1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

112 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của người dân phố cổ Hà Nội – trung tâm kinh tế sầm uất nhất của kinh thành Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay là để phục dựng nên bức tranh văn h

Trang 1

đại học quốc gia hà nội viện việt nam học và khoa học phát triển

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thủ đô của mỗi quốc gia, dù lịch sử có thể dài ngắn khác nhau song đều có một nét chung là nơi kết tinh và toả sáng nền văn hoá của một dân tộc Trải qua gần trọn một thiên niên kỷ hình thành, phát triển, lịch sử thăng Long

- Hà Nội là một kho tàng vô giá của những kinh nghiệm lịch sử được cô đúc thành giá trị văn hoá Cùng với thời gian, hoàn cảnh luôn biến đổi, điều kiện kinh tế văn hoá, xã hội cũng đổi thay, song nhận thức, thái độ, phương thức, cách thức ứng xử của con người với tự nhiên với xã hội được tích luỹ, gạn lọc

từ chiều sâu và bề dày 1.000 năm lịch sử vẫn được kế thừa, phát triển Là một trong hai trung tâm đô thị lớn nhất Việt Nam, song Hà Nội vẫn có một vẻ đẹp rất riêng, sâu lắng

Trong quá trình phát triển của lịch sử thủ đô Hà Nội, khu phố cổ Hà Nội gắn với cái tên Thăng Long như một thực thể không thể thiếu Yếu tố

“Thành” của Thành Thăng Long và yếu tố “Thị” của Kẻ Chợ là một mối liên kết chặt chẽ, điển hình của thành - thị Phương Đông Khu phố cổ Hà Nội kể

từ ngày đầu hình thành đã đảm nhiệm vai trò “Thị” đó, và là một trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội, không chỉ phục vụ cho nhu cầu của những người trong thành Thăng Long mà còn cả ngoài thành và khu vực phụ cận Kể từ khi

Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô thì nơi đây đã thực sự trở thành một trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước Sự phát triển của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại dấu ấn thấm đượm ở nơi đây Sự phát triển rực rỡ của Phật giáo, Đạo giáo thời Lý - Trần, Nho giáo thời Lê, Lê Trung Hưng và các giai đoạn sau này đã được thể hiện ở các di tích đình, đền, đạo quán…trong khu phố cổ Và đương nhiên đi kèm với những dấu tích vật chất

đó là nguồn tư liệu văn hiến vô cùng quý giá về đời sống văn hoá tinh thần của người dân nơi đây Nếu như nguồn tư liệu vật chất của các di tích lịch sử

Trang 3

văn hoá có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu các mặt kiến trúc đô thị

cổ thì những tư liệu văn hiến lại cho người đời sau biết nhiều về đời sống văn hoá tinh thần, các truyền thống văn hoá… của cư dân Thăng Long – Hà Nội

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước hội nhập sâu và mạnh với thế giới, nghiên cứu và phác hoạ lại bức tranh đời sống tinh thần của người xưa là một việc làm cần thiết Hà Nội là một trung tâm văn hoá lớn của cả nước, nơi tiếp nhận nhanh và dễ biến đổi nhất các thành tố văn hoá Tiếp nhận và biến đổi là lẽ bình thường, song sau sự biến đổi đó, cái gì lắng đọng, cái gì lưu lại

sẽ trở thành giá trị trường tồn Nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của người dân phố cổ Hà Nội – trung tâm kinh tế sầm uất nhất của kinh thành Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay là để phục dựng nên bức tranh văn hóa, văn hiến và bảo tồn những giá trị đó Đây cũng là lý do vì sao tác giả chọn đề

tài “Một số vấn đề về đời sống văn hoá của cư dân phố cổ Hà Nội trước năm

1945” làm đề tài luận văn của mình Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW

Đảng khoá VII đã nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá

“bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể” làm cơ sở để sáng tạo nhưng giá trị mới và giao lưu văn hoá Vì vậy, việc nghiên cứu đời sống văn hoá cư dân phố cổ Hà Nội cũng là một hướng đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới các mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Phục dựng lại một số vấn đề về đời sống văn hóa- tinh thần (thể hiện

ở một số mặt như đời sống tín ngưỡng- tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán ) của cư dân khu phố cổ ở Thăng Long- Hà Nội trước năm 1945

- Khắc họa được một số đặc điểm cơ bản làm nên diện mạo riêng của đời sống văn hóa- tinh thần của cư dân phố cổ trước năm 1945

Trang 4

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với những mục tiêu đặt ra như trên, đề tài cần phải thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thống kê, phân loại các nguồn tư liệu gồm có: hệ thống thần tích khu vực phố cổ Hà Nội bằng chữ quốc ngữ được chép năm 1938, hiện đang lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, hệ thống văn bia chữ Hán đang lưu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm…

- Tái hiện bức tranh đời sống văn hóa- tinh thần của cư dân phố cổ ở các phương diện tiêu biểu như đời sống văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, một số phong tục tập quán tiêu biểu

- Làm rõ các đặc điểm cơ bản làm nên diện mạo riêng của đời sống văn hóa đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khái niệm văn hóa, đời sống văn hóa:

Đối tượng của luận văn lựa chọn nghiên cứu liên quan tới khái niệm văn hóa Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trong số đó đáng chú ý phải kể tới những định nghĩa như sau:

Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê

Trang 5

hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra xem để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [60]

Năm 2002, UNESCO định nghĩa “văn hóa được xem là tập hợp các đặc trưng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra một định nghĩa vô cùng sắc bén

về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống con người sáng tạo ra, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, văn học, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hóa” [59, tr.25]

3.2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Văn hóa là một phạm trù rất rộng, nó không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Trong giới hạn của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ lựa chọn nghiên cứu ở các phạm vi giới hạn như sau:

+ Nội dung: Tìm hiểu về tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán của người dân phố cổ Hà Nội trước năm 1945 qua các nguồn tư liệu văn hiến

+ Không gian: Không gian nghiên cứu được xác định trong đề tài là khu vực phố cổ Thăng Long- Hà Nội Theo Quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu phố cổ Hà Nội có phạm vi

được xác định: phía Bắc là phố Hàng Đậu; phía Tây là phố Phùng Hưng;

phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía

Trang 6

Đông là đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật Khu phố cổ Hà

Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm tổng diện tích khoảng 100ha, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ

+ Thời gian: Giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài này liên quan tới nguồn tư liệu khảo sát chủ yếu bắt đầu từ thời Lê, tập trung vào thời Nguyễn

và cho tới trước Cách mạng Tháng Tám, năm 1945

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Các công trình lý luận cũng như chuyên khảo có liên quan tới văn hóa

và văn hoá Thăng Long – Hà Nội

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như những định hướng, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu khu vực học, liên ngành; phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với các phương pháp bổ trợ như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, so sánh… để làm sáng tỏ vấn đề luận văn cần trình bày

5 Đóng góp của luận văn

- Tập hợp, thống kê, phân loại và nhận xét về đời sống văn hoá tinh

thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội thông qua hệ thống tư liệu văn hiến như

Trang 7

thần tích, văn bia, địa bạ, địa chí…từ đó cung cấp cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý những tư liệu về đời sống văn hoá tinh thần của cư dân nơi đây, góp phần chứng minh cho giá trị văn hoá riêng biệt của khu vực này Xác định những đặc trưng cơ bản của đời sống văn hoá người Hà Nội xưa, bổ sung thêm nhận thức về đô thị cổ Hà Nội

- Bằng kết quả nghiên cứu, luận văn bước đầu cung cấp những cơ sở khoa học, gợi ý nhỏ về giá trị văn hoá còn lại ở khu vực phố cổ Hà Nội, trên

cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn và phát huy tác dụng của những nét đẹp còn lưu lại cũng như các sinh hoạt văn hoá còn lại của người dân nơi đây

6 Bố cục luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, luận văn gồm các chương chính như sau:

Chương 1 Vài nét về khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945 và tình

hình nguồn tư liệu nghiên cứu Chương 2 Đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của cư dân khu vực phố cổ

Hà Nội trước năm 1945 Chương 3 Các sinh hoạt văn hoá của cư dân khu vực phố cổ Hà Nội

trước năm 1945

Trang 8

Chương 1

VÀI NÉT VỀ KHU VỰC PHỐ CỔ HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1945

VÀ TÌNH HÌNH NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Vài nét về khu vực phố cổ Hà Nội

Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là

Thăng Long Vùng đất này có địa thế “rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà

sáng sủa, cư dân không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [40, tr 24]

Thăng Long – Hà Nội nằm trong toạ độ địa lý 1050

87 – 1060 00 kinh Đông và 200

34’ – 210 12’ vĩ độ Bắc, ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, do phù sa sông Hồng và các phụ lưu của nó bồi đắp thành, được bao bọc bởi một bên là sông Hồng và một nhánh của nó chính là sông Tô Lịch Thăng Long –

Hà Nội có mối giao thông thuận lợi với các vùng trong khu vực và lan toả các miền trong cả nước

Là một thành thị nên hạt nhân kinh tế của Thăng Long – Hà Nội xưa chính là khu vực tập trung đông đảo dân cư từ các nơi về sinh sống buôn bán Khu vực đó hiện nay quen được gọi là Khu vực phố cổ Hà Nội Vị trí của khu vực này đã được những người Phương Tây sớm đến Thăng Long xưa mô tả

trong các tài liệu: “Khu phố buôn bán này gần giống một hình tam giác có

đáy đi qua bờ hồ Hoàn Kiếm và hai cạnh dựa vào sông Hồng và toà Hoàng Thành”[20, tr.79]

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

Theo các nhà nghiên cứu thì khu vực phố cổ Hà Nội hiện nay được hình thành từ rất sớm, có bề dày phát triển cùng lịch sử Thăng Long - Hà Nội

Trang 9

Theo sử cũ, khu vực phố cổ ra đời bên cạnh thành cổ, là nơi buôn bán hàng hoá phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của quan lại, công chức, binh lính trong thành, sau này dần phát triển thành trung tâm buôn bán của cả Thăng Long Ban đầu khu phố này chỉ có vài chục phố phường, sau phát triển lên thành 61 phố phường thời Trần và thành 36 phố phường thời Lê Khu vực này thế kỷ XIX thì rộng hơn khu vực phố cổ Hà Nội hiện nay về phía bắc và phía Đông Nam [9, tr.25]

Ngày 30 tháng 3 năm 1995, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số

70 BXD/KT-QH nhằm xác định phạm vi của khu phố cổ Hà Nội: phía Bắc là phố Hàng Đậu; phía Tây là phố Phùng Hưng; phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía Đông là đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật

Khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm tổng diện tích khoảng 100ha, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ

Trên thực tế, vào thế kỷ XIX, khu phố cổ Hà Nội còn rộng hơn giới hạn hiện nay về phía Bắc và phía Đông Nam Bởi vậy, trong quá trình khảo sát sẽ

có một vài địa điểm nằm ngoài giới hạn nhưng chúng tôi vẫn coi là hợp lệ

* Khu phố cổ Hà Nội từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV

Trong thời kỳ phong kiến, Hà Nội sớm trở thành trung tâm chính trị của đất nước khi viên đô hộ Cao Biền cho mở rộng Đại La Thành vào năm

866 và đặt tại đây đại bản doanh của chính quyền đô hộ trung Hoa Nhưng Hà Nội chỉ thực sự trở thành kinh đô của nước Đại Việt vào năm 1010, khi Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ - vị vua đầu tiên của triều đại Lý quyết định cho dời đô từ Hoa Lư về Đại La

Thăng Long thời xưa được chia làm hai phần đó là Hoàng thành và Kinh thành Khu vực phố cổ hiện nay thuộc phần Kinh thành, nằm ngoài

Trang 10

Hoàng thành Đó không chỉ là nơi trú ngụ của quan lại mà còn là nơi sinh sống của tướng lĩnh, binh lính và nhân dân Dưới triều Lý, Trần, khu vực này nằm trong vùng chỉ giới của đê Đại La, có chu vi hơn 30 km

Trong các thời Lý - Trần, kinh thành gồm 61 phường, là nơi nhân dân ở

và buôn bán, phố xá cũng ngày một nhiều Nhưng Thăng Long cũng như các thành thị phương Đông khác, đều có mối liên hệ mật thiết giữa bộ phân công thương nghiệp và bộ phận nông nghiêp của những xóm làng xung quanh Những nghề thủ công tập trung nhiều nhất ở khu đông và tây thành Thăng Long

Trong thời đại Lý- Trần cũng như các thời đại sau, khu vực quan lại quân sĩ ở trong kinh thành Thăng Long thường thường là về phía nam, ngoài hoàng thành…Thời Lý các hoàng tử và thái tử con vua đến tuổi trưởng thành đều không ở trong hoàng thành mà ra ở những cung phủ riêng dựng tại khu vực này…Dinh thự của các quan lại, doanh trại của quân đội nhà nước đều tập trung ở đây Ngay từ khi định đô, vua nhà Lý đã cho xây dựng kinh thành Thăng Long rất có quy mô Những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của triều đình tạo nên môi trường giao thương buôn bán ở đây Để tiện quản lý ngoài khu vực quan lại ở, kinh thành Thăng Long thời Lý- Trần chia ra hai bên tả hữu 61 phường là nơi nhân dân ở, sản xuất và buôn bán Phố xá cũng theo đó mà lập nên ngày càng nhiều Khu dân cư này tập trung buôn bán rất sầm uất và chủ yếu nằm ở phía đông của kinh thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng Nhiều di vật khảo cổ học tìm được ở khu vực này cho thấy Thăng Long từ thời Lý - Trần đã hình thành một mạng lưới nghề khá phong phú gồm những nghề như: dệt, nhuộm, gốm, sứ, giấy, làm trang sức, mỹ nghệ, đúc đồng, rèn sắt…

* Khu phố cổ Hà Nội từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX

Từ thế kỷ XV, vùng kinh sư đặt thành phủ Trung Đô gồm 2 huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, tới năm 1469 thì đổi thành phủ Phụng Thiên

Trang 11

Phủ Phụng Thiên gồm hai huyện là Quảng Đức sau đổi thành Vĩnh Thuận và Vĩnh Xương sau đổi thànhThọ Xương Khu phố cổ nằm gọn trong bốn tổng Túc của huyện Thọ Xương là Tiền Túc, Hậu Túc, Tả Túc, Hữu Túc

Theo các sách Dư địa chí và Hoàng Việt địa chí thì huyện Thọ Xương

thế kỷ XVII, XVIII gồm các phường sau:

- Phường ở phía đông Hoàng Thành có: Đồng Xuân, Đông Hà, Hà Khẩu, Đông Các, Diên Hưng, Thái Cực, Cổ Vũ, Kim Cổ, Báo Thiên

- Phường ở phía nam Hoàng Thành có: Vĩnh Xương, Bích Câu, Xã Đàn, Kim Hoa, Phúc Lâm, Phục Cổ, Hồng Mai, Yên Xá

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX kinh thành ngày càng đông vui sầm uất Dưới thời nhà Lê, các hoạt động công thương nghiệp cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết năm 1435 có nhắc tới một số phường thủ công chuyên nghiệp như phường Tàng Kiếm (Hàng Trống) chuyên làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm võng, gấm trừu, dù lọng; phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Đường Nhân (Hàng Ngang) bán áo diệp y…

Trong thời gian này, khu vực phía đông Hoàng Thành chính là khu

“Thị” của kinh thành Thăng Long, khu buôn bán này đã trở thành nơi nhộn nhịp đông vui hơn bao giờ hết, giữ vai trò quyết định đến đời sống kinh tế thành Thăng Long Từ một bộ phận cộng sinh của “Thành” trước kia, giờ đây khu buôn bán đã trở thành bộ phận độc lập, có đời sống kinh tế riêng Và dưới tác động từ những cuộc di cư ồ ạt của các thợ thủ công, thương nhân từ ngoại thành, việc phân chia các phố phường chuyên nghiệp bắt đầu từ thời Lê Sơ đã được hoàn chỉnh trong thời kỳ này

* Khu phố cổ Hà Nội từ thế kỷ XIX đến năm 1945

Bước sang thế kỷ XIX, và cho tới cuối thế kỷ này, Thăng Long – Hà Nội có những biến chuyển lớn so với thời kỳ trước

Trang 12

Từ một kinh đô của nhà nước phong kiến, giờ đây chỉ còn là thủ phủ của miền đất phía Bắc, đó là Bắc Thành thời Tây Sơn và thời Gia Long, rồi trở thành tỉnh trong bộ máy quản lý hành chính thời Minh Mệnh

Năm 1831, vua Minh Mệnh tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, trong đó Hà Nội được coi như một tỉnh và có sự mở rộng, bao gồm đại bộ phận thành phố Hà Nội (Hà Nội cũ trước khi mở rộng ngày 1.8.2008) trừ Sóc Sơn, Đông Anh và Gia Lâm, một phần Hà Tây cũ, một phần Hà Nam, một phần Ninh Bình Quản lý tỉnh Hà Nội là viên tổng đốc kiêm nhiệm Hà Nội – Ninh Bình Với sự mở rộng như vậy, đất Thăng Long xưa chỉ bao gồm đất đai của huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận – tức huyện Quảng Đức thời Lê Sự mở rộng này đã tạo điều kiện cho nông thôn ảnh hưởng ồ ạt vào thành thị, tạo nên

sự hòa đồng đáng kể giữa phố phường Thăng Long cũ và các vùng phụ cận xung quanh

Tuy nhiên, khu vực phía đông Hoàng Thành, nơi vẫn được coi là phần

“Thị” của Thăng Long thì lại có phần phát triển hơn trước Sự tăng dần về số lượng và chất lượng dân thành thị ổn định đã tạo nên sự lớn mạnh về nhu cầu sinh hoạt thanh lịch và xa xỉ, tất cả những điều đó đã kích thích các phường thôn thủ công chuyên nghiệp hơn trong việc sản xuất ra một khối lượng hàng hóa ngày càng lớn với chất lượng cao, tinh xảo; công nghệ và kỹ thuật sản xuất thì được tích lũy và cải tiến

Theo ghi chép của Phạm Đình Hổ thì từ thời Lê Trung Hưng ở Thăng

Long đã thấy sự có mặt của Hoa kiều “Kinh thành xưa có phường Giang

Khẩu – sau là Hà Khẩu, tiếp giáp bờ sông Nhị, liền với cái ngòi sông Nhị chảy vào sông Tô, hàng năm bị nước xói, không thể giữ cho không lở được Đời Lê Trung Hưng, mới đạc suốt dọc bến phường Hà Khẩu để cho Hoa kiều trú ngụ” [15, tr.55] Thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển ồ ạt của thương nhân

Hoa Kiều Và điều này đã góp phần làm hưng thịnh các hoạt động buôn bán

Trang 13

Dưới thời Nguyễn, bộ máy chính quyền trung ương chuyển vào Phú Xuân - Huế nên Thăng Long có sự suy giảm về địa vị chính trị, dẫn tới việc diện mạo cũng có phần sa sút Tuy nhiên khu dân cư phía đông thành Thăng Long thì vẫn tấp nập, sầm uất và phồn thịnh hơn trước

Cơ cấu đô thị khu phố cổ Hà Nội trở nên dày đặc hơn, đặc biệt là từ cuối thế kỷ XIX Hệ quả của nó là việc khu kinh thành đã đạt tới các giới hạn

tự nhiên, việc mở rộng được tập trung theo hướng vào trong lõi của khu phố, các ao, hồ, đầm dần dần bị lấp kín để xây dựng phố xá, nhà cửa Với địa thế thuận lợi, các nghề thủ công truyền thống ở khu phố cổ vẫn tiếp tục phát triển Các phố xá buôn bán cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có nhiều hơn trước

Thăng Long – Hà Nội thời kỳ này “Dù không phải là kinh thành

nữa, Kẻ Chợ (tức Hà Nội) vẫn là một thành phố đứng đầu đầu trong cả nước về nghệ thuật, về công nghiệp, về thương nghiệp, về sự phong phú, về dân số, về lịch thiệp và về văn hoá…Tóm lại, đây chính là trái tim của dân tộc” [20, tr.138]

1.1.2 Đặc điểm cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

Trong lịch sử, khu vực phố cổ Hà Nội xưa được biết đến là khu vực buôn bán giữa thành và bờ sông Hồng Đây là nơi có mật độ dân cư đậm đặc nhất kinh thành Thăng Long Năm 1882, H.Rivière khi đến Hà Nội đã nhận

xét khu vực này là “một quần cư chen chúc dày đặc những người là người” hay Luro thì cho là “dân cư ở đây rất dày đặc” [18, tr.121]

