Đồng thời, góp phần thiết thực vào việc giúp các ngành chức năng của tỉnh Cao Bằng đưa ra những định hướng, giải pháp mới phù hợp trong quy hoạch, phát triển mạng lưới chợ hiện nay, để t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG VĂN QUÂN
MẠNG LƯỚI CHỢ NÔNG THÔN
Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG TRƯỚC NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thái Nguyên - Năm 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG VĂN QUÂN
MẠNG LƯỚI CHỢ NÔNG THÔN
Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG TRƯỚC NĂM 1945
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đàm Thị Uyên
Thái Nguyên - Năm 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những nội dung trong luận văn này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Đàm Thị Uyên Tư liệu trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nội dung của luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Nông Văn Quân
Xác nhận của Trưởng khoa chuyên môn
Xác nhận của Người hướng dẫn khoa học
TS Hà Thị Thu Thủy PGS.TS Đàm Thị Uyên
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn ii
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của nhiều cơ quan đoàn thể và nhiều cá nhân Lời đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô khoa Lịch sử, khoa Sau đại học, trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PSG.TS Đàm Thị Uyên, người
đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Nhân đây, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các cá nhân; với chính quyền, các cơ quan ban ngành tỉnh Cao Bằng, huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông của tỉnh Cao Bằng, đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và người thân luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Nông Văn Quân
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iii
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc của luận văn: 6
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG 7
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.2 Khái quát lịch sử hành chính miền Tây Cao Bằng trước năm 1945 15
1.3 Các thành phần dân tộc 19
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của miền Tây Cao Bằng trước 1945 24
Chương 2 MẠNG LƯỚI CHỢ NÔNG THÔN Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG TRƯỚC NĂM 1945 32
2.1 Những quan niệm về chợ và chợ nông thôn 32
2.1.1 Những quan niệm về chợ 32
2.1.2 Quan niệm về chợ nông thôn 34
2.2 Khái quát mạng lưới chợ miền Tây Cao Bằng 37
2.3 Địa điểm và thời gian họp chợ 50
2.4 Hoạt động mua bán ở chợ 53
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iv
2.4.2 Phương thức mua bán 57
2.4.3 Các loại mặt hàng trao đổi ở chợ 59
Chương 3 VAI TRÕ CỦA MẠNG LƯỚI CHỢ NÔNG THÔN ĐỐI VỚI KINH TÊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA Ở MIỀN TÂY CAO BẰNG 71
3.1 Vai trò của mạng lưới chợ nông thôn đối với kinh tế, xã hội 71
3.1.1 Chợ nông thôn – nhân tố thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa 71
3.1.2 Chợ nông thôn – nhân tố củng cố mối liên hệ giữa các dân tộc 73
3.2 Chợ nông thôn – Thể hiện văn hóa các dân tộc 78
3.3 Những hạn chế trong hoạt động của mạng lưới chợ nông thôn miền Tây Cao Bằng 99
KẾT LUẬN 104
PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iv
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 8(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng)
Trang 9(Nguồn: Tác giả)
Trang 10(Nguồn: Tác giả)
Trang 11vỡ nền kinh tế tự cung, tự cấp khép kín phong kiến Vậy nên, chợ ra đời là nhân tố thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa và thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
không chỉ ở mỗi địa phương mà còn ở cả khu vực và quốc gia
Hoạt động thương mại là cầu nối quan trọng thúc đẩy sự giao lưu kinh
tế, văn hóa giữa các khu vực Trong đó, chợ nông thôn là một trong những môi trường tiếp nhận sự tác động của các yếu tố bên ngoài vào cộng đồng làng xóm, đồng thời là cầu nối cộng đồng làng xóm với thế giới bên ngoài qua hoạt động sản xuất, trao đổi kinh doanh Điều đặc biệt, ở vùng miền núi biên giới “Chợ không chỉ là nơi trao đổi vật phẩm, hàng hóa mà còn là nơi tiếp xúc xã hội, nơi thông đạt tin tức nhạy bén”, “Chợ góp phần truyền bá văn hóa, gieo rắc những cái mới trong cuộc sống và giúp tầm mắt người nông dân trong xã hội phong kiến vượt ra khỏi lũy tre xanh bao bọc, xóm làng chật hẹp
về nhiều mặt, hướng tới những không gian khoáng đại hơn” [28; tr 50] Chính
vì lẽ đó, mạng lưới chợ nông thôn đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Cho đến nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống mang tính toàn diện, khoa học, cụ thể về các loại hình chợ ở khu vực miền Tây Cao Bằng trước năm 1945 vì những lý do khách quan chưa được giới sử học quan tâm nghiên cứu
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Mạng lưới chợ nông thôn ở
miền Tây Cao Bằng trước năm 1945” để nghiên cứu, nhằm khôi phục lại
Trang 122
một cách có hệ thống, khoa học, chân thực về hoạt động trao đổi mua - bán ở địa phương, qua đó để hiểu rõ hơn về đời sống kinh tế của các dân tộc nơi đây, sự giao lưu trao đổi hàng hóa giữa địa phương, nhất là quan hệ giao lưu buôn bán hàng hóa của cư dân hai bên biên giới Việt - Trung Đồng thời, góp phần thiết thực vào việc giúp các ngành chức năng của tỉnh Cao Bằng đưa ra những định hướng, giải pháp mới phù hợp trong quy hoạch, phát triển mạng lưới chợ hiện nay, để từng bước thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương và nâng cao mức sống của người dân, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu đề tài: “Mạng lưới chợ nông thôn ở miền Tây Cao
Bằng trước năm 1945”, chúng tôi được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của
các tác giả đi trước, có đề cập đến vấn đề chợ một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp ở những khía cạnh, lĩnh vực khác nhau
Ngay từ thế kỷ XVII, trong một số tác phẩm viết về làng Việt của các giáo sĩ, thương nhân nước ngoài, có những ghi chép về mạng lưới chợ như
các cuốn sách: “Lịch sử Đàng Ngoài” của Riechard, “Vương quốc Đàng
Ngoài” của A de Rhodes Tiếp đến, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất
hiện một số tác phẩm chuyên khảo của các tác giả người Pháp như “Làng xã
An Nam ở Bắc Kỳ” của P.Ory, “Thành bang An Nam” của Briffaut
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, việc nghiên cứu làng xã Việt Nam được mở rộng hơn trước, bên cạnh những tác giả người Pháp, một số tác giả người Việt Nam đã tham gia nghiên cứu Như các tác giả Pierre Gourou
với tác phẩm “Nông dân vùng đồng bằng Bắc Kỳ”, Phan Kế Bính với “Việt
Nam phong tục”
Sau cách mạng tháng Tám thành công, việc nghiên cứu về làng xã Việt Nam tiếp tục được nhiều học giả quan tâm, trong đó nhiều tác phẩm ít nhiều đề cập tới mạng lưới chợ ở khu vực nông thôn Tiêu biểu có Vũ Quốc
Thúc với “Kinh tế làng xã Việt Nam”; “Xã thôn Việt Nam” của Nguyễn Hồng
Trang 133
Phong (HN, 1959), “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” của
Trần Từ (HN, 1984)
Một số cuốn sách đề cập đến các hoạt động về kinh tế, văn hóa, xã hội
của làng xã Việt Nam như cuốn: “Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế -
văn hóa - xã hội” của Phan Đại Doãn Hay tác giả Nguyễn Quang Ngọc với
