1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC

60 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 84,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo nghiên cứu khoa học đạt loại giỏi 95100đ Thông qua đề tài nghiên cứu “Thực trạng phương pháp học tập truyền thống và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học”, tác giả mong muốn góp phần giúp sinh viên lớp KHQL K8 nói riêng, sinh viên trường ĐHKH nói chung biết đến phương pháp Bản đồ tư duy và ứng dụng trong thực tiễn học tập để sinh viên có phương pháp học tập hợp lý hơn, hiệu quả học tập cao hơn

Trang 1

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỔI MỚI

sự thay đổi về phương pháp học tập bởi đó là yếu tố chính quyết định kết quả học tập của mỗi sinh viên Phương pháp học chính là “chìa khóa” của sự thành công Cũng vì tầm quan trọng của “chiếc chìa khóa vô hình” ấy mà nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp học đã ra đời để mang lại cho học sinh, sinh viên những phương pháp học hiệu quả

Trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay, việc học tập chăm chỉ vẫn chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công việc gì Các phương pháp luận học tập đã đem lại thành công cho chúng ta trong quá khứ đang gặp nhiều thách thức Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu chúng ta không chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức Nếu ví thông tin như các yếu tố đầu vào, còn kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc là yếu tố đầu ra thì “hộp đen” hay “bộ vi xử lý” chính là bộ não của chúng ta Thực tế, chúng ta có thể dành nhiều thời gian để học cách sử dụng tốt một chiếc máy tính, nhưng lại ít quan tâm đến cơ chế hoạt động, xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp, sáng tạo… của cỗ máy kỳ diệu là bộ não

Trang 2

Bản đồ tư duy là một hệ thống có tính cách mạng trong việc lập kế hoạch và ghi chú nhanh những công việc cần làm đã giúp thay đổi cuộc sống của hàng triệu người trên toàn thế giới Bản đồ tư duy là một hệ thống kiến thức được tóm tắt ngắn gọn bằng những “nhánh cây”, những ký hiệu và những hình ảnh sinh động nhằm mô tả phần kiến thức mà ta muốn biểu thị Vì đặc điểm ngắn gọn mà người học có thể ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng, và những tri thức cũng được sắp xếp vào não bộ một cách hết sức khoa học Bên cạnh

những đặc tính ưu việt trên, Bản đồ tư duy với sự phong phú về hình ảnh và

màu sắc đã kích thích trí tưởng tượng và niềm say mê, hứng thú của người

học, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

Ngành Khoa học quản lý là một ngành yêu cầu tính tổ chức, sắp xếp

và điều hành công việc cao Tuy nhiên, việc học tập của sinh viên lớp Khoa học quản lý K8, trường Đại học Khoa học từ trước tới nay chủ yếu

học tập, ghi chép những thông tin, bài giảng bằng chữ, ký tự, đường thẳng, con số Với cách học tập này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử

lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin Những bài giảng nhiều chữ và khó ghi nhớ, không tạo hứng thú và thu hút sinh viên Việc học tập, ôn luyện mỗi kỳ thi trở lên vô cùng vất vả, áp lực bài vở lớn

Nhằm hướng đến một phương phương pháp học tập chủ động, tích cực Không chỉ giúp sinh viên khám phá các kiến thức mới mà còn giúp hệ thống được những kiến thức đó Từ đó, giúp sinh viên lớp KHQL K8 có được phương pháp học tập tích cực, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát

Trang 3

triển tư duy Tôi đã chọn đề tài “Thực trạng phương pháp học tập truyền

thống và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học” làm đề tài

nghiên cứu

2 Tổng quan nghiên cứu

Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnh vực giáo dục Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu: đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động cũng như khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học

Trong xu hướng đó, Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi mau lẹ, mạnh mẽ để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt

là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường

Tại Nghi quyết của hội nghị TW lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII (2- 1996) có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”

Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Hiện nay, học tập theo Bản đồ tư duy là một phương pháp học được khuyến khích áp dụng rộng rãi, nhất là đối với sinh viên Trong xu thế hội nhập của đất nước, vai trò của phương pháp học này càng trở nên quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả học tập của người học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

Trang 4

Phương pháp học tập này đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình và đã đem lại những đóng góp to lớn với những thành tựu đáng kể, giúp sinh viên tìm thấy niềm đam mê, hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhưng nó vẫn còn mang tính chung chung hoặc chỉ có thể áp dụng cho những đối tượng cụ thể, với những môn học riêng lẻ.

