1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu văn hoá và đạo đức kinh doanh

46 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Giá trị vật chất : Ngôn ngữ, chữ viết, những công cụ sản xuất, sinhhoạt , của cải vật chất, các phương tiện và phương thức sử dụng sản xuất…+ Giá trị tinh thần : Văn hóa xã hội, nghệ t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP KHOA

Đề tài: Tìm hiểu văn hoá và đạo đức kinh doanh

trong các tổ chức kinh doanh

Chủ biên : Th.s Hoàng Hải Yến

Hải Phòng, tháng … năm 2016

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Khi nhắc tới khái niệm “đạo đức kinh doanh”, người ta thường cho rằng đó

là một yếu tố rất trừu tượng hoặc không thực tế Nhưng thực tế lại cho thấy mức độphát triển bền vững của doanh nghiệp gắn liền với đạo đức kinh doanh, sự tăngtrưởng về lợi nhuận gắn liền với việc nghiêm túc tuân thủ đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh chính là yếu tố nền tảng cho sự tin tưởng của kháchhàng đối với doanh nghiệp, tăng cường sự trung thành của nhân viên, điều chỉnhhành vi của doanh nhân, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp và từ đó nâng cao lợinhuận của doanh nghiệp Vì vậy, muốn đạt được thành công bền vững, cácdoanh nghiệp phải xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho doanhnghiệp mình

Giáo sư John Kotter và James Heskeu thuộc Trường Đào tạo quản lý kinhdoanh Harvard, tác giả cuốn sách “ Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữuích”, đã phân tích kết quả khác nhau của các công ty với những truyền thống đạođức khác nhau Công trình nghiên cứu của họ cho thấy trong vòng 11 năm,những công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh đã nâng được thu nhập củamình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ không xem trọng các chuẩnmực đạo đức chỉ đạt được 36%) Giá trị cổ phiếu của những công ty trên thịtrường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ kém hơn thì chỉ số này chỉ

là 74%) Lãi ròng của các công ty chú trọng đạo đức trong kinh doanh ở Mỹ

trong 11 năm đã tăng tới 756% Như vậy, chú trọng đạo đức trong kinh doanh sẽ

mang lại sự phát triển cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổchức đó, từ đó dẫn tới thành công

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VĂN HOÁ

VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

1.1 Cơ sở lý thuyết về Văn hóa kinh doanh

1.1.1 Khái niệm văn hoá, Văn hóa kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm Văn hóa

Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia ngoài sự khác biệt về không gian,thời gian các thời điểm lịch sử hay không gian địa lý, thì một yếu tố tạo nên nétriêng, nét đặc trưng là văn hóa dân tộc, của đất nước Văn hóa không phải tựnhiên sinh ra mà là sản phẩm của con người, của xã hội trải qua thời gian có sựđúc kết, tích lũy những giá trị truyền thống, và là một phần quan trọng của đờisống văn hóa xã hội Trước khi tìm hiểu văn hóa kinh doanh là gì chúng ta sẽtìm đôi nét về văn hóa nói chung

Trong tất cả những hoạt động của con người đều có mặt của nhân tố vănhóa Văn hóa có sự quy định mặc nhiên với đời sống con người và tạo ra cáckiểu hoạt động, lối sống của các cộng đồng, dân tộc, nó vừa mang tính phổ biến

và vừa mang tính đặc thù Vậy văn hóa là gì ?

Văn hoá gắn liền với sự ra đời của con người, là một khái niệm có ngoạidiện rất rộng , tuỳ vào từng lĩnh vực và đối tượng mà nó nghiên cứu mà có tínhchất và hình thức biểu hiện khác nhau Chính vì thế, có rất nhiều định nghĩakhác nhau về văn hoá

Văn hóa là từ Hán Một trong những người đầu tiên quan tâm đến kháiniệm văn hóa là triết gia Lưu Hướng ( người Tây Hán) Theo ông “ Văn” Làđẹp, “hóa” là giáo hóa Văn hóa là dùng văn để hóa ( nghĩa là dùng cái đẹp đểgiáo dục con người)

 Theo nghĩa gốc của từ

- Tại phương tây : văn hoá có nghĩa là sự vun trồng, trong lĩnh vực xã hộichỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển khả năng của con người

- Tại phương Đông :Trong nghía từ hán cổ nghĩa là vẻ đẹp của nhân tính,cái đẹp của tri thức, trí tuệ của con người đạt được bằng sự tu dưỡng bản thân

Trang 4

>> Văn hoá theo nghĩa của cả phương tây và phương đông đều mang mộtnghía là chỉ sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người, làm cho cuộc sống trởnên tốt đẹp.

Văn hóa có nghĩa là trở thành đẹp, thành có giá trị ( giá trị sử dụng ( chân), giá trị đạo đức ( thiện), giá trị thẩm mỹ ( Mỹ).

Xét theo phạm vi xem xét và nghiên cứu

* Theo nghĩa rộng nhất : Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử

→ Như vậy nói đến văn hóa là nói đến đặc trưng chỉ có ở xã hội loàingười Con người được nuôi dưỡng trong môi trường đất nước, không khí ( thếgiới vật chất) thì văn hóa là thế giới tinh thần nuôi dưỡng toàn bộ những giá trịvật chất và tinh thần con người sáng tạo ra bằng lao động và tri thức

Ví dụ : Loài vật cũng có “ văn hóa” , nhưng văn hóa của loài vật là văn hóa bản năng không phải là hình thành từ lao động như con người.

Tạo hóa sinh ra muôn loài nhưng chẳng có loài nào làm nhà bằng máu thịt của chính mình như Yến Hoàng.

