1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng bản đồ tư duy vào việc dạy từ vựng tiếng việt cho người nước ngoài

176 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 45,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do tôi chọn khách thể này là bên cạnh việc đào tạo bậc cử nhân và bậc thạc sĩ, một hoạt động nổi bật của Khoa trong những năm qua là tổ chức các khoá ngắn hạn về tiếng Việt và các chu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ THỊ LƯƠNG

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO VIỆC DẠY TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 201

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ LƯƠNG

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO VIỆC DẠY TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01.13

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THUỶ VỊNH

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Ứng dụng bản đồ tư duy vào việc dạy từ

vựng cho người nước ngoài là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả

nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

VŨ THỊ LƯƠNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoành thành luận văn này, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô, gia đình, bạn bè và các học viên của mình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và thầy cô khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Trần Thuỷ Vịnh, người đã giúp đỡ, động viên, trực tiếp hướng dẫn và taọ mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá luận

Trong thời gian thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, cô chú, anh chị ở Viện Ngôn ngữ học, thư viện tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, các anh chị học viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập tài liệu, thông tin và thực hiện lớp học đối chứng

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ trong những lúc tôi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh 10/2017

Học viên Cao học

VŨ THỊ LƯƠNG

Trang 5

1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

PHẦN MỞ ĐẦU……….4

0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu………… ……… 4

0.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 5

0.3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu……… 6

0.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 7

0.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn……….12

0.6 Bố cục của luận văn……… 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 14

1.1 Đặc điểm của từ vựng tiếng Việt……… 14

1.1.1 Nghĩa và các thành tố nghĩa của từ……… 15

1.1.2 Trường nghĩa ……… 16

1.1.3 Các hiện tượng nghĩa của từ……….17

1.2 Các phương pháp giảng dạy từ vựng………24

1.2.1 Phương pháp dịch……… ……… 24

1.2.2 Phương pháp trực tiếp……….… 25

1.2.3 Một số hình thức giới thiệu và giảng dạy từ vựng khác……… 26

1.2.4 Mối quan hệ giữa các phương pháp……… 27

1.3 Bản đồ tư duy……… 27

1.3.1 Khái niệm……… 27

1.3.2 Các thành phần cơ bản của bản đồ tư duy ………28

1.3.3 Ứng dụng của bản đồ tư duy……….33

1.4 Tiểu kết……….37

CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC TẠO LẬP BẢN ĐỒ TƯ DUY ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TỪ VỰNG……… 39

2.1 Các nguyên tắc chỉ đạo………39

2.1.1 Nguyên tắc nhấn mạnh……… 39

Trang 6

2

2.1.2 Nguyên tắc liên kết……….40

2.1.3 Nguyên tắc mạch lạc……… 40

2.1.4 Cách thức trợ giúp để hoàn chỉnh bản đồ tư duy……… 41

2.2 Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy ……… 42

2.3 Các bước tạo lập bản đồ tư duy……… 43

2.4 Một số loại bản đồ tư duy ứng dụng trong việc dạy từ vựng……… 47

2.4.1 Bản đồ tư duy dạng cây……… 47

2.4.2 Bản đồ tư duy dạng móc xích – sự kiện……… 51

2.4.3 Bản đồ tư duy dạng vòng tròn……….52

2.5 Phân biệt một số hiện tượng nghĩa của từ dễ gây nhầm lẫn trong tiếng Việt thông qua bản đồ tư duy……….54

2.6 Tiểu kết ……….60

CHƯƠNG 3: CÁCH THỨC TỔ CHỨC GIẢNG DẠY TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT THÔNG QUA BẢN ĐỒ TƯ DUY……… 62

3.1 Thực trạng áp dụng bản đồ tư duy vào dạy và học từ vựng tiếng Việt62 3.2 Việc phân chia từ vựng và giáo trình tham khảo……… 64