Trường Đại học Khoa học mới bắt đầu tuyển sinh đào tạo trình độ đại học từ năm 2002 Hiện chưa có một nghiên cứu nào cụ thể đề cập tới phương pháp học tập theo Bản đồ tư duy cho sinh viên, nên đây là một hướng tiếp cận mới Nếu đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc áp dụng hình thức học tập này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Khoa học quản lý K8 nói riêng, Đại học Khoa học nói chung

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng đến việc làm rõ thực trạng phương pháp học tập truyền thống

và đề ra giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

– Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài (sẽ giải quyết ở chương 1):

+ Cơ sở lý luận (gồm: Khái niệm phương pháp học tập, phương pháp học truyền thống, và đổi mới phương pháp học tập Bản đồ tư duy: khái niệm, lịch sử, tác dụng và cách thiết lập).

Trang 5

+ Cơ sở thực tiễn (gồm: Tổng quan chung về trường Đại học Khoa học Tổng quan về bộ môn Khoa học quản lý- Khoa Văn – Xã hội Tổng quan về lớp KHQL K8).

– Làm rõ thực trạng phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8 (sẽ được giải quyết ở chương 2):

+ Phương pháp học tập truyền thống của bản thân sinh viên lớp KHQL

K8 (gồm: phương pháp lập kế hoạch học tập, phương pháp ghi chép bài,

phương pháp thuyết trình, phương pháp đọc tài liệu, phương pháp tự học, phương pháp học nhóm, phương pháp làm đề cương ôn tập).

+ Những hạn chế và nguyên nhân của phương pháp học tập truyền thống

(gồm: Những hạn chế còn tồn tại của phương pháp học tập truyền thống Nguyên nhân của những hạn chế đó).

– Đề xuất giải pháp pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp

học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học (sẽ được làm

rõ ở chương 3):

+ Những giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập

của sinh viên lớp KHQL K8 (gồm: Đổi mới phương pháp lập kế hoạch học tập Đổi mới phương pháp ghi chép bài Đổi mới phương pháp thuyết trình Đổi mới phương pháp đọc tài liệu Đổi mới phương pháp tự học Đổi mới phương pháp học nhóm Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập).

+ Những khuyến nghị (gồm: Những khuyến nghị liên quan đến sinh viên Những khuyến nghị liên quan đến tập thể lớp Những khuyến nghị liên quan đến giảng viên Những khuyến nghị liên quan đến nhà trường).

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

– Phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8, trường ĐHKH, Đại học Thái Nguyên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi đối tượng:

– Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy

để nâng cao hiệu quả học tập trong sinh viên lớp Khoa học quản lý K8, Đại học Khoa học

Phạm vi không gian: Lớp KHQL K8, trường ĐHKH, Đại học Thái Nguyên Phạm vi thời gian:

– Thời gian khảo sát số liệu: 2010- 2012

– Thời gian thực hiện đề tài: 3/2012- 3/2013

5 Vấn đề nghiên cứu

– Vấn đề nghiên cứu 1: Thực trạng về phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học hiện nay như thế nào?– Vấn đề nghiên cứu 2: Giải pháp nào giúp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay, sinh viên lớp KHQL K8 đang sử dụng rất nhiều các phương pháp học tập truyền thống, nhưng trong phạm vi đề tài này, những phương pháp truyền thống mà chúng tôi quan tâm bao gồm:

Trang 7

– Phương pháp tự học

– Phương pháp học nhóm

– Phương pháp làm đề cương ôn tập

Giả thuyết nghiên cứu 2: Để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8 tác giả đề xuất giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy trong:

– Đổi mới phương pháp lập kế hoạch học tập

– Đổi mới phương pháp ghi chép bài

– Đổi mới phương pháp thuyết trình

– Đổi mới phương pháp đọc tài liệu

– Đổi mới phương pháp tự học

– Đổi mới phương pháp học nhóm

– Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập

7 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã áp dụng

những phương pháp cụ thể sau:

a Phương pháp quan sát:

Phương pháp quan sát cho phép thu thập kết quả từ việc ghi chép, hoặc những phương tiện công nghệ cao như: máy ghi âm, quay phim…Nhằm quan sát thực tế phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên

b Phương pháp thu thập phân tích tài liệu:

– Tài liệu viết: Dựa vào vở ghi, đề cương ôn tập của sinh viên

– Tài liệu thống kê: Dựa vào những số liệu, bảng thống kê về kết quả học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên

c Phương pháp phỏng vấn sâu:

Trang 8

Đối tượng phỏng vấn: Sinh viên lớp KHQL K8, giáo viên liên quan đến lớp KHQL K8 trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.

d Phương pháp dùng bảng hỏi:

– Đối tượng: Sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học

Dự kiến phát 137 phiếu bảng hỏi

=> Mục đích nhằm thăm dò ý kiến, thái độ của sinh viên lớp KHQL K8 về phương pháp học tập kiểu truyền thống, khảo sát về nhu cầu ứng dụng bản đồ

tư duy vào việc học tập của sinh viên lớp KHQL K8 và đánh giá những mặt mạnh của việc ứng dụng bản đồ tư duy

8 Ý nghĩa của đề tài

a Ý nghĩa về mặt lí luận

– Hoàn thành đề tài cho đóng góp về mặt lí luận: làm phong phú thêm cơ sở

lý thuyết của việc ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập

9 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,

nội dung báo cáo chia làm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài của đề tài

Trang 9

+ Chương 2: Thực trạng phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp

KHQL K8, trường Đại hoc Khoa học

+ Chương 3: Những giải pháp và khuyến nghị nhằm ứng dụng bản đồ tư duy

để đổi mới phương pháp học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại hoc Khoa học

a, Khái niệm phương pháp học tập

i) Khái niệm phương pháp

Theo từ điển Tiếng Việt: “Phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu quả”.

Theo quan điểm Triết học: “Phương pháp là hình thái chiếm lĩnh hiện thực,

sự chiếm lĩnh hiện thực trong các hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn” (Bách khoa toàn thư triết học (Liên Xô),tập III, tr409) Phương pháp chính là cách thức làm việc của chủ thể, cách thức này tùy thuộc vào nội dung “Phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung” (Hêghen).

Trang 10

Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường để đạt mục đích Theo đó, Phương pháp học tập là con đường để đạt mục đích học tập.

Theo Lexicon der Padagogik: “Phương pháp giúp để trình bày có lý lẽ vững vàng một chân lý đã xác định rồi hoặc để vạch ra một con đường tìm tòi một chân lý mới”.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Phương pháp là các cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ để chứng minh luận điểm (luận đề) Phương pháp là cách thức hành động được chủ thể sử dụng nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó”.

Như vậy, tóm lại có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn”.

ii) Khái niệm học tập

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá

trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực,

tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học Học có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”.

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ

học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.

Như vậy, ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về học tập là: “Học tập

là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với

Trang 11

hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện”.

b, Khái niệm đổi mới , đổi mới phương pháp học tập

i) Khái niệm đổi mới

Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2008: “ Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” Đổi mới là cải cách cái lỗi thời, cái cũ thay vào đó là thừa kế cái tốt

thay cái mới hợp với thời đại mới Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh Đổi mới không bao giờ là đủ cả, nó kéo dài theo chiều dài của lịch sử

Đó là kết luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về tính biện chứng của quá trình phát triển, về tính phản tương thích giữa thượng tầng kiến trúc và cơ sở hạ tầng xã hội cũng như sự đấu tranh thường xuyên giữa chúng để thúc đẩy tiến trình lịch sử đi lên

Như vậy: “Đổi mới là thay đổi, kế thừa cái cũ và tiếp thu những cái mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay”.

Trang 12

ii) Khái niệm đổi mới phương pháp học tập

Đổi mới phương pháp học tập có thể hiểu là “con đường tốt nhất để đạt chất lượng và hiệu quả học tập cao”.Đổi mới phương pháp học tập về bản chất là

sự đổi mới cách thức tổ chức học tập theo quan điểm phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của người học

* Quan điểm về đổi mới phương pháp học tập

Đổi mới giáo dục nói chung, và đổi mới phương pháp học tập nói riêng là quy luật tất yếu của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giáo viên và sinh viên trongđiều kiện mới

Đổi mới phương pháp học tập là thay đổi, kế thừa các phương pháp học tập truyền thống và tiếp thu các phương pháp học tập mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Hoàn cảnh, để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới Nó là sự kế thừa, sử dụng một cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp học tập truyền thống hiện còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng, kinh nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị

xã hội Đổi mới phương pháp học tập theo hướng khắc phục những phương pháp lạc hậu, tăng cường vận dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, CNTT, nhằm tạo điều kiện cho người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng tạo

1.1.2 Khái niệm bản đồ tư duy, lịch sử hình thành, tác dụng và cách thành lập bản đồ tư duy

a, Khái niệm bản đồ tư duy

Trang 13

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não”.

Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa bao giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các mùa thi

Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn

Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn

Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy

thì: “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh

để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung

Trang 14

tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển”.