Suốt một năm chúng đi sớm về khuya để tích lũy thứ nhựa sống kỳ diệu, Đông y gọi đó là “ Tâm dịch”, “Ngọc dịch”, hay “ Huyền Tương” ( dân gian hay gọi là “ dãi yến”) Thường là trước Tết Nguyên Đán chim yến làm tổ, chúng nhả dòng Tâm dịch trong suốt đan thành chiếc tổ Yến Hoàng sống với nhau rất tử tế và có “ văn hóa cao” Chim trống và chim mái cùng nhau làm tổ

và ấp trứng, nuôi con Yến Hoàng không bao giờ tranh giành tổ của nhau, bởi vậy trong xã hội loài Yến không có xung đột, khiếu kiện về đất đai nhà cửa Có người bảo chim yến dạy con tình yêu quê hương từ nhỏ, những tiếng chíp chíp của chim con phát ra đập vào vách đá dội lại tạo nên trong não tín hiệu “ quê hương”.Con người đã thử nghiệm mang chim yến đến một nơi đầy “ hoa thơm mật ngọt” nhưng chúng vẫn tìm về nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình Con người có thể lạc đường nhưng chim yến thì không

→ Văn hóa được tạo ra do mối quan hệ giữa con người với con người,con người với tự nhiên và với xã hội

Trang 5

+ Giá trị vật chất : Ngôn ngữ, chữ viết, những công cụ sản xuất, sinhhoạt , của cải vật chất, các phương tiện và phương thức sử dụng sản xuất…

+ Giá trị tinh thần : Văn hóa xã hội, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, tậpquán truyền thống, các giá trị tinh thần ( Giá trị vô hình)

Một vài định nghĩa khác về văn hóa theo nghĩa rộng :

/ Theo chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộcsống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phápluật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàngngày về ăn mặc, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng, toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó là văn hóa”

/ Theo Unesco : “ Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quan vàsống động mọi mặt của cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn

ra trong hiện tại qua hàng nhiều thế kỷ, nó cấu thành một hệ thống giá trị, truyềnthống, thẩm mỹ, lối sống

/ Theo Herriot : “ Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất

cả, là cái vẫn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”

/ “ Văn hóa là một bộ phận của môi trường mà bộ phận đó thuộc về conngười Tất cả những gì không thuộc về tự nhiên sẵn có, thì đều là văn hóa

1.1.1.2 Các nhân tố cấu thành văn hoá

Văn hoá vật chất

Đó là toàn bộ những giá trị mang tính hiện vật mà con người sáng tạo ra,

đó là toàn bộ của cải vật chất được tạo ra trong quá trình lao động sản xuất củacon người :

+ Công cụ lao động

+ Tư liệu sản xuất, tiêu dùng

+ Cở sở hạ tầng : cơ sở hạ tầng xã hội : hệ thống điện, đường trường trạm,

cơ sở hạ tầng tài chính : hệ thống ngân hàng, tài chính, bảo hiểm

+ Phát minh khoa học

+ Kiến trúc thượng tầng xã hội : nhà nước, luật pháp

Trang 6

→ Văn hóa vật chất một phần nào đó thể hiện trình độ văn minh của dântộc, trình độ phát triển của xã hội , từ đó ảnh hưởng đến trình độ dân trí, lốisống, mức sống, cũng như giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội.

Văn hoá tinh thần

Là toàn bộ những giá trị được tích luỹ, lưu truyền thông qua quá trìnhhoạt động tinh thần của con người Bao gồm

+ Kiến thức : Đây là nhân tố hàng đầu của văn hóa, nếu không có trithức sẽ không hình thành nên văn hóa bởi sẽ không nhận được và vận dụngđược những tri thức của nhân loại

→ Kiến thức giúp con người phát minh, nâng cao và không ngừng hoànthiện, đổi mới thông qua các thế hệ

+ Các phong tục tập quán :

Đinh nghĩa : Phong tục tập quán là những thói quen đã được mọi ngườituân thủ tại một địa phương hoặc một dân tộc, trong một hoàn cảnh bắt buộcphải chấp nhận những lề thói ấy như pháp luật của địa phương, dân tộc

Hay Phong là những nề nếp đã được lan rộng, tục là thói quen lâu đời.phong tục trở thành một tập tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặ, cósức mạnh như một đạo luật Phong tục tập quán cũng có sự biến đổi theo tràolưu của xã hội nhưng dai dẳng hơn và không phải một sớm một chiều

Như vậy phong tục tập quan thực chất là nhưng quy tắc ứng xử mang tínhcộng đồng phản ánh nguyện vọng của nhiều thế hệ hoặc toàn bộ dân cư trongmột cộng đồng ( làng, xã) Các quy tắc được sử dụng để điều chỉnh quan hệ xãhội nói chung Phong tục tập quán là một bộ phận cấu thành cơ bản của truyềnthống văn hóa và các giá trị đạo đức Áp dụng phong tục tập quán là biện phápcần thiết để bảo vệ bản sắc văn hóa và chuẩn mực đạo đức trong gia đình, xã hộihiện nay

+ Thói quen: Là những cách thức thực hành phổ biến hoặc đã thực hành

từ trước Thói quen thể hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khithực hiện chúng

Trang 7

Ví dụ : Thói quen ở Mỹ là người ta dùng dao, dĩa để ăn thức ăn, còn thóiquen ở Việt Nam là dùng thìa.

là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay tốt, đẹp hay xấu

Trong một xã hội các thành viên đều xây dựng quan điểm riêng về bảnthân mình và thế giới dựa trên những giá trị văn hóa xã hội Trong quá trìnhtrưởng thành, con người học hỏi từ gia đình, nhà trường, giao tiếp xã hội vàthông qua đó xác định nên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trịcủa nền văn hóa đó Giá trị cũng là sự đánh giá có thể khác nhau ở từng cánhân, nhưng đã là giá trị văn hóa của một xã hội phải được đa số các thành viênthừa nhận và trường tồn

+ Ngôn ngữ : là một phương tiện để trao đổi thông tin, ý tưởng Có thểnói nói ngôn ngữ là một nét đặc trưng chỉ có xã hội loài người, và đặc trưng củamỗi chủng tộc người, có những quốc gia mà có nhiều ngôn ngữ khác nhau, ở đó

có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau

+ Thẩm mỹ : Đó là thị hiếu về nghệ thuật của văn hóa, các giá trị thẩm mỹđược phản ánh qua các hoạt động nghệ thuật như : hội hoa, điêu khắc, điện ảnh,văn chương…

+ Tôn giáo, tín ngưỡng :

- Tín ngưỡng Việt Nam đều mang đặc trưng của văn hóa nông nghiệp

\ Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên thể hiện qua tín ngưỡngsùng bái tự nhiên

\ Hòa âm, hòa dương : Thể hiện ở tín ngưỡng thờ trời, đất

\ Đề cao phụ nữ : thể hiện ở thờ Mẫu Tam phủ, Mẫu Tứ phủ : Bà trời( mẫu thượng thiên, Bà nước ( Mẫu thoải), Bà chúa thượng ( Mẫu thượng ngàn),

Bà địa ( Mẫu địa phủ) Về sau ảnh hưởng của văn hóa Trung hoa nên có thêm

Trang 8

Ngọc Hoàng Thần mặt trời được coi là vị thần quan trọng nhất được thể hiệntrên các mặt trống đồng.