3.2.1 Phân chia từ vựng theo các cấp độ……… 64

3.2.2 Bộ giáo trình tham khảo……… 66

3.3 Các bước áp dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy…………69

3.3.1 Nguyên tắc lựa chọn và quy trình giới thiệu từ vựng……… 69

3.3.2 Một số hình thức áp dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy… 72

3.4 Một số bài giảng mẫu ……… ……81

3.4.1 Trình độ sơ cấp……… ……….81

3.4.2 Trình độ trung cấp……… 85

3.4.3 Trình độ cao cấp……… 88

3.5 Giảng dạy thực nghiệm………91

3.6 Tiểu kết……… ……… 93

PHẦN KẾT LUẬN ……… 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 97

Trang 7

3

PHỤ LỤC……… ….102

Phụ lục 1 Bảng thống kê ý kiến của GV về BĐTD……….102

Phụ lục 2 Bảng thống kê ý kiến của HV về BĐTD……… 104

Phụ lục 3 Mẫu bài kiểm tra……… 106

Phụ lục 4 Danh sách và kết quả kiểm tra của HV tham gia thực nghiệm… ….……….108

Phụ lục 5 Mẫu phiếu điều tra dành cho HV………109

Phụ lục 6 Mẫu phiếu điều tra dành cho GV………112

Phụ lục 7 Danh mục giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài 115

Phụ lục 8 Cách thức tạo lập BĐTD bằng phần mềm trên máy tính…… 120

Phụ lục 9 Chủ điểm chính của bộ giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài VSL……… 126

Phụ lục 10 Thông tư ban hành Khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài của Bộ Giáo dục và Đào tạo……… 137

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU 0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Hiện nay, nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng tăng Đó

là hệ quả tất yếu của sự hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa Nước ta đang từng bước khẳng định vị trí của mình trên toàn thế giới với một nền kinh tế tăng trưởng mạnh và là một thị trường đầu tư hấp dẫn Do đó, hàng năm lượng người nước ngoài đến sinh sống học tập và làm việc ở nước ta ngày càng nhiều Việc học tiếng Việt giúp họ giao tiếp và hiểu rõ hơn về con người, văn hóa Việt Nam Đáp ứng nhu cầu đó, hoạt động giảng dạy tiếng Việt cũng ngày càng đa dạng hơn Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

đã có khá nhiều Ban đầu những nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Về sau, cũng đã có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học cùng với các bài viết nghiên cứu về nhiều vấn đề trong hoạt động này nhằm giúp cho việc dạy và học tiếng Việt đạt hiệu quả cao nhất

Từ vựng là bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, có tầm quan trọng hàng đầu trong tri thức về một thứ tiếng Khi dạy từ vựng cho người nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đầu, việc cung cấp từ vựng và làm thế nào để người học nhớ được nhiều từ hơn, nhớ lâu hơn luôn là vấn đề đặt ra đối với người dạy Ở trình độ cao hơn thì việc hiểu và nhớ những từ trừu tượng hay những từ đa nghĩa, từ gần nghĩa cũng là vấn đề thực sự khó khăn cho người học cũng như cho người dạy trong việc truyền tải kiến thức Việc làm thế nào để tìm ra một giải pháp hiệu quả, khoa học, hợp lý để người dạy dễ dàng giúp học viên (HV) người nước ngoài ghi nhớ từ vựng lâu hơn, nhanh chóng hơn, số lượng nhiều hơn là một việc cần thiết, có tính thực tiễn cao

Bản đồ tư duy (BĐTD) là một công cụ tư duy sử dụng hình thức ghi chép với màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu ý tưởng, được nhà khoa học Tony Buzan đưa ra vào năm 1997 đã cho thấy những lợi ích trong cuộc sống Đặc biệt là

nó có thể được ứng dụng trong việc dạy và học nói chung và dạy và học tiếng Việt nói riêng Cả người dạy lẫn người học đều có thể sử dụng BĐTD để trình bày ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo và có hệ thống

Trang 9

Qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân cũng như qua một số tài liệu nghiên cứu khác, tôi nhận thấy khả năng ứng dụng BĐTD vào việc dạy tiếng, cụ thể là tiếng Việt rất khả thi và có hiệu quả Đặc biệt là hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu, bàn luận một cách hệ thống và toàn diện về việc áp dụng BĐTD vào giảng dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài Trên đây là lý do cho việc chọn

