơn sơ, mộc mạc Khi nhà nước ra đời, tình yêu quê hương phát triển lên thành tình yêu nước mà biểu hiện của
nó là bảo vệ đất nước trước mọi kẻ thù.
Như vậy, lòng yêu nước không phải xuất hiện ngay từ khi con người xuất hiện mà nó được hình thành trong quá trình lao động, chiến đấu, bảo vệ đất nước Lòng yêu nước lớn dần theo dòng chảy của lịch sử, nó được truyền từ đời này sang đời khác và dần trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta Nếu như, truyền thống yêu nước được ra đời cùng với sự ra đời của nhà
nước thì thuật ngữ truyền thống cách mạng từ khi Đảng thành lập mới được
nói tới Trải qua hơn 80 năm lịch sử, truyền thống cách mạng của dân tộc ta cũng cực kì vẻ vang và đáng tự hào Truyền thống cách mạng là kết tinh cao
độ của truyền thống yêu nước Với lòng yêu nước, nhân dân ta có thể dũng cảm đối mặt với bất kì kẻ thù nào, khi có Đảng dẫn đường mọi con đường
dù gian nan tới đâu sẽ đi tới đích cuối cùng là thành công Những thắng lợi
mà dân tộc ta đã gặt hái được từ khi Đảng ra đời tới nay là minh chứng sống động nhất cho điều này Với tầm quan trọng như vậy nên việc giáo dục truyền thống nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ nói riêng là mục tiêu không thể thiếu trong dạy học ở trường phổ thông.
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS là quán triệtnguyên tắc liên môn trong dạy học, đồng thời thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở trường phổthông Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước là việc GV sử dụng kiến thứccủa những môn học khác nhau, có nội dung liên quan để làm nổi bật kiến thức lịch sử HScần lĩnh hội, thông qua đó giáo dục HS những khía cạnh của truyền thống yêu nước Điềunày không có nghĩa là vận dụng KTLM trong DHLS một cách chung chung, hay trong bàihọc lịch sử chỉ tập trung giáo dục truyền thống yêu nước một cách gượng ép, thiếu tựnhiên, cũng không phải là sa đà vào những KTLM mà quên mất mục tiêu của bài học Sửdụng KTLM phải có chọn lọc nhằm làm nổi bật nội dung lịch sử, thông qua đó giáo dục
Trang 24truyền thống yêu nước cho HS Đó là mục tiêu cần đạt đến khi sử dụng biện pháp này.
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS có ý nghĩa to lớn trongDHLS, tạo hứng thú cho HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng thựchành, đặc biệt bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, giáo dục truyền thống yêu nước cho HS đạthiệu quả cao
1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT
Mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển Hoàn cảnh ấyđem lại rất nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn Trên thế giới và trong khu vựchiện nay, tuy hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chính nhưng vẫn tồn tại nhữngtranh chấp, xung đột cục bộ về nhiều vấn đề Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ Tám của
BCH TƯ Đảng khóa XI đã xác định mục tiêu chung là “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”[18;3].
Đối với ngành giáo dục, mục tiêu cần phải đổi mới căn bản, toàn diện, giáo dục và đào
tạo Để đạt được mục tiêu này, Hội nghị đã chỉ đạo “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện,… yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước”[18; 9] Nắm
được tầm quan trọng của công tác giáo dục trong giai đoạn hiện nay, nên mục tiêu giáo dục đã
được pháp quy hóa trong văn bản Luật giáo dục năm 2005: “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH hình thành và bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11; 32] Như vậy, tất cả các văn bản xác định
mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn hiện nay đều chú trọng vào việc giáo dục conngười Việt Nam phát triển toàn diện, một trong những phẩm chất không thể thiếu đó là lòngyêu nước
Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường phổ thông thể hiện ở ba mặt cơ bản: kiến thức, kĩnăng, thái độ
Trang 25- Về kiến thức: Trên cơ sở củng cố những kiến thức lịch sử đã học ở THCS, từ đó pháttriển những nội dung về LSVN, lịch sử thế giới, hợp thành một hệ thống kiến thức về sự pháttriển của lịch sử từ nguyên thủy cho đến nay.