Khu phố cổ mang tính chất là một trung tâm buôn bán sầm uất “Tất cả

những đồ vật được bán trong thành phố này đếu có một thành phố dành riêng cho thứ hàng hoá đó Và những đường phố này lại được chia ra cho một, hay hai nhiều làng mạc, mà chỉ có những dân làng đó mới được quyền ưu tiên mở cửa hiệu ở đó, hoàn toàn theo cách thức của những công ty hoặc phường hội khác nhau trong các thành phố Châu Âu” [20, tr.74] Đồng thời, tầng lớp thợ

Trang 14

thủ công và thương nhân ở cũng là tầng lớp chiếm tỷ lệ đông nhất và là chủ

thể trong kết cầu dân cư ở Thăng Long – Hà Nội thời bấy giờ Sách Đại Nam

nhất thống chí đã ghi lại rằng “Thành thị (Thăng Long – Hà Nội) là nơi tụ họp công thương, có lẫn cả người nước Thanh, tập tục thích xa hoa…nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật phồn thịnh” Thợ thủ công đa

phần là người Việt, thương nhân có cả người Việt và người Hoa Thương nhân người Hoa đóng một vai trò quan trọng trong đời sống thương nghiệp ở khu vực phố cổ Hà Nội xưa

* Thợ thủ công – thương nhân người Việt

Khu phố cổ là trung tâm buôn bán sầm uất của vùng kinh sư cũng như của cả nước trong nhiều thế kỷ Những thợ thủ công lành nghề ở khắp miền, những thương nhân, lái buôn tụ hợp về đây, vừa là hạt nhân nội tại, vừa là tác nhân thúc đẩy sự phát triển của khu vực này

Lịch sử của Thăng Long – Hà Nội đã chứng kiến nhiều đợt xã hội lớn diễn ra suốt từ thế kỷ XVII cho đến nửa đầu thế kỷ XVIII Kết quả của những đợt di cư này là đưa các thợ thủ công từ các làng nghề thủ công chuyên nghiệp từ khắp nơi tới với Kẻ Chợ

Ở Thăng Long - Kẻ Chợ chứng kiến sự biến động dân cư đặc biệt trong các thế kỷ XVII, XVIII, và XIX Ban đầu là sự bùng nổ dân cư sau đợt di dân diễn ra từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII, sau đó là sự suy giảm vào đầu thế kỷ XIX, khi kinh đô chuyển vào Huế, Thăng Long không còn giữ vai trò kinh sư nữa và vào cuối thế kỷ XIX, dân cư lại đi vào ổn định và có phần gia tăng, đặc biệt tại những khu phố nơi tập trung buôn bán của cả thành phố

Dân nhập cư đổ về đây chủ yếu là cư dân làm nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp Họ vốn là những người dân bản xã lâu đời ở một làng nghề thủ công nghiệp nào đó vùng đồng bằng hay trung du Bắc Bộ có vị trí tiện giao thương Sau khi học được nghề của tổ nghề truyền dạy thì họ kéo nhau lên

Trang 15

Thăng Long - Kẻ Chợ để làm gia công cho nhà nước hoặc buôn bán ở các cửa hiệu trong phố phường Lâu dần, số người di cư theo nhau ngày một đông, định cư thành một phường mới chuyên sản xuất hoặc bán một mặt hàng Ban đầu họ bán mặt hàng mình làm ra, sau dần bán buôn hoặc phân phối hàng hoá tới các điểm khác nhau Những người thợ thủ công vừa sản xuất vừa buôn bán, ở họ khó tách rời hai vai trò giữa thợ thủ công và thương nhân Đó là đặc điểm nổi bật về dân cư sinh sống ở khu phố buôn bán của Kẻ Chợ

“Tất cả những đợt di dân này thường là di dân liên tục, hàng loạt, có

cơ sở kinh tế được cố kết bởi tinh thần nghề nghiệp và cộng đồng quê cũ, được củng cố qua nhiều thế hệ, nên có phần bền vững…”

Ngoài bộ phận dân cư chính thường xuyên nòng cốt của khu phố buôn bán trên còn có một bộ phận thợ thủ công lưu động, họ sinh sống và làm nghề

ở những vùng phụ cận, nông thôn ven đô, mỗi khi có phiên chợ, họ lại vào

trong nội thị để buôn bán, tạo nên cảnh tấp nập của phố phường “Những

thương nhân và thợ thủ công đủ mọi loại đến từ các vùng nông thon phụ cận

đi tới các phố phường: người bán tơ lụa đi vào phố Hàng Đào, thợ làm nồi chảo, cuốc xẻng đi vào phố Hàng Đồng, thợ làm nón đi vào phố Hàng Nón, nói tóm lại mỗi một loại người đi vào một con phố dành riêng cho ngành nghề của họ, và thành phố đã chuyển thành một chợ phiên rộng mênh mông, trong đó người ta đi lại, la cà, trò chuyện, mặc cả; ồn ào một đám dân chúng đông gấp hai số dân thường ngày, mà số này cũng đã đông như kiến rồi…”

(P.Borde) [18, tr.79] Như vậy, những người thợ thủ công, thương nhân này tuy không cư trú ở kinh thành nhưng chính họ góp phần tạo nên khung cảnh tấp nập nhộn nhịp của Thăng Long - Kẻ Chợ

Quá trình di cư, nhập cư, định cư, phát triển dân số ở Thăng Long - Kẻ Chợ đã biến những người thợ thủ công từ những vùng quê trở thành những thương nhân đồng thời là thị dân Tuy nhiên, dựa vào những tài liệu liên quan

Trang 16

tới đời sống văn hoá tinh thần lại có thể thấy rằng, những người dân của khu phố buôn bán này giữ mối quan hệ mật thiết với quê hương của mình, hay nói cách khác họ có mối quan hệ bền vững với nông thôn Những người thợ thủ công – thương nhân, dù di cư từ rất lâu đời nhưng họ vẫn nhớ quê họ là ở đâu,

họ về thăm quê, vẫn nộp sưu thuế cho làng quê gốc như một thành viên danh

dự hay lập những đền thợ vọng ở giữa phố xá để nhớ về quê hương Đền thờ vọng của thợ tiện ở Nhị Khê, thợ bạc Châu Khê, thợ quạt Đào Xá thể hiện điều đó…

* Thương nhân Hoa Kiều

Người Hoa là một bộ phận không thể thiếu trong thành phần dân cư Thăng Long – Hà Nội đặc biệt trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX và cho tới đầu thế kỷ XX Đây là một bộ phận dân cư nhỏ, ngoại lai nhưng lại giữ vai trò kinh tế quan trọng trong đời sống kinh tế Kẻ chợ, và nơi họ tập trung đông nhất là ở nội thị, nơi có những khu phố buôn bán sầm uất

Theo sách cũ ghi lại, người Hoa đã có mặt ở Thăng Long khá sớm, thời

Lê Sơ, Nguyễn Trãi đã nói đến một phường nơi những người Hoa kiều sinh sống và buôn bán ở Thăng Long – đó chính là phố Hàng Ngang ngày nay Sự

có mặt của Hoa kiều làm ăn buôn bán bên cạnh người Việt là một đặc trưng không chỉ có ở Thăng Long – Hà Nội mà còn có ở nhiều thành thị khác của Việt Nam thời trung đại

Đợt di cư hàng loạt của Hoa kiều vào Thăng Long đã diễn ra cuối thế

kỷ XVII do chúa Trịnh nới lỏng việc kiểm soát ngoại thương Trải qua hai thế

kỷ, bằng nhiều cách và nhiều thăng trầm người Hoa dần dần len lỏi cư trú và làm ăn buôn bán tại kinh thành Thăng Long, tuy có bị nhà nước phong kiến Việt Nam hạn chế và ngăn chặn

Thế kỷ XIX đánh dấu sự di cư ồ ạt của người Hoa vào Thăng Long –

Hà Nội, trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX Trong tấm bia khắc năm 1801 ở hội

Trang 17

quán Việt Đông phố Hàng Buồm có ghi: “Từ khi Nhà vua mở nước cho người

ngoại quốc, hàng loạt Hoa Kiều đã muốn được Đức Hoàng đế gia ân, đường

sá và chợ quán đầy ắp khách thương… Thành phố Thăng Long là thành phố đầu tiên của An Nam, từ lâu người ta đã buôn bán nhiều đồ vật quý giá của Quảng Đông, tàu thuyền đem đến đây tất cả mọi thứ hàng hoá”

Người Hoa đến định cư ở khu vực phố cổ đã lập ra những hội quán riêng của mình như bang Phúc Kiến ở phố Lãn Ông, giữ cách ăn ở lề thói cũ ở địa phương Bang Quảng Đông đông người hơn, quá nửa ở phố Việt Đông hay Quảng Đông – nay là phố Hàng Ngang, một phần lớn ở phố Hàng Buồm,

lan sang các ngõ xung quanh như ngõ Sầm Công, Ngõ Gạch “Rất nhiều phố

bị người Trung Quốc độc quyền chiếm cứ, những con phố hình thành một khu phố đặc biệt ở giữa thành phố của người Anh nam Một trong những con phố

đó có tên là phố Quảng Đông; những người Trung Hoa này thực ra đến từ hầu hết mọi nơi ở Quảng Đông và Quảng Tây” (Paul Bourde [18, tr 521];

Hội quán của Hoa kiều Quảng Đông xây ở phố Hàng Buồm năm 1802, có hàng chữ “Việt Đông hội quán”- nay là số 22 Hàng Buồm Những người Hoa này chủ yếu là phú thương, bởi vậy ở các đường phố nơi họ ở phố rộng, lát

đá, nhiều cổng vững chãi, đặc biệt cổng phố Hàng Ngang “Phần lớn những

phố Hoa Kiều được lát ở khoảng đường bằng những tảng đá cẩm thạch lớn, nguyên thô Như vậy, đường phố có thể đi lại được trong những ngày mưa”

[18, tr 493], họ “sống trong khu phố đẹp nhất của Hà Nội Họ là chủ nhân

của những cửa hiệu có đầy đủ hàng hoá nhất” [18, tr.618]

Những người Hoa sinh sống trong khu vực phố cổ Hà Nội xưa chủ yếu

là tầng lớp thương gia, chuyên nghề buôn bán Họ có thể là các chủ hàng nhỏ nhưng cũng có thể là các thương nhân buôn chuyến Những ngành nghề người Hoa buôn bán tập trung là gấm vóc, thuốc bắc, đường, bánh ngọt… những mặt hàng nhập từ Quảng Châu sang; hoặc họ tập trung vào buôn bán xuất