đề tài luận văn Ứng dụng bản đồ tư duy vào việc dạy từ vựng tiếng Việt cho người

nước ngoài Đề tài có mục đích tìm ra một phương pháp dạy và học từ vựng tiếng

Việt dễ dàng hơn, sáng tạo hơn, giúp cho HV hứng thú và tiếp thu hiệu quả tiếng Việt nói chung và từ vựng tiếng Việt nói riêng

0.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như tên đề tài, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là ứng dụng BĐTD vào việc dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài Cụ thể các đặc điểm

và kiểu loại BĐTD trong dạy tiếng, cách thức tổ chức hoạt động giảng dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài thông qua BĐTD

Khách thể nghiên cứu chủ yếu là giáo viên (GV) và HV người nước ngoài của Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH & NV – ĐH QG TPHCM)

Lý do tôi chọn khách thể này là bên cạnh việc đào tạo bậc cử nhân và bậc thạc sĩ, một hoạt động nổi bật của Khoa trong những năm qua là tổ chức các khoá ngắn hạn về tiếng Việt và các chuyên đề Việt Nam học cho người nước ngoài trên thế giới; đặc biệt là những người đang làm việc tại TPHCM cũng như nhiều tỉnh, thành khác ở phía Nam như: nhân viên của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ, và nhiều cơ quan ngoại giao, công ty khác Khoa còn tổ chức các lớp tiếng Việt, văn hoá, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cho những người nước ngoài muốn nhập Quốc tịch Việt Nam Có thể khẳng định Khoa đã trở thành điểm đến đáng tin cậy của du khách, sinh viên, HV người nước ngoài Hiện nay Khoa là cơ sở đào tạo có đông

HV nước ngoài nhất tại Việt Nam Sau gần 20 năm đào tạo, đã có gần 50.000 lượt học viên thuộc 73 quốc gia, vùng lãnh thổ ghi danh học tại Khoa Tại Việt Nam, chứng chỉ tiếng Việt do Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH & NV – ĐHQG TPHCM cấp là một trong những điều kiện để người nước ngoài được tuyển dụng vào làm việc tại các công ty, xí nghiệp có vốn nước ngoài liên doanh tại TPHCM và nhiều

Trang 10

tỉnh thành lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu,… Khoa Việt Nam học của Trường ĐH KHXH & NV – ĐHQG TPHCM đã góp phần tích cực trong việc nâng cao vị thế của tiếng Việt trên trường quốc tế

Bên cạnh đó, luận văn còn tiến hành khảo sát GV và HV ở một số cơ sở giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài khác như Trường Tiếng Việt Sài Gòn, Trường Ngôn ngữ Sài Gòn, Trường Dự bị Đại học Thành phố Hồ Chí Minh, Trường tiếng Việt Vietstudies, Trường Trung học Ngoại ngữ Chungnam (Hàn Quốc) và Bộ môn tiếng Việt, Trường Đại học Sofia (Bun-ga-ri)

0.3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

0.3.1 Quan sát tham dự

Với vai trò là GV, tôi trực tiếp ứng dụng BĐTD vào quá trình giảng dạy để tìm hiểu và khảo sát Ngoài ra, tôi cũng tham gia dự giờ ở cả các tiết học có và không có ứng dụng BĐTD vào việc dạy từ vựng tiếng Việt cho các HV nước ngoài Thông qua các hoạt động này, tôi rút ra được hiệu quả, ưu nhược điểm của việc ứng dụng BĐTD trong giảng dạy Bên cạnh đó tôi có thể quan sát thái độ và khả năng tiếp nhận của HV trong giờ học có áp dụng cách thức giảng dạy này

0.3.2 Phỏng vấn sâu

Ngoài việc trực tiếp giảng dạy, tham gia dự giờ, tôi còn áp dụng phương pháp phỏng vấn đối với GV và HV Phương pháp này giúp cho việc đánh giá khách quan hơn về hiệu quả học tập, cách nhìn nhận cũng như có được giải đáp, kiến nghị

để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt nói chung, từ vựng tiếng Việt nói riêng