- Về kĩ năng: Cần bồi dưỡng cho HS những kĩ năng: Tư duy biện chứng trong nhậnthức và hành động Ngoài ra cần bồi dưỡng những kĩ năng thực hành bộ môn như: sử dụngSGK, các loại tài liệu tham khảo, làm và sử dụng đồ dùng trực quan, nâng cao năng lựctrình bày bao gồm cả nói và viết, ứng dụng công nghệ thông tin vào học tập, tham gia hoặc
tổ chức được các hoạt động ngoại khóa Đặc biệt bộ môn Lịch sử cần rèn luyện cho HSkhả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống
- Về thái độ: Giáo dục cho HS lòng yêu nước, yêu XHCN Phẩm chất này không chỉđược thể hiện trong đấu tranh chống ngoại xâm mà còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng
và bảo vệ đất nước trong thời bình Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc
tế vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại Ngoài ra, cần củng cố cho HS niềm tin vào sự pháttriển hợp quy luật của xã hội loài người và của dân tộc, từ đó bồi dưỡng cho các em niềmtin vào con đường mà Đảng và Bác đã chọn
Để đạt được mục tiêu trên, cần nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đầu tư mọi mặt chogiáo dục và đổi mới phương pháp DHLS Việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thốngyêu nước cho HS trong DHLS góp phần thực hiện tốt mục tiêu đề ra
Đặc trưng của bộ môn Lịch sử
Tính quá khứ: Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc
con người và xã hội hình thành tới nay Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát đượclịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu đượclưu lại Vì vậy, DHLS có những khó khăn nhất định HS không thể trực tiếp quan sát sự kiệnlịch sử, mà chỉ có thể tri giác các tài liệu lịch sử, thông qua các đồ dùng trực quan để hiểu biết
về các sự kiện lịch sử Tuy nhiên, đặc trưng này của bộ môn cũng tạo điều kiện để GV rènluyện cho HS khả năng tưởng tượng, tái tạo lịch sử trong học tập
Tính không lặp lại: Sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không
gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong thời gian và không gian nhất định.Điều này đòi hỏi các GV khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó phải khắc sâu nhữngđặc điểm của sự kiện, hiện tượng để HS không bị nhầm lẫn giữa sự kiện này với sự kiệnkhác
Trang 26Tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình phát triển cụ thể của các
nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diệnmạo riêng do những điều kiện riêng chi phối Đặc điểm này quy định việc trình bày các sựkiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể, sinh động bao nhiêu càng hấp dẫn bấy nhiêu
Tính hệ thống(tính logic lịch sử): Khoa học lịch sử bao gồm các sự kiện, hiện tượng
về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, các lĩnh vực của đời sống Những nội dung này khibiên soạn SGK mặc dù đã giản lược nhưng những mối liên hệ ngang dọc, chằng chịt giữacác sự kiện vẫn được thể hiện Điều này đòi hỏi GV khi giảng dạy phải chú ý cung cấp cho
HS một cách logic nhất, dễ hiểu nhất không chỉ các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà cònnhững mối quan hệ giữa các sự kiện hiện tượng đó
Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: Lịch sử là một ngành khoa học nghiên cứu
về quá khứ, những cái đã qua và không lặp lại Để cho người đời sau có những hiểu biếtnhất định thì các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã được ghi chép lại Trước khi chủ nghĩa Mác
ra đời, các sử gia đều chép sử dựa trên lập trường của giai cấp thống trị, chỉ khi chủ nghĩaMác ra đời, khoa học lịch sử mới trở thành một khoa học chân chính
Vì vậy, việc nghiên cứu, DHLS cần dựa vững chắc vào những nguyên lí của chủnghĩa Mác, có như vậy những nhận định, kết luận rút ra mới đảm bảo tính khoa học, vậndụng có hiệu quả vào cuộc sống Tính giai cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học củalịch sử hoàn toàn đồng nhất, giữa “sử” và “luận” có sự thống nhất cao độ
Quan hệ biện chứng giữa các đặc điểm của tri thức lịch sử: Giữa các đặc điểm trên
của tri thức lịch sử có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau Chỉ có dựa trên nguyên lícủa chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng những phương pháp nghiên cứu lịch sử đúng đắn
để nghiên cứu tài liệu lịch sử mới có thể đưa ra những kết luận khoa học, hoàn chỉnh vềmột giai đoạn phát triển nào đó của xã hội loài người, hoặc một quốc gia, dân tộc, một lĩnhvực nào đó của cuộc sống Nắm vững mối liên hệ nội tại của các tri thức lịch sử kết hợpvới phương pháp nghiên cứu khoa học cũng khắc phục được những hạn chế do tính quákhứ đem lại, đồng thời tạo cho HS biểu tượng chân thực về sự kiện lịch sử đã xảy ra, qua
tư duy hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử
Đặc điểm tâm lí của HS THPT
Học sinh THPT ở vào độ tuổi từ 15 – 18 tuổi, các em đã có sự phát triển cả về thểchất và tâm lý, khác với lứa tuổi THCS Học sinh càng trưởng thành thì kinh nghiệm sốngcàng phong phú, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời,
Trang 27do đó thái độ ý thức đối với học tập ngày càng nâng lên Vì vậy, người GV phải khơi dậyhứng thú, khiến các em tự tin, say mê nghiên cứu, học tập.