Trang 18

nhập khẩu những mặt hàng như gạo, thuốc phiện, muối, thiếc, tơ lụa,

giấy…Người Hoa “có năng lực cho những thương vụ lớn và tầm nhìn xa

trông rộng trong tính toán Họ ham mê lợi nhuận, tiết kiệm, bền bỉ, có khả năng hy sinh hết thảy cho lòng khát khao làm giàu” [18, tr.618]

1.1.3 Bộ mặt đời sống kinh tế khu phố cổ Hà Nội

* Kinh tế thủ công nghiệp

Khu phố cổ Hà Nội hay chính là khu phố chuyên sản xuất và buôn bán các mặt hàng thủ công và nông sản đã được chế biến sẵn

Các mặt hàng thủ công nghiệp được sản xuất và bày bán ở các phường

rất đa dạng và phong phú “Theo ký sự của Út Ỏn, một trí thức người Thái ở

Mai Châu, Sơn La đến kinh đô vào khoảng năm 1720, ta có thể thấy các loại mặt hàng bày bán ở các phố phường Thăng Long như: “vải vóc, gấm nhiễu bán ở hàng Bát Bảo (tức Hàng Đào), bát đĩa, chum vai, gương mũ áo, túi khăn, nồi chảo, chài lưới, Hàng Thiếc như bình rượu, cơi trầu, gươm giáo, đồ vàng bạc, chiêmg to, chũm choẹ” Thượng kinh phong vật chí cũng ghi

“Trong các phường chế tạo đủ các thứ gươm giáo, đồ binh khí, mâm đài, kiệu, ghế, lụa, trừu, lọng, tàn… Không thứ gì là không có” [18, tr.121]

Đặc trưng kinh tế của các phường chính là tính chất chuyên nghề, mỗi phường, mỗi phố làm một nghề thủ công tương ứng với làng di cư từ quê gốc

ra Kẻ Chợ, ví như làng Đan Loan làm nghề nhuộm, làng Định Công làm vàng bạc…Những người thợ liên kết với nhau thành những cộng đồng nghề nghiệp gọi là phường thợ, phường bạn, phường chèo…Phường phố thường diễn tiến theo quy luật hội tụ và kết tinh tài hoa của tứ xứ Những thợ thủ công tài hoa của “tứ trấn” và giỏi một nghề nào đó và mang nghề đó từ quê hương lên kinh thành làm ăn, đua tài Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa

tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi khiến các phố nghề

Trang 19

càng phát triển Điều dễ nhận thấy ở đây là các phố nghề, phường nghề phần lớn được hình thành bởi những thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa quy tụ về, tập trung theo từng khu vực, chuyên sản xuất, buôn bán, trao đổi một loại hàng hoá, sản phẩm thủ công nhất định Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố với chữ “Hàng”, mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng Ví dụ như Phố Hàng Bạc là nơi đổi chác, mua bán, nấu đúc bạc nén và có nghề kim hoàn chế tác vàng bạc thành đồ trang sức Phố lấy nghề đúc bạc và sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn làm kế sinh nhai Thời Lê, dân làng Châu Khê (nay thuộc Bình Giang- Hải Dương) lên đây cư trú và làm nghề đúc bạc Sau thêm người Đông Sâm (Thái Bình) và người làng Định Công (Hà Nội) đến sinh sống sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn hình thành lên phố Hàng bạc chuyên đúc bạc đổi tiền và làm đồ mỹ nghệ kim hoàn phục vụ đời sống xã hội kinh thành Thăng Long và dân tứ xứ Phố Hàng Cót chuyên đan và bán các loại bằng tre nứa Phố Hàng Da buôn bán các mặt hàng da trâu bò thuộc Phố Hàng Đào có nghề nhuộm vải trắng thành vải màu hồng, màu điều Phố Hàng Chiếu chuyên bán buôn, bán lẻ chiếu cói Phố Hàng Đồng chuyên bán các mặt hàng như mân đồng, đỉnh đồng, bát hương, lọ hoa, hạc thờ bằng đồng Phố Hàng Hòm chuyên đóng các loại hòm rương để bán Phố Hàng Lược chuyên sản xuất lược bằng gỗ, bằng sừng Phố Hàng Nón chuyên làm và bán các loại nón bằng lá cọ non cho phụ nữ, nón cho lính

có chỏm bằng đồng và nón quai thao Phố Hàng Tre ở gần bờ sông Hồng tiện cho việc bốc dỡ tre nứa từ dười bè lên để bán Phố Hàng Quạt chuyên làm và bán các loại quạt giấy, quạt vải có nan bằng tre, bằng xương gà, bằng ngà…Phố Bát Đàn, phố Bát Sứ chuyên bán các bát đĩa, ấm chén bằng gốm sứ.Nghề làm mành ở phố Hàng Mành, nghề làm Lọng ở phố Hàng Lọng, nghề thêu ở phố Hàng Thêu

Những người thợ thủ công ở khắp nơi mang nghề độc đáo của địa phương mình lên Hà Nội làm ăn, họ lập ra những phố riêng buôn bán sản

Trang 20

phẩm của quê huơng mình Họ thành lập và liên kết với nhau trong các phường, hội để giúp nhau trong cuộc sống cũng như trong việc giữ gìn nghề tổ

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài những làng nghề ở kinh thành

đã dần phát triển thành thành những phố nghề với diện mạo, đặc điểm riêng của khu phố Do đó đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân phố cổ nảy nở và phát triển trên nền tảng của đời sống kinh tế của sự hưng thịnh của kinh tế thương nghiệp và thủ công nghiệp Điều đó làm nên diện mạo riêng của nó

* Kinh tế thương nghiê ̣p

Hoạt động thương nghiệp của Thăng Long phát triển mạnh mẽ nhất qua mạng lưới chợ , bến cảng và phố xá Cả một mạng lưới chợ mọc lên dày đặc đã làm cho Thăng Long mang tên Kẻ Chợ

Viê ̣c buôn bán của kinh thành Thăng Long và các đi ̣a phương khác đã

có thể bắt đầu phát triển , nhờ vi ̣ trí của Thăng Long , vừa là thủ đô vừa là trung đô ̣, đường giao thong thủy bộ đều phát triển , thuâ ̣n tiê ̣n Ngoài sông Hồng là sông lớn , các sông Tô, sông Nhuê ̣ đều góp phần vào hoa ̣t đô ̣ng kinh tế của Thăng Long thời kỳ ấy “khách buôn từ khắp nơi có thể theo dòng sông

Tô đưa hàng vào trong kinh thành Thuyền từ ma ̣n bắc xuống có thể theo sông Hồng qua cửa Hà Khẩu (hàng Buồm ngày nay ) mà vào sông Tô Viê ̣c buôn bán trên các ngả sông ngày càng phát triển”

Các hoạt động buôn bán ở kinh thành không thể tá ch rời các chợ , mà hầu hết các chợ lớn đều tâ ̣p trung ở khu vực phố cổ bởi đây là nơi tâ ̣p trung dân cư đông đúc nhất, lại là trung tâm của các ngành nghề thủ công Đến thời Pháp thuộc, người Pháp cũng cho xây dựng chợ Đồ ng Xuân (phố Hàng Đào ngày nay) làm nơi trao đổi, buôn bán

Hoạt động buôn bán đầu tiên do chính những người sở tại lập nên , sau đó do nhu cầu mua bán của những người sở ta ̣i khiến những người ở xa đến

Trang 21

lâ ̣p quán bán hàng thư ờng trực Hàng bán được nhiều lại lôi kéo người khác đến lập quán để hình thành nên những phố chợ vừa thu mua các thức từ nơi khác đến,vừa bán các thứ hàng đó bất cứ lúc nào

Các thời kỳ tiếp theo , Thăng Long vẫn là trung tâm buôn bán của cả nước Các mặt hàng trao đổi , buôn bác chính là những sản phẩm mà các phố nghề ở đây sản xuất ra : hàng mã, nhiễu, điều, lược, nón… và một số phố bán đồ ăn : phố hàng Bún, Hàng Cháo Đặc trưng rất tiêu biểu của hoa ̣t đô ̣ng buôn bán ở Thăng Long trong rất nhiều thế kỷ là sự hình thành của các phố nghề Người ta thấy sự hòa quyê ̣n của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội của nông thôn và

đô thi ̣, những dấu tích văn hóa và lịch sử phát triển đô thị lâu dài

Nguyên nhân của sự quần tu ̣ Thăng Long thì ai cũng có thể hiểu , điều quan tro ̣ng nhất là sự phát triển các nghề thủ công ở đây Theo giáo sư Trần

Văn Bính trong cuốn “Thăng Long- Hà Nội h ội tụ và tỏa sáng” thì đây là

“Dải đất hấp dẫn và lý tưởng cho hoạt động của các ngành nghề thủ công dân gian cổ truyền”

Đối với kinh tế thương nghiệp nhà nước đã có sự quản lý và kiểm soát họat động buôn bán Năm 1400, Hồ Qúy Ly đã bắt đầu thực hiện việc đánh thuế thuyền buôn Các thuyền buôn chia làm 3 hạng, thuyền lớn mỗi chân chèo nộp thuế 5 quan, thuyền vừa 4 quan, thuyền nhỏ 3 quan Đến thời kỳ nhà Minh xâm lược và thống trị Việt Nam ở đầu thế kỷ XV đã nhân đấy đặt ra thuế buôn để bóc lột thương nhân Việt Nam Thời thuộc Minh, thuế buôn trong cả nước (gồm 21 phủ) mỗi năm là 68.923 quan 94 chữ Riêng một phủ Giao Châu, trong đó có Thăng Long, mỗi năm phải nộp 27.974 quan 1 tiền tức là gần 1 nửa số thuế buôn của cả nước Điều này chứng tỏ thương nghiệp Thăng Long thời kỳ này đã rất phát triển

Ngay từ đầu thời Lý, đã bắt đầu có sự giao lưu, buôn bán giữa nhân dân ta với người ngoại quốc Tại các phường phố của kinh thành đã có nhiều

Trang 22

người Qua- Oa (Gia-va, thuộc In-đô-nê-xi-a ngày nay), người Xiêm, người Chiêm Thành và đông nhất là người Trung Quốc Trong cuộc chiến tranh giữa nhà Lý và nhà Tống (1075), quân Tống bị thua, tể tướng nhà Tống đã tìm cách chiêu dụ những người Trung Quốc buôn bán ở Việt Nam để dò hỏi tình hình bên ta Có thể thấy rằng, Thăng Long đã trở thành một trung tâm buôn bán không chỉ của khu vực sông Hồng mà còn của cả nước Với địa thế thuận lợi của mình, nơi này chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong họat động

ngoại thương qua nhiều thế kỷ đúng như câu ca “thứ nhất kinh Kỳ, thứ nhì

phố Hiến”

