Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp như Luật giáo dục 2005, chương I, điều 24 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
NGUYỄN THU TRANG
ỨNG ỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM, SGK NGỮ VĂN 10, TẬP I, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI 2018
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài khóa luận này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới tập thể thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã
trang bị kiến thức và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Văn Thi
Minh Tư, cảm ơn cô đã luôn đồng hành, định hướng, tạo động lực và tìm cho em
những niềm cảm hứng mới trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em cũng xin chân thành cảm ơn
các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Tây Hồ và THPT Yên Hòa đã
ủng hộ, nhiệt tình giúp đỡ em
Thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 5
1.Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Khách thể nghiên cứu 6
3.2 Đối tượng nghiên cứu 6
3.3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
6.1 Phương pháp thu thập xử lý tài liệu 7
6.2.Phương pháp quan sát – thống kê 7
6.3.Phương pháp mô phỏng 7
6.4.Phương pháp chuyên gia 7
7 Cấu trúc đề tài 7
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1 Cơ sở lý luận 8
1.1 Những vấn đề chung về “Bản đồ tư duy” 8
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu 8
1.1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.2 “Bản đồ tư duy” là gì? 10
1.2.1 Ưu điểm của kĩ thuật bản đồ tư duy 10
Commented [WU1]: Khong thay ten chuong 2 Commented [t2R1]:
Trang 41.2.2 Cách xây dựng một bản đồ tư duy 10
1.3 Truyện cổ tích trong chương trình SGK Ngữ Văn THPT hiện nay 16
1.3.1 Khái quát về truyện cổ tích 16
1.3.2.Vị trí, vai trò của truyện cổ tích trong chương trình ngữ văn THPT 17
1.3.3 Số lượng bài học, tiết học trong phân phối chương trình chuẩn 17
2 Cơ sở thưc tiễn 18
2.1 Tâm lý lứa tuổi học sinh THPT 18
2.2 Thực trạng dạy và học truyện cổ tích “Tấm Cám ” (SGK Ngữ văn 10, tập 1, CTC) ở trường THPT qua một vài số liệu khảo sát 18
2.2.1 Khảo sát 18
2.2.2 Kết quả khảo sát 18
2.2.3 Kết luận thực trạng 19
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM , SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10, TẬP I, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN BẰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY 21
1 Các nguyên tắc ứng dụng kĩ thuật BDTD trong dạỵ học truyện cổ tích Tấm Cám 21
1.1 Dạy học bám sát nội dung 21
1.2 Đảm bảo tính giáo dục 21
1.3 Đảm bảo nguyên tắc về lượng 22
1.4 Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục 23
1.5 Một số cách tiếp cận bài học thông qua kỹ thuật bản đồ tư duy 23
1.6 Đề xuất kế hoạch dạy học truyện cổ tích Tấm Cám , SGK ngữ văn 10, tập 1 (chương trình chuẩn) sử dụng kỹ thuật bản đồ tư duy 24
1.6.1 Vị trí của văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Ban cơ bản) 24 1.6.2 Nội dung của văn bản Tấm Cám 24
Trang 51.6.3 Mục đích của việc dạy học văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa 26
1.6.4 Yêu cầu về bản đồ tư duy 30
2 Thiết kế các bản đồ tư duy khi dạy văn bản Tấm Cám 30
2.1 Bản đồ tư duy về truyện cổ tích 30
2.2 Bản đồ về tóm tắt văn bản Tấm Cám 31
2.3 Bản đồ tư duy về nhan đề Tấm Cám 32
2.4 Bản đồ tư duy khi Tấm còn nhỏ 33
2.5 Bản đồ tư duy khi Tấm vào cung làm hoàng hậu 33
2.6 Bản đồ về yếu tố thần kỳ 34
2.7 Bản đồ tổng kết 34
2.8 Định hướng dạy văn bản Tấm Cám có vận dụng bản đồ tư duy 35
2.9 KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY VĂN BẢN TRUYỆN CỔ TÍCH : TẤM CÁM 36 Tiểu kết chương 2 57
3 Đánh giá và bàn luận 58
4 Kết luận, khuyến nghị 58
4.1 Kết luận 58
4.2 Khuyến nghị 58
PHẦN III: TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHẦN IV: PHỤ LỤC 61
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức cho tất cả các nước trên thế giới Để hội nhập quốc tế, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những bước tiến lớn phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện đại Đứng trước những yêu cầu mới của xã hội, sự phát triển của nhân tố con người có vai trò cực kì quan trọng Vì vậy, nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách ưu tiên hàng đầu Trong ngành giáo dục, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một việc làm cần thiết và không còn là khái niệm xa lạ với những người dạy học trong những năm gần đây
Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp như Luật giáo dục 2005, chương I, điều 24 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho mỗi HS” Trong dạy học tích cực hiện nay, có nhiều
kĩ thuật dạy học giúp HS tiếp cận bài học một cách chủ động, hứng thú và nắm bài khoa học, hệ thống như: công thức hóa, mô hình hóa, sơ đồ hóa (Grap),…Tuy nhiên, việc sử dụng BĐTD có thể được coi là kỹ thuật mang lại nhiều hiệu quả, vượt trội hơn cả
Đối với Ngữ văn, môn khoa học xã hội có những đặc thù riêng so với những môn học khác, nó là một môn học vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính nhân văn rất cao Đối với truyện cổ tích Việt Nam, đây là một bộ phận văn học trong chương trình ngữ văn THPT, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tâm hồn
HS, cung cấp cho các em lượng kiến thức phong phú về lịch sử, văn hóa dân tộc… Tuy vậy, truyện cổ tích là bộ phận văn học thuộc giai đoạn khá xa với đời sống hiện đại ngày nay nên việc tiếp thu lượng kiến thức truyện cổ tích của HS trở nên khó khăn hơn Thực tế, giáo viên không thể nào truyền tải hết lượng kiến thức rộng lớn của bộ phận này cho HS do thời gian các tiết học hạn chế và việc dạy các tiết VHTĐ chưa thực sự khơi gợi được hứng thú cho các em
Từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng BĐTD trong dạy học các tiết truyện cổ tích phù hợp với mục tiêu yêu cầu của môn học, đặc biệt là đối với một tiết truyện cổ tích lớp 10 Kỹ thuật này nhằm tổ chức, định hướng cho học sinh thu thập thông tin, chinh phục kho tàng tri thức một cách có hiệu quả đồng thời giúp tiết học thêm thú vị, bớt nhàm chán Do vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa
chọn đề tài “ Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học truyện cổ tích Tấm Cám,
SGK 10 tập 1, chương trình chuẩn ”
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Đóng góp ý tưởng, khuyến khích ứng dụng phổ biến hơn kĩ thuật BĐTD trong dạy và học Ngữ Văn ở nhà trường THPT hiện nay đồng thời mở rộng kiến thức về kỹ thuật BĐTD đến mọi người đặc biệt là các nhà giáo, các em học sinh Qua đó, đề xuất sản phẩm là kế hoạch dạy học cho bài “Tấm Cám” (SGK Ngữ Văn