0.3.3 Thống kê miêu tả

Phương pháp này được thực hiện ở hai giai đoạn Thứ nhất, sau khi thống kê, thu thập các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan về BĐTD, ứng dụng của BĐTD trong việc dạy tiếng, các phương pháp dạy từ vựng… tôi sẽ phân tích và rút ra những kết luận có liên quan Thứ hai, thông qua việc tham gia và các bài học từ vựng, phát và thống kê bảng hỏi, dựa trên những kết quả từ việc phỏng vấn, tôi rút ra nhận xét, sáng kiến, kinh nghiệm để hỗ trợ quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Trang 11

0.3.4 So sánh đối chiếu

Phương pháp này để tìm ra những ưu nhược điểm của cách thức sử dụng BĐTD, từ đó phát huy những ưu điểm của phương pháp này trong quá trình dạy từ vựng tiếng Việt cho HV cũng như tìm cách hạn chế nhược điểm của nó trong quá trình giảng dạy Bên cạnh đó, tôi sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu để so sánh giữa phương pháp dùng BĐTD và các phương pháp truyền thống khác để đem lại hiệu quả tối ưu nhất trong quá trình kết hợp các phương pháp với

nhau để giảng dạy

0.3.5 Phương pháp thực nghiệm

Luận văn tiến hành nghiên cứu từ kết quả thực tiễn của việc ứng dụng BĐTD vào việc dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài, từ đó rút ra kinh nghiệm cho quá trình thực nghiệm Ngoài việc theo dõi quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp nhằm đánh giá lĩnh hội từ vựng tiếng Việt của HV, tác giả còn tiến hành xây dựng bài kiểm tra phần từ vựng tiếng Việt dành cho đối tượng là HV các lớp có sử dụng BĐTD và không sử dụng BĐTD trong quá trình dạy học nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giá sự tiến bộ của học viên khi học bằng BĐTD, sau đó nghiên cứu, đánh giá chất lượng bài làm của HV

0.3.6 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã thu thập và tham khảo từ sách báo, các website về ngôn ngữ, tiếng Việt, từ vựng tiếng Việt, BĐTD, ứng dụng của BĐTD, các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, v.v…

0.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tony Buzan là một trong những tác giả nghiên cứu về tư duy hàng đầu thế giới Ông là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy nhất thế giới và được tạp chí

Người New York của Mỹ đánh giá là nhà nghiên cứu về trí nhớ lớn nhất toàn cầu

Ông đã tư vấn cho nhiều nhà quản lý và các học viện giáo dục hàng đầu thế giới Sách của ông đã được dịch ra trên 30 ngôn ngữ Những đóng góp của ông đã giúp

ích hàng triệu người trên toàn cầu thay đổi cách thức tư duy How to Mind Map (Cách lập bản đồ tư duy) và Mind Maps at Work (Bản đồ tư duy trong công việc) là

hai trong số nhiều cuốn sách nổi tiếng của ông

Trang 12

Ở cuốn Cách lập bản đồ tư duy tác giả đã đưa ra một phương pháp tư duy

mới là tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não nhằm tổng hợp, hay phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu chuyện), thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp của Tony Buzan khai thác cả hai khả năng này của bộ não

Với cuốn Bản đồ tư duy trong công việc, tác giả trình bày cách sử dụng

những BĐTD để quản lý khối lượng công việc, đưa ra các kế hoạch và giải quyết được những vấn đề khó khăn nhất mà mình gặp phải trong công việc như những tình huống phức tạp và áp lực từ những nghĩa vụ bắt buộc

Các tác phẩm khác của Tony Buzan như: The Mind Map Book: How to Use

Radiant Thinking to Maximize Your Brain's Untapped Potential (BBC Active

1996), Speed Reading (BBC Active, 2009), Mind Maps And Making Notes, Super

Creativity (Macmillan Audio, 1988), Use Your Memory (BBC Pubish, 1995), Use Your Head (BBC Active, 2010) được xuất bản thành sách nhằm hướng dẫn người