cuốn “Một số vấn đề về làng xã Việt Nam”, tác phẩm đề cập đến kết cấu kinh
tế, văn hóa, xã hội của làng xã, trong đó khi nói về kinh tế thương nghiệp tác
giả nói đến hoạt động buôn bán ở các chợ; tiếp đến là cuốn “Về một số làng
buôn ở đồng băng Bắc Bộ thế kỷ XVIII – XIX” (HN, 1993), cuốn sách đã đề
cập đến tình hình kinh tế thương nghiệp cũng như hoạt động buôn bán ở các chợ ở khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả Nguyễn Đức Nghinh, với các bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử: “Chợ Chùa ở thế kỷ VXII”, (1979) “Mấy nét phác thảo về chợ
làng (Qua những tư liệu thế kỷ VXII, XVIII)”, (1980) “Chợ làng trước Cách mạng tháng Tám”, Tạp chí Dân tộc học, số 2-1981 Vấn đề này được tác giả
nghiên cứu một cách có hệ thống về những tên chợ, thời gian họp chợ, cấu trúc chợ làng, sự phân bố vị trí các loại hàng hóa trong chợ
Nguyễn Thừa Hỷ trong bài “Mạng lưới chợ Thăng Long – Hà Nội
trong những thế kỷ XVII, XVIII, XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1-1983,
đã khái quát về hoạt động buôn bán của các chợ Thăng Long, Hà Nội
Bài viết “Quan hệ thương mại Việt Nam – Châu Á từ thế kỷ XIX đến
năm 1945”, của tác giả Nguyễn Văn Khánh, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, năm
2009, đã phác thảo những nét căn bản về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước Châu Á, nhất là các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, ở cả trên đất liền và trên biển
Vũ Thị Minh Hương, với bài viết “Chợ gia súc và việc buôn bán trâu
bò ở Bắc Kỳ thời kỳ 1919 – 1939”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số
1-2001, tác giả đã làm rõ sự ra đời, tổ chức, hoạt động của các chợ gia súc; các luồng buôn bán gia súc chính và các hình thức vận chuyển gia súc ở Bắc
Kỳ dưới thời thuộc Pháp
Trang 144
Tác phẩm “Chợ nông thôn châu thổ sông Hồng trong quá trình chuyển
đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới” (HN, 2002), của tác giả Lê Thị Mai đã
phân tích cở sở kinh tế - xã hội, cấu trúc quan hệ thương mại và vai trò của chợ nông thôn châu thổ sông Hồng, qua khảo sát thực tế ở một số chợ vùng ven sông Hồng
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu khoa học của các sinh viên, học viên cao học của trường Đại học sư phạm Thái Nguyên trong những năm gần đây có đề cập tới mạng lưới và hoạt động của các chợ nông thôn như đề
tài: “Hệ thống chợ ở Bắc Hà – tỉnh Lào Cai trong quá khứ và hiện tại”, tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2006); “Chợ và hoạt động buôn bán nhỏ ở Thái
Nguyên qua Đại Nam nhất thống chí” của Nguyễn Thị Hà (2005), “Hoạt động giao thương ven sông Cầu trước năm 1945” của Nguyễn Trung Dũng
Đề tài “Mạng lưới chợ nông thôn ở Thái Nguyên từ năm 1954 đến năm 2010” của Phạm Thị Thanh Hảo (2011); “Mạng lưới chợ ở huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn (1986 – 2010)” của Đào Minh Thảo (2012)
Như vậy, các công trình này phần nào đó đã đề cập đến mạng lưới chợ
ở nông thôn Tuy nhiên, khu vực miền Tây của tỉnh Cao Bằng, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về mạng lưới chợ nông thôn ở miền Tây Cao Bằng trước năm 1945 Xuất phát từ thực tế đó, có nhiều vấn đề quan trọng cần được làm sáng tỏ về mạng lưới chợ nông thôn ở khu vực miền Tây Cao Bằng, qua đây có được cái nhìn đúng đắn, khách quan và sát thực hơn Song, những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước là những nguồn tư liệu quý,
để chúng tôi tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn của mình
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài này, tác giả mong muốn dựng lại một cách khoa học, chân thực, sinh động bức tranh về chợ và tập trung phác thảo những nét cơ bản nhất về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân ở khu vực miền Tây Cao Bằng trước 1945, để từ đó thấy được vai trò, tác động của mạng lưới chợ đối
Trang 155
với sự chuyển biến cơ cấu kinh tế và quá trình giao thương kinh tế giữa các địa phương trong khu vực
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các hoạt động kinh tế, văn hoá, quá trình trao đổi buôn bán, hoạt động thương mại của cư dân miền Tây Cao Bằng trước 1945
- Phạm vi nghiên cứu
+ Địa bàn nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu mạng lưới chợ nông thôn ở khu vực miền Tây Cao Bằng, bao gồm các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông
+ Giới hạn về thời gian: “Mạng lưới chợ nông thôn ở miền Tây Cao
Bằng trước năm 1945”
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu gốc: Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Đất nước Việt Nam qua các đời, Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Cao Bằng thực lục
- Sách, giáo trình: Đại cương lịch sử Việt Nam (tập I, tập II), Nguồn gốc lịch sử các tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Việt Nam văn hoá sử cương, Cơ sở văn hoá Việt Nam… Các tác phẩm chuyên khảo nghiên cứu của các nhà khoa học đã công bố, xuất bản; các bài báo đã đăng trên các
tạp chí: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học, Nghiên cứu kinh tế
- Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử tỉnh Cao Bằng, Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng, Địa chí tỉnh Cao Bằng, Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng, Văn hóa dân gian Cao Bằng, Sli lượn hát đôi của người Tày – Nùng ở Cao Bằng
Ngoài ra, còn một số nguồn tư liệu khác góp phần làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh
tế miền núi phía Bắc, chương phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng và đặc biệt là nguồn tư liệu khảo sát điền dã về văn bia, truyện kể, câu đối, ca dao
Trang 166
4.2 Phương phán nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp khảo sát điền dã Bên cạnh đó, còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá tư liệu Đặc biệt, chú ý khâu giám định tư liệu, để có thể đưa ra những nhận định khoa học, chân thực với đối tượng nghiên cứu của đề tài
5 Đóng góp của đề tài
Luận văn giới thiệu một cách đầy đủ và cụ thể về mạng lưới chợ nông thôn ở khu vực miền Tây Cao Bằng Trên cơ sở đó làm nổi bật nét đặc trưng của chợ nông thôn miền núi khu vực miền Tây, chợ không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế mà còn mang trong nó những giá trị văn hoá, tinh thần rất riêng biệt
Nội dung của luận văn là tài liệu bổ ích cho việc học tập bộ môn lịch
sử, việc giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường phổ thông Đồng thời, còn
là tài liệu tham khảo giúp cho các cấp lãnh đạo có được cái nhìn đúng đắn, khách quan trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
6 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận Nội dung được cấu thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Khái quát về miền Tây Cao Bằng
Chương 2: Mạng lưới chợ nông thôn ở miền Tây Cao Bằng trước năm 1945
Chương 3: Vai trò của mạng lưới chợ nông thôn đối với kinh tế, xã hội và văn hóa ở miền Tây Cao Bằng
Ngoài ra, trong đề tài còn có các mục tài liệu tham khảo, bảng biểu, bản
đồ hành chính tỉnh, khu vực, lược đồ hệ thống chợ và một số ảnh về chợ
Trang 177
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY CAO BẰNG
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
“Đại Nam nhất thống chí” biên chép, tỉnh Cao Bằng: “ Đông tây cách