Hàng hóa trao đổi chủ yếu là các mặt hàng thủ công, mỹ nghệ, những sản phẩm của các phố nghề đặc trưng như tơ lụa, gấm vóc, các sản phẩm gia dụng… phục vụ sản xuất Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại việc năm 1066 một lái buôn Qua- Oa đã tới bán ngọc dạ quang cho vua Lý Thánh Tôn với giá 1 vạn tiền Thời Trần, Lê kinh tế vẫn tiếp tục phát triển, phồn thịnh hơn trước rất nhiều

Đến thế kỷ XVII, trong bối cảnh kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ làm nảy sinh cả trong Nam ngoài Bắc một loạt trung tâm thương nghiệp phồn vinh như Phố Hiến, Vị Hoàng, Thanh Hà, Hội An…thì sự phát triển kinh tế của Thăng Long cũng mang một sắc thái mới Không chỉ là những người Trung Quốc, người ta còn thấy cả những thương nhân Hà Lan, Anh, và những giáo sĩ thiên chúa Giáo quốc tịch khác nhau giả làm thương nhân tới lập thương điếm trên bờ sông Hồng, Hà Nội…có thể chính những mặt hàng thủ công mỹ nghệ có tính địa phương văn hóa và thích nghi rất cao Các phiên chợ ở đây bao giờ cũng đầy ắp người, đông đúc và nhộn nhịp, bởi nhu cầu trao đổi, buôn bán Baron, một thương nhân người Âu ở Việt Nam trong thế

kỷ XVII đã miêu tả rất đúng cảnh chật chội đó như sau “Đặc biệt là ngày

mồng một và ngày rằm âm lịch là những ngày phiên chợ, nhân dân các làng

Trang 23

rộng rãi quang đãng mà khu ấy cũng chật ních người, đôi khi len lách vào trong đám đông chỉ bước dần được chừng trăm bước trong nửa giờ cũng đã thấy sung sướng lắm rồi”

Thế kỷ XVIII, hoạt động buôn bán cũng rất sầm uất, sông Tô Lịch là nơi thuyền bè ra vào buôn bán tấp nập Phường Hà Khẩu ở ngay trên sông Tô

đổ ra sông Hồng trở nên rất sầm uất, nhiều hiệu buôn lớn của người ngoại quốc đều tập trung ở đây Thời kỳ Thăng Long trở thành tỉnh lỵ Hà Nội hoạt động buôn bán ở đây cũng rất đáng chú ý, thậm chí có nhiều màu sắc hơn trước Các phố nghề vẫn tiếp tục phát triển, tuy nhiên có những sự thay đổi đáng kể Những tên phố ngày nay, trước kia là phố bày bán các mặt hàng đặc trưng như phố hàng Mành bán mành, phố hàng Nón bán nón, bây giờ đã chuyển qua các mặt hàng khác, bởi sự xuất hiện của các sản phẩm công

nghiệp do người Pháp mang sang “Mặc dù không phải là kinh thành nữa, Kẻ

Chợ vẫn là một thành phố đứng đầu cả nước về nghệ thuật, công nghiệp, thương nghiệp”

1.2 Tình hình nguồn tư liệu khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

1.2.1 Nguồn tư liệu văn hiến về khu vực phố cổ Hà Nội

Nguồn tư liệu chủ yếu của luận văn này là các tư liệu văn hiến về Thăng Long trong đó tìm hiểu về phố cổ Hà Nội qua các tư liệu là: thần tích, địa chí, hương ước, văn bia…

1.2.1.1 Thần tích

* Định nghĩa

Thần tích là “Cuốn sách hoặc tập giấy ghi chép về sự tích của vị thần

được thờ ở ngôi đền hoặc vùng nào đó Thần tích ghi rõ xuất xứ, những phép biến hoá, công lao hành trạng của thần, sắc phong của các đời vua cùng những nghi thức cúng bái và tập tục kiêng kị” [20, tr 1096]

Trang 24

Thần tích còn gọi là thần phả, ngọc phả, phả lục…Theo nghĩa của từ ngữ thì đó là văn bản ghi chép sự tích các thần linh Tuy nhiên, không phải tất

cả các vị thần thì đều có thần tích Thần tích phải được ghi chép thành văn và tác giả phải là các quan chức phụ trách việc lễ nghi của triều đình Bởi vì, vua

là con trời, có quyền thay Trời phong tước vị cho các thần, các quan, và ngược lại có quyền tước bỏ tước vị của họ Bởi vậy, thần tích là những văn bản quan phương, có thể coi là những “chứng chỉ” chước nghiệp Và bởi vậy, thần tích thường được đặt trong hòm sắc trên ban thờ ngay trước bài vị thần

Sách “Việt điện u linh” của Lý Tế Xyuên là quyển thần tích soạn từ đời nhà Trần còn giữ được ít nhiều sắc thái dân gian Từ đời Lê, Nguyễn Bính là

vị quan ghi chép thần tích nhiều nhất Các địa phương đã dựa theo ông để chép thêm thành các cuốn như “Bách thần lục”, “Hưng Yên thần tích”…Những thần tích này cho thấy phần gia công hư cấu của các nhà nho

* Thần tích Thăng Long – Hà Nội

Thần tích phải được ghi chép thành văn và tác giả là các quan phụ trách việc lễ nghi của triều đình; thần tích là những văn bản quan phương, những “chứng chỉ” chước nghiệp – không có thần tích thì không có thành hoàng và thần tích phải được đặt trong hòm sắc phong trên bàn thờ ngay trước bài vị thần

Các nguồn sưu tập thần tích Thăng Long – Hà Nôi bao gồm:

- Thần tích bằng chữ quốc ngữ và bằng chữ Hán do hương lý các làng nộp cho Trường Viễn Đông Bác Cổ (Nay là Viện Thông tin Khoa học xã hội

số 26 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội) vào năm 1938 Nguyên do là vào năm đó, chính quyền thực dân Bắc Kỳ có sức cho các làng xã phải làm tờ khai

về sự tích các thành hoàng và gửi về Trường này cùng với các bản sao các thần tích viết bằng chữ Hán Sau khi tiếp nhận, khối thần tích này được đánh

ký hiệu Q40

18

Trang 25

- Nguồn thứ hai là các thần tích chữ Hán thuộc kho sưu tập thần tích của Viện Hán – Nôm, ký hiệu AE a1

- Nguồn thứ ba là các thần tích được lưu giữ ở các đình, đền… được sưu tầm trong các chuyến đi điền dã

Thần tích Thăng Long – Hà Nội nói chung và thần tích ở khu vực phố cổ

Hà Nội nói riêng được sưu tập ở các đình, đền, miếu khu vực này Dựa vào các thần tích sưu tầm ở khu vực này, có thể biết được đối tượng thờ cúng, lai lịch các thần ở các đình, đền… của khu vực phố cổ Hà Nội Thông qua thần tích, có thể tìm hiểu được tín ngưỡng của người dân phố cổ Hà Nội Điều này càng có ý nghĩa bởi Khu phố cổ Hà Nội (cho đến trước năm 1945) là nơi tập trung đông đúc các thợ thủ công lành nghề từ các vùng miền về đây Mặc dù được coi là một trung tâm kinh tế lớn của đất kinh đô xưa nhưng có thể thấy Khu phố cổ

Hà Nội vẫn mang nhiều đặc trưng của các vùng quê Và đương nhiên, khi tìm hiểu về các vị thần linh được thờ ở nơi đây, ta sẽ có cái nhìn cụ thể về tín ngưỡng của người dân khu vực này, hiểu được họ mong chờ gì ở các vị thần linh Là phố nhưng lại vẫn mang tính chất làng xã của các vùng quê, chắc chắn tín ngưỡng của người dân nơi đây sẽ ẩn chứa nhiều điều thú vị

Năm 2004, Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh đã có một nghiên cứu về tín ngưỡng thị dân Hà Nội qua thần tích Nghiên cứu khi được công bố

đã cung cấp những góc nhìn thú vị về tín ngưỡng của người dân Hà Nội, đặc biệt tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Tuy nhiên, đây là một công trình nghiên cứu thần tích có tính chất tổng hợp của cả Hà Nội, bao gồm cả các địa điểm ngoài khu vực phố cổ và đi sâu vào tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Hà Nội Mặc dù vậy, đây cũng là một tài liệu tham khảo rất giá trị cho việc nghiên cứu thần tích của khu vực phố cổ Hà Nội

Tháng 10 năm 2010, một nguồn tư liệu văn hiến quý giá đã ra mắt bạn đọc, đó là Tuyển tập Thần tích Thăng Long – Hà Nội do PGS.TS.Nguyễn Tá

Trang 26

Nhí và PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh đồng chủ trì Trên cơ sở kế thừa kết quả của hạng mục “Điều tra sưu tầm tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội” của

Dự án Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” do Viện Việt Nam Học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, PGS.TS Vũ Văn Quân phụ trách, nhóm tác giả đã bổ sung và sưu tầm thêm nhiều tư liệu Tuyển tập bao gồm 62 văn bản Thần tích hiện được lưu giữ ở địa bàn Thủ đô theo một

số tiêu chí như sau: tuyển chọn văn bản thần tích có giá trị ghi chép về tôn thần ở tứ trấn, hàng tứ bất tử; tuyển chọn văn bản thần tích rộng khắp các huyện nội và ngoại thành Hà Nội; thần tích giới thiệu về các nữ thần…Có thể thấy rằng, tuyển tập thần tích là một cuốn sách công cụ quý giá dành cho những người quan tâm tới thần tích của Thăng Long – Hà Nội xưa

Tóm lại, thông qua thần tích những vị anh hùng dân tộc, những vị thần linh của người dân Việt Nam xưa hiện ra rõ ràng Là sự tích về các thần nhưng thực chất thần tích chính là sự tích của bao thế hệ người dân Việt Nam yêu nước yêu dân, anh dũng quả cảm trong chiến đấu, trong lao động Bên cạnh đó, khai thác nguồn thần tích Thăng Long còn thấy được “ý thức rõ ràng rất coi trọng Nữ thần Đây là một nét đẹp của vùng quê ngàn năm văn hiến Người xưa đã có tầm nhìn rất sâu sắc, đánh giá rất đúng mức công lao của con người” Và cuối cùng, dù mang tính chất tôn giáo, tín ngưỡng nhưng thần tích đáng được coi là một bộ phận của văn học dân gian góp phần làm phong phú nền văn học dân gian nước nhà