\ Tôn giáo hay là đạo đôi khi được đồng nghĩa với tín ngưỡng thườngđược định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánhcũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó

Những ý niệm của tôn giáo chia thế giới thành 2 phần : thiêng liêng và trầntục Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng

là những gì siêu nhiên, thần thánh Đứng trước sự thiêng liêng con người sử dụng

lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái đó chính là cơ sở của tôn giáo

Trong nghĩa tổng quát nhất thì tôn giáo là kết quả các câu trả lời để giảithích về nguồn gốc, quan hệ nhân loại với vũ trụ, chính vì vậy những tư tưởngtôn giáo đều mang ý nghĩa triết học

Tôn giáo là những giá trị, những tiêu chuẩn của nó ma vì thế những ngườicùng một tôn giáo gắn bó với nhau hơn nhờ những giá trị và tiêu chuẩn ấy, từ xãhội nguyên thủy những thành viên trong xã hội đã có quan niệm chung một vật

tổ biểu hiện hữu hình tính gắn kết Ví dụ như ngày nay tất cả các đồng tiền giấycủa Mỹ đều có dòng chữ “ chúng có tin tưởng tuyệt đối vào chúa” hàm ý chỉ sựđoàn kết tập thể dựa trên niềm tin

+ Giáo dục : giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu văn hóa Trình độ caocủa giáo dục thường dẫn đến năng suất cao và tiến bộ kỹ thuật

Trình độ giáo dục có thể nói là yếu tố quyết định sự phát triển của vănhóa, sẽ giúp các thành viên trong cộng đồng kế thừa những giá trị văn hóa cổtruyền và học hỏi giá trị mới từ các nền văn hóa khác

+ Cách thức tổ chức của một xã hội thể hiện qua cấu trúc xã hội đó

1.1.1.3 Khái niệm về văn hoá kinh doanh

Trong lĩnh vực kinh tế - kinh doanh, từ xưa đến nay bên cạnh những quyluật kinh tế và kinh doanh, con người còn phải chịu sự chi phối bởi các nhân tốvăn hóa bền vững Nếu như những nhân tố văn hóa được hiệu chỉnh cùng chiều

và tương hợp với các quy luật kinh tế, kinh doanh thì sẽ tạo được một kiểu hoạtđộng kinh doanh có văn hóa và sự phát triển bền vững Sở dĩ nhiều nhà kinh

Trang 9

doanh và DN trên thế giới có được sự thành đạt lâu bền là vì đã tìm ra được vàtrung thành với lối kinh doanh có văn hóa dựa trên các triết lý kinh doanh khônngoan, giàu tính nhân văn.

Vì vậy mà văn hóa kinh doanh thực ra không phải là chuyện quá mới mẻ

Có thể nói, nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu hành vi trao đổi, mua bán sảnphẩm Tuy nhiên theo đà tăng trưởng mạnh của kinh tế thế giới cùng với sư tiến

bộ của khoa học kỹ thuật, nội hàm của văn hóa kinh doanh ngày càng thêm cónhiều yếu tố mới, nội dung mới, đòi hỏi phải có cách nhìn nhận, xem xét mộtcách có hệ thống, thích hợp với văn hóa bản địa

Trước khi tìm hiểu văn hóa kinh doanh là gì, ta tìm hiểu thế nào là kinh doanh ?

- Kinh doanh là một hoạt động kinh tế của chủ thể kinh doanh trên thịtrường nhằm mục đích kiếm lời

Kinh doanh gồm rất nhiều các loại hình khác nhau : như buôn bán thươngmại, sản xuất, dịch vụ( du lịch, thông tin, y tế, giáo dục, tư vấn…) Xét về lịch sử,kinh doanh thương mại ( mua bán, trao đổi và lưu thông) là loại kinh doanh xuấthiện đầu tiên và có liên quan trực tiếp tới việc sản xuất và trao đổi hàng hóa

Văn hóa kinh doanh chính là hoạt động kinh doanh như thế nào ( phi đạođức, có đạo đức, văn minh, lịch sự), kinh doanh đem lại lợi ích cho ai, mối quan

hệ giữa các cá nhân trong kinh doanh như thế nào ?, ứng xử giữa họ như thếnào? Vì vậy bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn với cáiđúng, cái tốt, cái đẹp

Ta có thể định nghĩa văn hóa kinh doanh như sau :

“ Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh

doanh chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”.

- Chủ thể kinh doanh : các cá nhân, tổ chức, các DN tiến hành hoạt độngkinh doanh

- Như vậy văn hoá kinh doanh là những giá trị văn hoá gắn liền với hoạtđộng kinh doanh thể hiện:

+ Vốn ban đầu, cách thức huy động vốn

Trang 10

+ Giá trị văn hóa thể hiện trong hình thức, mẫu mã sản phẩm, chất lượngsản phẩm.

+ Trong thông tin về quảng cáo sản phẩm

+Trong phong cách ứng xử, giao tiếp của người bán với người mua, ôngchủ và nhân viên, giữa đồng nghiệp với đồng nghiệp

+ Trong tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm, đối vớichủ thể kd

+ Trong cả quá trình tổ chức sản xuất, quản lý

 Nhằm tạo ra chất lượng – hiệu quả - và sự phát triển lâu dài

1.1.1.4 Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh.