nhau 165 dặm, nam bắc cách nhau 115 dặm; phía đông giáp Long Châu phủ Thái Bình nước Thanh 133 dặm, phía tây giáp huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên 32 dặm, phía nam giáp huyện Cảm Hóa và huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn 60 dặm, phía bắc giáp châu Qui Thuận phủ Trấn Yên nước Thanh 55 dặm, phía đông nam giáp huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn và châu Hạ Đống nước Thanh 45 dặm, phía tây nam giáp huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên 45 dặm, phía đông bắc giáp châu An Bình thuộc phủ Thái Bình nước Thanh 152 dặm” [ 38; tr.401]
Với vị trí địa lý như trên, Cao Bằng là địa phương có nhiều tiềm năng
về đất đai, tài nguyên khoáng sản, danh thắng, nhiều cửa ngõ thông thương với Trung Quốc
Khu vực miền Tây Cao Bằng bao gồm các huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông Mỗi huyện đều có vị trí địa lý khác nhau, tạo ra cho vùng những ưu thế riêng Đây là vùng núi cao có địa hình tương đối hiểm trở, lại nằm xa trung tâm của tỉnh, nhưng nơi đây được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên khoáng sản, có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc
và nhiều đường mòn dân sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên biên giới thường xuyên qua lại giao lưu kinh tế, văn hóa
Trang 188
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” biên chép về địa giới châu Bảo
Lạc thế kỷ XIX: “Đông tây cách nhau 93 dặm, nam bắc cách nhau 140 dặm, phía đông đến địa giới châu Chiêm Hóa 33 dặm, phía tây đến địa giới huyện
Vị Xuyên 6 dặm, phía nam đến địa giới huyện Vị Xuyên và Chiêm Hóa 96 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Để Định” (Phía bắc huyện Để Định giáp huyện Trấn Yên nước Thanh 81 dặm, như vậy phía bắc huyện Bảo Lạc khi chưa tách huyện có địa giới giáp huyện Trấn Yên nước Thanh là 99 dặm – TG) [38; tr.338]
Còn sách “Đồng Khánh địa dư chí” chép như sau: “Địa hạt hai huyện
(Vĩnh Điện và Để Định) phía đông giáp địa giới châu Bạch Thông tỉnh Thái Nguyên và huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp Vị Xuyên, phía nam giáp châu Chiêm Hóa, phía bắc giáp hai phủ Khai Hóa, Trấn An nước Thanh” [44; tr.871]
Về địa giới của Nguyên Bình và Thông Nông lịch sử biên chép: “Đông tây cách nhau 31 dặm, nam bắc cách nhau 119 dặm, phía đông đến địa giới huyện Thạch An 8 dặm, phía tây đến địa giới huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên 23 dặm, phía nam đến địa giới huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn 60 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Quảng Uyên 59 dặm” [38; tr.403] Huyện
Thông Nông (trước là một tổng của huyện Thạch Lâm – TG), sách “Đồng
Khánh địa dư chí” viết: “Phía đông giáp giới huyện Thạch An, phía tây giáp
giới phủ Trấn An nước Thanh, phía nam giáp giới huyện Nguyên Bình, phía bắc giáp giới châu Quy Thuận nước Thanh” [44; tr.658]
Như vậy, về mặt vị trí địa lý, khu vực miền Tây Cao Bằng có điều kiện khá thuận lợi trong quan hệ giao thương với các tỉnh trong nước và cả với Trung Quốc
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Cao Bằng có tổng diện tích đất tự nhiên là 670.785,56 ha Trong đó, khu vực miền Tây chiếm gần 1/2 diện tích toàn tỉnh (302.905, 97 ha) Xét
Trang 199
trong tổng thể địa hình Cao Bằng, khu vực miền Tây là một quần thể núi non hùng vĩ, có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe núi, núi đá, chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ các thung lũng hẹp, sâu Có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 500-600 mét
Đất đai: Địa hình khu vực miền Tây thuộc hai cao nguyên Lạng Cá và
Bình Lạng, đây là các cao nguyên đá đồ sộ nằm ở phía tây huyện Bảo Lạc và huyện Bảo Lâm Cao nguyên bị cắt xẻ bởi nhiều thung lũng sâu với những vách
đá dựng đứng, có nhiều vực thẳm, với nhiều ngọn núi cao từ 1200m -1800m Chính từ điều kiện tự nhiên này mà giao thông đi lại ở đây rất khó khăn
Hệ thống núi ở khu vực miền Tây có sự xen lẫn giữa: “Núi đá núi đất liên tiếp, khó đếm được thực có bao nhiêu ngọn núi Duy có núi đất Cổ Long
ở xã Yên Phú là tương đối cao Núi đá Ngọc Nữ ở xã Mông Ân, núi đá ở trang Ngọc Mạo, núi đá Tam Phùng là những ngọn núi cao và hiểm trở Còn nữa chỉ là những núi tầm thường” [44; tr.872]
Các ngọn núi ở khu vực miền Tây Cao Bằng cao dần về phía Đồng Văn (Hà Giang), thiên nhiên hùng vĩ, địa hình hiểm trở đã ban tặng cho vùng đất này nhiều sản vật quý hiếm từ gỗ, thú vật, kim loại quý đến các nguồn dược liệu quý Ngoài ra, nhiều ngọn núi, đèo ở đây đã được ghi vào sử sách:
- Núi Vân Trung: “Ở cách huyện Để Định 43 dặm về phía tây, tầng núi
chồng chất, quanh co kéo dài, chỗ cao chỗ thấp như đợt sóng; trong núi mây
mù dày đặc, người ta đứng cách nhau gần một trượng mà không trông rõ, không khác gì đứng trông mây, nên gọi tên thế Về phía đông núi có các địa điểm Ngư Sơn và Tiểu Hiệp, là đường mà đến tỉnh Cao Bằng tất phải đi qua;
từ Ngư Sơn đến Vân Trung nửa ngày, đến Tiểu Hiệp cũng nửa ngày, đến Cao Bằng 5 ngày Về phía nam núi có các địa điểm Thạch Cốc và Ca Kiệu, là đường mà đến tỉnh Thái Nguyên tất phải đi qua, từ Thạch Cốc đến Vân Trung nửa ngày, đến Ca Kiệu một ngày rưỡi, đến Thái Nguyên lại 9 ngày Về phía tây núi có các địa điểm Côn Lôn và Thiển Hiệp, là đường mà đến tỉnh Tuyên
Trang 2010
Quang tất phải đi qua; từ Côn Lôn đến Vân Trung 5 ngày, đến Thiển Hiệp nửa ngày, đến Tuyên Quang 15 ngày Về phía bắc núi này đến đèo Na Băng
và ải Bình Môn là đường mà đến huyện Trấn Yên nước Thanh tất phải đi qua,
hai địa điểm ấy cách Vân Trung đều nửa ngày” [38; tr.347]
- Núi Ngọc Mạo: “Ở trang Ngọc Mạo về phía tây huyện Để Định, có
khoảng đất bằng phẳng rộng chừng hơn 2000 mẫu, ở giữa nổi vọt lên một quả núi, như hình cái mũ, nên gọi tên thế; về phía trước núi có hồ tức hồ Ngọc Mạo, rộng hơn một mẫu, nước hồ trong trẻo đáng ưa” [38; tr.347]
- Núi Thẩm Bát: “Ở cách huyện Để Định 13 dặm về phía tây, liền với
núi Ngọc Mạo Năm Minh Mệnh thứ 16, quan quân đánh dẹp Vân Trung, thiêu chết nghịch Vân ở đây” [38; tr.347]
- Đèo Na Băng: “Ở cách huyện Để Định 10 dặm về phía bắc, giáp địa
phận huyện Trấn Yên nước Thanh, đường núi gồ ghề, rất hiểm trở”
- Núi Bình Môn: “Ở cách huyện Để Định 10 dặm về phía tây, giáp với
địa giới với huyện Trấn Yên nước Thanh Có đặt cửa ải, Bình Môn là một trong 7 ải” [38; tr.348]
- Núi Na Tình: “Cách huyện Thạch Lâm hơn 50 dặm về phía tây bắc,
đường từ hang Thông đến đây phải đi qua 2 ngày, núi này là chỗ giáp giới giữa Cao Bằng và Tuyên Quang Năm Minh Mệnh thứ 14, thổ phỉ tụ trên núi này xếp đá làm đồn lũy, quan quân phá lũy bắt được” [38; tr.412]
Ngoài ra, ở khu vực miền Tây Cao Bằng còn có nhiều ngọn núi được sách biên chép như Ngư Sơn, Côn Lôn, Tam Liên, Ca Kiệu, Ba Lâm, Hiếu Sơn, Khắc Thiên Hoàng Sơn, Thiên Mã, Na Sào, Bắc Triều
Là một khu vực miền núi cao nên miền Tây Cao Bằng phần lớn diện tích là rừng và đồi núi, diện tích đất ruộng không nhiều, chủ yếu là một số dải đất ở ven chân núi hay bên bờ suối khá màu mỡ, thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả như mận, cam, lê Sử cũ chép ở đây có khá nhiều thung lũng, vùng đất rộng: “Về phía tây huyện Để Định có khoảng đất bằng phẳng rộng chừng hơn 2000 mẫu” [38; tr.347]
Trang 2111
Rừng: ở khu vực miền Tây Cao Bằng, được chia làm hai loại: rừng trên