đọc học tập, làm việc khoa học, sáng tạo và có hiệu quả hơn theo phương pháp BĐTD Các thông tin và kiến thức về BĐTD được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, vậy nên tính phổ biến cũng như tính ứng dụng của nó khá cao Dạy và học bằng BĐTD

là một trong những ứng dụng hàng đầu mà Tony Buzan đề cập tới

Bài nghiên cứu Mind Mapping in Executive Education: Applications and

Outcome của Anthony J.Mento, Patrick Martinelli và Raymond M.Jones (1999) đề

cập đến những ứng dụng và kết quả của BĐTD trong giáo dục Đầu tiên, các tác giả

đã trình bày khái niệm BĐTD, các bước lập BĐTD, đặc điểm của BĐTD Sau đó, đưa ra vấn đề làm thế nào để người học phát triển BĐTD và từng bước giải quyết vấn đề

Công trình The Efficacy of the Mind Map Study Technique (2002) của Paul

Farrand, Fearzana Hussain, Enid Hennessy đã thực hiện trên hai nhóm: nhóm HV dùng BĐTD và nhóm HV dùng phương pháp học tự chọn trong thời gian một tuần Kết quả nghiên cứu đã cho thấy lượng kiến thức của nhóm có áp dụng phương pháp BĐTD tăng cao hơn 10% so với nhóm không áp dụng phương pháp này Có thể

Trang 13

thấy rằng BĐTD đã cung cấp một phương pháp học tập có hiệu quả thông qua những con số được đề cập đến trong bài viết

Bài báo The Use of Mind Map of Teaching Foreign Languages (2009) của

Mady Casco đã đưa ra một kết quả đáng chú ý khi sử dụng BĐTD trong việc dạy ngoại ngữ Theo tác giả, phương pháp này đã được áp dụng từ thập niên 90 để giúp người học sắp xếp, tổ chức và gợi nhớ từ vựng So với những cách tiếp cận và phương pháp giảng dạy truyền thống, phương pháp dùng BĐTD không chỉ giúp người dạy có thêm một cách tiếp cận thành công trong việc truyền tải kiến thức cho người học mà còn giúp người học có được khả năng nhớ một cách logic, nhớ nhiều hơn và dài lâu những gì mình đã học Thông qua các lớp học thử nghiệm và các bài tập ứng dụng trong hoạt động giảng dạy, Mady Casco cũng đã đưa kết luận về ưu

điểm và lợi ích BĐTD lại: BĐTD trong giảng dạy ngoại ngữ nói riêng được đánh

giá là phương pháp đa chức năng Chúng có thể dùng để trau dồi các kĩ năng ngôn ngữ như nghe hiểu, đọc hiểu, đoán nghĩa, nói và viết Đồng thời BĐTD cũng được

sử dụng với mọi trình độ và mọi ngôn ngữ cần học Bên cạnh đó, BĐTD còn giúp người đọc biết được điểm để bắt đầu học một ngôn ngữ mới và những gì cần loại bỏ khi tiếp cận một ngoại ngữ để việc học trở nên đơn giản, dễ dàng và có hứng thú [53]

Bài nghiên cứu Ứng dụng phương pháp lập bản đồ tư duy vào việc giảng dạy

từ vựng tiếng Anh trong nhà trường (Open Journal of Modern Linguistics, 6/2016,

202-206) của Gehong Liu – Khoa Công nghệ ứng dụng, Đại học Khoa học và Công nghệ Liaoning, Anshan, Trung Quốc cũng đã đưa ra một cách tiếp cận gần hơn trong việc ứng dụng BĐTD vào việc dạy tiếng nói chung và việc dạy từ vựng nói riêng Trong bài nghiên cứu, ngoài việc đề cập đến những ưu điểm của BĐTD, về các phương pháp học từ vựng vẫn đang được các GV sử dụng, tác giả còn chỉ ra phương pháp dùng BĐTD trong việc giảng dạy đã có tác động tâm lý đến cả GV lẫn

HV như thế nào Tác giả đã kết luận BĐTD là một công cụ vô cùng hữu ích để dạy

và học từ vựng nói riêng và học ngoại ngữ nói chung Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh việc sử dụng BĐTD đã thay đổi thói quen học tập, thói quen suy nghĩ và phát triển tư duy của HV theo chiều hướng tích cực như thế nào [50]