Ở lứa tuổi này, HS dựa trên cơ sở hiểu biết của mình đã phân biệt được đúng sai tronghành động và suy nghĩ Trong học tập, các em đã có sự đánh giá đúng – sai, hấp dẫn – nhàmchán trong bài giảng của GV Do vậy, GV không chỉ cần có sự hiểu biết sâu sắc về bộ môncủa mình mà còn phải am hiểu những môn khoa học khác để làm cho bài giảng hấp dẫn vàthuyết phục hơn
Con đường hình thành tri thức lịch sử cho HS luôn bắt đầu bằng việc tri giác tài liệu,trên cơ sở đó tạo biểu tượng tương ứng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bàihọc Để hoạt động tri giác đem lại hiệu quả cao, GV cần hướng dẫn, định hướng mục tiêuquan sát cho HS GV có thể cho HS tiếp cận với nhiều loại tài liệu của các ngành khoa họckhác nhau nhưng có nội dung liên quan đến nội dung lịch sử đang nghiên cứu, sau đó đưa
ra mục đích nghiên cứu, điều này sẽ càng làm tăng hứng thú học tập của HS
Ở tuổi vị thành niên, các em hay so sánh bản thân với nhân vật được coi là tấmgương Vì vậy, nếu GV nêu những tấm gương các nhân vật lịch sử khơi dậy ở HS lòngngưỡng mộ sẽ có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành nhâncách các em
Ở lứa tuổi của HS THPT, các em tích cực tìm tòi, khám phá thế giới khoa học quanhmình đồng thời cũng có sự định hướng nhân cách thông qua việc noi theo những tấm gương
mà các em ngưỡng mộ GV cần khai thác những đặc điểm tâm lý này để có biện pháp sưphạm đạt hiệu quả giáo dục cao
Đặc điểm nhận thức của HS trong học tập lịch sử
Nhận thức lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức chung của HS, đi theo conđường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng quay lại thựctiễn Nhưng quá trình nhận thức lịch sử có những đặc điểm riêng không giống quá trìnhnhận thức khác Trong quá trình trực quan sinh động, HS không thể trực tiếp quan sát sựkiện lịch sử đã xảy ra mà hoạt động này chỉ được thực hiện gián tiếp thông qua tri giác tàiliệu Từ đó, các em tạo được những biểu tượng sinh động, chân thực như nó đã từng xảy ratrong quá khứ Biểu tượng được tạo ra chân thực, sinh động bao nhiêu thì việc HS nắmđược bản chất của sự kiện, nội hàm khái niệm và rút ra quy luật sẽ dễ dàng, thuận lợi bấynhiêu Giai đoạn cuối cùng, HS vận dụng tri thức về lịch sử, quá khứ vào cuộc sống hiệntại, hiểu được giá trị của những truyền thống tốt đẹp mà lịch sử đã gìn giữ và truyền lại
Trang 28cho các thế hệ sau như truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết… từ đó các em cónhững hành động đúng đắn trong hiện tại cũng như định hướng cho tương lai.
Nắm vững những đặc điểm nhận thức của HS trong học tập lịch sử, GV cần có sựsáng tạo trong việc vận dụng biện pháp sao cho phù hợp với từng đối tượng HS
Yêu cầu đổi mới phương pháp DHLS ở trường phổ thông
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn chế đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao Hiện nay, vấn đề giáo dục – đào tạo đang trở thành mốiquan tâm chăm lo của toàn xã hội Tuy vậy, giáo dục – đào tạo của nước ta vẫn còn nhiều
hạn chế “Chương trình giáo dục và đào tạo còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học,… Hệ thống giáo dục thiếu tính liên thông giữa các trình độ, giữa các phương thức giáo dục, đào tạo”[18; 7-8] Nguyên nhân
chính của tình trạng này là phương pháp giáo dục – đào tạo còn chậm đổi mới, chưa pháthuy được tính chủ động, sáng tạo của người học Những năm gần đây, toàn ngành giáo dục– đào tạo đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy
HS làm trung tâm, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực Mục tiêu là phát triển toàn diệnnăng lực và phẩm chất người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc,phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Ở cấp THPT, đang tiến hành nghiên cứu
và thử nghiệm một số chủ đề tích hợp Sử dụng KTLM là mức độ thấp của tích hợp Việc
sử dụng KTLM trong DHLS không chỉ đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương phápdạy học, phát huy tính tích cức của HS, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào học tậpcũng như vào cuộc sống, mà còn nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục của bài học lịch sử
1.1.3 Mối quan hệ kiến thức lịch sử và KTLM trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
Đặc trưng của bộ môn Lịch sử là HS không thể trực tiếp quan sát được các sự kiệnlịch sử mà phải thông qua tri giác tài liệu để nhận thức các sự kiện lịch sử Nguồn tài liệu
sử dụng trong DHLS không chỉ là tài liệu của bộ môn Lịch sử mà còn cần sử dụng kiếnthức của những môn khoa học khác Điều này làm cho nhận thức của HS về lịch sử toàndiện hơn, thuyết phục hơn, giúp các em ghi nhớ sâu sắc hơn
Lịch sử có mối quan hệ khăng khít với những môn học trong chuyên ngành khoa học