Hình 1.1 Bản đồ tư duy trong kế hoạch công việc hằng ngày

Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về bản đồ tư duy

là: “Bản đồ tư duy (MindMap) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu,

mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,

… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu

tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng Bản đồ tư duy theo một cách riêng Do đó, việc lập Bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người”.

b, Lịch sử hình thành bản đồ tư duy

Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn

Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học

viện giáo dục

c, Tác dụng (lợi ích) của việc ứng dụng bản đồ tư duy

* Trong cuộc sống:

Trang 15

– Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ

chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng vấn, và đàm thoại

– Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ

não thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay sau khi

nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn

– Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind maps

sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện

Hình 1.2 Sử dụng bản đồ tư duy giúp phát huy tính sáng tạo

– Giải quyết vấn đề: Khi bạn gặp trở ngại với một vấn đề, Mind maps có thể

giúp bạn nhìn nhận tất cả các vấn đề và làm thế nào để liên kết chúng lại với nhau Nó cũng giúp bạn có được cái nhìn tổng quát là bạn có thể nhìn nhận vấn đề dưới góc độ nào và sự quan trọng của nó

– Trình bày (trình diễn): Mind maps không chỉ giúp ta tổ chức các ý kiến hợp

lý, dễ hiểu mà còn giúp ta trình bày mà không cần phải nhìn vào biên bản có sẵn

* Trong giáo dục, đào tạo:

– BĐTD giúp sinh viên học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương

pháp học tập cho sinh viên không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy

Trang 16

học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số sinh viên học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là môn toán, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của

mình Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.

– BĐTD giúp sinh viên học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên

cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

Hình 1.3 Bản đồ tư duy trong học môn văn học

– BĐTD giúp sinh viên ghi chép có hiệu quả: Do đặc điểm của BĐTD nên

người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để

“ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả

Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD: 1) Dùng từ khóa và ý chính; 2) Viết cụm từ, không viết thành câu; 3) Dùng các từ viết tắt 4).Có tiêu đề 5) Đánh số các ý; 6) Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,… 7) Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng 8) Sử dụng màu sắc để ghi

Trang 17

– Sử dụng BĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương

hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ

Hình 1.4 Bản đồ tư duy tóm lược 5 nội dung của phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy

Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn

đề, giúp GV đổi mới PPDH, giúp sinh viên học tập tích cực đó chính là một

trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả – nội dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát

Trang 18

mình Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.

+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh + Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc về chủ đề

– Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.

+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật

+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

– Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.

+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh

+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian

+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa + Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn

+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn

Trang 19

+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.

– Bước 4: Người vẽ có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng

thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan chung về trường Đại học Khoa học

a, Khái quát về trường ĐHKH

Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên tiền thân là Khoa Khoa học Tự nhiên, được thành lập năm 2002 theo Quyết định số 1286/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 28/ 03/ 2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT).Đến tháng 11/ 2006, để phù hợp với sự mở rộng của quy mô và ngành đào tạo, Giám đốc ĐHTN đã ký Quyết định số 803/QĐ-TCCB đổi tên Khoa Khoa học Tự nhiên thành Khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội Tháng 12/ 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1901/QĐ – TTg ngày 23/ 12/ 2008 về việc thành lập trường Đại học Khoa học trên cơ sở nâng cấp khoa Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc ĐHTN

Trường ĐHKH có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học (NCKH), ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc Trường là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

Nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học

phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực và đất nước Triển

khai các đề tài NCKH, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao

công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ cho sự phát

Trang 20

triển kinh tế – xã hội của khu vực và đất nước Trường thực hiện nhiệm vụ quản lý đào tạo, NCKH, tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất và các mặt công tác khác của trường theo quy định của Nhà nước, Bộ GD&ĐT và sự phân cấp của ĐHTN; Là đơn vị dự toán và kế toán hành chính sự nghiệp cấp 3 thuộc ĐHTN.

Hình 1.5 Trường Đại học Khoa học, ĐHTN

Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trường ĐHKH đang đào tạo các chuyên ngành sau: Cử nhân Toán, Toán-Tin, Lý, Hóa, Khoa học Môi trường, Sinh học, Công nghệ sinh học, Lịch sử, Văn học, Khoa học quản lý, Công tác xã hội, Du lịch, Báo chí, Luật học, thạc sỹ ngành Toán, Sinh, Tiến

sỹ ngành Hóa Sinh Các thế hệ cán bộ giảng viên của nhà trường đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ các tỉnh trong cả nước, đặc biệt là vùng trung du và miền núi phía Bắc

Trong thời gian tới, Nhà trường sẽ điều chỉnh xây dựng các chuyên ngành đào tạo sau đại học theo hướng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế Chủ trương của Nhà trường là giữ vững quy mô đào tạo đại học chính quy ở mức