Trang 14

Ở Việt Nam, Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thuỷ là hai tác giả đã phổ biến BĐTD tới hệ thống các trường phổ thông nhằm hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học tới các cán bộ quản lý và các GV Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam nghiên cứu và nhân rộng dần

phương pháp giáo dục mới này Cuốn sách Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản

đồ tư duy dùng cho GV và học sinh từ lớp 4 đến lớp 12 là công trình nghiên cứu của

Trần Đình Châu Công trình đã đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về BĐTD và ứng dụng của BĐTD trong việc dạy các môn cơ bản Ngoài việc giới thiệu BĐTD, cách thiết kế và ứng dụng của BĐTD trong việc dạy và học, cuốn sách này còn giới thiệu những vấn đề lý luận và thực tiễn ứng dụng BĐTD trong việc dạy và học Đối với mỗi môn học, BĐTD đều được giới thiệu dưới hai hình thức: vẽ bằng tay trên giấy hoặc vẽ bằng máy tính trên phần mềm, đồng thời được thiết kế theo hai dạng: dạng BĐTD được thiết kế chuẩn, đầy đủ thông tin để GV và học sinh tham khảo, vận dụng và dạng BĐTD được thiết kế không đầy đủ, thiếu thông tin để học sinh bổ sung thêm, qua đó làm quen và luyện tập Với nội dung phong phú, thiết thực được trình bày mạch lạc, hấp dẫn và dễ hiểu, cuốn sách là tài liệu tham khảo cần thiết cho cán bộ chỉ đạo chuyên môn, GV, sinh viên sư phạm và học sinh trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học tiếp cận một phương pháp dạy và học tập hiệu quả, hiện đại Cuốn sách cũng giúp các bậc phụ huynh có được một công cụ mới để kiểm tra kiến thức của con mình trong học tập, ôn tập và tự học

Thông qua Internet và các tài liệu của một số chương trình đào tạo, khái niệm BĐTD đã được mọi người biết đến từ năm 2003 Đặc biệt, sự ra đời của nhóm New Think Group (NTG) do nhóm sinh viên ở Hà Nội sáng lập đã mở rộng BĐTD đến với mọi người Với sự hợp tác của các tổ chức như Viện nghiên cứu con người, Trung tâm phát triển kĩ năng con người Tâm Việt, Tổ chức IOGT Việt Nam (Tổ chức đào tạo về làm việc nhóm và nếp sống lành mạnh cho học sinh và sinh viên thuộc Bộ giáo dục ); với sự hướng dẫn của Giáo sư Phạm Đức Dương, chủ tịch hội liên hiệp Đông Nam Á, Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Phương Đông; PGS.TS Phạm Thành Nghị - Phó viện trưởng Viện nghiên cứu con người…, nhóm NTG đã tổ chức gần 20 buổi hội thảo về vấn đề ứng dụng BĐTD Trong thời gian qua, nhóm NTG đã cùng nhau nghiên cứu về BĐTD thông qua các tài liệu chuyên

Trang 15

môn nổi tiếng, qua mạng lưới Internet và qua các bài giảng của các chuyên gia hàng đầu trên thế giới Trên cơ sở đó các thành viên trong nhóm đã dịch thành công hai

cuốn sách nổi tiếng của Tony Buzan đó là Use Your Head (Hãy sử dụng cái đầu của

bạn) và Mind Maps at Work (Sơ đồ tư duy ứng dụng trong công việc) Cuốn Use Your Head cung cấp kiến thức nền tảng về bộ não, trí nhớ, khả năng đọc nhanh để

sử dụng BĐTD hiệu quả; Cuốn Mind Maps at Work giúp người đọc có những ứng

dụng trong thực tế như sáng tạo, thuyết trình, giải quyết vấn đề… Một số thành viên của nhóm đã tham gia nghiên cứu khoa học và đạt giải cao như: Nguyễn Thị Hiền,