núi đất, đồi đất và rừng trên núi đá Rừng ở đây cung cấp cho cư dân địa phương nhiều lâm sản, nhiều loại gỗ quý như lim, nghiến, táu, lát đã được dùng vào việc xây dựng nhà cửa Chỗ nào trên đất miền Tây cũng có tre, nứa, vầu Có nhiều cây thuốc, dược liệu quý: sa nhân, hà thủ ô, mã tiền, phật thủ, tam thất, xuyên khung, mật ong, măng, mộc nhĩ, u tàu, củ nâu Ngoài ra, rừng nơi đây, còn là nơi sinh sống của nhiều loại mông thú như hổ, báo, gấu, hưu, nai, lợn lòi, khỉ, cầy hương, tê tê
Khoáng sản: Khu vực miền Tây Cao Bằng cũng là nơi có nhiều tài
nguyên khoáng sản như vàng, bạc, thiếc, sắt, cát sỏi, đá vôi, chì, kẽm, Antimon (ở Bảo Lạc, Nguyên Bình và Thông Nông); quặng Barite tập trung ở Bảo Lâm Sử cũ chép trước ở huyện Để Định có mỏ vàng Niêm Sơn Ở huyện Thạch Lâm có 2 mỏ sắt: “Khải Hòa đông và Khải Hòa nam hàng năm thuế sắt chín là 480 cân, cứ một trăm cân sắt nộp thay bằng 5 lạng bạc” [38; tr.429] Tuy nhiên, ngày nay nhiều loại tài nguyên đã cạn kiệt, do việc tận thu và khai thác không hợp lý
Sông ngòi: Do bị tác động của địa hình nên sông suối ở miền Tây Cao
Bằng có độ dốc khá cao, hướng chạy tập trung về phía tây, ở đây có các con sông lớn là sông Gâm, sông Neo, sông Mãng …
Sông Gâm là con sông quan trọng nhất ở khu vực miền Tây, con sông
“phát nguyên từ phủ Trấn Yên, tỉnh Quảng Tây nước Thanh, chảy về phía nam, vào địa phận của huyện Để Định, đến địa phận huyện Vĩnh Điện thì chảy ngoặt sang phía tây, qua các núi Tượng Lâm và Hạ Lãm, lại chảy ngoặt sang phía đông qua địa phận châu Chiêm Hóa” [38; tr.350-351] Sông Gâm còn có tên gọi khác là Pác Miào, sông Gâm vào mùa hạ và mùa thu nước có màu đục, về mùa đông và mùa xuân nước trong, lòng sông khá hẹp, lại có nhiều đá ngầm nên việc đi lại bằng thuyền bè khó khăn Sông Gâm đoạn thuộc địa phận xã Yên Lãng, huyện Để Định (thuộc địa phận xã Bảo Toàn,
Trang 2212
Thượng Hà ngày nay – TG), còn là nơi chứng kiến nhiều trận chiến ác liệt giữa quan quân triều với các thổ tù ở địa phương, “thời Tây Sơn, thổ mục Nông Phúc Liêm đặt phục binh ở đây, quân Tây Sơn bị chết không biết bao nhiêu Năm Minh Mệnh thứ 14, quan quân tiến đánh sào huyệt của giặc (nghĩa quân của Nông Văn Vân – TG) ở Vân Trung cũng đi qua khúc sông này” [38; tr.351]
Sông Neo (hay còn có tên gọi là Tà Miào), con sông này bắt nguồn từ Nặm Pắt, xã Đình Phùng và xã Huy Giáp chảy qua Nà Han xã Hưng Đạo giáp
xã Hồng Trị tại xóm Nà Pồng (xã Lý Bôn), dọc theo Quốc lộ 34 và điểm đến cuối tại thị trấn Bảo Lạc gặp sông Gâm tại hai điểm, phía trên ngã ba Pác Miào, phía dưới gặp tại ngã ba cuối mỏm đồi Chẻ Ròn, với tổng chiều dài 12 km
Sông Mãng được hình thành từ bốn nguồn, sử biên chép: “một nguồn
từ ải Bình Vu nước Thanh, từ phía tây bắc chảy xuống qua các xã Na Xác, Hà Quảng thuộc huyện Thạch Lâm đến xã Quang Trù; một nguồn từ cửa ải Lũng Phong châu Qui Thuận nước Thanh, cũng từ phía bắc chảy xuống, qua xã Trưng Hà thuộc huyện Thạch Lâm, nước do hang đá chảy ra, qua các xã Hòa Lục, Phù Tang và Nghi Bố, đến xã Quang Trù, hợp lưu mà chảy về phía đông, qua các xã Xuân Trù, Bác Xá và Linh Hoàng lại chảy về phía đông đến
xã Hà Gian; một nguồn từ xã Phù Giản thuộc huyện Thạch Lâm, nước do hang đá chảy ra, qua hai xã Tĩnh Oa và Thái Lai, lại chảy về phía đông đến xã
Hà Gian thì hợp lưu, lại chảy về phía đông nam qua các xã Minh Loan, Nhượng Bạn và An Ninh; một nguồn từ cửa ải Niêm Chi châu Qui Thuận, cũng từ phía tây bắc chảy xuống, qua xã Thông Nông thuộc huyện Thạch Lâm, nước từ hang đá chảy ra qua các xã Lương Y, Thông Sơn, Đa Năng, Lương Năng, Lan Can, Trùng Khôn và Hòa Ninh, lại chảy về phía đông qua
xã Nhượng Bạn và An Ninh, lại chảy về phía đông nam, qua các xã Cối Khê, Thọ Cường, Cầu Lâm, Na Lữ và Vu Thủy, lại chảy về phía đông nam qua các
xã Xuân Lĩnh, Tân Trại, Hà Hoàng và Xuân Bá, đến phố Mục Mã phía tây tỉnh thành, đến đây, có nước sông Hiến Giang ở phía đông hợp lại, chảy vong
Trang 2313
qua phố Lương mã về phía đông tỉnh thành, đến đây có nước sông Cổn Giang
ở phía đông hợp lại, lại chảy về phía đông bắc làm thành sông Mã, chảy đến các xã Cách Linh và Phất Mê thuộc huyện Quảng Uyên thì hợp với sông Huề Giang mà chảy qua phía đông ải Na Thông, rồi vào địa phận Long Châu nước Thanh” [38; tr.314-315]
Ngoài sông Gâm, sông Mãng, sông Neo, mật độ các con suối, hồ ở khu vực miền Tây khá dày như suối Khuổi Mảng, Nà Dương, Khuổi Phầy, Khuổi Vác, Bình Lãng nhất là hồ Đồng Mu (Xuân Trường, Bảo Lạc), là hồ nước quan trọng trong khu vực, mặt hồ cao gần 900m so với mực nước biển, có tác dụng điều hòa khí hậu và tưới tiêu cho đồng ruộng
Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khe suối, địa hình bị cắt
xẻ nên giao thông ở khu vực miền Tây Cao Bằng trước đây hết sức khó khăn
Sách “Đồng Khánh địa dư chí” có chép: “Qua xứ Nà Sài xã Yên Lãng đến
phố Vân Trung xã Ân Quang đi khoảng 4 ngày đường” hoặc “ từ phố Vân Trung đi về phía bắc, qua trang Ngọc Mạo cùng xã, đến xứ Lũng Mật giáp huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng, đi khoảng 2 ngày rưỡi” [44; tr.872]
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đầu tư, thông qua các chương trình 134, 135 giao thông đi lại ở đây phần nào đã được cải thiện rõ rệt, đường tỉnh lỵ, huyện lỵ đã được mở mang và rải nhựa, phần lớn các xã đã có đường ô tô đến trung tâm Quốc lộ 34 chạy qua khu vực đang từng bước được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân, mở ra cơ hội cho toàn vùng trong phát triển kinh tế - xã hội
Khí hậu Cao Bằng nói chung và khu vực miền Tây Cao Bằng nói riêng, đều mang những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, được hình thành dưới sự tác động kết hợp của những nhân tố về nhiệt đới (gió mùa, chế độ bức xạ) và nhân tố gió mùa trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, ở các huyện trong tỉnh Cao Bằng đều có những nét tiểu vùng về khí hậu do điều kiện địa lý, cảnh quan quy định Miền Tây Cao Bằng trong một năm cũng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
Trang 2414
Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép: “Mùa hè và mùa thu thường
mưa nhiều, mùa đông và mùa xuân thường âm u, mỗi khi mưa lâu tiếp đến ngày nắng, thì khí nóng khác thường; đến tiết sương giáng thường có gió rét, tháng 3 và tháng 9 khí nóng nung nấu, nhiều người bị cảm …; huyện Để Định
và huyện Vĩnh Tuy, hàng năm đến mùa đông giá rét, nước đông thành băng (xã Mậu Duệ huyện Để Định và các xã thuộc tổng Tụ Long huyện Vĩnh Tuy, giáp với đất nước Thanh, mùa đông rét buốt, nước đông lại thành băng, người
ta thường lấy dao sắt đào từng khối, bỏ vào sọt tre gánh về, dùng lửa đun cho chảy ra, mới có thể thổi nấu được) Làm ruộng nơi sớm nơi muộn khác nhau (các châu huyện Để Định, Vĩnh Điện… hàng năm cứ tháng 2, tháng 3 gieo
mạ, tháng 4, tháng 5 cấy và gặt vào tháng 8, tháng 9)” [38; tr.341] Tiếp “nếu cấy hơi muộn đến cuối mùa thu khí hậu giá lạnh, lúa không trổ bông được mà chết khô Người bản thổ theo tục, thường xem lá cây hoặc mưa sấm để nghiệm được mùa hay mất mùa (Tục cho rằng, trên núi đất lá cây đỏ thì không nên cấy lúa, trên núi đá lá cây đỏ là triệu chứng được mùa)” [38; tr.407]
Theo nhận xét của người xưa: “Đất giáp nước Thanh, nhiều sương núi khí độc, đến giờ Thìn, giờ Tỵ mới hửng nắng Đến cuối mùa xuân còn rét Mùa hè nhiều mưa lũ, đường thủy đường bộ đều khó đi Mùa đông sương độc như mưa, đến giờ Ngọ mới tan, rét buốt” [44; tr.872] Hoặc “Đất liền vùng chân rừng, nhiều sương mù chướng khí, mặt trời lên cao 2, 3 trượng sương