Văn hóa kinh doanh bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thầncủa chủ thể kinh doanh tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh Để xâydựng văn hóa kinh doanh thì chủ thể kinh doanh phải đồng thời kết hợp hai hệgiá trị sau :

+ Lựa chọn và vận dụng các giá trị văn hóa dân tộc, xã hội

+ Trong quá trình hoạt động chủ thể kinh doanh tự tạo ra những giá trịcủa riêng mình

→ Sự kết hợp 2 hệ giá trị tạo ra sự hòa quyện thành một hệ thống kinhdoanh bao gồm 4 yếu tố

Triết lý kinh doanh

Trang 11

→ Triết lý chính là những đúc kết kinh nghiệm sống của các cá nhân vàđược nhiều người công nhận, làm theo và hướng con người tới “ chân, thiện,mỹ’’ trong cuộc sống đó là cách sống như thế nào, sinh hoạt và làm việc nhưthế nào?

( Sự khác nhau giữa triết lý và triết học :

- Xét về lịch sử thì triết lý có trước triết học, triết học chỉ xuất hiện khi có

sự phân chia giai cấp, trình độ nhận thức thế giới quan của con người đã phát triển đến mức có thể tổng kết những kinh nghiệm trong đó có triết lý thành các quy luật chung.

- Triết lý có phạm vi và đối tượng hẹp hơn triết học, đó là những vấn đề

nhân sinh quan, quan hệ mật thiết với đời sông con người

- Triết lý thiên về chức năng cải tạo, chỉ đạo hành động thực tiễn.).

Khái niệm triết lý kinh doanh :

“Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hoá của chủ thể kinh doanh.”

Hay “ Triết lý kinh doanh là tư tưởng chỉ đạo, dẫn dắt toàn bộ hoạt độngcủa tổ chức và tất cả những người làm việc tại DN từ người lao động cao nhấtđến người lao động thấp nhất thấm nhuần, và tuân thủ nhằm làm cho công typhát triển bền vững và trường tồn”

Đạo đức kinh doanh

Văn hoá doanh nhân

Các hình thức văn hoá khác

Các hình thức văn hóa khác bao gồm những giá trị của văn hóa kinhdoanh được thể hiện bằng tất cả những giá trị trực quan hay phi trực quan

+ Giá trị sử dụng, hình thức, mẫu mã sản phẩm

+ Kiến trúc, nội ngoại thất

+ Giai thoại, truyền thuyết

+ Biểu tượng

+ Lịch sử phát triển và truyền thống

Trang 12

1.1.2 Vai trò của văn hóa kinh doanh

+ Văn hoá kinh doanh là nguồn lực và cách thức phát triển kinh doanh bền vững

Hoạt động kinh doanh được thúc đẩy bằng nhiều động cơ khác nhau,trong đó kiếm được nhiều lợi nhuận, nhiều tiền thường là động cơ quan trọngnhất, mạnh mẽ nhất Bản chất của kinh doanh là việc tìm kiếm lợi nhuận chochủ thể

Ví dụ : Các Mác đã nhấn mạnh sự hám lợi và vì lợi nhuận của các nhà tưbản trong thời kỳ tư bản đế quốc

+ Đảm bảo lợi nhuận 10% có thể dùng tư bản vào đâu cũng được

+ Đảm bảo lợi nhuận 20% thì nó hoạt bát hẳn lên

+ Đảm bảo lợi nhuận 50% trở nên táo bạo

+ Đảm bảo lợi nhuận 100% trà đạp nên mọi luật lệ của loài người

+ Đảm bảo lợi nhuận 300% không còn tội ác nào không dám phạm

- Sẽ giản đơn hơn nếu chúng ta coi mọi cuộc kinh doanh đều bị thúc đẩydẫn dắt bằng mục tiêu lợi nhuận, mà nhà kinh doanh nào suy cho cùng cũng chỉkinh doanh bởi sự giàu có thành đạt của bản thân Tuy vậy lợi nhuận dù rất quantrọng, song không phải vật chuẩn và lực lượng hướng dẫn duy nhất đối với kinhdoanh, cùng với nó còn có pháp luật, văn hóa Do đó mới phân loại kinh doanhthành 2 loại :

Kinh doanh vô văn hóa

+ Khiến chủ thể kinh doanh có thể giàu nên nhanh chóng, song phải luôntìm cách trốn tránh pháp luật, những hành vi kinh doanh gian dối, lừa đảo kháchhàng, bị xã hội lên án → sẽ không đảm bảo sự tồn tại lâu dài, thường bị tẩychay, và sớm muộn sẽ bị trừng phạt thích đáng của pháp luật, của chính sự lên

án của xã hội, lương tâm

Kinh doanh có văn hóa

+ Ở giai đoạn đầu kinh doanh có văn hóa có thể không đạt được hiệu quảcao vì chú trọng vào đầu tư lâu dài, giữ gìn chữ tín, không bán hàng dởm, coitrọng khách hàng và vì lợi ích khách hàng Chính vì vậy DN muốn tìm được chỗ

Trang 13

đứng trên thị trường, muốn chiếm được lòng tin của khách hàng thì phải giankhổ, phải mất một khoảng thời gian khá dài, và cũng có thể thua lỗ, thất bại.Nhưng nếu vượt qua được giai đoạn khó khăn ấy, thì DN sẽ có được sự pháttriển bền vững, vì đã có hệ thống kinh doanh ( từ sản xuất, bán hàng, công nghệ,

tổ chức quản lý, chất lượng sản phẩm) được xây dựng bền vững, chiếm đượclòng tin sự ưa chuộng của khách hàng, cũng như sự ủng hộ của pháp luật

→ Chỉ có kinh doanh có văn hóa mới kết hợp được hiệu quả cao và sựphát triển bền vững của các chủ thể kinh doanh

→ Khi kinh doanh phát triển sẽ tác động trở lại và cổ vũ cho văn hóa kinhdoanh phát triển

Ví dụ : Các công ty lớn lập các quỹ với giá trị hàng trăm triệu để tài trợcho các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học

+ Văn hoá kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh

- Văn hóa kinh doanh tạo ra sự thống nhất, đồng tâm của mọi thành viêntrong DN bằng một hệ thống các giá trị, chuẩn mực chung từ đó tạo nên mộtnguồn lực nội sinh chung của DN