ổn định phù hợp với quy mô ngành nghề Chú trọng tăng cường đào tạo trình

độ sau đại học với chất lượng cao, đồng thời đáp ứng yêu cầu đào tạo của hệ không chính quy, văn bằng 2, liên thông với chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô đào tạo thích hợp Quy mô sinh viên nhập học trong 3 năm gần đây cho thấy

số lượng đều tăng lên hàng năm

b, Cơ sở vật chất của nhà trường

Tổng diện tích xây dựng là 3482 m2 gồm: 1563 m2 phòng học, 534 m2 khu văn phòng, 875 m2 phòng thí nghiệm, 71 m2 thư viện, 02 phòng máy tính với

Trang 21

diện tích 175 m2, Hội trường có diện tích 526 m2, 2110 m2 ký túc xá Trường đã được nhận 73.532 m2 đất đã được đền bù giải phóng trong tổng số 21,1 ha đất đã quy hoạch cho trường Là trường thành viên của Đại học Thái Nguyên nên trường có thể được sử dụng hệ thống cơ sở vật chất của các đơn

vị thành viên khác trong Đại học Thái Nguyên để phục vụ cho cho quá trình đào tạo, vì vậy cơ sở vật chất cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo

Để phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, trường đã có một hệ thống các phòng thí nghiệm thuộc các chuyên ngành: Hoá học; Vật lý; Sinh học; Công nghệ sinh học; Khoa học Trái đất; Khoa học Môi trường Các phòng thí nghiệm của trường đã được cung cấp các trang thiết bị từ các dự án “Dự án nâng cao chất lượng giáo dục đại học – Mức 2 QIG B”; Các dự án chương trình mục tiêu năm 2008; năm 2009, Đây là hệ thống các thiết bị thí nghiệm đồng bộ, đáp ứng được với các chương trình đạo tạo do Bộ GD&ĐT đặt ra

Giai đoạn 2010 đến 2015:

– Giải phóng toàn bộ diện tích đất đã được phê duyệt theo Quy hoạch để có thể xây dựng Giảng đường; Thư viện; Phòng thí nghiệm; Văn phòng; Ký túc

xá, Nhà ăn cho sinh viên; Sân chơi, bãi tập; Hội trường, nhà thi đấu…

– Xây dựng các dự án chương trình mục tiêu và dự án tăng cường năng lực

để củng cố và bổ sung thêm trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm đã có, xây dựng thêm một số phòng thí nghiệm chuyên ngành đáp ứng được với sự phát triển của trường

– Củng cố và tăng cường các trang thiết bị về công nghệ thông tin đủ đáp ứng cho nhu cầu quản lý, nhu cầu dạy và học theo phương pháp tiên tiến, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế

Giai đoạn 2016 đến 2020:

Trang 22

– Xây dựng thêm giảng đường trung tâm thí nghiệm và nghiên cứu khoa học

để đáp ứng với quy mô phát triển của trường

– Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống ký túc xá, nhà ăn, sân chơi, bãi tập

– Tăng cường năng lực công nghệ thông tin

* KẾ HOẠCH XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG NHƯ SAU:

TT

T gian khởi

công

T.gian hoàn thành Tên hạng mục công trình

Diện tích( m2 )

1 01/2010 12/2015 Giải phóng mặt bằng theo Quy hoạch 130.800

9 05/2011 05/2013 Xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu

10 05/2014 05/2015 Trung tâm thí nghiệm, NCKH

11 05/2014 05/2015 Hội trường 1200 khán giả

14 05/2015 05/2018 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật

* Về trang thiết bị:

– Xây dựng các dự án chương trình mục tiêu từng năm nhằm tăng cường

trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm

– Tích cực xây dựng các dự án tăng cường năng lực:

Trang 23

+ Năm 2010-2011 hoàn thiện dự án và chuẩn bị cơ sở để tiếp nhận trang thiết bị của dự án tăng cường năng lực cho ngành Khoa học Môi trường với tổng kinh phí là 3,3 tỷ đồng.

+ Từ 2011-2013: Xây dựng và xin phê duyệt dự án tăng cường năng lực cho ngành Công nghệ Sinh học với tổng kinh phí là 7.5 tỷ đồng

+ Từ 2014-2020: Xây dựng và xin phê duyệt dự án thành lập trung tâm thí nghiệm Vật lý hiện đại bằng nguồn vốn xây dựng cơ bản với kinh phí từ 30 đến 40 tỷ đồng

– Tăng cường tiết kiệm, tích cực tìm nguồn huy động vốn đề không ngừng bổ sung, đổi mới trang thiệt bị phục vụ cho mọi hoạt động của nhà trường

c, Đội ngũ cán bộ giảng viên và sinh viên của nhà trường

* Đội ngũ cán bộ giảng viên

Hiện tại trường gồm có 6 Khoa chuyên môn, 2 Bộ môn với đội ngũ cán bộ giảng viên trẻ, sáng tạo, nhiệt tình Có thể thấy: đội ngũ cán bộ giáo viên của trường không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng Trình độ của cán bộ, giáo viên được nâng cao