mù mới tan, từ thu đông đến mùa xuân đều như thế Mùa xuân nhiều gió đông bắc, tháng 3 trời còn rét Tháng 4 thời tiết ấm dần Tháng 5, 6 nắng nóng, mưa nhiều, sông suối dâng tràn, sau mưa từ 3 đến 5 ngày mới rút hết Tháng 7, 8 lui nóng, đêm đến lạnh dần Tháng 9, 10 trời thường âm u Tháng 11, 12 gió bắc, rét đậm, thỉnh thoảng có mưa tuyết Nhưng bốn mùa không có gió bão Nông vụ tháng 5, 6 xuống cấy, tháng 9, 10 thu hoạch, đại khái cũng như ở trung châu” [44; tr.657]
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23,50c Về mùa nóng, nhiệt
độ cao nhất 28,60c, thấp nhất 23,10c Mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình
Trang 2515
khoảng 13,50c, có năm lạnh nhiệt độ có thể xuống 00c; mùa đông thường đến sớm và kết thúc muộn
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1276,1 mm3 , tháng mưa nhiều nhất
là tháng 6, tháng 7 Độ ẩm không khí trung bình trong năm 80%, cao nhất 88% (tháng 7), thấp nhất là 67% (tháng 3) [6; tr.28] Ở các xã có nhiều mây
mù bao phủ, âm u
Như vậy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nêu trên đã mang lại cho khu vực miền Tây khá nhiều thuận lợi trong sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển lâm nghiệp; giao thương trao đổi buôn bán Song nơi đây, cũng là khu vực còn gặp nhiều khó khăn do giao thông đi lại, cơ sở vật chất thiếu thốn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân
Sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây sẽ là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa cho miền Tây, thực hiện xóa đói giảm nghèo, từng bước xây dựng đời sống cho đồng bào các dân tộc nơi đây
1.2 Khái quát lịch sử hành chính miền Tây Cao Bằng trước năm 1945
Miền Tây Cao Bằng cũng như những vùng đất khác trên lãnh thổ Việt Nam, cũng mang trong mình bề dày lịch sử, với những biến cố thăng trầm, lúc thịnh lúc suy Xưa vùng đất này thuộc đất châu Bảo Lạc và châu Thạch Lâm, trong tiến trình lịch sử dân tộc, Bảo Lạc đã có nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính:
Thời Hùng Vương, vùng đất miền Tây nằm trong 15 bộ của nước Văn Lang Thời Bắc thuộc, đời Tần thuộc Tượng Quận; đời Hán thuộc quận Giao Chỉ; thời Đường là Châu Thang
Thời nhà Lý (1010 - 1225), huyện Bảo Lạc thuộc châu Quảng Nguyên; thời nhà Trần (1226 - 1400) thuộc lộ Quốc Oai Sử chép: “Châu Bảo Lạc, xưa là huyện Bảo Lạc thuộc châu Quảng Nguyên” [38; tr.338] Như vậy, dưới thời Lý - Trần, Bảo Lạc là một vùng đất của châu Quảng Nguyên thuộc tỉnh Cao Bằng
Trang 2616
Đầu thời Lê thuộc trấn Tuyên Quang, giữa năm 1466 đổi thành thừa tuyên Tuyên Quang, với một phủ, một huyện, năm châu Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi làm huyện Định Châu, sau lại đổi thành châu Bảo Lạc Còn vùng đất Thạch Lâm “Đầu đời Lê Thuận Thiên thứ 1 thuộc Bắc Đạo, năm Quang Thuận thứ 7 đặt Thái Nguyên thừa tuyên gọi là phủ Bắc Bình, năm Quang Thuận thứ 10 đổi làm Ninh Sóc thừa tuyên, đời Hồng Đức lại đổi làm Thái Nguyên thừa tuyên, gọi là phủ Cao Bình lãnh 4 châu là Thái Nguyên, Lộng Nguyên, Thượng Lang, Hạ Lang, sau đổi châu Thái Nguyên làm châu Thạch Lâm” [38; tr.402]
Đến thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, về cơ bản đường ranh giới giữa các châu vẫn được giữ nguyên như thời nhà Lê Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), sau khi dẹp được cuộc phản biến của Nông Văn Vân, Minh Mệnh đã tách châu Bảo Lạc thành hai huyện Vĩnh Điện và Để Định, lúc đầu vẫn thuộc phủ An Bình Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) đổi thành phủ Yên Ninh Còn châu Thạch Lâm vào năm thứ 16 được chia tách thành 2 huyện Thạch Lâm và Thạch An thuộc phủ Hòa An Năm Tự Đức 27 (1874) phủ Hòa An gồm 3 huyện Thạch Lâm, Thạch An và Nguyên Bình Huyện Thông Nông ngày nay
là một tổng nằm trong huyện Thạch Lâm
Huyện Vĩnh Điện, gồm 2 tổng, 11 xã do phủ kiêm lý:
1 Tổng Yên Vĩnh, 6 xã:
2 Tổng Yên Phú, 5 xã:
- Xã Yên Phú - Xã Thanh Lương - Xã Lạc Nông
- Xã Phú Nam - Xã Đường Âm
Huyện Để Định, gồm 2 tổng, 9 xã do phủ kiêm nhiếp:
1 Tổng Đông Quang, 5 xã:
- Xã Yên Minh - Xã Bách Đích
Trang 27- Xã Cẩm Lý - Xã Xuân Hoảng - Xã Kế Môn
- Xã Mang Động - Xã Lương Trà - Xã Bốc Thượng
2 Tổng Thượng Quan, 8 xã, tran:
- Xã Thượng Quan - Xã Vân Tòng - Xã Thượng Ân
- Xã Kim Mã - Xã Tam Lộng - Xã Vụ Nông
- Xã Hoành Mô - Xã Linh Quang
Tổng Thông Nông, 12 xã, thôn, phố, động:
- Xã Thông Nông - Xã Lương Y - Xã Lương Năng
- Xã Đa Năng - Xã Thông Sơn - Xã An Dương
- Xã Cần Nông - Xã Lang Can - Phố Trung Thảng
- Động Suối Điêu - Động Suối Đáo - Động Môn Độc Sau khi đánh chiếm được Cao Bằng (1886), thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng và thiết lập bộ máy cai trị bằng quân sự dưới dạng các đạo quan binh Đến đầu thế kỷ XX, vùng đất Bảo Lạc được tách về địa phận tỉnh Cao Bằng Vùng đất Thông Nông thuộc về châu Hà Quảng Sau khi sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng, châu Bảo Lạc có 2 tổng: Nam Quang và Mông Ân
Trang 28Tổng Thông Nông, gồm 8 xã: Cần Nông, Đa Năng, Lang Can, Lương
Y, Thông Nông, Thông Sơn, Yên Dương
CP (25/9/2000) của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bảo Lạc để tách thành lập huyện Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng
Khu vực miền Tây Cao Bằng hiện nay, địa giới hành chính một số xã
có sự thay đổi, nhiều xã mới được thành lập:
- Huyện Bảo Lạc gồm có 1 thị trấn 16 xã, với diện tích đất tự nhiên là 92063,7 ha, gồm các xã: Thị trấn Bảo Lạc, Cốc Pàng, Thượng Hà, Cô Ba, Bảo Toàn, Khánh Xuân, Xuân Trường, Hồng Trị, Kim Cúc, Phan Thanh, Hồng An, Hưng Đạo, Hưng Thịnh, Huy Giáp, Đình Phùng, Sơn Lập, Sơn Lộ Với tổng diện tích đất tự nhiên là 92.063,68 ha [6; tr.12]
Trang 2919
- Huyện Bảo Lâm, với số đơn vị hành chính 1 thị trấn và 13 xã, gồm: Thị trấn Pác Miều, Đức Hạnh, Lý Bôn, Nam Cao, Nam Quang, Vĩnh Quang, Quảng Lâm, Thạch Lâm, Tân Việt, Vĩnh Phong, Mông Ân, Thái Học, Thái Sơn, Yên Thổ Với diện tích đất tự nhiên là 91.206,4 ha [6; tr.11]
- Huyện Nguyên Bình, có 13 xã, 2 thị trấn: Thị trấn Nguyên Bình, thị trấn Tĩnh Túc và các xã: Yên Lạc, Triệu Nguyên, Ca Thành, Thái Học, Vũ Nông, Minh Tâm, Thể Dục, Bắc Hợp, Mai Long, Lang Môn, Minh Thanh, Hoa Thám, Phan Thanh Với diện tích đất tự nhiên 83.915,71 ha [6; tr.17]
- Huyện Thông Nông, với 1 thị trấn và 10 xã: Thị trấn Thông Nông và các xã Cần Yên, Cần Nông, Vị Quang, Lương Thông, Đa Thông, Ngọc Động, Yên Sơn, Lương Can, Thanh Long, Bình Lãng Với tổng diện tích đất tự nhiên là 35.720,14 ha [6; tr.12]
1.3 Các thành phần dân tộc
Miền Tây Cao Bằng là khu vực đất rộng người thưa, dân cư sống phân tán Chiếu theo biên chép của triều Nguyễn, khu vực miền Tây Cao Bằng xưa với dân số tương đối ít, cụ thể, hai huyện Vĩnh Điện và Để Định: “Huyện Vĩnh Điện: Theo sổ cũ 334 người Huyện Để Định: Theo sổ cũ 467 người” [44, tr 873] Như vậy, dân số hai huyện Vĩnh Điện và Để Định có số dân là
801 người Cộng thêm dân ngụ cư thuộc hộ, khách hộ, người Thanh, người Nùng, Mán theo biên chép trên thì huyện Vĩnh Điện có 140 người, huyện Để Định có 711 người
Cả huyện Thạch Lâm, trong đó có tổng Thông Nông: “Nhân số các hạng theo sổ cũ 1969 người Hiện nay, 1148 người” [44; tr.659] Còn huyện Nguyên Bình, sách chép: “Nhân số các hạng theo sổ cũ 595 người Hiện có