DN là một tập hợp nhiều cá nhân với những nhân cách khác nhau Tínhđồng nhất, thống nhất của DN chỉ có khi mọi thành viên của nó đều tự giác chấpnhận một thang bậc các giá trị Nhờ vậy lãnh đạo DN có thể tạo ra một động lựcchung bằng cách hợp lực từ các cá nhân, tạo ra một cộng hưởng chung cho DN.Đồng thời với chức năng định hướng hoạt động một cách tự giác và rộng khắp,văn hóa DN có thể khiến các thành viên đi đúng hướng, hoạt động có hiệu quả

mà không cần có quá nhiều quy chế và mệnh lệnh chi tiết thường nhật từ cấptrên ban xuống Trái lại một DN có một nền văn hóa nghèo nàn, dung túng chonhững cái phản giá trị tồn tại, tạo ra một môi trường phi văn hóa sẽ khôngkhuyến khích được tinh thần tự giác của nhân viên, không tạo ra tính thống nhấttrong hoạt động của DN

- Văn hóa kinh doanh là bản sắc của chủ thể kinh doanh, là cái để phânbiệt chủ thể kinh doanh này này với chủ thể kinh doanh khác Bản sắc văn hóa

Trang 14

kinh doanh không chỉ là “ tấm căn cước” để nhận diện mà còn là kiểu quản trị,kiểu hành vi và hoạt động của chủ thể kinh doanh.

Một chủ thể kinh doanh trong thời kỳ khởi sự, chưa thể có một văn hóakinh doanh ổn định tức là chưa có một bản sắc kinh doanh đầy đủ Qua quá trìnhhoạt động lâu dài, vừa phải thích nghi, phù hợp, vừa phải đấu tranh, đổi mới,đồng thời cùng với những thành công, thất bại thì các yếu tố của văn hóa kinhdoanh sẽ được tạo lập, thử thách để tồn tại như một hệ thống, tạo ra một lối hoạtđộng, kinh doanh

Trong quá trình tồn tại và phát triển cũng là quá trình chọn lọc và tạo lậpvăn hóa của riêng minh Vì vậy mà vai trò của cán bộ lãnh đạo rất quan trọng,khi tổ chức hoạt động thì cùng với thời gian các lý tưởng, hệ giá trị phong cáchquản lý của người lãnh đạo sẽ được “ xã hội” trong môi trường văn hóa của tổchức và dần dần định hình nền văn hóa tổ chức đó

Văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa dân tộc các giá trị của nóphải phù hợp với văn hóa dân tộc Nói như vậy không có nghĩa là các DN kinhdoanh trên cùng một thị trường, thuộc cùng một địa lý cùng một dân tộc thì cóvăn hóa kinh doanh giống nhau Văn hóa kinh doanh bao giờ cũng in đậm dấu

ấn cá nhân từ nhân cách người lãnh đạo, lối quản lý, lối suy nghĩ của các nhàquản trị khác nhau cũng là nguồn gốc của tính đặc thù của văn hóa kinh doanh

- Nhân tố văn hóa làm gia tăng giá trị trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.Mỗi sản phẩm hàng hóa ngoài những giá trị hữu hình, mà còn mangnhững giá trị vô hình, một trong những giá trị vô hình đó chính là văn hóa kinhdoanh Nó nằm trong chất lượng sản phẩm, trong mẫu mã sản phẩm Nhân tốvăn hóa cũng góp phần làm gia tăng giá trị sản phẩm nếu chúng ta biết vận dụngvào trong quá trình sản xuất : như những gam mầu, những hoa văn dân tộc trongthiết kế mốt Mặt khác cần phát huy, khai khác các sản phẩm dịch vụ một cách

có văn hóa

Ví dụ : Trong lĩnh vực du lịch ngành “ công nghiệp không khói” nếu cácdanh thắng, các lễ hội như đền Hùng, hội Gióng được giới thiệu, bảo toàn phùhợp sẽ thu hút rất nhiều khách thăm quan mỗi năm Ngược lại nếu chúng ta

Trang 15

không chú ý quảng bá hoặc việc trùng tu thiếu văn hóa sẽ làm giảm đi các giá trịvăn hóa của nó.

\ Di tích hoàng thành Thăng Long

\ Hành vi vẽ bậy lên các di tích lịch sử gây mất mỹ quan, giảm giá trịthẩm mỹ, văn hóa

- Phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc sẽ giúp nhà kinh doanh tạo racông nghệ, cách thức sản xuất, kinh doanh có phù hợp và có hiệu quả Hiểuđược văn hóa hiểu được “ cái hồn dân tộc” cũng là bản chất tâm lý cộng đồngkhách hàng để từ đó tao ra các kỹ thuật và phương pháp kinh doanh phù nhất

Ví dụ : Tâm lý người nông dân Việt Nam là “ ăn chắc, mặc bền”, nênnhững sản phẩm” nên những sản phẩm có những đặc tính này thường được ưutiên lựa chọn

Người Nhật Bản với nền văn hóa thu nhỏ có tâm lý coi trọng tính thẩm

mỹ trong sản phẩm khiến các nhà kinh doanh Nhật Bản tạo ra một kiểu và theotriết lý “ cái nhỏ là cái đẹp” đã rất thành công đặc biệt là ngành công nghiệp điện

tử, chế tạo máy, sản xuất oto

Bên cạnh những người kinh doanh lợi dụng văn hóa để kinh doanh vô vănhóa Ví dụ :Lợi dụng tính chân thật, thật thà, mến khách củ người dân tộc đểmua rẻ, bán đắt, hoặc bán hàng giả cho họ

+ Văn hoá kinh doanh là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh quốc tế.

Khi trao đổi buôn bán quốc tế đương nhiên sẽ tạo cơ hội tiếp xúc với cácnền văn hóa khác nhau, việc hiểu về văn hóa kinh doanh của quốc gia chúng tađến kinh doanh là điều kiện quan trọng để thành công trong kinh doanh quốc tế

Thông qua giao lưu văn hóa sẽ làm biến đổi một cách tế nhị và dần dầnthói quen, thị hiếu, sở thích của người bản địa, những thay đổi sẽ mở ra thịtrường mới cho các nhà sản xuất

Kết kuận : - Như vây văn hoá kinh doanh chính là tài sản quý giá của doanh nghiệp, cũng như văn hoá nói chung, văn hoá kinh doanh có những đặc trưng riêng biệt cụ thể Trước hết, nó là sản phẩm của những người làm cùng một doanh nghiệp và đáp ứng những nhu cầu giá trị bền vững.