xã hội như: Địa lý, Văn học, Giáo dục công dân…vì xét ở một góc độ nào đó chúng cócùng đối tượng nghiên cứu đó là con người và các mối quan hệ của con người trong xã hội
- Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử với kiến thức Địa lý
Trang 29Mỗi sự kiện lịch sử đều gắn liền với một địa điểm, không gian nhất định Nhiều sựkiện lịch sử xảy ra do sự chi phối trực tiếp bởi điều kiện địa lý hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới
điều kiện địa lý Do vậy, kiến thức Địa lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong DHLS “Bài học lịch sử gắn với bản đồ và kiến thức địa lý luôn tạo ra sự hấp dẫn, giúp HS nắm chắc
sự kiện, biết lí giải bản chất sự kiện qua sự chi phối của yếu tố địa lý”[55;30] Nếu không
gắn lịch sử với những kiến thức địa lí, bản đồ, lược đồ…, để cụ thể hóa địa điểm xảy ra sựkiện lịch sử thì những sự kiện đó sẽ trở nên trừu tượng, mơ hồ khó hiểu
Lịch sử và địa lý có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời Kiến thứcđịa lí không chỉ giúp HS khắc sâu nội dung lịch sử, hiểu bản chất của sự kiện mà còn giúp
HS ghi nhớ, trình bày được diễn biến của sự kiện lịch sử
Ví dụ: Khi dạy học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền(Lịch sử lớp 10),
GV sử dụng kiến thức về địa hình, quy luật thủy triều lên xuống của sông Bạch Đằng giải thích
vì sao Ngô Quyền chọn khu vực này để xây dựng trận địa cọc mai phục thủy binh của quânNam Hán Qua đó HS giải thích được nguyên nhân ta chọn sông Bạch Đằng làm điểm maiphục và tiêu diệt thủy quân địch Kiến thức địa lí giúp các em khắc sâu diễn biến trận đánh.Đồng thời, bồi dưỡng cho HS lòng phấn khởi tự hào trước thắng lợi của quân ta
- Mối quan hệ giữa kiến thức Văn học với Lịch sử
Khâu quan trọng nhất trong quá trình nhận thức lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử.Muốn tạo cho HS những biểu tượng sinh động, chân thực về sự kiện lịch sử, thì việc sửdụng các loại tài liệu là vô cùng quan trọng Trong các loại tài liệu, tài liệu văn học cónhững lợi thế nổi bật trong việc tái hiện bức tranh quá khứ Tài liệu văn học rất đa dạng,phong phú, có chức năng phản ánh cuộc sống, trình bày các đặc trưng của hiện tượng kinh tế,
xã hội, những quy luật của đời sống ở từng thời đại một cách sinh động, hấp dẫn Vì vậy, giữaVăn học và Sử học có mối quan hệ khăng khít Khoa học lịch sử dựa vào những nhân vật, sựkiện hiện tượng có thật để khôi phục lại bức tranh quá khứ chân thực, chính xác, khách quan,còn văn học dựa trên chất liệu là cuộc sống để xây dựng nhân vật, cốt truyện, mỗi tác phẩmđều mang dấu ấn của thời đại, mang “hơi thở” của lịch sử Việc sử dụng tài liệu văn học giúpcác em phân biệt nhân vật lịch sử với nhân vật văn học, giúp các em tìm ra sự thật lịch sử khiđọc các tác phẩm văn học Ngoài ra, sử dụng tài liệu văn học giúp HS củng cố và phát triểnkiến thức lịch sử, phát huy tính năng động, tích cực trong học tập
Trang 30Ví dụ: Khi dạy học bài 15: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dântộc (Từ thế kỉ II TCN đến thế kỉ X) –lịch sử lớp 10, khi dạy về nguyên nhân Âu Lạc bịTriệu Đà xâm lược, GV trích dẫn đoạn thơ trong bài “Tâm sự” của Tố Hữu:
“ Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.[47; 237]
Qua đó phân biệt sự thật là việc Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, mở đầu gần một nghìnnăm Bắc thuộc, yếu tố hư cấu là chuyện tình yêu của Mị Châu-Trọng Thủy, chuyện nỏthần
-Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử với Triết học, Giáo dục công dân
Triết học được coi là khoa học của mọi khoa học, đối tượng nghiên cứu của nó là conngười, thế giới quan, vị trí của con người trong thế giới Những vấn đề triết học nghiên cứumang tính quy luật, khái quát cao Quá trình phát sinh, phát triển của xã hội loài người tuântheo những quy luật mà triết học đã nêu ra, minh chứng, cụ thể hóa những quy luật ấy
Bộ môn giáo dục công dân ở trường phổ thông trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản
về quy luật của tự nhiên, xã hội Thông qua đó hình thành thế giới quan khoa học cho HS,đồng thời giáo dục tư tưởng, hình thành nhân cách cho các em DHLS là trang bị cho HSnhững hiểu biết về quá khứ, định hướng những nhận thức đúng đắn về đường lối, chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước, từ đó giáo dục HS niềm tin tưởng vào con đường CNXH mà chúng ta
Ngoài mối liên hệ với những môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, môn Lịch sửcũng có liên hệ với những khoa học khác như toán học, sinh học, khảo cổ học, dân tộc học,
âm nhạc, hội họa…Vì vậy, trong DHLS ở trường phổ thông, GV có thể sử dụng nguồn
Trang 31KTLM phong phú đa dạng của nhiều ngành khoa học Trong phạm vi có hạn của luận văn,chúng tôi chỉ trình bày mối liên hệ của kiến thức lịch sử với những bộ môn gần gũi với nónhất.