148 người” [44; tr.667] Rõ ràng dân cư ở khu vực miền Tây Cao Bằng vô cùng thưa thớt, số dân ngụ cư còn đông hơn dân chính cư
Theo số liệu thống kê năm 2009 (số liệu kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009), số dân toàn khu vực miền Tây Cao Bằng 167.915 người, với
Trang 3020
số hộ là 34.828 hộ, gồm 9 dân tộc anh em cùng sinh sống, đông nhất là dân tộc Dao
Bảng 1.1: Thống kê dân số theo thành phần dân tộc
ở miền Tây Cao Bằng (Năm 2009) Stt Dân tộc Số người Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng 2010)
Các cộng đồng dân tộc sống xen kẽ, hòa hợp với nhau, “nhân dân thì người Thanh, người Thổ, người Nùng, người Mán ở lẫn với nhau, mỗi chủng tộc nói một thứ tiếng khác nhau” [38; tr.342] Dân tộc Tày, Nùng chủ yếu sống ở vùng thấp và lưng chừng, quy tụ thành từng làng, bản, có truyền thống đoàn kết gắn bó với nhau, có tập quán canh tác cây lúa nước, trồng ngô, sắn, đậu tương, sản xuất mang tính định cư lâu dài Dân tộc H’Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chay sống ở vùng cao, sườn đồi, núi; nhà cửa có phần đơn sơ, một bộ phận dân cư còn sống du canh, du cư, phát nương làm rẫy Dân tộc Kinh, Hoa thường sống ở các phố chợ, làm nghề buôn bán kinh doanh các mặt hàng lương thực, thực phẩm; làm nghề thủ công, các dịch vụ xay sát, chế biến đồ
ăn uống Lịch sử phát triển của mỗi tộc người trong đại gia đình các dân tộc ở vùng đất này đều mang những nét khác biệt, vì mỗi dân tộc đến vào những thời kỳ lịch sử khác nhau, sống trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau,
từ đó hình thành những phong tục tập quán riêng Sử cũ chép: “Dân hai huyện (Để Định và Vĩnh Điện – TG) nguyên có người Thổ (Tày), Nùng, Mèo, Mán,
Trang 3121
mỗi dân tộc có một hai tộc, gồm ba bốn hạng, phong tục tiếng nói đều khác nhau, không học hành, ít hiểu biết Trong đó, người Thổ tương đối có văn lễ, biết điều sỉ nhục Các tục cưới xin, tang ma, cúng tế nửa xa xỉ, nửa tiết kiệm Người Nùng ở chân núi, người Mán ở sườn núi, người Mèo ở đỉnh núi, áo quần đơn giản, không trang sức hoa văn Họ đều ở chỗ rừng núi, đinh tráng các hộ đều có súng kíp, dao nhọn để chống lại thú dữ phần nhiều đều giỏi săn bắn” [44; tr.871]
Sánh “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Người Thổ người Nùng ở lẫn
vẫn nhau, ít văn học; người làm ruộng tính tình chất phác quê mùa; việc thờ
tự theo thời tiết cũng gần giống người Kinh Lại thường dựng bia ghi nhớ, không quên ơn đức; thích việc nghĩa, có việc đã cách mấy đời mà vẫn tưởng nhớ, dựng cờ xướng nghĩa đánh kẻ thù chung Người Thổ giàu có thì ra ở riêng, để của riêng; người Nùng giàu có thì vẫn ở chung ăn chung với nhau
Về hôn nhân thì người Nùng người Thổ không lấy lẫn nhau Có khi nhà gái cưới rể (người Thổ, người Nùng, người nào có con gái không con trai, thì con gái cưới chồng, sau khi đã cưới người con trai đổi theo họ nhà vợ, vĩnh viễn được ăn thừa tự ); cũng có khi trai gái lấy nhau, không cần mối lái, chỉ bằng lòng nhau khi hát chơi là được (việc hôn nhân không cần mối lái, trai gái thường hát ghẹo nhau ở chợ búa phố phường trong một, hai ngày, nếu hai bên bằng lòng nhau, thì con gái dắt con trai về nhà) Người đau ốm không cần thuốc thang, chỉ giao tính mệnh cho ông đồng bà cốt (người có đau ốm, không tìm thầy thuốc điều trị, chỉ mời ông đồng bà cốt lập đàn cầu đảo)” [38; tr.407-408] Hoặc “cối giã gạo thì dùng sức nước, làm cọn để lấy nước vào ruộng, đốt rừng làm nương, moi đất gieo hạt, ở bằng nhà sàn, mặc ưa màu xanh, thì các chủng tộc đều giống nhau” [38; tr.342]
Như vậy, qua cách miêu tả trên về phong tục tập quán của các tộc người, ta thấy phần lớn họ sống rất lạc hậu, sống trên núi cao, nhiều dân tộc chưa có nét văn hóa, văn lễ riêng trong sinh hoạt Do sự chia cắt về không
Trang 3222
gian nên họ gần như không có sự giao tiếp, quan hệ với bên ngoài, sống phân tán, biệt lập Đây là nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu, sống khép kín của các tộc người khu vực miền Tây Cao Bằng
Trên cơ sở tư liệu lịch sử đã chép, chúng ta có thể khái quát về nguồn gốc các tộc người ở miền Tây Cao Bằng như sau:
- Dân tộc Tày: người Tày ở đây sống xen cư với các dân tộc khác Dân
tộc Tày còn có các tên gọi khác như “Tày Đeng” hoặc “Thổ” Tư liệu lịch sử cho biết, từ thời thượng cổ họ là người bản địa ở đây, tên gọi là người Tày
Họ là cư dân giỏi nghề trồng lúa nước Nơi cư trú của đồng bào Tày là vùng thấp, gần sông suối thuận lợi cho trồng lúa nước Trong tiến trình lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc, người Tày ở khu vực miền Tây Cao Bằng cũng có nguồn gốc hình thành khác nhau: bộ phận người Kinh ở dưới xuôi lên bị Tày hóa, họ là con cháu các công thần triều Lê, được điều lên trấn ải biên cương, sau đó được phân phong thế tập cai quản địa phương và nối đời giữ đất; hoặc lên đi dạy học; hoặc tìm đất sinh nhai; đặc biệt là con cháu bề tôi nhà Mạc và những người phò mã giúp nhà Tây Sơn, rồi dân tứ xứ tới buôn bán Trải qua nhiều đời sinh sống tại địa phương biến thành người Tày (hay còn được gọi là người biến Thổ)
- Dân tộc Nùng: là dân tộc thiểu số có nhiều nhóm nhất như Nùng Inh,
Nùng Khen Lài, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Giang, Nùng Hàn Xích Mặc
dù có nhiều nhóm khác nhau, nhưng từ xưa đến nay, các nhóm dân tộc Nùng
ở đây cư trú xen kẽ với các dân tộc khác Các làng bản người Nùng hình thành từng cụm dân cư ở bên cạnh sườn đồi, chân núi đá; đồng bào hầu hết ở nhà sàn (4 mái), một số ít ở nhà phòng thủ Người Nùng có nhiều ngành nghề nổi tiếng như rèn đúc nông cụ, nghề dệt vải, đan lát, làm giấy
- Dân tộc Dao: có hai ngành là Dao Đỏ và Dao Tiền, họ cư trú ở vùng
lưng chừng núi, những thung lũng núi đá và núi đất Các xóm, bản cư trú xen
kẽ với các dân tộc khác ít Người Dao có nhiều nghề thủ công truyền thống
Trang 3323
như làm giấy bản, rèn sắt, nghề kim hoàn với các sản phẩm nổi tiếng như vòng cổ, vòng tay bằng bạc Người Dao hầu hết làm nhà trệt, hình vuông, bài trí trong nhà ngăn nắp hợp lý Các gia đình thường chung sống từ 3-4 đời, mọi người quý trọng nhau, ít xảy ra mâu thuẫn Đồng bào Dao có nhiều truyền thống tốt đẹp trong đời sống và sản xuất như giúp đỡ nhau lúc khó khăn, đói khổ, chung sức nhau trong sản xuất Người Dao ở khu vực miền Tây Cao Bằng sống tập trung đông nhất tại huyện Nguyên Bình
- Dân tộc Mông: là dân tộc đến vùng đất miền Tây Cao Bằng khá
muộn Dân tộc Mông có ba ngành là Mông trắng, Mông hoa, Mông đen Đồng bào cư trú ở vùng cao núi đá, ít tạo thành xóm làng đông đúc Ở miền Tây Cao Bằng hiện nay, có xã 100% là dân tộc Mông như xã Tân Việt (huyện Bảo Lâm) hoặc gần 100% như xã Đức Hạnh (huyện Bảo Lâm) và xã Hồng
An (huyện Bảo Lạc) Các xóm, bản, xã của người Mông đều rải rác ở các sườn núi cao, nhà cửa đơn sơ nhưng sống tình nghĩa Họ làm nương rẫy với phương thức canh tác chủ yếu là phát hoang canh tác Các loại cây trồng gồm
có ngô, đậu, lúa mạch, rau Cây lương thực chính của người Mông là ngô Nghề săn bắt có vị trí khá quan trọng trong cuộc sống của đồng bào, vừa có ý nghĩa bảo vệ mùa màng, vừa cung cấp một phần thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày của người dân