Khoa Sư phạm – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQG HN) với đề tài: Ứng dụng sơ đồ

tư duy trong dạy học nhóm; Nguyễn Đặng Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên, Lớp

CLC, Đại học Ngoại ngữ với đề tài: Ứng dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy

học trong tiếng Anh… Các đề tài này đã đề cập đến những ứng dụng của BĐTD

trong cuộc sống nói chung và trong giảng dạy nói riêng Các tác giả đã đi sâu phân tích ưu nhược điểm của BĐTD, bước đầu đã đưa ra một công cụ giảng dạy khá hiệu quả

Trong lĩnh vực giáo dục, ở nước ta, dù chưa nhiều nhưng đã có sự vận dụng BĐTD ở một số trường đại học và trung học Tháng 10/2007, Trương Tinh Hà

(khoa Vật Lí trường ĐHSP TP.HCM) đã trình bày đề tài nghiên cứu Giảng dạy và

học tập với công cụ Bản đồ tư duy, trong đó nêu rõ khái niệm, lý do, mục đích và

những hiệu quả thiết thực của việc ứng dụng BĐTD trong dạy học Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa nêu rõ ứng dụng và hiệu quả của BĐTD trong từng cấp lớp hay từng môn học mà chỉ xem xét trên tổng quan quá trình dạy học Trên tạp chí Giáo dục cũng có một số bài viết đề cập đến vai trò và hiệu quả của BĐTD trong dạy học Tiêu biểu là

các bài viết: Bản đồ tư duy – công cụ hỗ trợ hiệu quả trong dạy học môn Toán của Chu Cẩm Thơ; Hệ thống hoá bài tập Vật lý với sơ đồ tư duy của Lê Công Triêm,

Lương Thị Lệ Hằng Người đầu tiên đưa BĐTD ứng dụng vào dạy học Văn là Hoàng Đức Huy- GV Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận 4, TP HCM Sáng

kiến đổi mới dạy học này được thể hiện trong nghiên cứu Bản đồ tư duy đổi mới dạy

học

Nhìn chung, tất cả các nghiên cứu đi trước về BĐTD và ứng dụng của nó trong giáo dục đều có cái nhìn khả quan và có những đánh giá tốt Các công trình

Trang 16

nghiên cứu kể trên đã có được nhận định khái khái quát về BĐTD và lợi ích chung

mà BĐTD mang lại Điều này là lợi thế để tôi tham khảo và nghiên cứu cách thức ứng dụng BĐTD trong việc dạy từ vựng tiếng Việt cho HV nước ngoài

0.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ vai trò, chức năng của BĐTD trong việc giảng dạy

từ vựng tiếng Việt cho HV nước ngoài đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quan và có hệ thống trong việc áp dụng BĐTD vào giảng dạy, học tập tiếng Việt nói chung và từ vựng tiếng Việt nói riêng Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra cách thức tạo lập một

số kiểu loại BĐTD được ứng dụng trong việc dạy tiếng, cách thức tổ chức hoạt động giảng dạy các tiết học từ vựng tiếng Việt thông qua BĐTD

Luận văn cũng phân tích, đối chiếu các phương pháp truyền thống với phương pháp dùng BĐTD để cho thấy những điểm tương đồng và dị biệt giữa các phương pháp Qua đó GV có thể thấy được ưu nhược điểm của từng phương pháp

để áp dụng phù hợp cho từng đối tượng HV theo trình độ, đối tượng, mục đích và sĩ

số lớp

Trong giảng dạy, luận văn đưa ra một thủ pháp giảng dạy từ vựng cụ thể nhằm giúp người dạy truyền tải kiến thức một cách dễ dàng hơn, giúp các HV tiếp thu vốn từ nhanh hơn, linh hoạt và sáng tạo hơn Từ phương pháp này, người dạy và người học có thể vận dụng vào việc dạy và học các bình diện khác của ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, v.v…

Bên cạnh đó, đề tài còn là nguồn tham khảo cho những ai quan tâm đến việc ứng dụng BĐTD vào công việc cụ thể của mình