10 – tập I – Chương trình chuẩn) có thể dùng làm tham khảo để giảng dạy trong thực tế
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Việc dạy học có ứng dụng kỹ thuật bản đồ tư duy trong bài dạy học truyện
cổ tích “ Tấm Cám” (SGK Ngữ Văn lớp 10– tập I – Chương trình chuẩn THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 10 (mẫu khảo sát là hs lớp 10 trường Thpt Yên Hòa và lớp 10 trường Thpt Tây Hồ ) , ( mẫu thực nghiệm là Hs lớp 10, trường thpt Yên Hòa)
- Kỹ thuật bản đồ tư duy dùng cho dạy học truyện cổ tích “ Tấm Cám ” (SGK Ngữ Văn lớp 10 – tập I – Chương trình chuẩn THPT)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phần truyện cổ tích trong chương trình SGK Ngữ Văn THPT hiện nay
- Truyện cổ tích “Tấm Cám ” (SGK Ngữ Văn lớp 10 – tập I – Chương trình chuẩn THPT) hiện nay
4 Giả thuyết nghiên cứu
Việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy và học truyện cổ tích “Tâm Cám ” (SGK Ngữ văn 10, tập 1, CTC) sẽ giúp giáo viên thuận tiện hơn trong việc thiết kế giáo án giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho học sinh Qua đó, học sinh không chỉ được tiếp nhận lượng kiến thức văn học một cách hệ thống mà còn có thể khám phá
ra một phương pháp học tập mới hiệu quả, tạo hứng thú trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về lý luận: Tổng hợp - phân tích và hệ thống lại những cơ sở khoa học (khái niệm, lý thuyết, quy luật…) có liên quan đến vấn đề ứng dụng kỹ thuật bản đồ tư duy vào dạy học truyện cổ tích “Tâm Cám “, SGK ngữ văn 10, tập I
- Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng cần thiết của việc nghiên cứu đề tài Ứng dụng kỹ thuật BĐTD vào dạy học truyện cổ tích Tấm Cám , SGK ngữ văn 10, tập I Thông qua xây dựng kế hoạch giảng dạy bài học có sử dụng kỹ thuật BĐTD, chỉ ra được ưu, nhược điểm của cả hai cách dạy và học: giữa có ứng dụng bản đồ tư duy với dạy học thông thường
Trang 96 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập xử lý tài liệu
Thu thập các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến ứng dụng BĐTD trong dạy và học môn Ngữ Văn Các tài liệu trên sau khi được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn sẽ phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, làm tiền đề để phát triển đề tài với những nét đặc trưng riêng, nét mới của người nghiên cứu
Phương pháp này gồm các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết; phương pháp lịch sử
6.2.Phương pháp quan sát – thống kê
Bằng cách tham khảo một số giáo án giảng dạy bài học, khảo sát ý kiến của học sinh lớp 10 rồi thống kê lại để rút ra nhận xét về những thuận lợi và khó khăn của việc dạy - học Ngữ Văn bài học “ Tấm Cám ” nếu có hoặc không áp dụng kỹ thuật bản đồ tư duy
6.3.Phương pháp mô phỏng
- Công cụ, dụng cụ hỗ trợ: Phần mềm imindmap, Edraw Mind Map 7.9, giấy,
bút, bút màu
- Sản phẩm: Giáo án thử nghiệm và một số bản đồ tư duy hỗ trợ bài học cho
học sinh
6.4.Phương pháp chuyên gia
Sau khi xây dựng được giáo án thử nghiệm, tìm đến sự cố vấn của các giáo viên, giảng viên chuyên gia để tổng hợp ưu điểm – nhược điểm của sản phẩm nghiên cứu Từ đó đi đến kết luận và khuyến nghị
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Đề xuất kế hoạch dạy học truyện cổ tích “Tấm Cám ”, sách giáo khoa Ngữ văn 10, chương trình chuẩn bằng bản đồ tư duy
Trang 10PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
1.1 Những vấn đề chung về “Bản đồ tư duy”
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1.1 Trên thế giới
Bản đồ tư duy được nghiên cứu và phát triển lần đầu tiên bởi Tony Buzan - một tác giả hàng đầu thế giới về não bộ, vào đầu thập niên 1970 Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “ Use your head” Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp BĐTD Năm 1975, Joyce Wycoff đã kết hợp chặt chẽ với Buzan để phát triển BĐTD thành công cụ tư duy hiệu quả, và bà đã viết cuốn sách “Ứng dụng Bản đồ tư duy để khám phá tính sáng tạo và giải quyết vấn đề” Cuốn sách nhằm phổ biến phương pháp BĐTD, chứng minh tính ứng dụng thực tiễn của nó trong cuộc sống Bốn tác giả Jean – Luc Deladriere; Frederic Le Bihan; Pierre Mongin; Dennis Rebaud cũng đã viết cuốn “Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy” (Trần Chánh Nguyên dịch, NXB Tổng hợp TPHCM), đã chỉ ra rất rõ thế mạnh của BĐTD trong cuộc sống cũng như học tập
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Việc nghiên cứu về BĐTD cũng như những ứng dụng của BĐTD trong giảng dạy và học tập ở Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện vào khoảng năm 2006 –
2007 thông qua một số chương trình, dự án và hội thảo khoa học về một số vấn đề như: “Sử dụng Bản đồ tư duy góp phần dạy học tích cực và hỗ trợ công tác quản lí nhà trường” - Dự án phát triển Giáo dục – Bộ Giáo dục Đào tạo THCS 2 do TS Trần Đình Châu làm Giám đốc đã triển khai
Đối với môn Văn, người đầu tiên áp dụng và đưa BĐTD vào thực tế đó là ông Hoàng Đức Huy Ông đã thành lập website cá nhân để HS cùng lên học, trao đổi kinh nghiệm về BĐTD, áp dụng rất thành công ở trung tâm GDTX quận 4 và trường THPT Tư thục Nguyễn Khuyến (TP.HCM) năm học 2008-2009 Đồng thời ông cũng đã xuất bản cuốn sách “Bản đồ tư duy đổi mới dạy học”, hướng dẫn chi tiết cách vẽ BĐTD và ứng dụng của BĐTD ở các cấp học từ bậc mầm non tới trung học, đặc biệt chú trọng nhiều tới việc sử dụng BĐTD trong dạy văn ở bậc THCS Nhìn chung, ông đã chỉ ra những ứng dụng rộng rãi của BĐTD trong mọi cấp học, việc sử dụng BĐTD đối với môn Văn cũng khá đa dạng ở các thể loại Tuy nhiên, ở
Trang 11mỗi thể loại ông mới đưa ra các ví dụ, chưa cụ thể hóa một cách chi tiết bằng hệ thống lí thuyết
BĐTD tiếp tục được nghiên cứu trong môn Ngữ Văn ở nhiều cấp bậc vào những năm sau đó Phải kể đến như:
- Năm 2010, luận văn Thạc sỹ Sư phạm Ngữ Văn – chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học của Nguyễn Thị Mai Hương “Vận dụng bản đồ tư duy (phương pháp mindmaps) để giảng dạy các bài văn học sử trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông (chương trình chuẩn)”
- Năm 2011, luận văn Thạc sỹ Giáo dục học: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học văn học dân gian Việt Nam ở trường THPT” (Nguyễn Thị Hằng)
- Năm 2011 – 2012, nghiên cứu “Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học tiếng Việt ở THPT” (Trần Thị Kim Tân)
Đây là ba đề tài hướng đến nghiên cứu BĐTD trong môn học Ngữ Văn cấp học THPT ở 3 phần khác nhau: văn học sử, văn học dân gian và Tiếng Việt Ngoài ra, cùng năm đó Sáng kiến kinh nghiệm “Bản đồ tư duy - phương pháp giúp học sinh
hệ thống kiến thức và ôn tập môn ngữ văn 12” (Ngô Thị Xuyến) là một cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về BĐTD giúp trong việc ôn tập và hệ thống kiến thức Ngữ Văn lớp 12