Một thực tế cho thấy rằng, đời sống của đồng bào Mông ở miền Tây Cao Bằng còn thấp, đường giao thông đến các xóm, bản còn rất khó khăn, một số nơi không thể mở đường tới thôn, xóm; các phúc lợi về văn hóa, xã hội gần như chưa có gì Để tạo điều kiện cho đồng bào Mông cùng hòa nhập với sự đổi mới về kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước cần quan tâm, giúp đỡ hơn nữa, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, nhất là vấn đề dân trí
Như vậy, có thể thấy các tộc người sống ở khu vực miền Tây Cao Bằng, sống vừa phân tán, vừa xen kẽ Mặc dù có nguồn gốc, phong tục tập
Trang 3424
quán, ngôn ngữ, có lịch sử tộc người khác nhau nhưng khi đến địa phương họ
đã đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau, một lòng sát cánh xây dựng quê hương, làng bản; bảo vệ biên cương thiêng liêng của Tổ quốc; giữ gìn, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, cùng nhau tạo dựng nền văn hóa “đa dạng trong thống nhất” mang đậm bản sắc dân tộc
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của miền Tây Cao Bằng trước 1945
Khu vực miền Tây Cao Bằng là vùng đất có diện tích đất tự nhiên rộng lớn nhưng dân cư thưa thớt, mật độ dân số trung bình thấp Kinh tế toàn miền kém phát triển, chủ yếu là nông - lâm nghiệp, phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên Nguồn sống chính của cư dân là trồng trọt kết hợp với chăn nuôi nhằm
bổ sung cho bữa ăn gia đình Các nghề tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé, thu nhập
và đời sống của nhân dân còn thấp kém
Kinh tế tự nhiên: Đây là loại hình kinh tế phát triển ở trình độ thấp, có
từ lâu đời, thể hiện việc con người đi kiếm những thức ăn, rau quả có sẵn trong tự nhiên Miền Tây Cao Bằng là khu vực miền núi cao biên giới, địa hình hiểm trở, phần lớn là các khu rừng rậm rạp, thảm thực vật và quần thể động vật phong phú nên càng tạo điều kiện cho loại hình kinh tế tự nhiên tồn tại Đây là điều kiện thuận lợi để đồng bào khai thác các sản vật tự nhiên phục
vụ đời sống như hái lượm các loại rau, củ, các loại quả trám, sa nhân, hà thủ
ô, nấm, mật ong cho đến các loại gỗ, nứa, mây Trong những ngày tháng đói kém, đồng bào còn vào rừng đào củ mài, chặt thân cây Báng, cây Đao, thậm chí lấy cả củ nâu để chế biến trong bữa ăn
Đồng bào sống ven các con sông Gâm, sông Neo, sông Mãng thường
sử dụng chài, lưới, vó hoặc dùng tre đan những chiếc “lờ” (li) đặt trên những khúc sông để bắt cá Trên các dòng sông nơi đây nổi tiếng có cá chiên, cá chày, cá sộp ăn rất ngon Người Mông, Dao, Lô Lô sống trên những miền núi cao thường đi lượm những loại rau rừng đem về ăn hoặc mang ra chợ bán Như vậy, có thể thấy kinh tế tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào khu vực miền Tây Cao Bằng
Trang 3525
Sản xuất nông nghiệp: là loại hình kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của đồng bào các dân tộc khu vực miền Tây Cao Bằng Sản xuất nông nghiệp của đồng bào tồn tại dưới hai hình thức canh tác là canh tác nương rẫy và canh tác ruộng nước
Loại hình canh tác nương rẫy: Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi nên phần lớn diện tích đất canh tác là nương rẫy Với bàn tay cần cù, chịu khó đồng bào đã tạo nên những chân ruộng bậc thang, những bãi nương chạy dài dọc theo các sườn núi Trên những nương ruộng đó, với những công cụ thô sơ như chiếc hái phát cỏ, chiếc gậy trọc lỗ bỏ hạt, đồng bào đã tạo nên những nương ngô, nương lúa xanh mướt Do những nương rẫy nằm ở sườn cao nên khi thu hoạch ngô, lúa đồng bào sử dụng gùi, giậu để đem nông sản về nhà
Loại hình canh tác ruộng nước: Do tác động bởi yếu tố địa hình nên hình thức canh tác ruộng nước nơi đây rất ít Ruộng nước phân bố chủ yếu ở vùng thấp, nơi sinh sống của người Tày, Nùng, thường là ven các con sông, suối Lúa là cây trồng chủ yếu, đồng bào dùng cày, bừa để cày ải, làm đất ngay từ trước tết, ra giêng khoảng tháng hai, tháng ba thì gieo mạ, sang tháng
tư, tháng năm nhổ mạ để cấy, bốn tháng sau thì được thu hoạch: “Làm ruộng nơi sớm nơi muộn khác nhau (các châu huyện Để Định, Vĩnh Điện cứ tháng
2, tháng 3 gieo mạ, tháng 4, tháng 5 cấy và gặt vào tháng 8, tháng 9)” [38; tr.341] Việc trồng lúa ở khu vực miền Tây chủ yếu cấy một vụ: “Chỉ có lúa
vụ thu” [44; tr 871]
Ngoài lúa, ngô là cây trồng chính, đồng bào ở khu vực miền Tây Cao Bằng còn trồng các loại cây: “đậu, khoai, vải, dưa, nhãn huyện châu nào cũng có” [38; tr.363] Hay “người Nùng sau khi cày cấy xong thì trồng khoái lúa mạch ở chân núi Người Mèo, Mán thì tìm chỗ hơi bằng phẳng trên đỉnh núi, sườn núi phát cây trồng khoai, lúa mạch, rải rác cũng gieo được lúa nương (lúa dẻo)” [44; tr.871] Bên cạnh đó, người dân cũng trồng một số cây nông sản khác như bông, lê: “Thóc Thông Nông, bông Bảo Lạc” [38; tr.362];
“Sơn phận tổng Đông Quang có giống quả lê thơm mà ngon” [44; tr.872]
Trang 3626
Trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào các dân tộc ở khu vực miền Tây Cao Bằng cũng đúc rút được những kinh nghiệm để áp dụng vào trong sản xuất: “Ngày 8 tháng 4 không mưa, ruộng trũng đừng bừa, đi phát ruộng cao” [38; tr.341] Hoặc xem lá cây, mưa sấm để xem năm đó được mùa hay mất mùa: “trên núi đất, lá cây đỏ thì không nên cấy lúa, trên núi đá, lá cây đỏ là triệu trứng được mùa Lại nói mồng 3 tháng 3 có mưa, thì mất mùa bông đậu, mồng 6 tháng 6 có mưa, thì mất mùa lúa tháng 10 mưa lũ thì năm sau không
có gạo ăn” [38; tr.407]
Hệ thống thủy lợi còn giản đơn, chủ yếu dựa vào nguồn nước các con sông Gâm, sông Neo, sông Mãng và hệ thống các con suối Đồng bào Tày, Nùng biết sử dụng sức nước để phục vụ cho đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất nông nghiệp: “cối giã gạo thì dùng sức nước, làm cọn để lấy nước vào ruộng” [38; tr.342]
Do đặc trưng sản xuất nông nghiệp miền núi nên đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn khu vực miền Tây Cao Bằng phần lớn dựng nhà sàn ngay trên những mảnh đất bằng phẳng gần sông, suối xung quanh là những thửa ruộng trồng trọt
Chăn nuôi truyền thống: Đối với khu vực miền Tây Cao Bằng chăn nuôi gia súc là một thế mạnh Các con vật nuôi phổ biến là bò, ngựa; người dân dùng ngựa làm phương tiện đi lại, chở, thồ hàng ra chợ trong những buổi chợ phiên hoặc nuôi ngựa phục vụ việc quân: “Cao Bình sản nhiều ngựa hay, khách buôn thường cưỡi ngựa hoặc dùng ngựa thồ hàng hóa Cao Bằng nuôi nhiều ngựa có thể sung vào việc quân dụng đầy đủ” [38; tr.430]
Cùng với chăn nuôi đại gia súc, đồng bào nơi đây còn nuôi lợn, gà, vịt Việc chăn nuôi của đồng bào chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu bữa ăn hàng ngày, ít khi đem ra chợ để trao đổi mua bán
Trong quá trình chăn nuôi đồng bào cũng đã quan sát và đúc rút được những tri thức dân gian trong việc lựa chọn giống vật nuôi Khi chọn trâu: đối với trâu cày thân cao, chân dài cân đối, đuôi dài, toàn thân phải có bốn xoáy;
Trang 3727
trâu cái đẻ phải chọn con to, khỏe, bốn vú tròn đều, lưng phẳng, đuôi dài, lông thưa sẽ sinh sản tốt Lợn con nuôi nên chọn con vai rộng, lông thưa ngắn, mõm tròn, mũi ướt là giống lợn tốt, mau lớn Nuôi ngựa: chọn ngựa cái phải chọn con to, khỏe, màu lông đẹp, có dáng vóc thon, móng đứng, mông nảy, ngực nở, ăn khỏe, khoáy tốt
Để cải thiện bữa ăn, đồng bào các dân tộc miền Tây Cao Bằng còn nuôi
cá ở cả ao và ruộng Nhiều gia đình thường có một chiếc ao ở ngay sát nhà, dẫn nước chảy từ các khe núi, khe suối đến, loài cá được nuôi nhiều là cá chép, do thức ăn là dong rêu, đất bùn nên cá lớn nhanh, thịt thơm ngon béo ngậy Ngoài ra, đồng bào cũng dùng cạm, bẫy, cung nỏ, súng kíp để săn bắt các loại muông thú trong rừng