1.1.4.Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
- Vai trò
Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử nên việc sử dụng tài liệu nói chung và KTLM nóiriêng trong DHLS là không thể thiếu Các loại tài liệu là căn cứ khoa học, là bằng chứng chínhxác, khách quan thuyết phục HS tin tưởng vào sự thật lịch sử Lịch sử có mối quan hệ vớinhiều ngành khoa học bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Những kiến thức củacác ngành khoa học đó đều có liên quan và có thể sử dụng trong quá trình học tập và nghiêncứu lịch sử Nguồn kiến thức sử dụng càng phong phú đa dạng bao nhiêu thì bài giảng càngsinh động, lôi cuốn HS tích cực học tập bấy nhiêu Chỉ khi các em chủ động tích cực trong họctập thì việc lĩnh hội kiến thức mới trở nên dễ dàng và công tác giáo dục HS mới diễn ra tựnhiên, không khiên cưỡng Như vậy, việc sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyềnthống yêu nước cho HS có vai trò rất quan trọng, không chỉ làm cho HS tích cực, chủ độnglĩnh hội kiến thức mà còn làm cho nhiệm vụ giáo dục của bộ môn diễn ra một cách thuận lợi
- Ý nghĩa
Trong DHLS, việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS có ýnghĩa rất lớn cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ
Về kiến thức: Trong cuốn “Phương pháp DHLS” tập 1 (NXB Đại học Sư phạm Hà
Nội 2009), các tác giả đã khẳng định: “Đối với bộ môn Lịch sử mà chức năng là cung cấp những kiến thức cơ bản về quá khứ của xã hội loài người(và dân tộc), thì việc nắm vững các sự kiện lịch sử liên quan chặt chẽ với việc hiểu biết tri thức về các môn khoa học xã hội (văn học, địa lý, giáo dục công dân)và cả khoa học tự nhiên(những kiến thức về sự phát triển khoa học kĩ thuật)[35; 259] Điều này có nghĩa là việc sử dụng KTLM trong
DHLS có ý nghĩ lớn về mặt nhận thức Việc sử dụng nhiều nguồn tài liệu, từ nhiều lĩnhvực khác nhau có tác dụng cung cấp cho HS những cơ sở để tạo biểu tượng lịch sử mộtcách chân thực và chính xác Từ việc tạo biểu tượng, HS có thể hình thành khái niệm, nêuquy luật và rút ra bài học lịch sử
Ví dụ: Khi dạy học về đỉnh cao Xô – Viết Nghệ Tĩnh trong bài 14 Phong trào cách
Trang 32mạng 1930 – 1945, GV trích đoạn thơ sau để tạo biểu tượng cho HS về phong trào đấutranh của nhân dân:
“ Trên gió cả cờ đào phấp phới
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Giữa thành một trân xông pha
Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng
Hỡi nghĩa khí dồn vang bốn mặt
Dải đồng tâm thắt chặt muôn người
Lợi quyền ta cố ta đòi
Dần xương đế quốc, xẻo môi quan trường” [ 55; 13]
Qua đoạn thơ trên, HS tạo được biểu tượng lịch sử về khí thế, tinh thần đấu tranh sôisục của quần chúng nhân dân Đoạn thơ giúp HS xác định được hình thức và mục tiêu đấutranh của phong trào
Ngoài ra, việc tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu giúp HS lĩnh hội kiến thức toàn diệnhơn trên cơ sở sử dụng KTLM bổ sung cho kiến thức lịch sử Đồng thời thông qua việchọc tập lịch sử HS hiểu sâu sắc hơn kiến thức của những môn học khác có liên quan
Ví dụ: Khi dạy học bài 17 “Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phongkiến (Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV)(Lịch sử lớp 10), phần “Tổ chức bộ máy nhà nước, GV
trích đoạn “Chiếu dời đô” của vua Lí Thái Tổ: “Huống gì thành Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng phẳng; đất đai cao mà thoáng Dân cư không phải khổ vì ngập lụt, muôn vật rất mực phong phú tốt tươi
[ 3; 49] Qua đó HS không những lí giải được vì sao Lí Thái Tổ quyết định dời đô ra ThăngLong, mà còn bổ sung những kiến thức địa lí: về vị trí, hình thể, khí hậu của vùng đất làthủ đô Hà Nội ngày nay
Về kĩ năng: Sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS có
tác dụng phát triển toàn diện năng lực HS Để hiểu các sự kiện hiện tượng một cách cụ thể, HSphải phát huy khả năng quan sát, tri giác, phân tích, so sánh đối chiếu tài liệu để tìm ra bản chấtcủa vấn đề Việc sử dụng KTLM trong DHLS cũng rèn luyện cho HS kĩ năng đọc sách, kĩ năng
tự học và bước đầu nghiên cứu khoa học Qua việc sử dụng các KTLM vào học tập lịch sử HS
Trang 33biết nhận xét, đánh giá, tăng khả năng ghi nhớ, phát triển ngôn ngữ và tư duy.
Ví dụ: Khi dạy học về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, GV đặtcâu hỏi: Tại sao năm 1930 sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan?
Để trả lời câu hỏi này, HS cần phải nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử nước ta lúc bấy giờ,
sử dụng kiến thức giáo dục công dân để lí giải sự biến đổi về lượng dẫn tới sự biến đổi vềchất HS phải phân tích được sự thành lập Đảng là do kết quả của phong trào dân tộc, dânchủ trong những năm 20 của thế kỉ XX dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản Khi các
tổ chức cộng sản không đủ khả năng để lãnh đạo phong trào cách mạng đang ngày một lớnmạnh trên cả nước, đòi hỏi phải hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành một đảng duy nhất -Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo phong trào Đó là sự biến đổi
về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất Xuất phát từ những lí do trên sự ra đời của Đảng làmột tất yếu của lịch sử
Bên cạnh đó, sử dụng KTLM trong học tập lịch sử cũng rèn luyện cho HS khả năngvận dụng những kiến thức đã học của những môn học khác để tiếp thu kiến thức mới vàđặc biệt là khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống
Ví dụ: Khi dạy HS về phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viếtNghệ - Tĩnh, GV đặt câu hỏi: tại sao phong trào lại phát triển mạnh mẽ nhất ở vùng Nghệ -Tĩnh?