Năm 2012 cũng có nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn thạc sỹ về BĐTD ứng dụng trong môn Văn nhưng là nghiên cứu ứng dụng cho cấp THCS như: “Ứng dụng BĐTD vào dạy học đọc – hiểu văn bản văn chương ở lớp 8” (Lê Thanh Tùng), “Sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ Ngữ Văn 6 phần tiếng Việt” (Ngô Thị Hường) hay
“Vận dụng BĐTD vào việc hình thành kỹ năng tìm ý và lập dàn ý trong dạy học và làm văn nghị luận ở cấp THCS” (Trần Ngọc Hà)… Kể từ năm học 2013 – 2014 việc nghiên cứu để ứng dụng BĐTD trong dạy học môn Ngữ Văn ở THPT không
có nhiều nhưng dần được quan tâm hơn với nhiều nghiên cứu ở cấp học THCS và Tiểu học Những nghiên cứu này dần cụ thể hóa bằng các giải pháp qua các tên đề tài như: “Một số giải pháp sử dụng BĐTD trong dạy học tiết 73, 74 ôn tập Tiếng Việt, Ngữ Văn 9” (Lê Thị Thuận) năm 2013 hay “Một số biện pháp sử dụng BĐTD trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS” (Nguyễn Hải Dương) năm 2014… Đến năm 2016, phương pháp BĐTD được thầy giáo Trần Văn Quỳnh biên soạn quan cuốn sách:“Đột phá mindmap tư duy đọc hiểu môn Ngữ Văn bằng hình ảnh 10,11,12” (NXB ĐHQGHN) Cuốn sách giới thiệu đầy đủ các BĐTD cho các tác phẩm văn học có trong SGK lớp 10, 11, 12, giống như cẩm nang ôn thi cho HS Nhìn chung, việc nghiên cứu và ứng dụng BĐTD ở Việt Nam đã hình thành và thu hút sự chú ý, tuy nhiên tính đến nay vẫn chưa thật sự phổ biến, đi sâu triệt để và chi tiết cho các môn học nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng mặc dù đã có những ứng dụng trong thực tế của các GV và HS, đồng thời cũng có những nghiên cứu thành dự án của Bộ GD&ĐT Việc sử dụng BĐTD trong giảng dạy và học tập
Trang 12trong nhà trường còn chưa có tính đồng bộ cả nước mà vẫn đơn lẻ hoặc chỉ đại khái hình thức như một cách tham khảo truyền tai nhau
1.2 “Bản đồ tư duy” là gì?
Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược
đồ phân nhánh Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữ kiện lại với nhau Bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng
ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu
1.2.1 Ưu điểm của kĩ thuật bản đồ tư duy
So với cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp BĐTD có những điểm vượt trội như sau:
- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
- Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì
sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính
- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhânh lập tức bằng thị giác
- Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn,
- Thêm thông tin dễ dàng bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ
- Mỗi ý của bản đồ sẽ phân biệt với nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ
- Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng
và linh hoạt cho việc ghi nhớ
- Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính
1.2.2 Cách xây dựng một bản đồ tư duy
Để tạo một BĐTD , hãy tập trung vào ý tưởng trung tâm và những nhánh đi
ra từ ý tưởng đó
- Viết tên chủ đề chính vào chính giữa trang giấy
- Vẽ những nhánh đậm phát sinh từ chủ đề chính và trên đó ghi những nhánh
nhỏ hơn và những keywords quan trọng
- Gắn thêm những nhánh mới vào chủ đề nhỏ nếu có thêm ý tưởng
Có nhiều quan niệm về các bước tạo lập BĐTD khác nhau, tuy nhiên ta có thể quy
về 4 bước cơ bản đề tạo lập một BĐTD như sau:
Trang 13- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
- Bước 2: Vẽ thêm chủ đề phụ
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiêt hỗ trợ
- Bước 4: Dùng trí tưởng tượng để thêm hình ảnh giúp các ý quan trọng thêm nổi bật và giúp chúng lưu vào trí nhớ của chúng ta
Từ 4 bước trên, ta có cấu trúc BĐTD sau khi tạo lập thành công như sau:
Hình 1 Hình thức thiết kế Bản đồ tư duy
a, Vẽ bằng tay
- Chuẩn bị: Một tờ giấy trắng (có thể là tờ giấy A4, A3, A0, hoặc là tờ giấy đôi quyển vở), bút chì, bút mực, hộp bút chì màu, tẩy (nếu vẽ lên giấy, bìa), phấn các màu, khăn lau bảng (nếu vẽ lên bảng)
- Thực hành: thực hành theo các bước đã nêu trong mục 1.1.3.2
b, Vẽ bằng phần mềm trên máy vi tính
Trang 14Trong cuốn sách hướng dẫn vẽ sơ đồ tư duy của mình, tác giả Tony Buzan có đưa
ra rất nhiều dụng cụ như giấy, bút màu… để tạo một bản đồ tư duy Tuy vậy ngày càng nhiều phần mềm vẽ sơ đồ tư duy ra đời nhằm giúp ta tốn ích công sức cho việc tạo sơ đồ Những phần mềm này luôn là công cụ đắc lực hỗ trợ bạn
có thể dễ dàng vẽ được một bản đồ tư duy theo ý
Top phần mềm vẽ sơ đồ tư duy được sử dụng nhiều nhất hiện nay phải kể đến như:
* Edraw Mind Map
Đây là phần mềm vẽ sơ đồ tư duy miễn phí, có những template và ví dụ được tích hợp sẵn giúp cho Edraw Mind Map rất dễ sử dụng
Edraw Mind Map có những tính năng nhúng khác nhau như: smart drawing guide tạo ra công cụ vẽ thật đơn giản, tích hợp chủ đề, hiệu ứng, kiểu dáng; tự động căn chỉnh, tương thích với MS office, hỗ trợ cho sơ đồ có kích thước lớn và nhiều trang, dễ dàng chia sẻ và rất nhiều tính năng khác
Sử dụng Edraw Mind Map bạn có thể tạo ra các ý tưởng một cách trực quan trên máy tính và tổ chức công việc dễ dàng
Trang 16Trong thời đại công nghệ thông tin, để học tập tiến bộ không phải cứ chăm chỉ nỗ lực là được Các phần mềm thông minh như iMindMap là sự hỗ trợ công nghệ rất có ích trong học tập, tạo sơ đồ tư duy
iMindMap có những tính năng chính như: sử dụng những hình ảnh cần thiết, tạo hình ảnh, nội dung tổng quát, sử dụng các màu sắc để làm nổi bật vấn
đề, vẽ sơ đồ nhanh chóng và dễ dàng
* XMind
XMind được biết đến là phần mềm để xây dựng biểu đồ tư duy, giúp theo dõi và tổ chức công việc từ nhỏ đến lớn một cách đơn giản nhất Đây là phần mềm tuyệt vời để tạo lập và sắp xếp các ý tưởng của bạn
Trên phần mềm XMind có tích hợp nhiều hình khối, bố cục để bạn dễ dàng thiết kế và thể hiện các ý nghĩa khác nhau Phần mềm này còn cung cấp bộ công cụ để thêm các mẫu của riêng của XMind khiến cho bối cảnh ứng dụng
Trang 17thêm đặc biệt Sử dụng các mẫu nét vẽ thêm vào, bạn hoàn toàn có thể thiết kế bản đồ tư duy có hiệu quả hơn và chính xác hơn
Quy tắc Bản đồ tư duy:
- Nhấn mạnh: Đây là một quy tắc quan trọng vì có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu, chúng ta cần :
+ Dùng một hình ảnh trung tâm hoặc từ ngữ có màu sắc, kích cỡ thật lôi cuốn Hình ảnh tự khắc thu hút sự tập trung của mắt và não, đồng thời giúp nhớ hiệu quả Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn – lôi cuốn, gây sự thích thú và thu hút quan tâm , chúng ta có thể sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong BĐTD
+ Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy: Thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần trong cùng một phân cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh và giúp ghi nhớ tốt hơn
+ Cách dòng có tổ chức, thích hợp: Cách dòng có tổ chức làm nổi rõ hình ảnh, giúp tổ chức phân cấp, phân hạng hiệu quả từ đó giúp SĐTD dễ dàng khai triển và trông đẹp mắt, bố cục rõ ràng
- Liên kết: Liên kết có vai trò tăng trí nhớ và sáng tạo nên cũng rất quan trọng Đối với trí nhớ và sự hiểu biết, liên kết là then chốt
+ Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh hoặc khác nhánh: Nhờ dùng mũi tên, ta sẽ nhanh chóng tìm thấy các mối liên hệ giữa các vùng trong SĐTD
Trang 18+ Dùng màu sắc: Màu sắc là một trong những công cụ tăng cường trí nhớ và sáng tạo hiệu quả nhất Dùng màu sắc để làm kí hiệu hay phân biệt các vùng trong SĐTD sẽ làm tăng tốc độ tiếp cận thông tin và khả năng nhớ thông tin
+ Dùng kí hiệu: Khi dùng kí hiệu, chúng ta có thể lập tức tìm mối liên kết giữa các bộ phận trên cùng một trang trong SĐTD Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian, chẳng hạn có thể dùng kí hiệu đơn giản để biểu thị người, dự án, các thành phần hay quy trình dùng đến trong những bản ghi chú
- Mạch lạc: Diễn đạt rõ ràng, hệ thống giúp chúng ta tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn
+ Chữ viết rõ ràng giúp não dễ chụp ảnh hơn: Chúng ta có thể kết hợp chữ in thường và in hoa để biểu thị mức quan trọng tương đối giữa các từ trong SĐTD + Các vạch liên kết luôn nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với hình ảnh trung tâm Nối liền các vạch liên kết trong SĐTD là một cách giúp ta liên kết ý tưởng Vạch n ối có thể là mũi tên, đường cung, vòng xoắn, vòng tròn, hình bầu dục, tam giác, đa giác hay bất kể hình thù nào mà bạn có thể nghĩ tới
+ Ảnh vẽ thật rõ ràng trông đẹp mắt và hấp dẫn hơn đồng thời giúp tư duy mạch lạc
1.3 Truyện cổ tích trong chương trình SGK Ngữ Văn THPT hiện nay
1.3.1 Khái quát về truyện cổ tích
Truyện cổ tích (tiếng Anh: Fairy Tales; Hán Việt: 童話; Đồng Thoại) là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là có phép thuật, hay bùa mê
Truyện cổ tích có thể được phân biệt với truyện dân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quan đến niềm tin vào tính xác thực của các sự kiện được mô tả)[1] cũng như các câu chuyện về bài học đạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật
Truyện cổ tích khác biệt cơ bản với các loại truyện khác ở phương diện người kể chuyện kể lại nó và người nghe thì tiếp nhận trước hết như một sự
hư cấu thẩm mỹ, một trò chơi của trí tưởng tượng
Bên cạnh yếu tố hư cấu, tưởng tượng như một đặc điểm chủ yếu của thể loại, truyện cổ tích vẫn bộc lộ sự liên hệ với đời sống hiện thực, thông qua những
Trang 19đặc điểm về nội dung, ngôn ngữ, tính chất của cốt truyện, motip, hình tượng nghệ thuật v.v Nhiều truyện cổ tích xuất xứ từ xa xưa phản ánh được các quan hệ xã hội nguyên thủy và các biểu tượng, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh Trong khi đó, các truyện cổ tích hình thành giai đoạn muộn hơn, như thời phong kiến, thường có những hình tượng vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Sang thời tư bản chủ nghĩa, truyện cổ tích thường chú ý hơn đến thương nhân, tiền bạc và các quan hệ xã hội liên quan đến mua bán, đổi chác, sự tương phản giàu nghèo v.v
Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu, trong đó kết thúc truyện bao giờ cái thiện cũng chiến thắng hoặc được tôn vinh, cái ác bị tiễu trừ hoặc bị chế giễu
Là một thể loại truyền miệng, truyện cổ tích thường có nhiều dị bản Sự dị bản hóa tác phẩm có thể được nhìn nhận do các dân tộc trên thế giới có những điểm chung nhất về văn hóa, lịch sử, sinh hoạt, lối sống; đồng thời cũng có những đặc điểm riêng trong nếp sống, đặc điểm lao động, sinh hoạt, điều kiện tự nhiên tùy từng dân tộc Thêm vào đó những người kể truyện cổ tích thường mang vào các truyện họ kể những nét cá tính riêng, sự thêm thắt nội dung theo những ý đồ nhất định
1.3.2.Vị trí, vai trò của truyện cổ tích trong chương trình ngữ văn THPT
Truyện cổ tích góp phần to lớn vào việc hoàn thiện tri thức văn học cho học sinh Nó tạo nên chất khoa học của bộ môn Ngữ Văn và đồng thời cũng là một bộ phận quan trọng của văn học sử TCT gắn liền chặt chẽ với việc lựa chọn tác giả, tác phẩm được học trong chương trình Là cơ sở cho việc dạy lý luận văn học và tạo điều kiện để tích hợp cả kiến thức của phần Tiếng Việt và phần Làm Văn TCT là phần khó đối với cả học sinh và giáo viên Giáo viên ít kiến thức thì dễ hiểu sai, dạy sai Với học sinh, mọi kiến thức đều xa lạ, từ quan hệ xã hội đến quan điểm nghệ thuật, tư tưởng tác giả, phong cách nghệ thuật, ngôn ngữ Tất cả đều vượt qua khoảng cách thời gian đã mười mấy thế kỷ văn chương phong phú, mỗi thế kỷ chỉ chọn lọc một vài bài Những bước nhảy cóc từ bài nọ sang bài kia cách xa hàng trăm năm khiến các em khó cảm nhận từng bài cũng như quá trình phát triển của văn chương
1.3.3 Số lượng bài học, tiết học trong phân phối chương trình chuẩn
Truyện cổ tích chiếm số lượng bài học : 1
Số tiết học : 2
Trang 202 Cơ sở thưc tiễn
2.1 Tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
Học sinh THPT nằm trong độ tuổi thanh niên với sự phát triển và hoàn thiện
cả thể chất, tâm lý, nhận thức và tư duy Ý thức về cái “Tôi” rõ rệt, khát vọng khẳng định bản thân, xu hướng mở rộng các mối quan hệ với xã hội bên ngoài, có hứng thú tìm tòi, khám phá những cái mới mẻ của cuộc sống và môi trường xung quanh là đặc trưng tâm lý lứa tuổi này Họat động tư duy ở các em thay đổi rõ rệt, trở nên chặt chẽ, logic, nhất quát và có căn cứ hơn Hầu hết các năng lực tư duy đều phát triển ở lứa tuổi này như là năng lực phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá…Khả năng phân hóa trong trí nhớ, tư duy phê phán của các em đã được phát triển và bộc lộ rõ trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức Các
em không chấp nhận sự áp đặt chân lý từ phía người lớn mà đòi hỏi các vấn đề đưa
ra phải có lập luận và căn cứ xác thực, logic Tất cả các đặc điểm tư duy trên đã tạo điều kiện cho HS THPT có khả năng thực hiện các thao tác tư duy phức tạp và trừu tượng
2.2 Thực trạng dạy và học truyện cổ tích “Tấm Cám ” (SGK Ngữ văn 10, tập
1, CTC) ở trường THPT qua một vài số liệu khảo sát
2.2.1 Khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát thông qua phiếu hỏi (phụ lục) Đối tượng: lớp HS khối 10 – trường THPT Tây Hồ và Hs lớp 10 trường thpt Yên Hòa
2.2.2 Kết quả khảo sát
Qua phiếu hỏi khảo sát có một số kết quả chính khiến chúng tôi quan tâm như :
Câu 1: Bạn đã biết đến phương pháp học tập bằng BĐTD chưa?