1.2.1.2 Hương ước

*Khái niệm

“Hương ước còn gọi là hương khoán, hương biên, hương lệ, khoán

ước, khoán lệ, cựu khoán, điều lệ, điều ước…đề cập đến quy tắc ứng xử bắt buộc với các thành viên trong cộng đồng do thôn làng đề ra”[20, tr.1096]

Hương ước có từ thế kỷ 15, có giá trị như luật làng Năm 1921, các

Trang 27

mẫu soạn thảo mới Sau cách mạng, nhiều điều trong các hương ước không còn giữ vai trò điều chỉnh đời sống làng xã như trước nữa

Quy mô của hương ước có thể trong một đơn vị cư dân hành chính như giáp, thôn, phường, xã, trại, tổng… hoặc là trong các tổ chức sinh hoạt có tính chất chuyên ngành như phường làng nghề, hội tư văn…Hương ước ở phường

là ở đô thị hoặc cũng có thể ở khu vực nông thôn nhưng có nghề phụ nên các phường cũng cần có hương ước (Ví dụ như Khoán lệ phường Hà Khẩu) Bên cạnh đó, các làng nghề hay phố nghề cũng có điều lệ riêng cho mình Ví như điều lệ ở phố Hàng Bạc – Kim Ngân đình thị lệ

Hương ước có nhiều dạng thức tồn tại, tiêu biểu là ba dạng thức: Sách đồng, Bia đá và Sách viết tay trong đó tồn tại trên dạng thức Bia đá là nhiều nhất

Là một loại hình văn bản văn hoá dân gian được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển lâu dài của cộng đồng người Việt ở Việt Nam, các hương ước cổ thực chất là sự chắt lọc những ý kiến đóng góp trí tuệ của

các bô lão, các chưc sắc trong tổ chức làng xã cổ truyền “Đó là di sản văn

hoá dân gian vô cùng quý báu, giữ vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn kỷ cương xã tắc, hướng thiện cho đông đảo các tầng lớp nhân dân thực hiện nếp sống văn hoá, ổn định tư tưởng để làm ăn, phấn đấu, xây dựng một nền kinh

tế phồn thịnh Đó cũng là văn bản cơ sở in đậm dấu ấn pháp lý sơ khởi mà các hình thức tổ chức nhà nước phong kiến Việt Nam đã để mắt đến”

Kể từ khi Lê Thánh Tông đặt nền tảng pháp lý cho xã hội Đại Việt vào nửa sau thế kỷ XV, trải qua các thế kỷ XVI, XVII, XVIII và đến đầu thế kỷ XIX, khi bộ Hoàng Việt luật lệ ra đời thời Gia Long và ban hành năm 1813 thì dường như diện mạo hương ước không thay đổi nhiều, trừ việc chỉnh lý sai sót qua kiểm nghiệm thực tế Điều đó cũng nói lên tính bền vững trong tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt Chẳng hạn trong Kim Ngân đình Thị

Trang 28

lệ được biên soạn bằng chữ Nôm vào năm 1784 và bổ sung năm 1843 đã chỉ

rõ “Thường nghe, triều đình có phép tắc của triều đình, làng xóm có lệ của

làng xóm, huống hồ phố ta vốn có nghề riêng là của báu quốc gia Nếu không

có khoán lệ ràng buộc thì lấy gì kết cấu lòng người Nhân đó tham chước cổ

lệ mà định cách thức mới”

Hương ước bên cạnh việc việc giữ vững lề luật truyền thống dân chủ của làng xã, hướng dẫn mọi thành viên trong cộng đồng thực hiện nếp sống có văn hoá, lao động, học tập và giữ gìn kỷ cương phép nước…còn là những tập tập nghi lễ thờ phụng thành hoàng Thành hoàng của người Việt thường là những nhân thần có công gây dựng xóm làng buổi đầu hoặc là những người

có công đánh giặc, giúp đỡ dân lành khi thiên tai địch hoạ Mọi bản hương ước, khoán lệ đều chỉ nêu tên điểm thờ, thần thờ một cách sơ sài nhưng lại rất chú trọng tới vấn đề thờ cúng như thế nào, thái độ của từng thành viên trong hội đồng phải ứng xử ra sao, thể lệ và nghi thức thực hành Các khoản chi dụng vào nghi lễ thờ cũng có tính bền vững, ngoài khoản công quỹ còn có riêng những mảnh điền tự, điền thần hoặc tương tự như vậy…Ngoài ra, việc cưới hỏi tang ma, các vấn đề về trật tự an ninh, lên lão, yến lão… đều được ghi lại và đề cập rõ ràng cụ thể

Bởi vậy có thể nói rằng, hương ước với những quy định làm chuẩn mực ứng xử là những nét đẹp văn hoá, là di sản quý báu cho đời sau

Hương ước Thăng Long - Hà Nội

Với ý nghĩa là một loai hình di sản văn hoá điển hình của người Việt,

đã có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành sưu tầm và công bố các hương ước Hà

Nội Về các công trình nghiên cứu hương ước phải kể đến “Hà Nội xưa qua

hương ước” của Nguyễn Thế Long năm 2000 Trong công trình này, Nguyễn

Thế Long đã phục dựng lại đời sống của người dân Hà Nội xưa qua hương ước Tuy nhiên, các bản hương ước được đề cập đến đều thuộc các làng ở Hà

Trang 29

Nội, những quy định, hương ước ở khu phố cổ Hà Nội không được nhắc đến trong công trình này

Năm 2006, Đinh Khắc Thuân có ra mắt cuốn Tục lệ cổ truyền làng xã

Việt Nam, Năm 2009, Trương Sỹ Hùng đã ra mắt 2 tập Hương ước Hà Nội

Đây là một sưu tập hương ước, được chọn lọc từ các tài liệu được lưu giữ ở các làng, xã, phường, phố… và khai thác từ thư viện Viện Hán Nôm, thư viện Viện Thông Khoa học xã hội, thư viện Hà Nội…Trong sưu tập này, đáng chú

ý có Kim Ngân đình thị lệ - tức là Điều lệ phố Kim Ngân (nay là phố Hàng Bạc), được coi là hương ước của phố Hàng Bạc, một con phố thuộc khu phố

cổ Hà Nội

Năm 2010, trong tủ sách “Thăng Long ngàn năm văn hiến”, Tuyển tập

Hương ước Tục lệ do PGS.TS Nguyễn Tá Nhí chủ trì đã góp thêm nguồn tư

liệu quý cho việc nghiên cứu Hà Nội nói chung và khu phố cổ Hà Nội nói riêng Các văn bản trong tuyển tập này chủ yếu lấy từ kho sách của Viện nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội Việt Nam Trường hợp cá biệt cũng có tuyển chọn từ trong dân gian Các hương bản hương ước

của khu phố cổ Hà Nội có mặt trong tuyển tập này phải kể tới là Khoán lệ

phường Hà Khẩu, Lệ chợ đình Kim Ngân (Kim ngân đình thị lệ), Bài ký trên bia Yến Lão ở Từ Chỉ…Đây là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về đời

sống văn hoá tinh thần của người dân phố cổ Hà Nội

1.2.1.3 Địa chí

*Khái niệm:

Địa chí là một loại tư liệu mang tính bách khoa về một vùng đất, một địa phương hay một làng, xã, một tỉnh, một vùng… Các bộ địa chí xưa thường có tên như địa chí, phương chí, chí lược, cổ tích ký, địa dư chí, cổ lục…Các tài liệu địa chí thường bao quát nhiều vấn đề của một địa phương như hình sông thế núi, phong tục tập quán, nhân vật, văn hoá, di tích lịch sử…

Trang 30

Để tìm hiểu khái quát về một địa phương, không tài liệu nào ghi chép tỉ mỉ và phong phú bằng các địa chí

*Địa chí Thăng Long – Hà Nội

Vùng đất Thăng Long xưa với vị thế và cảnh quan của mình đã thu hút nhiều bậc văn nhân say mê, bỏ công sức sưu tầm, mô tả về thiên nhiên cũng như các hoạt động đời sống diễn ra ở nơi đây Theo thống kê, hiện nay còn tới trên 60 tài liệu thư tịch cổ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm lưu trữ trên khắp cả nước ghi chép về vùng đất Thăng Long – Hà Nội này

Nhằm góp phần giới thiệu tới độc giả nguồn tư liệu quý giá đó, Bộ sách

“Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội - Tuyển tập Địa chí” thuộc “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản đã ra đời

vào tháng 10 năm 2010 Sách do TS Nguyễn Thuý Nga và PGS.TS Nguyễn Kim Sơn chủ trì tuyển dịch, dựa trên cơ sở kế thừa kết quả của hàng mục

“Điều tra, sưu tầm tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội” của Dự án “Tủ

sách Thăng long ngàn năm văn hiến” do Viện Việt Nam học và Khoa học

phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, PGS.TS Vũ Văn Quân phụ trách

Bộ sách này khai thác dựa trên 56 tài liệu được lưu ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, Viện Sử học và 4 tài liệu ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Hà Nội Các tài liệu này được chia làm 2 loại là Quốc

chí như: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng

Khánh địa dư chí…gồm 36 quyển, Địa phương chí trong đó địa chí viết về

một vùng, miền mà có Hà Nội như: Các trấn tổng xã danh bị lãm, Bắc Thành

địa dư chí lục, Bắc Kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo… gồm 24 quyển,

địa chí viết riêng về Hà Nội như: Hà Nội địa dư, Hà Nội địa bạ, Hà Nội sơn

xuyên phong vực… gồm 12 quyển Toàn bộ số tư liệu trên được biên soạn vào

thời Nguyễn, sớm nhất đời Gia Long vào khoảng 1810 -1813 và muộn nhất là vào năm Bảo Đại thứ 7 (năm 1932)

Trang 31

Dựa trên nguồn tài liệu đồ sộ này, nhóm tác giả đã tuyển dịch và giới thiệu 30 văn bản Những văn bản này được xem là tiêu biểu nhất, gồm những tài liệu có tính chất tổng hợp và những tài liệu ghi riêng về từng lĩnh vực

Nguồn tư liệu địa chí trên vô cùng quý báu cho việc nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội trong đó có khu vực phố cổ Hà Nội Trong quá trình khai thác tư liệu, dựa trên một khối lượng đồ sộ tri thức về Thăng Long – Hà Nội, tác giả luận văn đã cố gắng gạn lọc những tư liệu quý giá liên quan đến khu vực phố cổ Hà Nội, trong đó có các di tích, các phong tục tập quán, những nhận xét của người viết về lối sống của người dân nơi đây Mặc dù các tài liệu được viết vào thời Nguyễn song đời sống của cư dân Thăng Long –