Học sinh sử dụng kiến thức địa lí đã học để lí giải: Nghệ An – Hà Tĩnh là hai tỉnhthuộc Bắc Trung Bộ, điều kiện tự nhiên ít thuận lợi, đất đai khô cằn chủ yếu là những dảicát ven biển khó canh tác nông nghiệp, khí hậu khắc nghiệt nhất cả nước, hàng năm thườngxuyên xảy ra lũ lụt, hạn hán, thiên tai…Người dân ở đây cần cù, có truyền thống cáchmạng Nghệ An là nơi Pháp xây dựng nhiều nhà máy nên tập trung đông công nhân, khảnăng giác ngộ cách mạng cao Vì những lí do trên mà Nghệ - Tĩnh trở thành trung tâm củaphong trào cách mạng 1930 - 1931
- Về thái độ: Mục đích của việc sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền
thống yêu nước cho HS không chỉ giúp các em có được biểu tượng chính xác sinh động về
sự kiện hiện tượng lịch sử, mà còn bồi dưỡng những xúc cảm lịch sử, làm cơ sở để giáodục tư tưởng, tình cảm nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước nói riêng
Ví dụ: Khi dạy HS nguyên nhân nổ ra phong trào Đồng Khởi, GV trích đoạn thơ:
“Biết không anh? Giồng Keo, Giồng Trôm
Trang 34Thảm lắm anh à, lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn
Có những ông già nó khảo tra
Không khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra
Anh biết không ?Long Mĩ, Hiệp Hưng
Nó giết thanh niên ác quá chừng
Hai sáu đầu trai bêu cọc sắt
Ví dụ: Khi dạy học về tình hình Việt Nam trong những năm 1930-1933, GV yêu cầu
HS nêu tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ và so sánh với cộng đồng ngày nay HS chỉ
ra nhưng đặc điểm của xã hội Việt Nam những năm 30: Do hậu quả của cuộc khủng hoảngkinh tế, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, công nhân thất nghiệp, nông dân phải chịucảnh thuế cao, lãi nặng, thợ thủ công thất nghiệp, nhà buôn nhỏ đóng cửa…Địa chủ, nhànước phong kiến ra sức vơ vét bóc lột
HS sử dụng kiến thức giáo dục công dân để chỉ ra những đặc điểm của cộng đồngngày nay Cộng đồng người hiện đại là toàn thể những người cùng sống, có những đặcđiểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội Trong cộng đồng mỗithành viên hợp tác với nhau có trách nhiệm với cộng đồng, cộng đồng chăm lo cho cuộc
Trang 35sống cá nhân, đảm bảo điều kiện cho từng cá nhân phát triển Trong khi đó, đời sống nhândân giai đoạn 1930 – 1933 phải chịu hậu quả của khủng hoảng kinh tế, rất cực khổ, họ bịbóc lột nặng nề, không được đảm bảo những điều kiện sống cơ bản Qua đó HS thấy được
sự tiến bộ của cộng đồng ngày nay so với thời kì 1930-1933, có được sự tiến bộ này là do
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong việc lựa chọn con đường đi lên XHCN Từ đó giáodục HS niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nướchiện nay
Như vậy, sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS cóvai trò rất quan trọng, nó thể hiện ý nghĩa rất lớn trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ.Việc làm đó không chỉ tạo hứng thú cho HS trong giờ học lịch sử, giúp các em tích cực,chủ động lĩnh hội kiến thức, mà còn rèn luyện các kĩ năng nhằm phát triển toàn diện HS,đồng thời góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ
STT Tỉnh Trường Số GV được hỏi ý kiến Số HS được hỏi ý kiến
2 Hòa Bình THPT Mường Bi 3 40
4 Bắc Ninh THPT Ngô Gia Tự 1 40
5 Hải Dương THPT Thanh Hà 1 30
6 Thái Bình THPT Đông Thụy Anh 4 50
Thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn GV lịch sử, HS và dự giờ thăm lớp, chúng tôi
đã thu được kết quả thực tế như sau:
1.2.1.Về phía GV
Câu
hỏi Bản chất của KTLMtrong DHLS Vai trò của KTLM trong DHLS Tác dụng của việc sử dụng KTLM trongDHLS
Trang 36Là nguồn kiến thức
Chỉ mang tính minh họa
Không nhất thiết phải sử dụng
Chỉ gây hững thú nhất thời
Trên cả
ba mặt:
kiến thức, kĩ năng, thái độ
Bổ sung, khắc sâu kiến thức
Rèn luyện kĩ năng
Giáo dục tư tưởng, tình cảm
Về tác dụng của KTLM trong DHLS, 94% GV quan niệm KTLM có tác dụng trên
cả ba mặt: mở rộng, bổ sung, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và giáo dục tưtưởng, tình cảm cho HS Bên cạnh đó vẫn còn 6% số GV được hỏi cho rằng KTLM chỉ
có tác dụng cung cấp, mở rộng, khắc sâu kiến thức, hoàn toàn không có tác dụng pháttriển kĩ năng thực hành và tác dụng giáo dục đối với HS