Trang 21Câu hỏi 4: Theo bạn BĐTD cần thiết trong học tập ở mức độ nào?
Câu hỏi 7: Theo bạn bài học “Tấm Cám” sẽ hiệu quả hơn khi?
2.2.3 Kết luận thực trạng
Như vậy, việc dạy học bằng BĐTD chưa thực sự phổ biến đối với môn Ngữ văn cụ thể ở đây là phần Truyện Cổ Tích Sự tiếp xúc, sử dụng của HS đối với BĐTD còn hạn chế, vẫn còn những HS chưa nắm rõ bản chất của BĐTD Có hiện tượng học sinh chưa từng sử dụng BĐTD vào học tập Đa số HS có cách nhìn nhận tích cực và hứng thú với việc được ứng dụng BĐTD nhiều hơn trong học tập không chỉ Ngữ Văn mà còn mong muốn sẽ áp dụng cho nhiều môn học khác
Trang 22Tiểu kết chương 1
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy việc dạy học đọc hiểu nói chung và dạy văn bản Tấm Cám nói riêng có vận dụng BĐTD là rất cần thiết bởi nó không chỉ nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập mà còn rèn luyện cho các em cách tư duy logic, khoa học Việc vận dụng SĐTD trong dạy học văn bản Tấm Cám
sẽ góp phần thực hiện đúng mục tiêu dạy học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu ở nhà trường
THPT hiện nay
Trang 23CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM , SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10, TẬP I, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN BẰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
1 Các nguyên tắc ứng dụng kĩ thuật BDTD trong dạỵ học truyện cổ tích Tấm Cám
1.1 Dạy học bám sát nội dung
Dạy học bám sát nội dung là phải đảm bảo học sinh được khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó Đây là một trong những phương pháp dạy học bổ sung hữu ích cho cách dạy học truyền thống là chú trọng tới các yếu tố bên ngoài tác phẩm nhiều hơn như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội Dạy học bám sát nội dung cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay “Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể Đến với thơ không giống với tự sự hay kịch Đến với truyện cổ tích khác với truyền thuyết Đến với văn học dân gian không hoàn toàn giống như đến với văn học viết Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng Với văn học dịch cũng cần có cách tiếp cận riêng.”(Phan Trọng Luận; Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12”, Nxb GD.H.2008)
Trang 24Dạy học không chỉ làm phát triển lý trí của con người và cung cấp cho người học một khối lượng kiến thức nào đó mà phải làm cháy lên ở họ lagf khát khao học tập một cách nghiêm túc
Ảnh hưởng của việc dạy học mang tính giáo dục là điều không thể thiếu của giáo dục Song từ đó sẽ không đúng khi cho rằng dạy học bao giờ cũng tác động như nhau đến học sinh và sợ nỗ lực một cách tự giác, nghệ thuật của nhà giáo dục không có ý nghĩa quan trọng.Trái lại, tính chất giáo dục của dạy học, phương hướng tư tưởng và sức mạnh ảnh hưởng của nó tới học sinh là do nội dung ,
phương pháp dạy học , tổ chức dạy học, và do tác động của chính nhân cách người giáo viên quyết định
1.3 Đảm bảo nguyên tắc về lượng
Dù có sử dụng phương pháp daỵ học nào , phải đảm bảo nguyên tắc về
lượng trong quá trình dạy học Lượng là cái vốn có của sự vật, song lượng chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm cho nó khác với những cái khác Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật và cũng có tính khách quan như chất của sự vật
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,… Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây, một phân tử nước bao gồm hai nguyên tử hyđrô liên kết với một nguyên tử ôxy,… bên cạnh đó có những lượng chỉ
có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độ tri thức khoa học của một người, ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một công dân,… trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa Có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hóa học, số lượng lĩnh
vực cơ bản của đời sống xã hội), có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài
của sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật)
Trang 25Đối với việc dạy học môn ngữ văn, đảm bảo nguyên tắc về lượng được hiểu
đơn giản là đảm bảo lượng kiến thức, số tiết học… trong qua trình daỵ học
1.4 Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục
Nguyên tắc này đòi hỏi phải tiến hành một cách lâu dài, có hệ thống kỹ năng
và việc hình thành từng phẩm chất nói riêng, phải dựa vào những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thói quen, kinh nghiệm sống của học sinh, phải thực hiện theo từng bước, từng cấp, phải tiến hành liên tục, thường xuyên
+ Biện pháp:
- Nội dung dạy học phải được xây dựng theo kiểu đồng tâm, mở rộng
- Trong suốt quá trình giáo dục, mỗi phẩm chất, kỹ năng được hình thành phải luôn luôn củng cố, tập luyện, nâng cao nhiều lần
- Cần phải giáo dục liên tục, thường xuyên ở mọi nơi, mọi lúc và do mọi người, qua mọi việc, kết hợp chặt chẽ trên lớp và ngoài lớp, trong trường và ngoài trường, gia đình và xã hội
1.5 Một số cách tiếp cận bài học thông qua kỹ thuật bản đồ tư duy
Đối với giáo viên Đối với học sinh
- Chuẩn bị bài giảng
- Ôn tập, kiểm tra
- Giải quyết các vấn đề trong bài học
- Thảo luận nhóm
- Thuyết trình
Trang 261.6 Đề xuất kế hoạch dạy học truyện cổ tích Tấm Cám , SGK ngữ văn 10, tập
1 (chương trình chuẩn) sử dụng kỹ thuật bản đồ tư duy
1.6.1 Vị trí của văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Ban cơ bản)
Văn bản Tấm Cám có vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn
THPT Theo phân phối chương trình, văn bản Tấm Cám thuộc tiết 22 và tiết 23 trong SGK Ngữ văn 10 (Ban cơ bản) Thông qua nội dung bài học, HS có thể tái hiện lại những kiến thức có liên quan đã được học về thể loại truyện cổ tích Ở văn bản Tấm Cám, GV giúp HS củng cố, khắc sâu, hệ thống hóa kiến