Hà Nội ẩn hiện sau những trang viết đó không chỉ gói gọn trong thời kỳ này

mà đó là cả một dòng chảy qua nhiều thế kỷ và đó là một lát cắt mang tính chất lịch đại mà thôi Bởi vậy, qua các tài liệu địa chí này, chúng ta vẫn có thể thấy được rất rõ nét về Thăng Long – Hà Nội thời cổ xưa

Những tư liệu về khu vực phố cổ Hà Nội xưa qua địa chí được phản

ánh qua 9 tài liệu địa chí: Hà Nội địa dư, Hà Nội sơn xuyên phong vực, Hoàn

Long địa chí, Thăng Long cổ tích khảo, Bắc Thành địa dư chí lục, Bắc Kỳ giang sơn cổ tích danh thắng, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt địa chí và Hoàng Việt địa dư chí

Nội dung ghi chép về khu vực phố cổ Hà Nội qua các tài liệu địa chí trên tập trung vào các nội dung như:

- Ghi chép về các đền, quán, miếu, hội quán…Những địa điểm được nhắc tới nhiều đó là Đền Bạch Mã, Đền thờ Quý Minh, Đền Ngọc Sơn, Miếu Trung Liệt, Miếu Hoả Thần, Quán Đồng Thiên, Chùa Huyền Thiên, Hội quán Việt Đông, hội quán Quảng Đông…

- Ghi chép về các lễ tế, lễ hội Nghi lễ, lễ hội mang tính chất triều đình

và diễn ra hàng năm như Lễ Khánh thọ, Lễ Đả xuân ngưu… các lễ hội hai mùa Xuân, Thu của các đền, quán…

Trang 32

- Ghi chép về các phong tục hay nhận xét về lối sống của cư dân khu vực này…

Đặc biệt, cuốn Hà Nội sơn xuyên phong vực còn có đoạn ghi rất chi tiết

về Hội quán Việt Đông ở phường Hà Khẩu trong đó nói lên tâm tư tình cảm

và sinh hoạt của số đông người Hoa sang sinh sống ở Hà thành và coi nước Việt là quê hương thứ hai của họ Đây là nguồn tư liệu rất quý giá để tìm hiểu

về cuộc sống và sinh hoạt của cộng đồng người Hoa ở Hà Nội

1.2.1.4 Văn bia

Cũng như các nước trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa Hán, lệ dựng bia đá để ghi việc đã xuất hiện ở Việt Nam từ hơn 1000 năm nay Nhưng khác với các nước trên, do những yếu tố về thời tiết khí hậu, lại luôn xảy ra chiến tranh nên người Việt dường như triệt để hơn trong việc sử dụng loại vật liệu bền vững này để lưu giữ các ghi chép của mình Do vậy ở Việt Nam, cho đến giai đoạn đầu thế kỷ XX, đến bất cứ thôn làng nào, đặc biệt là ở đồng bằng Bắc bộ, đều có thể bắt gặp những tấm bia đá được dựng ở đình, chùa, đền, miếu, từ đường, lăng mộ, hoặc ngoài cánh đồng, bên sườn núi, trong hang động, dọc triền sông, dưới gốc đa, bên giếng nước, thậm chí trong các ngõ xóm, tư gia với kích thước và hình dáng khác nhau, tạo nên một vẻ đẹp cổ kính cho cảnh quan và toát lên một màu sắc văn hóa khá độc đáo

Qua nội dung văn bia, có thể thấy người Việt trong thời trung đại đã khắc lên đá gần như tất cả những gì mà họ muốn lưu truyền lâu dài như: tôn vinh quảng bá tôn giáo; các sự kiện lớn về chính trị quân sự; sự ra đời của các công trình kiến trúc; thơ văn của vua chúa, danh gia khi đi công cán hoặc vãn cảnh; sự tích các vị thần; sự nghiệp của các danh nhân; lý lịch của các vương hầu công chúa; lệnh, chỉ, của vua chúa ban cho một làng hay một cá nhân; phả hệ của một dòng họ; khoán ước của một làng; giao kèo với phường hát; kết quả của những vụ kiện tập thể; công đức của một cá nhân hay một tập thể

Trang 33

cho các công trình kiến trúc, tóm lại nội dung hết sức phong phú đa dạng, là những tư liệu có thể góp phần bổ sung những chi tiết mà chính sử không ghi, đồng thời giúp nghiên cứu khá hữu hiệu về phong tục tập quán cùng sự vận động phát triển của xã hội Việt Nam thời trung đại

Hiện nay còn một số lượng lớn văn khắc Hán Nôm – Thăng Long trong

đó có văn khắc liên quan tới đời sống văn hoá tinh thần của người dân phố cổ

Hà Nội xưa Hệ thống này đã được Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội sưu tầm và in dập thành những thác bản vào những năm đầu thế kỷ XX Trong nhiều năm trở lại đây, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm và cho dịch lại nguồn tư liệu này

Văn bia về khu vực phố cổ Hà Nội là còn khá nhiều, hầu hết có niên đại

từ đời Lê Trung Hưng trở đi, đặc biệt nhiều vào giai đoạn thế kỷ XVII, XIX Qua hệ thống văn bia này có thể hiểu được rất nhiều về đời sống xã hội của vùng đất Kẻ Chợ xưa kia Đó có thể là các truyền thuyết, ví như truyền thuyết Thần Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, hay phản ánh về các nét văn hoá phong tục như Hội Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ hàng năm mang tầm Quốc lễ, các văn chỉ do các Hội tư văn của các địa phương xây dựng như “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký” Qua văn bia, thông tin về những người thợ thủ công tài khéo ở các nơi về kinh lập nghiệp cũng được ghi lại tỉ mỉ Ví như văn bia ĐÌnh Hoa Lộc ghi chép về việc người của 4 họ Phạm, Vũ, Đào, Lê ở Bình Giang, Hải Dương lên phố Hàng Đào lập “chợ” vf xây đình thờ vọng…Hay tục bầu hậu, Trọng lão, trọng hiền cũng đều được khắc lại trên bia

Năm 2010, hệ thống Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tuyển tập văn khắc Hán Nôm do TS Phạm Thị Thuý Vinh chủ trì đã ra đời Tuyển tập này có thể coi là một công trình tổng hợp, bổ sung thêm nhiều văn khắc mới

so với các bộ sách đã ra trước đó Cũng nằm trong hệ thống tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, hệ thống Thư mục tư liệu trước năm 1945 do PGS TS

Trang 34

Vũ Văn Quân chủ biên cũng đã hệ thống lại các nguồn tư liệu văn hiến dưới dạng tóm tắt thư mục Trong đó, văn bia, văn khắc Hán Nôm của Thăng Long – Hà Nội trước năm 1945 đã được phân chia theo các quận, huyện để độc giả tiện nghiên cứu

Văn khắc Hán Nôm của Thăng Long – Hà Nội là một di sản văn hoá vô giá Qua đó có thể có được bức tranh toàn cảnh về muôn mặt đời sống xã hội đất Thăng Long – Hà Nội xưa trong đó có khu vực phố cổ Hà Nội

1.2.2 Các nguồn tư liệu khác

Ngoài nguồn tư liệu văn hiến trên đây, luận văn còn sử dụng các nguồn

tư liệu tham khảo khác

Khu vực phố cổ Hà Nội nói riêng và Thăng Long – Hà Nội nói chung

là một đề tài lớn mà nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác Kể từ những bộ

sử lớn của các nhà nước phong kiến cho đến các thương nhân phương Tây đến Thăng Long - Kẻ Chợ từ thế kỷ XVII đến XIX đều đề cập ít nhiều đến khu vực này Bởi vậy đây là nguồn tư liệu không thể bỏ qua khi nghiên cứu

về khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

Trong những năm 50 đến 70 của thế kỷ XX, một số học giả đã nghiên cứu về lịch sử Hà Nội với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Một số công trình

được nhắc tới như công trình của cố GS Trần Quốc Vượng với Xác định địa

điểm Đông Bộ Đầu, Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý - Trần; các công

trình của Trần Huy Bá như Vị trí Thăng Long đời Lý, Vị trí phủ chúa Trịnh,

Nội thành Thăng Long đời Lý và một loạt các công trình về thành Thăng

Long khác…

Đối với các nguồn tư liệu văn bản, Trần Văn Giáp công bố về Kho tàng

Hán Nôm Hà Nội, Hoa Bằng với Lịch sử Hà Nội qua ca dao, Tìm hiểu thành Thăng Long hoặc Lược sử tên phố Hà Nội, Hoàng Đạo Thuý có nhiều công

trình viết về lịch sử Hà Nội như Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Phố

Trang 35

Bước sang thập niên 80, và đặc biệt là thập niên 90 của thế kỷ trước, một loạt bài nghiên cứu về Hà Nội được công bố trong các sách hoặc trên các tạp chí chuyên ngành của một số nhà nghiên cứu

Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu khảo cứu về Lược sử

tên phố Hà Nội của Lê Thước, Nguyễn Bắc và Nguyễn Vinh Phúc, về 36 phố phường Hà Nội của Nguyễn Khắc Đạm Đáng chú ý là công trình của Nguyễn

Vinh Phúc về Các khu phố cổ Hà Nội, Sự phát triển của Hà Nội nhìn qua các

di tích lịch sử văn hoá đã cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về Hà Nội nói

chung và khu phố cổ Hà Nội nói riêng

Một số bài nghiên cứu của cố GS Trần Quốc Vượng đã đề cập khá nhiều khía cạnh khác nhau về Hà Nội cũng được công bố trong thập kỷ này

Đó là các bài về Vị thế địa lý và lịch sử Hà Nội, về Đoán nhận phố phường

Hà Nội qua di tích, về Làng nghề, phố nghề Thăng Long- Kẻ chợ, về Bản sắc văn hoá Hà Nội Năm 1995, luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thừa Hỷ về

Hà Nội thế kỷ XVII - XIX cũng đã đưa một cái nhìn khái quát về Hà Nội trong đó có khu vực phố cổ

Từ năm 2000 đến nay, việc nghiên cứu khu phố cổ Hà Nội có nhiều chuyển biến rõ nét, mang tính tích cực, hướng tới ngày lễ trọng đại của Thủ

đô - kỷ niệm ngàn năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010 Việc nghiên cứu này được đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà Nước, Thành uỷ và UBND thành phố Hà Nội