Miền Tây Cao Bằng là vùng đất nổi tiếng với nhiều cây dược liệu quý như củ xa khương (tên địa phương gọi là Xá Kiáng), củ u tàu, đương quy, mạy cáng lò, kim tiền thảo, nấm hương, sâm đất, sa nhân, hoàng tinh, gừng núi Từ xa xưa, đồng bào nơi đây đã có kinh nghiệm về công dụng của một
số loại cây để chữa bệnh như dùng củ u tàu chữa sưng khớp, u khớp; dùng vỏ cây mạy cáng lò để chữa đau răng; sâm đất và hoàng tinh ngâm rượu để bồi
bổ sức khỏe; hà thủ ô để cho tóc đen
Kinh tế thủ công nghiệp: Bên cạnh hoạt động trồng trọt và chăn nuôi,
các nghề tiểu thủ công nghiệp ở khu vực miền Tây Cao Bằng cũng tương đối phát triển Ngay từ đầu thế kỷ XIX, phố Vân Trung (t.t Bảo Lạc ngày nay - TG) là vùng tập trung nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề mộc, rèn, trồng bông dệt vải, nghề làm đường mật, làm ngói máng, đan lát, làm hương, làm giấy bản, nấu rượu Trước đây, “do có sự trao đổi hàng hóa giữa thị trấn Bảo Lạc và Nguyên Bình nên từ việc phát triển các đoàn ngựa thồ, kéo theo nghề rèn chuyên sản xuất móng ngựa sắt cũng phát triển” [48; tr.9]
Nghề làm đậu phụ ở phố Nguyên Bình đã có từ thế kỷ XIX do người Hoa làm Bên cạnh đó, Nguyên Bình còn là nơi có nghề sản xuất miến dong thơm ngon nổi tiếng có từ lâu đời, được nhân dân trong vùng ưa dùng
Trang 3828
Thông Nông có nghề nấu rượu từ lâu đời với rượu ngô Tắp Na nổi tiếng thơm, ngon được làm từ ngô hạt và men lá Những nghề thủ công truyền thống trên đóng vai trò quan trọng và góp phần phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của đồng bào các dân tộc khu vực miền Tây Cao Bằng
Ngoài ra, khu vực miền Tây Cao Bằng còn nổi tiếng với sản phẩm chiếu trúc, được làm rất cầu kỳ, dưới bàn tay tài hoa của người thợ thủ công
đã tạo nên những tấm chiếu trúc với nhiều hoa văn đặc sắc
Cùng với hoạt động của thủ công nghiệp truyền thống, khu vực miền Tây Cao Bằng nửu đầu thế kỷ XIX, cũng xuất hiện các hoạt động khai mỏ Theo một số sách sử của nhà Nguyễn biên chép, ở xứ Tuyên Quang có nhiều
mỏ khoáng sản “Mỏ vàng Niêm Sơn ở huyện Để Định Mỏ vàng Linh Hồ ở huyện Vị Xuyên Các mỏ vàng kể trên đều sản ra kim sa (cát vàng)” [38; tr.362] Từ sớm, các công trường khai thác mỏ đã được mở và được biên vào ngạch thuế của nhà nước “Thuế vàng cả năm của hai mỏ cộng lại là 3 lạng, 1
do chi quan tiền (tiền công) sai người đi khai thác, mỗi năm nộp trên dưới 18 lạng còn có 5 mỏ vàng khác đã đóng cửa từ trước huyện Để Định 3 mỏ
cả năm nộp vàng cộng 25 lạng” [44; tr.856] “Thuế mỏ thiếc Vụ Nông thu bằng thiếc trắng 100 cân” [44; tr.667]
Vùng núi Tĩnh Túc (Nguyên Bình) nổi tiếng với những mạch quặng thiếc và một số khoáng sản quý hiếm như vàng, bạc, vonfram chạy dài trên sườn núi hoặc lắng đọng giữa các khe suối với hàm lượng thiếc cao Ngay sau khi đặt chân lên đất Cao Bằng (10/1886), thực dân Pháp đã chú ý đến vùng đất Tĩnh Túc, một vùng có tài nguyên khoáng sản lớn thứ hai Đông Dương Tháng 4/1904, công ty Duvegiê một công ty tư bản Pháp đã vào khai thiếc và vàng ở vùng Tĩnh Túc
Bên cạnh đó, khu vực miền Tây còn có nhiều mỏ sắt: “Mỏ sắt ở huyện Thạch Lâm, 2 mỏ Khải Hòa đông và Khải Hòa nam hàng năm thu thuế sắt chín là 480 cân, cứ một trăm cân sắt nộp thay bằng 5 lạng bạc” [38; tr.429]
Trang 3929
Thương nghiệp: ở khu vực miền Tây được hình thành khá sớm, nhưng
do địa hình bị chia cắt nên việc giao lưu hàng hóa ở đây luôn gắn với các buổi chợ phiên Các chợ đã góp phần làm cho hoạt động thương mại ngày càng mở rộng Các chợ trong khu vực thường luân phiên nhau họp Chợ không những
có vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa, các sản phẩm tiêu dùng mà còn là nơi giao lưu văn hóa, tình cảm giữa các dân tộc
Về giáo dục: Việc mở trường dạy học trong thời kỳ phong kiến ở khu
vực miền Tây Cao Bằng chưa xuất hiện, có chăng cũng chỉ giành cho con cháu quan lại, con em các thổ ty ở đây (Trong ngững năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, hệ thống trường lớp ở khu vực miền Tây đã được mở rộng Tính đến năm 2010, toàn khu vực miền Tây Cao Bằng
có 146 trường các bậc học, với tổng số phòng học 2.318; số lớp học 1.962, với số giáo viên là 2.847 người và 32.681 học sinh các cấp Tuy nhiên, do đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, việc người dân quan tâm đến việc học tập của con em mình còn nhiều hạn chế, điều này đã tác động mạnh đến chất lượng dạy và học Tỷ lệ tái mù chữ và mù chữ còn cao, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa)
Về y tế: Trước năm 1945, khu vực miền Tây Cao Bằng là vùng miền
núi, biên viễn, đời sống cư dân lạc hậu nên y tế kém phát triển Không những thế các chính quyền cũ hầu như cũng chẳng mấy quan tâm đến đời sống sức khỏe cho nhân dân
Thời phong kiến, việc chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ở khu vực hoàn toàn do nhân dân tự lo liệu, thông qua các hình thức cúng bái hoặc thông qua các bài thuốc gia truyền được lưu truyền trong dân gian
Thời Pháp thuộc, y tế chủ yếu phục vụ các quan lại (người Pháp và người Việt), gia đình họ và các nhân viên thuộc bộ máy cai trị Việc chữa bệnh trong nhân dân vẫn chủ yếu bằng các phương pháp dân gian truyền thống Sự thiếu thốn và lạc hậu về y tế khiến cho dịch bệnh (sốt rét, tả, lỵ, thương hàn ) thường xuyên lan tràn gây chết người hàng loạt
Trang 4030
Tuy vậy, một số bài thuốc y học cổ truyền về chuẩn đoán bệnh và chữa bệnh của đồng bào ở khu vực miền Tây Cao Bằng, vẫn được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác: xin giới thiệu một số bài thuốc đông y gia truyền của ông Lâm Trung Thành ở thôn Tổng Ngoảng, xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm:
Bài 1: Cây Ké đầu ngựa (tiếng địa phương gọi là “nhả khắt mạ”) Cây cao từ 1-1,5m, thân mập có rãnh dọc, lá mọc cách, có lông cứng, hoa màu hồng, quả hình thoi, bổ đôi ra trong có hai hột Dùng cả cây làm thuốc, trừ rễ
Công dụng: chữa phong thấp, làm ra mồ hôi, tiêu độc, chữa ghẻ lở, hắc lào, nhức đầu, đau răng, cảm lạnh, viêm mũi
Cách sử dụng: Quả 3-10 gam hoặc cành lá 10-20 gam, xao vàng sắc nước uống hay cô đặc để dùng
Bài 2: Cỏ nhọ nồi (địa phương gọi là cây “xóm nà”) là một loại cỏ thân màu tím, thân và lá có lông, lá mọc đối, hình lượn mác, hoa màu trắng hồng mọc ra ở kẽ lá hay đầu cành, khi vò lá hoặc thân cây có nước màu đen Cây mọc ở những nơi đất ẩm thấp Dùng cả cây làm thuốc, trừ rễ, thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là tháng 5 và 6, hái về nên phơi khô ngay
Công dụng: cầm máu trong các trường hợp: bị viêm nhiễm, đi ngoài ra máu, chảy máu cam, phụ nữ rong kinh ngoài ra chữa mụn nhọt, chốc lở ở trẻ em
Liều lượng: thường dùng mỗi ngày từ 6-12 gam
Cách dùng: sắc nước uống, nếu dùng tươi rửa sạch giã nát vắt lấy nước uống Bài 3: Cây huyết đắng (địa phương gọi là “thau lượt”), thuộc loại cây dây leo, vỏ có màu nâu, lá mọc cách, hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, mọc hoang
ở nơi có rừng già, khí hậu mát Dùng thân già để làm thuốc, thu hái tốt nhất vào mùa đông, thời điểm cây có đủ chất nhất
Công dụng: chữa bệnh lỵ, điều hòa khí huyết, làm mạnh gân cốt, đau lưng, mỏi gối, kinh nguyêt không đều
Cách dùng: nấu thành cao hoặc sắc nước uống, mỗi ngày từ 6-12 gam