thức một cách đầy đủ nhất Đó cũng là giờ học cần GV hướng dẫn phương
pháp học tập hiêu quả nhất, nhanh nhất Qua tiết đọc văn, GV không đơn giản chỉ là hướng dẫn HS thu nhận kiến thức về nội dung của văn bản mà còn phải hướng đến việc hình thành và rèn luyện năng lực đọc hiểu cho người học
Qua quá trình giải quyết vấn đề, HS vừa lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ
năng vừa rèn luyện tư duy
Dạy học đọc hiểu nói chung là dạy học về ngôn ngữ, tiếng nói, văn
chương của người Việt Thông qua văn bản, GV giúp HS hình thành cách nói, cách viết, cách diễn đạt của riêng mình Còn dạy văn bản Tấm Cám nói riêng,
GV mang đến cho HS những hiểu biết về xã hội ngày xưa, xã hội ngày nay
với những tốt - xấu, giàu - đẹp được thể hiện qua thái độ và quan điểm nhân văn của tác giả dân gian; bồi dưỡng tâm hồn tình cảm thêm phong phú, nhạy cảm, rung động trước cái đẹp, cái thiện, cái thực của cuộc đời
1.6.2 Nội dung của văn bản Tấm Cám
Theo phân phối chương trình, văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 được dạy trong hai tiết ở học kỳ I Theo sách giáo khoa (bộ chuẩn), văn bản này tập trung vào các nội dung kiến thức sau đây:
Trước hết, GV cho HS ôn tập, nhớ lại kiến thức lý thuyết về khái niệm
truyện cổ tích, phân loại truyện cổ tích và đặc điểm truyện cổ tích đã được học ở
Trang 27bài Khái quát về văn học dân gian Việt Nam Ở phần này, HS cần nắm được:
- Khái niệm truyện cổ tích (SGK/ Tr 18)
- Phân loại truyện cổ tích: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần
kì, truyện cổ tích sinh hoạt
- Đặc điểm của truyện cổ tích thần kì: Có yếu tố thần kì tham gia thúc
đẩy sự phát triển của cốt truyện, thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về hạnh phúc, công bằng xã hội và những năng lực kì diệu của con người
- Văn bản Tấm Cám thuộc thể loại: truyện cổ tích thần kì về nhân vật
mồ cô bất hạnh
Tiếp đó, GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản chi tiết theo những nội
dung chính sau:
- Tóm tắt văn bản
Ngày xửa ngày xưa có cô Tấm hiền lành, xinh đẹp, mồ côi cha mẹ từ
nhỏ, phải sống với dì ghẻ và Cám - cô em cùng cha khác mẹ Tấm luôn bị mẹ con Cám ghen ghét, ngược đãi Một lần đi bắt tép, Tấm bị Cám lừa lấy hết giỏ tép, Bụt hiện lên khuyên Tấm nuôi chú cá bống còn sót lại Biết Tấm nuôi cá bống, mẹ con Cám lừa Tấm để bắt bống ăn thịt Ngày hội, mẹ con Cám trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm nhặt, không cho Tấm đi xem hội Bụt hiện lên giúp Tấm làm việc và biến chỗ xương bống thành quần áo đẹp cho Tấm đi dự hội Tấm
đi xem hội, đến chỗ lội đánh rơi giày xuống nước Nhờ chiếc giày, Tấm trở thành vợ vua Tấm về giỗ cha, mẹ con Cám hại chết Tấm và đưa Cám vào cung Tấm chết hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và khi thành quả thị thì được một bà lão đem về Mỗi khi bà lão đi vắng, Tấm hiện ra dọn dẹp nhà cửa Sau đó, bà lão đã phát hiện ra Tấm Một hôm nhà vua đi qua, ghé vào quán nước của bà cụ Nhà vua nhận ra Tấm qua miếng trầu cánh phượng và đón Tấm về cung Tấm được sống hạnh phúc bên nhà
vua còn mẹ con Cám bị trừng trị thích đáng
- Giải thích ý nghĩa nhan đề Tấm Cám: Cách gọi dân dã, gợi thân phận;
thể hiện xung đột chính của tác phẩm và thể hiện nhân cách chưa toàn vẹn
- Diễn biến mâu thuẫn xung đột truyện (Hay chính là xung đột giữa
Tấm và mẹ con Cám) Diễn biến mâu thuẫn, xung đột truyên giữa Tấm và mẹ con Cám có thể chia thành hai chặng: trong quan hệ gia đình (khi Tấm còn ở nhà với mẹ con Cám) và trong quan hệ xã hội (khi Tấm đã trở thành hoàng
Trang 28hâu) Thông qua diễn biến xung đột giữa các nhân vật, GV cho HS rút ra ý nghĩa và chủ đề chính của văn bản Tấm Cám: phản ánh mâu thuẫn và xung đột rất gay gắt trong gia đình phụ quyền thời cổ, nguyên nhân sâu xa là vấn đề
kế thừa tài sản và những quyền lợi vật chất của các thành viên trong gia đình Đồng thời phải chỉ ra được tính cách các nhân vật và cách xây dựng tính cách các nhân vật trong truyện cổ tích: nhân vật trong truyện cổ tích có tính cách nhất phiến, một chiều; trong xã hội chỉ có hai loại người: người tốt, lương thiện - kẻ xấu, độc ác Từ đó thấy được quan niệm của tác giả dân gian về con người trong xã hội xưa
Sau khi tìm hiểu diễn biến mâu thuẫn, xung đột, GV hướng dẫn HS tìm hiểu về những yếu tố thần kì xuất hiện trong văn bản Trong văn bản này, yếu
tố thần kỳ là nhân vật Bụt, những lần hóa thân của Tấm và lần trở về cuối cùng của Tấm Ở đoạn đầu tiên, với sự giúp đỡ của Bụt cho thấy Tấm vẫn còn thụ động Bụt giúp Tấm con cá Bống, giúp Tấm gọi chim sẻ nhặt thóc và gúp Tấm có quần áo đẹp để đi dự dạ hội Sự xuất hiện của yếu tố thần kỳ đã thể hiện quan niệm nhân sinh, thái độ và mong ước của nhân dân: Thiện thắng
Ác, người tốt đến cuối cùng sẽ được hưởng hạnh phúc
Cùng với việc tìm hiểu về yếu tốt thần kỳ, GV cũng hướng dẫn HS tìm hiểu về sự hóa thân của Tấm Sau cái chết, Tấm đã biến hóa bốn lần thể hiện
sự chủ động trong hành động Điều này cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức của nhân dân, người bình dân lao động trong xã hội xưa; cho thấy sức sống mạnh mẽ, sự trỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ
ác Đồng thời thể hiện tư tương nhân bản sâu sắc: hướng về cõi người, cõi đời thực - đó mới là nơi đem lại hạnh phúc thực sự
Cuối cùng, GV hướng dẫn HS ôn tập, khái quát lại toàn bộ kiến thức đã được học trong bài
1.6.3 Mục đích của việc dạy học văn bản Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản)
Trong chương trình Ngữ văn, việc triển khai văn bản Tấm Cám hướng
tới các mục tiêu sau:
Về kiến thức: GV giúp HS củng cố khái niệm truyện cổ tích; xác định