Trang 16

- Văn hoá kinh doanh của mỗi doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp Có thể coi là nhân tố vàng để thành công trong kinh doanh

1.2 Cơ sở lý thuyết về đạo đức kinh doanh

1.2.1 Khái niệm về đạo đức và đạo đức đức kinh doanh

Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời trong xã hội loàingười, bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học.Đạo đức liên quan tới những cam kết về luân lý, trách nhiệm và công bằng xã

hội Đạo đức trong tiếng Anh là ethics, từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ethiko

và ethos, nghĩa là phong tục hoặc tập quán.

Như Aristoteles đã nói, khái niệm trên bao gồm ý tưởng cả về tính chất vàcách áp dụng Vì vậy, đạo đức phản ánh tính cách của cá nhân và trong thời đạingày nay thì có thể nói lên cả tính chất của một doanh nghiệp, vì doanh nghiệpchính là tập hợp của các cá nhân

Đạo đức kinh doanh là một khái niệm không cũ mà cũng không mới Với

tư cách là một khía cạnh luân lý trong hoạt động thương mại, đạo đức kinhdoanh đã lâu đời như chính thương mại vậy Trong bộ luật Hammurabi từkhoảng 1700 TCN, đã có quy định về giá cả, thuế quan, cách thức hoạt độngthương mại và cả hình phạt hà khắc cho những kẻ không tuân thủ Đó có thểđược coi là bằng chứng cho sự nỗ lực đầu tiên của xã hội loài người để phânđịnh ranh giới đạo đức cho các hoạt động kinh doanh Trong tác phẩm “Politics”(ra đời vào khoảng năm 300 TCN), Aristoteles đã chỉ ra rõ ràng những mối liên

hệ thương mại khi bàn về quản lý gia đình Giáo lý của cả đạo Do Thái và ThiênChúa giáo, ví dụ như trong Talmud (năm 200 sau Công nguyên) và Mười điềurăn (Exodus 20:2 - 17; Deuteronomy 5:6 - 21), đều đã đưa ra những quy tắc đạođức được áp dụng trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, với tư cách là mộtkhái niệm mang tính hàn lâm, đạo đức kinh doanh cũng mới chỉ tồn tại đượckhoảng bốn chục năm trở lại đây Nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh nổi tiếngNorman Bowie là người đầu tiên đã đưa ra khái niệm này trong một Hội nghịKhoa học vào năm 19741 Kể từ đó, đạo đức kinh doanh đã trở thành một chủ

Trang 17

đề phổ biến trong các cuộc tranh luận của các lãnh đạo trong giới kinh doanh,người lao động, các cổ đông, người tiêu dùng cũng như các giáo sư đại học ở

Mỹ, và từ đó lan ra toàn thế giới

Tuy nhiên, không phải tất cả những nhà nghiên cứu, các tác giả và diễngiả đều có chung quan điểm về đạo đức kinh doanh Trước hết, giữa kinh doanh

và đạo đức luôn có sự mâu thuẫn Một mặt, xã hội luôn mong muốn các công tytạo ra nhiều việc làm lương cao, nhưng mặt khác, những công ty này lại mongmuốn giảm bớt chi phí và nâng cao năng suất lao động Người tiêu dùng luônmong muốn mua hàng với giá thấp nhất còn các cơ sở thương mại lại muốn cólãi suất cao nhất Xã hội mong muốn giảm ô nhiễm môi trường, còn các công tylại muốn giảm tối đa chi phí phát sinh khi tuân thủ các quy định về bảo vệ môitrường trong hoạt động sản xuất của họ Chính từ đó đã nảy sinh xung đột khôngthể tránh khỏi trong quan niệm về đạo đức kinh doanh, do khác biệt về lợi íchcủa công ty với lợi ích của người lao động, người tiêu dùng và toàn thể xã hội

Vì tất cả những điều đối lập nói trên là tất yếu nên các nhà quản lý buộc phảilàm sao để cân bằng lợi ích của công ty với lợi ích của các cổ đông(shareholders) và những người có quyền lợi liên quan (stakeholders), bao gồmnhân viên, khách hàng và toàn thể cộng đồng

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều khái niệm về đạo

đức kinh doanh, trong đó khái niệm sau có thể được coi là đơn giản nhất: Đạo

đức kinh doanh là những nguyên tắc được chấp nhận để phân định đúng sai, nhằm điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh3 Định nghĩa này khá chung

chung, vì thế cũng bỏ qua nhiều nhân tố quan trọng, ví dụ như: những loại hành

vi nào những nguyên tắc đạo đức có thể điều chỉnh; Hay những ai có thể được coi là “nhà kinh doanh” và hành vi của họ cần được điều chỉnh như thế nào?

Ý thức được sự phức tạp của vấn đề, giáo sư Phillip V Lewis từ trườngĐại học Abilene Christian, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra và thu thập được 185định nghĩa được đưa ra trong các sách giáo khoa và các bài nghiên cứu từ năm

1961 đến 1981 để tìm ra “đạo đức kinh doanh” được định nghĩa ra sao trong cáctài liệu nghiên cứuvà trong ý thức của các nhà kinh doanh Sau khi tìm ra những

Trang 18

điểm chung của các khái niệm trên, ông tổng hợp lại và đưa ra khái niệm về đạodức kinh doanh như sau:

“ Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo

đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”4.