Một loạt các công trình khai quật khảo cổ học ở Hà Nội được tiến hành với quy mô lớn như ở Đoan Môn, Hậu Lâu, đường Hoàng Văn Thụ, đường Trần Phú quận Ba Đình, chùa Báo Ân ở Gia Lâm, Đồng Vông ở Cổ Loa, Liên

Hà ở Đông Anh…Đồng thời với việc khai quật, một số công trình nghiên cứu

về Hà Nội cũng đã được xuất bản Đáng chú ý là công trình Làng nghề, phố

nghề Thăng Long Hà Nội của GS Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo, Hà Nội

Trang 36

nghìn xưa văn hiến của Cố GS Trần Quốc Vượng, Thăng Long – Hà Nội của

Lưu Minh Trị, Hoàng Tùng, Hà Nôi qua những năm tháng của Nguyễn Vinh

Phúc…Năm 2003, trong Luận án tiến sĩ lịch sử của mình, Nguyễn Thị Hoà đã

đi sâu tìm hiểu về Các loại hình di tích kiến trúc trong khu vực phố cổ Hà Nội

thế kỷ XIX

Đặc biệt vào cuối năm 2010, khi những ngày đại lễ càng tới gần, thì những công trình nghiên cứu về thủ đô Hà Nội càng xuất hiện dày đặc Trong

đó phải kể tới Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến với các tư liệu văn

hiến đặc sắc, quý giá cho việc tìm hiểu về Hà Nội xưa Được khởi động từ năm 2004, cho đến ngày 2-10-2010, tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến

đã ra mắt bạn đọc Đây là một tủ sách có tính chất tổng kết văn hiến một ngàn năm của Thăng Long – Hà Nội và mở ra những hướng nghiên cứu mới Điều đáng nói ở đây, đó là nguồn tư liệu văn hiến dồi dào về Hà Nội do các nhà nghiên cứu dày công sưu tầm, chuẩn bị Trên cơ sở tư liệu điều tra, sưu tầm,

tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội đã được xuất bản gồm 7 tập, các Tuyển tập tư liệu về hương ước, văn bia, địa bạ, địa chí, thần tích thần sắc, tư liệu nước ngoài, tuyển tập các văn kiện lịch sử Các tuyển tập trên là cơ sở của kho dữ liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội, nhằm lưu giữ và phục vụ lâu dài cho công tác nghiên cứu khoa học Ngoài ra còn có các nghiên cứu mang tính chất chuyên đề như đời sống tôn giáo tín ngưỡng, tìm hiểu lễ hội Thăng Long – Hà Nội…

Nguồn tư liệu văn hiến Thăng Long thì dồi dào, song để tổng hợp các nguồn tư liệu này nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát về đời sống văn hoá tinh thần của người dân Thăng Long – Hà Nội nói chung, đặc biệt người dân khu vực phố cổ Hà Nội nói riêng thì chưa có một công trình nào Bởi vậy, khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi có lợi thế đó là được thừa hưởng một nguồn tư liệu quý báu khổng lồ do các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu Tuy

Trang 37

nhiên với một nguồn tư liệu lớn và quý như vậy, khai thác ra sao, sử dụng như thế nào để phát huy được tối đa giá trị của nguồn tư liệu thực sự lại là một thách thức lớn Song với nhiều nỗ lực, chúng tôi hy vọng sẽ phần nào phác họa được bức tranh sinh hoạt của đời sống văn hoá tinh thần người dân phố cổ

Hà Nội cho tới trước năm 1945 một cách rõ nét

Tiểu kết

Khu phố cổ Hà Nội trải qua các thời kỳ khác nhau trong lịch sử với những diện mạo của vị trí, cảnh quan, môi trường riêng của mình gắn liền với từng thời kỳ Trên nền tảng của các điều kiện tự nhiên đó các điều kiện về kinh tế, dân cư, xã hội của khu phố cổ Hà Nội cũng dần dần hiện ra càng ngày càng rõ rệt, khó trộn lẫn Gắn liền với các sinh hoạt kinh tế, xã hội của cư dân phố cổ không thể không nói tới các sinh hoạt về đời sống văn hóa tinh thần

Đó là một trong những mạch nguồn tạo nên những giá trị riêng, linh thiêng của khu phố cổ Hà Nội Nghiên cứu về đời sông văn hóa tinh thần trong khu vực khu phố cổ đã có khá nhiều nguồn tư liệu Nguồn tư liệu chủ yếu của luận văn này là các tư liệu văn hiến về Thăng Long trong đó tìm hiểu về phố cổ Hà Nội qua các tư liệu chủ yếu là: văn bia, hương ước, thần tích thần sắc, địa chí

và địa bạ Thông qua các nguồn tư liệu này, một vài nét phác họa về bộ mặt đời sống tinh thần chủ yếu ở các mặt tín ngưỡng, tôn giáo…của cư dân phố cố trước năm 1945 sẽ dần hiện ra với những đặc trưng nổi bật

Trang 38

Chương 2

ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG – TÔN GIÁO CỦA

CƯ DÂN KHU VỰC PHỐ CỔ HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1945

Đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của cư dân phố cổ gắn liền với các di tích vật chất gắn liền với đời sống này Bởi vậy, khi nghiên cứu đời sống văn hoá tinh thần đặc biệt là về tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân khu vực phố cổ

Hà Nội trước năm 1945 qua các tư liệu văn hiến không thể bỏ qua việc tìm hiểu các di tích gắn liền với tư liệu này Các di tích trong khu vực phố cổ Hà Nội hiện nay còn lại khá phong phú Đó là nguồn tài liệu quý giá cho việc sưu tầm và nghiên cứu các tư liệu văn hiến

Theo thống kê của “Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội” và “Ban quản lý phố cổ Hà Nội” thì khu phố cổ Hà Nội hiện có 406 di tích Trong đó,

di tích cư trú là 306 chiếm 87,88%, di tích tôn giáo tín ngưỡng là 99 di tích, chiếm 24,38% và 01 cửa ô chiếm 0,24%

Trong các loại hình di tích ở khu vực phố cổ Hà Nội, di tích tôn giáo tín ngưỡng là một loại hình di tích quan trọng, bao gồm các loại hình như đình, đền, chùa, quán, nhà thờ họ…Ngoài ra, các nội dung thờ tự trong văn bia, câu đối, thần tích, thần sắc v.v… gắn với các di tích này chính là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về đời sống tôn giáo tín ngưỡng nơi đây

2.1 Đời sống tín ngưỡng của cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

2.1.1 Một vài thống kê về đối tượng thờ tự ở khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945

Tín ngưỡng là việc các cá nhân trong một cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời nhưng khi trình độ hiểu biết còn thấp, họ tôn sùng những thần thánh do họ nghĩ ra Đó được gọi là tín ngưỡng

Trang 39

Thăng Long - Hà Nội vốn là một vùng đất cổ có lịch sử ngàn năm tuổi, mang nhiều dấu ấn tín ngưỡng của các thời kỳ lịch sử Điều đó được thể hiện trong tục lệ thờ cúng dân gian, qua các cơ sở thờ tự và đối tượng thờ tự

Bảng 2.1 Bảng thống kê các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng Khu vực phố cổ Hà Nội

Nguồn: Nguyễn Thị Hoà (2003), Các loại hình di tích kiến trúc khu vực phố

cổ Hà Nội thế kỷ XIX, Luận án tiến sĩ Lịch sử

Thống kê trên cho thấy Đình là loại hình di tích có số lượng lớn nhất, chiếm hơn một nửa số các di tích tôn giáo tính ngưỡng ở khu vực phố cổ Hà Nội còn lại đến ngày nay Đình là nơi thờ các vị thần mà dân chúng gọi là thành hoàng Đại đa số các thành hoàng đều có lý lịch ghi thành văn bản gọi

là thần tích hay thần phả… Hệ thống thần tích được chép lại vào năm 1938, hiện được lưu ở Viện Thông tin khoa học xã hội với mã Q018/IV, còn tương đối đầy đủ thần tích về các vị thần thành hoàng được người dân phố cổ Hà Nội tôn sùng và thờ tự Đây là nguồn tư liệu quan trọng và quý giá cho nghiên cứu này Bảng thống kê sau đây được thực diện dựa trên thư mục tư liệu trước

năm 1945, tập 1 thuộc cuốn Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Thư mục

tư liệu trước năm 1945 do PGS.TS Vũ Văn Quân chủ biên

Trang 40

Bảng 2.2 Thống kê thần tích thành hoàng khu vực phố cổ Hà Nội

(theo Hệ thống thần tích chữ quốc ngữ chép năm 1938)

Phố, Phường tương ứng hiện nay

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng  Khu vực phố cổ Hà Nội - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 2.1. Bảng thống kê các loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng Khu vực phố cổ Hà Nội (Trang 39)
Bảng 2.2. Thống kê thần tích thành hoàng khu vực phố cổ Hà Nội - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 2.2. Thống kê thần tích thành hoàng khu vực phố cổ Hà Nội (Trang 40)
Bảng 2.3. Tổng hợp các thành hoàng khu vực phố cổ Hà Nội  theo  thần tích sưu tầm: - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 2.3. Tổng hợp các thành hoàng khu vực phố cổ Hà Nội theo thần tích sưu tầm: (Trang 44)
Bảng 2.4: Bảng thống kê các địa điểm thờ tự đạo giáo ở phố cổ Hà  Nội dựa vào thống kê di tích - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 2.4 Bảng thống kê các địa điểm thờ tự đạo giáo ở phố cổ Hà Nội dựa vào thống kê di tích (Trang 64)
Bảng 2.5. Thống kê đóng góp của dân cư khu vực phố cổ Hà Nội  cho việc thờ tự Phật giáo trước năm 1945 - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 2.5. Thống kê đóng góp của dân cư khu vực phố cổ Hà Nội cho việc thờ tự Phật giáo trước năm 1945 (Trang 71)
Bảng 3.1. Bảng thống kê bia hậu gửi giỗ - hậu thần/hậu Phật ở khu  vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945 - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 3.1. Bảng thống kê bia hậu gửi giỗ - hậu thần/hậu Phật ở khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945 (Trang 85)
Bảng 3.2. Bảng thống kê bia quyên góp xây dựng, trùng tu văn chỉ - Một số vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần cư dân khu vực phố cổ Hà Nội trước năm 1945
Bảng 3.2. Bảng thống kê bia quyên góp xây dựng, trùng tu văn chỉ (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w