Như vậy, phần lớn GV hiểu rõ tác dụng toàn diện của KTLM trong DHLS Tuynhiên, còn mốt số ít GV chưa thấy được hiệu quả giáo dục cũng như khả năng rèn luyện kĩnăng cho HS của KTLM Quan niệm phiến diện như vậy sẽ dẫn tới việc sử dụng kém hiệuquả nguồn kiến thức này
Về thực tiễn sử dụng KTLM của GV khi tiến hành bài học lịch sử
Trang 37khoa học xã
hội: Văn học,
địa lí,GDCD…
khoa họcthuộc chuyênngành khác
khâu của quátrình dạy học kiến thức mớiHS lĩnh hội
HS lĩnh hộikiến thức mới
và kiểm trahoạt độngnhận thức
15 SL12 80% SL3 20% SL8 50% SL6 40% SL1 10%Trong các giờ dạy của mình, 80% GV ưu tiên sử dụng tài liệu liên môn thuộcnhóm khoa học xã hội như: văn học, địa lý, giáo dục công dân, trong đó có 70% số GV
sử dụng tài liệu liên môn theo thứ tự ưu tiên là : văn học, địa lý, giáo dục công dân,10% sử dụng theo thứ tự ưu tiên: tài liệu địa lý đến văn học và giáo dục công dân;nhóm các ngành khoa học khác như: mĩ thuật, âm nhạc, toán học, kiến trúc… chỉ có20% GV ưu tiên sử dụng Như vậy, trong bài giảng của mình, đa số GV ưu tiên sử dụngcác kiến thức của ngành khoa học xã hội, là những ngành gần gũi với lịch sử, ít có sựđầu tư sử dụng kiến thức của các ngành khoa học khác để làm cho bài giảng phong phú,sinh động hơn
Về phương pháp sử dụng KTLM trong DHLS xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, 50%
số GV được hỏi ý kiến trả lời rằng sử dụng KTLM trong tất cả các khâu của bài học từkiểm tra bài cũ, tổ chức lĩnh hội kiến thức mới, kiểm tra hoạt động nhận thức, đến tổ chứchoạt động tự học 40% GV chỉ sử dụng KTLM trong việc tổ chức lĩnh hội kiến thức mới.10% số GV còn lại sử dụng KTLM trong một số khâu như: tổ chức cho HS lĩnh hội kiếnthức mới, kiểm tra hoạt động nhận thức và tổ chức cho HS tự học Như vậy, mặc dù đa số
GV đều hiểu được bản chất và tầm quan trọng của việc sử dụng KTLM trong DHLS nhưngkhông phải ai cũng có cách sử dụng đúng đắn, hiệu quả
Về thực tiễn sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước choHS
Sử dụng KTLM trong DHLS không chỉ có ý nghĩa về kiến thức, kĩ năng mà nó còn
có ý nghĩa rất lớn trong giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS Thực tiễn việc sử dụngKTLM trong DHLS để giáo dục HS THPT thể hiện qua những số liệu sau: 60% GV sửdụng KTLM để giáo dục HS tất cả các nội dung: truyền thống yêu nước, truyền thống laođộng, ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc và tinh thần thái độ lao động đúng đắn 20% GV chỉ
sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 20% số GV đã sử dụng KTLM
Trang 38để giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết Như vậy, GV vẫn chưa khaithác, sử dụng triệt để KTLM vào công tác giáo dục, KTLM rất đa dạng phong phú vì vậy
có thể sử dụng để giáo dục nhiều khía cạnh tư tưởng tình cảm góp phần hình thành cho HSmột nhân cách toàn diện
Trong những nội dung kể trên, giáo dục truyền thống yêu nước là một trong nhữngvấn đề quan trọng và cần thiết nhất cần giáo dục cho HS Khi được hỏi ý kiến về phươngpháp sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS, 40% số GV
sẽ sử dụng nhiều biện pháp để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS 30% số GV chỉ chútrọng hai biện pháp là sử dụng kiến thức địa lí để cụ thể hóa không gian và sử dụng kiếnthức văn học để xây dựng đoạn miêu tả, tường thuật 20% GV chỉ sử dụng kiến thức địa lí,đặc biệt 10% GV nêu ý kiến rằng tùy vào từng trường hợp cụ thể để sẽ có cách sử dụngthích hợp Căn cứ vào các số liệu trên có thể kết luận rằng GV vẫn chưa đa dạng hóaphương pháp sử dụng KTLM Trong dạy học hiện nay, nhiều GV còn “đóng khung” trongmột số biện pháp truyền thống, chưa có sự sáng tạo, đổi mới Tình trạng này làm cho giờlịch sử trở nên khô khan, HS dễ nhàm chán dẫn đến hiệu quả giờ học không cao Nguyênnhân tình trạng này do GV chưa có sự đầu tư thỏa đáng vào bài giảng, chưa khai thác triệt
để các nguồn kiến thức KTLM là nguồn tài liệu rất phong phú vì vậy cách sử dụng cũngrất đa dạng Trong DHLS không có biện pháp nào là vạn năng nên cần có sự kết hợp nhiềubiện pháp trong giờ học, và phải căn cứ vào điều kiện thực tế để sử dụng biện pháp phùhợp
nào?