Như vậy, theo khái niệm này, đạo đức kinh doanh bao gồm những vấn đề sau:

Quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc các luật lệ được đưa ra để

thực hiện nhằm ngăn chặn các hành vi sai nguyên tắc đạo đức.Ví dụ như: NếuLuật Lao động của một quốc gia quy định phụ nữ có quyền ngang với đàn ôngtrong công việc, sẽ có thể ngăn chặn sự phân biệt giới tính của những người thuêlao động khi tuyển dụng

Hành vi đúng với đạo đức - hành vi cá nhân phù hợp với lẽ công bằng,

luật pháp và các tiêu chuẩn khác; hành vi cá nhân phải đúng với thực tiễn, hợp

lý và trung thực

Trang 19

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VỀ VĂN HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC

KINH DOANH TẠI CÁC TỔ CHỨC

2.1 Tình hình về vấn đề về văn hoá và đạo đức tại các tổ chức hiện nay.

2.1.1 Một số vấn nạn về kinh doanh vô đạo đức tại các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Những thông tin liên tiếp về tình trạng vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm(ATVSTP) đang khiến người ta phải ghê sợ Giữa chợ Long Biên sầm uất, “nhàsản xuất” ngang nhiên dùng máy quay ly tâm để “bóc” trắng mực đông lạnh đãquá “đát” tới hơn 3 năm Với sự hỗ trợ của hóa chất, những hòm mực quá hạn

đã có cả giòi lại trở nên trắng trẻo, được đóng thùng xốp để len lỏi vào các chợnội thành, phân phối với từng hộ gia đình

Mới đây, tại TP Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng liên tục phát hiệnnhững vụ thực phẩm quá “đát”, bốc mùi hôi thối được tuồn ra thị trường Khôngchỉ vài cân mà là hàng chục, hàng trăm tấn thịt lợn, gan lợn, đuôi bò, nầm dê,đùi gà đã “luồn lách” vào nhà hàng, khách sạn để phục vụ thực khách Để xử

lý hàng hết hạn sử dụng, các nhà phân phối sử dụng phương pháp đơn giản nhất

là bóc nhãn cũ đi và dán đè nhãn mới lên để tự nới hạn thêm 1-2 năm!

Đáng tiếc, những vụ việc kinh hoàng kiểu này không phải đầu tiên, càngkhông phải cuối cùng Siêu lợi nhuận từ việc kinh doanh thực phẩm “bẩn” khiếnnhiều kẻ vô lương tâm không từ thủ đoạn nào để tuồn hàng vào thị trường kiếmlời Khái niệm “sức khỏe người tiêu dùng” không nằm trong tư duy của những

kẻ kinh doanh thiếu đạo đức này

Có thể khẳng định, không thể thống kê hết những vi phạm về ATVSTP!Không chỉ có thực phẩm, rau quả chưa qua chế biến, những thực phẩm đóng hộphoặc sơ chế cũng chẳng an toàn Vô số các chủng loại sản phẩm “bẩn”, từ sữa,rượu, mì chính đến bún, miến, phở, chè, xúc xích đều tiềm ẩn những mối nguyhại lớn đối với người tiêu dùng Nỗi ám ảnh về thực phẩm “bẩn” lớn tới mức, tạidiễn đàn Quốc hội, một đại biểu Quốc hội đã phản ánh: “Tâm trạng lo lắngchung nhất của người dân hiện nay là ăn cái gì cũng sợ ngộ độc, sợ ung thư!”

Trang 20

Ăn, mặc, ở là những nhu cầu cần thiết của con người Trong đó, ăn có lẽvẫn đứng hàng đầu Thế nhưng, tới nay, hệ thống pháp luật liên quan tới “ăn”vẫn chưa thực sự đầy đủ Quốc hội đang muốn “nâng” Pháp lệnh ATVSTPthành Luật ATVSTP và dự kiến luật này sẽ được thông qua vào kỳ họp cuốinăm nay

Người ta kỳ vọng, luật chuyên ngành này sẽ phân định rõ ràng hơn tráchnhiệm của các cơ quan Nhà nước trong quản lý chất lượng ATVSTP, để không còncảnh đùn đẩy “ông” gác mâm cơm, “ông” canh đồng ruộng, “ông” quản thị trường

Quan trọng hơn, luật phải lập ra chế tài nghiêm khắc nhất để trừng trị những

kẻ vô đạo đức, loại chúng ra khỏi đời sống kinh doanh Cùng với việc xây dựng ràochắn pháp luật, rất nhiều tiền của đang được Nhà nước đổ vào để “thanh lọc” thựcphẩm “bẩn” Nhân sự đang được gia cố, bổ sung ở nhiều cấp, ngành

Các phòng xét nghiệm hiện đại được đầu tư mới Hệ thống tuyên truyền

ra rả mỗi ngày cảnh báo người dân Tuy thế, ý thức về sản xuất sạch, phân phốisạch, ăn sạch cũng không thể tới ngay lập tức Chúng ta vẫn cần thời gian rất dàicho tới khi hết mối lo ăn “bẩn”

Milano-Gucci đang là thương hiệu nóng nhất thời điểm này với scandal cửahàng này bị bắt một lượng lớn hàng được cho là hàng giả, hàng trốn thuế Với lôhàng trị giá hàng tỉ đồng, Milano chỉ phải đóng hơn 20 triệu đồng tiền thuế

Có hai kịch bản về lô hàng này của Milano

Thứ nhất, đây là hàng hiệu thật, nhưng được khai thành hàng giả để trốnthuế Đại diện thương hiệu Gucci & Milano tại Việt Nam khẳng định, là doanhnghiệp này không hề bán hàng giả, tất cả hàng đều xuất xứ từ Italia và nhậpkhẩu trực tiếp từ nước này về Việt Nam Để khẳng định lượng hàng mình bánlâu nay là thật, vị đại diện này cũng khẳng định: “Lần này do sự nhầm lẫn nêncông ty mà chúng tôi ủy thác nhập khẩu lại cho lô hàng quá cảnh ở Hồng Kông,làm mọi người hiểu sai là hàng xuất xứ từ Trung Quốc Hiện, chúng tôi quyếtđịnh từ chối nhận lô hàng hiệu trốn thuế này vì đã đi sai quy trình nhập khẩu màchúng tôi mong muốn” Như vậy, đây là hàng trốn thuế, vậy, Milano đã trốnđược bao nhiêu thuế?