kiểu loại của truyện cổ tích Tấm Cám: truyện cổ tích thần kỳ về nhân vật mồ
Trang 29côi bất hạnh, trải qua nhiều gian khổ, nhiều lần bị ức hiếp, chà đạp nhưng vẫn liên tục hóa kiếp nhiều lần, vùng lên đấu tranh và giành quyền sống Đồng thời, GV giúp HS nắm vững cốt truyện và bố cục của truyện cổ tích Tấm Cám; hệ thống nhân vật chính; mối quan hệ giữa các nhân vật phản ánh những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội cũ
Về kỹ năng: GV giúp HS rèn luyện kỹ năng phân tích, cảm thụ tác
phẩm dân gian thuộc thể loại truyện cổ tích thần kỳ cũng như hình tượng nghệ thuật tiêu biểu cho kiểu nhân vật người mồ côi bất hạnh GV giúp HS nắm chắc kỹ năng tóm tắt tác phẩm tự sự, kể chuyện cổ tích, phân chia bố cục và lựa chon chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Đồng thời giúp HS thuộc bài, ghi nhớ bài một cách hiệu quả nhất
Về thái độ: Biết trân trọng, yêu quý những sản phẩm văn học dân gian Hiểu những ước mơ, thông cảm cho đời sống tinh thần và vật chất của người bình dân lao động xưa Xây dựng quan niệm tốt đẹp trong đời sống cá nhân
và công đồng Loại trừ dần những tư tưởng tiêu cực, bi quan về đời sống và con người Biết sống chan hòa, nhân ái
Về hình thành năng lực cho HS:
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT đặc biệt là giảng dạy những tác phẩm thuộc phần đọc hiểu, hầu hết các GV thường sử dụng phương pháp dạy học truyền thống Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp chủ đạo của nhiều GV Số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS vẫn còn chưa nhiều Việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường THPT
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của
HS là phương hướng phù hợp với nhịp độ phát triển của thời đại đổi mới của đất nước Nắm được phương pháp trên và đưa nó ứng dụng vào giảng dạy, học tập môn Ngữ văn đặc biệt là phân môn đọc hiểu ở trường THPT đối với các nhà quản lí giáo dục và đặc biệt đối với các GV đứng lớp là điều hết sức
Trang 30quan trọng để có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kì hiện đại
Dựa trên nội dung cơ bản của văn bản Tấm Cám, chúng ta có thể nhận thấy được bên cạnh những mục tiêu bài học thì việc hình thành các năng lực cho HS là vô cùng quan trọng
GV phải hình thành cho HS năng lực nhận thức Cụ thể là nhận thức
được các quy luật của cuộc sống Đối với cách dạy học truyền thống, GV chỉ cần diễn giảng cho HS hiểu về luật nhân - quả được thể hiện qua văn bản đó
là ở hiền gặp lành, ác giả ác báo Ở hiền gặp lành được thể hiện cụ thể qua hình ảnh nàng Tấm - một cô gái hiền lành, chăm chỉ Từ một cô gái yếu đuối mỏng manh, chỉ biết khóc khi bị hại thì dần dần Tấm đã trở thành một con người chủ động, dám đấu tranh để giành lại những quyền lợi của mình Tấm còn được đón nhận một cái kết rất có hậu đó là trở thành hoàng hậu và sống hạnh phúc bên nhà vua trọn đời Còn ác giả ác báo được thể hiện qua việc mẹ con Cám năm lần bảy lượt tìm đủ mọi cách hãm hại Tấm Giết Tấm chưa đủ, chúng còn tìm đủ mọi cách để tiêu diệt những lần hóa thân của Tấm, không cho Tấm trở về với thế giới con người Nhưng cuối cùng, hai mẹ con Cám cũng đã bị trừng phạt thích đáng cho những gì mà họ đã gây ra Vẫn giúp HS hiểu được những nội dung cần đạt nhưng cách dạy mới mà ở để tài nghiên cứu này chúng tôi vận dụng BĐTD vào việc dạy đọc hiểu văn bản Tấm Cám còn giúp cho HS hiểu được những mâu thuẫn trong gia đình Những mâu thuẫn đó không chỉ ở trong sách vở mà còn diễn ra ngay trong đời sống thực hôm nay Đó là sự mâu thuẫn giữa dì ghẻ với con chồng, giữa chị em cùng cha khác mẹ hay cao hơn là sự tranh giành lợi ích cá nhân
Tiếp theo, GV cần phải hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho
người học Cụ thể ở văn bản Tấm Cám GV phải hướng dẫn HS đưa ra được cách giải quyết đối với mối quan hệ trong văn bản này Đặt trong toàn bộ tác phẩm, GV phải giúp HS hình thành được tính cách nhường nhin, nhẫn nhin chứ không được nhẫn nhục Quá trình phát triển của nhân vật Tấm cũng chính
là quá trình trưởng thành của mỗi cá nhân chúng ta Khi còn nhỏ, thường chỉ sinh hoạt trong quan hệ gia đình, Tấm luôn luôn nghe lời Nhưng khi lớn lên, Tấm đã mạnh mẽ hơn để bảo vê chính mình Điều đặc biệt trong văn bản Tấm Cám có lẽ là phần thúc của tác phẩm Vì văn học dân gian có tính truyền
Trang 31miệng nên mỗi tác phẩm dân gian đều có các dị bản khác nhau Truyện cổ tích Tấm Cám là một minh chứng chân thực cho điều đó Cùng là một câu chuyện nhưng lại có nhiều cách kết thúc khác nhau Mỗi cách kết thúc đều có cái hay, cái đặc biệt của riêng nó Đối với kết thúc được sử dụng trong SGK hiện hành, GV cần giúp cho HS hiểu được kết luận trong quan niệm của dân gian xưa: một cái ác tột cùng, một cái ác không điểm dừng, quyết truy đuổi tiêu diệt đến cùng cái thiện thì cái ác ấy cũng cần bị cái thiện đáp trả xứng đáng Tiêu diệt cả gốc lẫn rễ làm cho cái ác không thể hồi sinh Đối sánh song song, GV đồng thời phải giúp HS cái nhìn phù hợp với thời đại của mình Quan niệm của người xưa là thế, vậy còn trong cuộc sống hiện đại hôm nay? Ngày hôm nay, cái ác, cái xấu vẫn sẽ bị trừng trị thích đáng nhưng những cái
gì có thể tha thứ được thì vẫn nên tha thứ Đó là thông điệp mà con người hiện đại cần hướng tới Mỗi một thời đại sẽ có một quan niệm phù hợp nhưng tất cả đều góp phần thể hiện ước mơ và công lý của nhân dân
Năng lực viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề là năng lực cần phải
hình thành cho người học Văn nghị luận có một vị trí quan trọng trong chương trình và SGK môn Ngữ văn THPT Văn nghị luận giúp HS biết vận dụng tổng hợp các tri thức đã học từ tự nhiên đến xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy logic khoa học, có năng lực đánh giá, cảm thụ thẩm mĩ góp phần tích cực vào việc phát triển hoàn thiện nhân cách con người Cụ thể, đối với văn bản Tấm Cám, GV cần giúp HS có năng lực viết đoạn văn nghị luận về vấn đề: thiện - ác Trong cuộc sống, thiện và ác