Có nhiều giảng viên được cử đi học cao học, nghiên cứu sinh ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, về mặt số lượng cán bộ giảng viên thì mức tăng qua các năm là tương đối chậm so với quy mô đào tạo của trường Nếu 2006 tổng

số lượng cán bộ, giảng viên là 93 người thì tới năm 2011 mức này tăng lên

277 người Mặt khác với 18 chuyên ngành đào tạo khác nhau, số lượng sinh viên ngày càng tăng thì mức tăng như hiện tại về số lượng cán bộ, giảng viên

sẽ không đáp ứng nhu cầu đào tạo của trường, nhiều môn chuyên ngành phải mời giảng viên từ các trường khác đến giảng dạy Bên cạnh đó, nhà trường chưa có cán bộ giảng viên có trình độ giáo sư, số lượng cán bộ, giảng viên là

Trang 24

phó giáo sư và tiến sỹ còn ít Chiếm đa số trong tổng đội ngũ giáo viên là trình độ thạc sỹ Hiện nay, số lượng cán bộ giảng viên có trình độ cử nhân chiếm khá nhiều Để đáp ứng với sự phát triển của nhà trường, yêu cầu đặt ra

đó là phải không ngừng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên

Vì thế, song hành với công tác tuyển chọn cán bộ, giảng viên chuyên ngành một số môn, nhà trường cũng cần đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành, năng lực chuyên môn cho cán bộ, giảng viên trong trường

* Sinh viên nhà trường

Hiện nay, trường ĐHKH đang tiến hành đào tạo 4 hệ chính: hệ chính quy, hệ địa chỉ, hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm Với số lượng sinh viên là 5362 sinh viên, trong đó hệ chính quy có 3476 sinh viên, hệ địa chỉ có 1171 sinh viên, hệ liên thông có 492 sinh viên, hệ vừa học vừa làm là 223 sinh viên.Năm học 2008 – 2009 nhà trường đã triển khai, áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ – một phương thức giúp làm tăng tính chủ động của người học, tự tìm tòi, nghiên cứu kiến thức, phân tích và giải quyết vấn đề Điều này giúp sinh viên nhà trường nâng cao được tính chủ động, từ đó nâng cao được chất lượng đào tạo của nhà trường Trong những năm qua kết quả học tập của sinh viên đã được cải thiện đáng kể, thể hiện cụ thể trong kết quả học tập của sinh viên không ngừng được nâng cao Tuy nhiên số lượng sinh viên học lực trung bình và yếu vẫn tăng lên Điều này cho thấy chất lượng đào tạo của nhà trường còn nhiều hạn chế Nguyên nhân đầu vào tuyển sinh không cao, nhiều bộ phận sinh viên chưa thích ứng được với hình thức đào tạo theo tín chỉ, thiếu tính chủ động trong việc học tập và nghiên cứu

1.2.2 Tổng quan về bộ môn Khoa học quản lý

Trang 25

Được thành lập năm 2006, đến nay, bộ môn KHQL đã và đang đào tạo khoảng 600 sinh viên hệ chính quy ngành Khoa học Quản lý với 2 chuyên ngành là Quản lý nguồn nhân lực và Quản lý các vấn đề xã hội và chính sách

xã hội Dự kiến, trong thời gian tới, bộ môn sẽ đưa thêm 1 số chuyên ngành mới vào chương trình đào tạo như Quản lý văn hóa – dân tộc và tôn giáo, Bảo

hộ sở hữu trí tuệ, Quản lý khoa học và công nghệ để theo kịp với sự phát triển của xã hội

* Đào tạo:

Với mục tiêu đào tạo những cử nhân vững vàng về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng thực hành nghề, chương trình đào tạo của BM được thiết kế đảm bảo tính mới, cập nhật, mềm dẻo, linh hoạt Đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, tận tâm với công việc và không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ là một lợi thế để bộ môn KHQL có những bước tiến vượt bậc kể

từ khi thành lập đến nay Cùng với việc áp dụng những phương pháp giảng dạy tiên tiến kết hợp trang thiết bị hiện đại, giảng viên của bộ môn đã tạo ra những tiết học thực sự lý thú và bổ ích với sinh viên

Bên cạnh hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được bộ môn chú trọng quan tâm Hàng năm, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ, sinh viên được triển khai và nghiệm thu đạt kết quả cao Nhiều đề tài trong số đó đã trở thành nguồn học liệu quan trọng cho cán bộ, giảng viên của ngành trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu

* Thực tập, thực tế

Theo học ngành Khoa học quản lý, sinh viên còn có nhiều điều kiện, cơ hội thâm nhập, tìm hiểu thực tiễn quản lý thông qua các chuyến thực tập, thực tế tại các cơ quan, đơn vị như các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các

Trang 26

công ty, doanh nghiệp… Đây là dịp để các bạn kiểm chứng, tích lũy không chỉ kiến thức mà còn cả kĩ năng làm việc nhằm chuẩn bị những điều kiện tốt nhất cho quá trình lập nghiệp sau này.

cơ, mục đích học tập đúng đắn để có một tương lai tốt đẹp nhất

* Cơ hội việc làm

Sau khi tốt nghiệp, cử nhân KHQL có thể làm việc tại:

+ Các phòng, ban, phân xưởng, xí nghiệp, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước hoặc tư nhân (phòng hành chính – nhân sự, hành chính – tổng hợp, tổ chức cán bộ, tiền lương – tiền công…);

+ Các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương (UBND và các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp, chuyên viên các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bảo hiểm xã hội các cấp, Liên đoàn lao động các cấp…);

+ Công tác trong ngành quản trị kinh doanh, tài chính, ngân hàng, thương mại, bảo hiểm, luật, chính trị…;

Trang 27

+ Làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên

nghiệp và dạy nghề

Với đội ngũ cán bộ năng động, tận tâm với sinh viên, sáng tạo trong công

việc, trong những năm vừa qua, BM KHQL dần khẳng định vị thế của mình

với các cơ sở đào tạo khác và là địa chỉ tin cậy cho những bạn trẻ muốn

khẳng định mình trong lĩnh vực quản lý

* Nghiên cứu khoa học

Từ khi thành lập đến nay, Bộ môn Khoa học quản lý (KHQL) luôn chú trọng

vào công tác NCKH và xem đây là nhiệm vụ then chốt của giảng viên, sinh

viên Nhận thức rõ việc giảng dạy bậc đại học không thể tách rời hoạt động

nghiên cứu khoa học, Bộ môn KHQL đã liên tục động viên, tạo điều kiện cho

các giảng viên, sinh viên công bố kết quả bảo vệ công trình khoa học, phục

vụ công việc nghiên cứu và giảng dạy ở tất cả các hệ đào tạo Hiện nay, Bộ

môn xác định hướng nghiên cứu cơ bản về quản lý nhân lực, quản lý chính

sách, quản lý văn hóa và dân tộc… Trong 5 năm đầu hình thành và phát

triển, Bộ môn đã tham gia thực hiện 07 đề tài cấp cơ sở và có 01 đề tài cấp

Đại học Thái nguyên đang được đề xuất:

STT Tên công trình Chủ nhiệm đề tài Cấp

Thời gian thực hiện

1

Xây dựng Bộ ngân hàng câu

hỏi thi trắc nghiệm môn Lịch

sử tư tưởng và các học thuyết

quản lý

Giảng viên Trần Thị Hồng Trường 2009 – 20010

2 Xây dựng bài giảng điện tử

môn Quản lý nguồn nhân

Giảng viên Nguyễn Thị Kim Phương

Trường 2010 – 2011

Trang 28

lực theo hướng tích cực hóa

nhận thức của người học

3

Xây dựng ngân hàng câu hỏi

thi trắc nghiệm cho

Xây dựng ngân hàng câu hỏi

thi trắc nghiệm trên máy tính

Xây dựng Bộ ngân hàng câu

hỏi thi trắc nghiệm trên máy

tính học phầnLịch sử tư

tưởng quản lý

Giảng viên Trần Thị Hồng Trường 2011 – 2012

Xây dựng ngân hàng câu hỏi

thi trắc nghiệm cho môn Tổ

chức học đại cương

Giảng viên Trần Thị Hồng Trường 2012 – 2013

8

Thực trạng và giải pháp phát

triển thị trường dịch vụ sở hữu

trí tuệ Thái Nguyên

Giảng viên Nguyễn Thị Kim Phương

Đại học Thái Nguyên

Trang 29

Cho đến nay Bộ môn đã hướng dẫn và nghiệm thu 12 Khóa luận tốt nghiệp đại học K5, K6; 15 đề tài NCKH sinh viên, đồng thời hướng dẫn 06 đề tài NCKH K8 đang trong quá trình thực hiện.