Trang 21

Theo nhiều người cùng ngành thì việc Milano trốn thuế là chuyện tronggiới đều đoán trước được Vì cộng cả giá hàng, tiền thuế nhập khẩu, thuế giá trịgia tăng theo quy định của nhà nước thì giá bán sản phẩm sẽ bị đẩy lên rất cao.Không phải tất cả, mà là có khá nhiều cửa hàng, công ty chọn cách khai giá sảnphẩm thấp hơn giá thật để giảm tiền thuế, nhưng khai giá thấp như Milano làquá đáng, những món hàng giá trị hàng chục ngàn đô la chỉ khai với giá vài đô

la là không hợp lý Theo tìm hiểu của chúng tôi, với 1 container hàng hiệu(tương đương 4 xe hàng như số hàng Milano bị kiểm tra) nhập về Việt Nam thờiđiểm này, các công ty nhập khẩu thường đóng khoảng 17 tỉ đồng tiền thuế,chênh lệch rất lớn với con số 20 triệu đồng mà Milano đã đóng

Với quy mô như 2 cửa hàng của Milano, mỗi năm có đến vài chục lầncông ty này nhập hàng, mỗi lần có thể đã né được gần 20 tỉ đồng tiền thuế thìsau 9 năm kinh doanh vừa qua, ước tính Milano đã trốn thuế hàng ngàn tỉ đồng

Kịch bản thứ hai, đây là hàng nhái nhưng được bán trong cửa hàng ủyquyền như hàng thật với giá cao Đây không phải là chuyện không thể xảy ra tạithị trường Việt Nam Mới đây, ngày 6.12, đã có hơn 10.000 sản phẩm giả hànghiệu của các thương hiệu Louis Vuitton, Montblanc, Longchamp… bị tiêu hủy.Công ty nhập khẩu số hàng này chỉ phải đóng phạt 150 triệu đồng Như vậy, nếulượng hàng được Milano đã nhập khẩu là hàng giả thì công ty này chỉ chịu phạthành chính, còn tổn hại trực tiếp nhất thì người dùng sẽ là người phải gánh chịu?

Tổng cục Thuế đã có chỉ đạo truy thu thuế tại các cửa hàng bán hàng nháihoặc hàng hiệu trốn thuế Tuy nhiên, với Milano, khả năng truy thu lại thuế làrất khó “Có vẻ như chủ thật của Milano đã kịp trốn ra nước ngoài Chỉ còn cáchtruy thu lại một phần thuế bằng cách bán thanh lý số hàng còn lại”, vị đại diệnmột hãng phân phối hàng hiệu nổi tiếng nói

Những hành vi lừa dối người tiêu dùng trên sản phẩm bánh cuộn nhái Salite của Công ty Tiến Hà (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) đã rõ mồn một, nhưng đại diện công ty này cho rằng chỉ cần xóa đi là xong.

Mới đây, ngày 12/12/2012, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học

và Công nghệ) đã có kết luận giám định về những dấu hiệu trên bao bì sản phẩm

Trang 22

bánh cuộn bông lan Salite của Công ty Tiến Hà, theo đó Viện này khẳng định

“Dấu hiệu “Salite” gắn trên hộp đựng sản phẩm bánh ngọt như thể hiện trên tàiliệu giám định là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Salipe và hình”được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 193781 của Công tyNabo”

Hộp sản phẩm nhái (trên) gần như là bản sao của sản phẩm thật đã đượcbảo hộ Bằng những giám định rất chi tiết, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ đã chỉ

rõ hành vi vi phạm của Công ty Tiến Hà đối với nhãn hàng đã được bảo hộ củaCông ty Nabo (có trụ sở tại KCN Hòa Xá, Nam Định)

Tương tự, bản kết luận ngày 18/12 cũng của Viện Khoa học Sở hữu trítuệ về dấu hiệu vi phạm kiểu dáng công nghiệp cũng khẳng định, hộp đựng sảnphẩm của Công ty Tiến Hà cơ bản là “bản sao” của kiểu dáng công nghiệp “Hộpđựng sản phẩm” đã được bảo hộ của Nabo Trước sự vi phạm lộ liễu này củaTiến Hà, phía Nabo thông qua Công ty luật Dương và Cộng sự đã gửi thư cảnhbáo tới Tiến Hà, nhưng đến nay không nhận được phản hồi Trước thái độ imlặng của Tiến Hà, ngày 18/12 công ty Dương và Cộng sự đã gửi thư tới các cơquan chức năng tỉnh Thanh Hóa, đề nghị kiểm tra, xử lý, thu hồi các sản phẩmđang lưu hành và chấm dứt hành vi vi phạm của Tiến Hà

Trang 23

Ngoài ra, theo tìm hiểu của Dân trí thì Công ty Tiến Hà còn có nhiều vi phạmkhác mang tính chất công bố thông tin sai sự thật và lừa dối người tiêu dùng.

Mặc dù ngoài hộp in hình bánh bông lan cuộn, nhưng bên trong là bánhhình chữ nhật sử dụng công nghệ làm bánh mì

Cụ thể, trên vỏ bánh Salite của công ty này có ghi “Sản phẩm đoạt cúpvàng danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao”, nhưng thực tế trong danh sáchcác nhãn hàng được chứng nhận “Hàng Việt Nam chất lượng cao” không hề cótên bánh Salite của Tiến Hà Thêm nữa, mặc dù hình ảnh in trên bao bì sảnphẩm bánh này là loại bánh bông lan cuộn, nhưng khi bóc ra thì bên trong lại làloại bánh hình chữ nhật, được sản xuất bằng công nghệ sản xuất bánh mỳ

Theo Nabo và công ty Dương và Cộng sự, hai công nghệ sản xuất bánhbông lan cuộn và bánh hình chữ nhật là hoàn toàn khác nhau và chất lượng cũngkhác xa nhau

Trao đổi với PV, đại diện Công ty Tiến Hà liên tục đưa ra những lời giảithích theo hướng không cố tình vi phạm Trong cuộc trao đổi ngày 17/12 tạiThanh Hóa, bà Hà cho biết trước đó hộp đựng sản phẩm của Tiến Hà còn giống

ý chang hộp của Nabo, nhưng sau vì thấy hộp… xấu nên Tiến Hà đã “cải tiến”

Ngày đăng: 19/06/2016, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w