là hai phạm trù vừa thống nhất với nhau vừa đối lập với nhau Chúng ta cần
có cái nhìn toàn diện, phân biệt đúng tốt - xấu, thiện - ác, không quá bi quan song cũng không nên ảo tưởng cuộc sống chỉ toàn màu hồng Ở đâu cũng có cái thiện xen lẫn cái ác, cái tốt đan cài cái xấu vì thế không có gì là tuyệt đối Mỗi chúng ta phải phân biệt rõ ràng để lựa chọn một hướng đi đúng đắn cho mình Chúng ta cũng cần phải biết đề phòng, cảnh giác với nguy cơ tha hóa trong chính bản thân mình, luôn luôn tự đấu tranh để cho phần tốt đẹp chiến thắng phần xấu xa dung tục Như Các Mác đã nói: Trong trường kì lịch sử đấu tranh của nhân loại, cái thiện chỉ thắng cái ác trong nửa vòng bánh xe bởi ranh giới giữa thiện và ác là vô cùng mong manh như một sợi chỉ tóc Cuộc sống luôn luôn là vậy Để có thể tồn tại và đứng vững không còn cách nào
Trang 32khác, chúng ta phải tự đứng lên trên đôi chân của mình, dùng đôi mắt và trái tim của mình để phân biệt đúng sai, trở thành một con người lương thiện
1.6.4 Yêu cầu về bản đồ tư duy
Để thiết kế được một BĐTD hoàn chỉnh, chúng ta nên tuân theo những yêu cầu cơ bản sau:
- BĐTD phải được trình bày một cách khoa học: Luôn luôn sử dụng
một hình ảnh trung tâm Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh nên không cần sử dụng quá nhiều màu sắc, thông thường một BĐTD sẽ dùng ba màu cho một hình ảnh trung tâm
- BĐTD phải được trình bày một cách rõ ràng: Chỉ sử dụng một từ
khóa cho mỗi dòng Các nhánh chính phải được nối với hình ảnh trung tâm
- BĐTD phải được trình bày một cách cụ thể: Việc phân cách các
nhánh của SĐTD phải có tổ chức và phù hợp
- Một BĐTD cũng cần phải mang được phong cách riêng của nó
2 Thiết kế các bản đồ tư duy khi dạy văn bản Tấm Cám
Với những đơn vị kiến thức trong văn bản Tấm Cám, chúng tôi xác định việc sử dụng BĐTD trong bài học ở những thao tác, công việc và hoạt động sau:
2.1 Bản đồ tư duy về truyện cổ tích
Đầu tiên, GV yêu cầu HS nhắc lại những đơn vị kiến thức liên quan đến truyện cổ tích GV có thể giới thiệu một BĐTD khái quát với chủ đề trung tâm là truyện cổ tích sau đó là các nhánh biểu thị các đơn vị kiến thức nhỏ hơn làm rõ cho chủ đề: khái niệm, phân loại và đặc trưng Việc sử dụng BĐTD chỉ được thực hiện khi HS đã nắm vững được kiến thức cũ
Trang 33Hình A : Truyện cổ tích
2.2 Bản đồ về tóm tắt văn bản Tấm Cám
Sau khi đã ôn tập lại kiến thức cũ, GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài mới
Trước hết, GV yêu cầu HS đọc văn bản và tóm tắt văn bản Tóm tắt là một
khâu không thể thiếu đối với một tiết đọc hiểu cụ thể là văn xuôi Ở khâu này, chúng ta cũng có thể sử dụng BĐTD để hệ thống những chi tiết quan trọng
trong tác phẩm một cách mạch lạc, khoa học và logic nhất:
Trang 34
Hình B : Tóm tắt Tấm Cám
2.3 Bản đồ tư duy về nhan đề Tấm Cám
vào các hoạt động tìm hiểu bài mới, chúng ta có thể sử dụng
BĐTD trong việc hệ thống hóa các mảng kiến thức về bài dạy mà chúng ta sẽ truyền đạt cho HS Đối với một tác phẩm văn học, nhan đề là một yếu tố vô
cùng quan trọng Nó được xem là nhãn tự của tác phẩm đó Qua nhan đề thể hiện được tâm tư, tình cảm của tác giả Ở văn bản này, GV cần giải thích nhan
đề Tấm Cám cho HS hiểu bằng một BĐTD như sau:
Trang 35Hình C : Nhan đề Tấm Cám
2.4 Bản đồ tư duy khi Tấm còn nhỏ
Ở phần nội dung này, GV cùng HS xây dựng những BĐTD thể hiện
những xung đột giữa Tấm với mẹ con Cám và quá trình vươn lên đấu tranh
của Tấm Diễn biến xung đột được chia làm hai chặng, tương ứng với mỗi
chặng sẽ có các BĐTD khác nhau để làm rõ nội dung bài học
Đối với chặng đầu tiên đó là khi Tấm còn ở nhà với mẹ con Cám,
chúng ta có thể xây dựng một BĐTD với chủ đề trung tâm là: từ thân phận
khổ đau tới hạnh phúc
2.5 Bản đồ tư duy khi Tấm vào cung làm hoàng hậu
Còn chặng thứ hai đó chính là khi Tấm đã vào cung làm hoàng hậu Ở chặng này chúng ta cũng xây dựng một BĐTD tổng quát để không chỉ làm rõ diễn biến xung đột mà còn làm rõ sự vươn lên đấu tranh của Tấm Với BĐTD này, chúng ta lấy chủ đề trung tâm là: đấu tranh với cái ác giành lại sự sống
Trang 362.6 Bản đồ về yếu tố thần kỳ
Mang đầy đủ đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kỳ, văn bản
Tấm Cám chứa đựng nhiều yếu tố thần kỳ tham gia thúc đẩy sự phát triển của
câu chuyện Với phần kiến thức này, GV có thể hệ thống cho HS các yếu tố
thần kỳ xuất hiện trong văn bản bằng một BĐTD có chủ đề trung tâm là yếu tố
thần kỳ
Hình D : Yếu tố thần kì trong tác phẩm 2.7 Bản đồ tổng kết
Sau khi đã tìm hiểu xong bài mới, GV cùng với HS xây dựng một
BĐTD củng cố lại bài học để các em khắc sâu được kiến thức hơn Sơ đồ tổng
kết được thể hiện như sau:
Trang 37Hình E : Bản đồ tổng kết
2.8 Định hướng dạy văn bản Tấm Cám có vận dụng bản đồ tư duy
Qua nghiên cứu bài học, chúng tôi đưa ra định hướng dạy văn bản Tấm
Cám có vận dụng BĐTD như sau:
-Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Hiểu được đặc trưng của một truyện cổ tích thần kì Hiểu được cuộc
đấu tranh giữa thiện và ác, ước mơ thiện thắng ác, tinh thần lạc quan và nhân
đạo của nhân dân thể hiện trong truyện
- Bước 2: Chuẩn bị phương tiện và phương pháp dạy học
+ Phương tiện dạy học: SGK, SGV, giáo án, tài liệu tham khảo, các
BĐTD đã chuẩn bị sẵn
+ Phương pháp dạy học: diễn giảng, vấn - đáp, phân tích ngôn ngữ, gợi
tìm, đọc sáng tạo
- Bước 3: Xác định các khâu của quá trình dạy học có sử dụng BĐTD
Các khâu của quá trình sẽ phụ thuộc vào việc sử dụng BĐTD ở mỗi
phần, tùy theo việc sử dụng BĐTD để nêu kiến thức hay tổng hợp kiến thức