Thường
xuyên Đôi khi
Không bao giờ
Hấp dẫn, dễ hiểu
Bình thường
Không thích
Truyền thống yêu nước
Truyền thống đoàn kết
Truyền thống lao động
Tất cả ý trên
Trang 39phải HS hoàn toàn thờ ơ với môn Lịch sử, bằng chứng là khi được hỏi: trong giờ học lịch
sử, nếu thầy, cô sử dụng KTLM em sẽ cảm thấy thế nào? 71% HS cho rằng sẽ rất hấp dẫn
và dễ hiểu, chỉ có 29% HS cho là bình thường khi GV sử dụng KTLM Điều này xuất phát
từ việc GV không thường xuyên sử dụng KTLM trong giờ dạy lịch sử, 76% HS trả lời GVchỉ đôi khi mới sử dụng KTLM, chỉ có 24% HS trả lời GV thường xuyên sử dụng KTLMtrong giờ học lịch sử Tỉ lệ sử dụng như vậy là chưa cao HS không có điều kiện tiếp cậnvới nhiều nguồn tài liệu, để phát huy tính chủ đông, tích cực trong học tập
Học sinh THPT cũng đã có sự nhận thức về “sở trường và ưu thế” của môn Lịch sửtrong công tác giáo dục, khi được hỏi ý kiến: theo em bộ môn Lịch sử có khả năng giáo dụcnhững nội dung nào? 95% HS trả lời bộ môn Lịch sử có khả năng giáo dục nhiều nội dungtrong đó tiêu biểu là: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết, tinh thần thái độ laođộng đúng đắn, 5% HS cho rằng môn Lịch sử chỉ có khả năng giáo dục truyền thống yêunước
Để tìm hiểu mức độ ưu tiên đối với những môn học có khả năng giáo dục truyền thốngyêu nước ngoài môn lịch sử, chúng tôi đã hỏi HS: theo em để giáo dục truyền thống yêunước cho HS, ngoài kiến thức lịch sử, những môn học nào có ưu thể? Qua phiếu điều trachúng tôi thu được kết quả như sau: 70% HS chọn văn học, 57% HS chọn giáo dục côngdân, 42% HS chọn địa lí, những môn khác như toán học, âm nhạc, mĩ thuật, kiến trúc…tỉ lệchọn không đáng kể Điều này cho thấy quan niệm của HS về tác dụng giáo dục truyềnthống yêu nước thông qua KTLM của các em chưa toàn diện, sâu sắc, các em chưa thấy hếtvai trò trong việc giáo dục nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước nói riêng của nhữngmôn học khác như toán học, âm nhạc, kiến trúc…
Để tìm hiểu về phương pháp khắc sâu kiến thức của HS, chúng tôi đưa ra câu hỏi:
“Em dùng phương pháp gì để khắc sâu đặc điểm của không gian xảy ra sự kiện lịch sử?.47% HS trả lời sẽ học thuộc lòng những đặc điểm GV cung cấp, 32% HS cho rằng sẽ gắnnhững đặc điểm đó với một đoạn văn, đoạn thơ hay một câu chuyện, trong khi đó 21% số
em sử dụng lược đồ để ghi nhớ Như vậy, gần một nửa số HS dùng phương pháp truyềnthống và thụ động là học thuộc lòng những gì GV cho ghi, chỉ có 32% số HS được hỏidùng phương pháp chủ động và tích cực là sử dụng tài liệu liên môn để khắc sâu kiến thức,điều đó cho thấy GV chưa có những phương pháp hiệu quả để hướng dẫn HS cách ghi nhớkiến thức
Trang 40Trong các phiếu điều tra dành cho HS THPT, chúng tôi có những câu hỏi để tìmhiểu tác dụng của những KTLM trong việc giáo dục một số khía cạnh của truyền thốngyêu nước Cụ thể chúng tôi có hỏi HS: Trong giờ học về chiến thắng Điện Biên Phủ,nêu thầy, cô đọc đoạn thơ sau, em có cảm nhận gì?
“Lũ chúng nó phải hàng, phải chết Quyết trận này quét sạch Điện Biên!
Quân giặc điên Chúng bay chui xuống đất Chúng bay chạy đằng trời?
Trời không của chúng bay Đạn ta rào lưới sắt!
Đất không của chúng bay Đai thép ta thắt chặt !”[47; 87]
Tổng hợp kết quả cho thấy: 87% số HS cho biết cảm thấy phấn khởi, tự hào đồngthời cũng khâm phục trước chiến thắng của quân ta, chỉ có 13% HS cảm thấy bình thường,không em nào tỏ ra vô cảm hoặc không có cảm xúc gì Khi được hỏi: nếu nghe thầy, cô kểnhững câu chuyện về tấm gương chiến đấu hi sinh của các anh hùng liệt sĩ: Tô Vĩnh Diện,
Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót… em cảm thấy thế nào? 93% HS trả lời cảm thấy yêu mến,khâm phục, tự hào trước tinh thần xả thân chiến đấu của cha anh, chỉ có 7% tỏ thái độ bìnhthường Những tỉ lệ này chứng tỏ tác dụng rất lớn của KTLM trong việc khắc sâu kiến thức
và giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu tình hình thực tiễn sử dụng KTLM để giáo dụctruyền thống yêu nước trong DHLS tại một số trường THPT chúng tôi có thế thấy:
Đa số GV đã có sự hiểu biết nhất định về bản chất và vai trò của việc sử dụng KTLMtrong DHLS nói chung và để giáo dục truyền thống yêu nước trong DHLS nói riêng Nhậnthức được sự cần thiết của vấn đề này nên nhìn chung GV THPT đã có sự khai thác và vậndụng KTLM trong các giờ dạy của mình Tuy nhiên, nhận thức cũng như cách khai thác,
sử dụng KTLM của GV chưa thực sự sâu sắc và toàn diện nên hiệu quả mang lại chưa cao
GV mới chỉ tập trung khai thác KTLM ở những ngành khoa học xã hội mà chưa khai thácmột cách sâu sắc những ngành khoa học khác như: âm nhạc, kiến trúc, hội họa thậm chí làtoán học, vật lí,… Đây là một hạn chế cần khắc phục để đảm bảo tính toàn diện của kiếnthức trong dạy học đồng thời làm cho giờ học lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn và nâng