Trong thời gian tới, Bộ môn tiếp tục chú trọng vào việc tham gia đăng ký tuyển chọn đề tài các cấp và đẩy mạnh hoạt động NCKH của sinh viên

1.2.3 Tổng quan về lớp KHQL K8

a, Khái quát chung về lớp KHQK K8

Là một trong những lớp thành viên của bộ môn Khoa học quản lý Hiện nay, lớp KHQL K8 hiện có 137 sinh viên, thuộc 25 tỉnh thành trong đó nhiều nhất

là sinh viên thuộc tỉnh Thái Nguyên với 53 sinh viên Còn lại là sinh viên thuộc các tỉnh lân cận: Bắc Giang 11 sinh viên, Cao Bằng 9 sinh viên, Bắc Kạn 6 sinh viên, Lạng Sơn 7 sinh viên, Thanh Hóa 5 sinh viên, Hưng Yên 3 sinh viên, Nghệ An 3 sinh viên, Phú Thọ 3 sinh viên, Sơn La 2 sinh viên, Tuyên Quang 8 sinh viên, Bắc Ninh 5 sinh viên, Hà Giang 4 sinh viên, Thái Bình 3 sinh viên, ngoài ra còn có sinh viên thuộc Hà Nội, Yên Bái, Lào Cai, Nam Định, Hà Nam, Quảng Ninh, Quảng Ngãi…

Hình 1.6 Gv chủ nhiệm Bùi Trọng Tài và tập thể sinh viên lớp KHQL K8

* Đội ngũ ban cán sự lớp:

Dưới sự quản lý trực tiếp của giáo viên chủ nhiệm lớp đó là thầy Bùi Trọng Tài, khoa Văn- Xã hội, hằng năm theo sự chỉ đạo từ đoàn trường ĐHKH, lớp KHQL K8 đều tổ chức đại hội Đoàn, Lớp, Hội bầu ra những cá nhân có năng lực và được tín nhiệm để lãnh đạo lớp, giúp lớp tiến bộ Hiện nay ban cán sự

và những sinh viên nằm trong đội ngũ quản lý lớp gồm:

– Ban cán sự lớp: 4 đồng chí (gồm: 1 lớp trưởng, 1 lớp phó học tập, 1 lớp phó văn thể, 1 lớp phó đời sống)

Trang 30

– Ban chấp hành chi đoàn, chi hội: 3 đồng chí (gồm: 1 bí thư, 1 phó bí thư, 1

Hình 1.7 Cơ cấu tổ chức của lớp KHQL K8 bằng sơ đồ tư duy

b, Thành tích đạt được của lớp KHQL K8

* Hoạt động trong nội bộ lớp:

– Thường xuyên tổ chức họp lớp, nhận xét, đánh giá những mặt được và chưa được trong công tác quản lý của ban cán sự, những băn khoăn, thắc mắc của các bạn sinh viên trong lớp để kịp thời chỉnh đốn, sửa đổi cho phù hợp

– Tổ chức các buổi giao lưu, gắn kết giữa sinh viên lớp KHQL K8 với các bạn sinh viên lớp Văn K8

– Tổ chức sinh nhật cho các thành viên trong lớp, tổ chức mùng 8/3, 20/10…cùng với rất nhiều chương trình văn nghệ hấp dẫn

* Tham gia trong các hoạt động của Khoa, của trường:

– Tham gia các mùa thi nấu ăn và cắm hoa của Khoa, của trường và giành giải 3 vào hội thi ngày 8/3/2011

– Tham gia các giải bóng đá của Khoa và đã giành được những giải cao: giải nhất đội bóng đá nữ, và giải 3 bóng đá nam mùa giải năm 2012

Ngày đăng: 13/06/2016, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán– Tạp chí Giáo dục, kì 2- tháng 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán
2. Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2003 Khác
4. Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 Khác
8. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Sử dụng bản đồ tư duy góp phần đổi mới phương pháp dạy học và hỗ trợ công tác quản lý Khác
9. Tony Buzan (2007), Bản đồ Tư duy trong công việc, NXB Lao động – Xã hội Khác
10. Tích cực hóa việc học bằng bản đồ từ duy- Báo giáo dục và thời đại online Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Thời khóa biểu học kỳ 2 năm học 2012- 2013 của bạn - ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC
Hình 2.1 Thời khóa biểu học kỳ 2 năm học 2012- 2013 của bạn (Trang 34)
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các kỹ năng của sinh - ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các kỹ năng của sinh (Trang 40)
Bảng 2.6 Hình thức làm đề cương ôn tập của sinh viên lớp KHQL K8 - ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC
Bảng 2.6 Hình thức làm đề cương ôn tập của sinh viên lớp KHQL K8 (Trang 41)
Bảng 2.7 Kết quả học tập 5 kỳ của sinh viên lớp KHQL K8 - ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC
Bảng 2.7 Kết quả học tập 5 kỳ của sinh viên lớp KHQL K8 (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w