0.6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn được chia làm ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý thuyết cho đề tài, trước tiên là những vấn đề của lý thuyết về từ vựng, từ vựng tiếng Việt, các phương pháp giảng dạy từ vựng sẽ được áp dụng để triển khai những chương kế tiếp Bên cạnh đó, một số kiến thức khái quát về BĐTD như khái niệm, các thành phần cơ bản, ứng dụng cũng được đề cập phục vụ cho việc triển khai các bài giảng về từ vựng tiếng Việt theo một hướng tiếp cận mới

Trang 17

Chương 2: Cách thức tạo lập một số kiểu loại BĐTD trong giảng dạy từ vựng tiếng Việt cho người nước ngoài

Nội dung chính của chương này là phân biệt và luận bàn về các kiểu loại BĐTD được ứng dụng trong giảng dạy từ vựng tiếng Việt như thế nào Chương này

đề cập đến 3 kiểu loại BĐTD thường gặp có tính ứng dụng cao trong giảng dạy từ vựng tiếng Việt: BĐTD dạng cây, BĐTD dạng mắt xích - sự kiện, BĐTD dạng vòng tròn Chương 2 đề cập đến các bước tạo lập BĐTD bằng phương pháp thủ công, truyền thống và nêu ra ưu nhược điểm của phương pháp này nhằm đưa ra giải pháp tối ưu cho cả GV lẫn HV trong quá trình dạy và học Bên cạnh đó, chương 2 cũng triển khai một số BĐTD dựa trên hệ thống bài tập mẫu để phân biệt một số hiện tượng nghĩa của từ dễ gây nhầm lẫn trong quá trình tiếp nhận kiến thức của

đề tài

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Đặc điểm từ vựng tiếng Việt

Từ vựng là chất liệu cần thiết để cấu tạo ngôn ngữ Từ vựng là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ Từ vựng tiếng Việt là một trong ba thành phần cơ sở của tiếng Việt, bên cạnh ngữ âm và ngữ pháp Từ vựng tiếng Việt là đối tượng nghiên cứu cơ bản của ngành từ vựng học tiếng Việt, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu gián tiếp của các ngành ngữ pháp học tiếng Việt, ngữ âm học tiếng Việt, phong cách học tiếng Việt, từ điển học tiếng Việt, Ngành từ vựng học tiếng Việt nghiên cứu về các khía cạnh của từ vựng tiếng Việt cũng chỉ phát triển mạnh trong giai đoạn gần đây [10:130–135]

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ này là

từ không biến đổi hình thái Hình thái của từ tự nó không chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ dường như không có quan hệ với nhau, chúng thường đứng ở trong câu tương

tự như đứng biệt lập một mình [62] Trong các ngôn ngữ này, các từ đơn tiết làm thành hạt nhân cơ bản của từ vựng Phần lớn những đơn vị được gọi là từ ghép, từ phái sinh được cấu tạo từ các từ đơn tiết này Vì thế, ranh giới các âm tiết thường trùng với ranh giới các hình vị, hình vị không phân biệt với từ Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng Theo phương thức này, tiếng Việt sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn

ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới [35:23]

Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng) Sự linh hoạt trong việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của

Trang 19

khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, tiềm năng đó còn phát huy mạnh

mẽ hơn

1.1.1 Nghĩa và các thành tố nghĩa của từ

Nghĩa của mỗi từ được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận như một quy ước chung về quan hệ giữa vỏ âm thanh và nội dung biểu thị của từ Nghĩa của từ là nội dung biểu thị sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan bằng vỏ ngữ âm của từ Nghĩa của mỗi từ là một hợp thể bao gồm nhiều lớp nghĩa (nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp), mỗi từ vừa mang nghĩa khái quát của cả một lớp từ vừa mang nghĩa của riêng nó Do từ có những mối quan hệ với thực tại khách quan, với tư duy, với người sử dụng và với hệ thống ngôn ngữ nên nghĩa của từ bao gồm các thành phần ngữ nghĩa sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu hệ và nghĩa biểu thái

Nghĩa biểu vật có chức năng định danh sự vật, quá trình, là mối quan hệ của

từ đối với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là các

sự vật mà còn là quá trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó, bao gồm các đối tượng ngoài ngôn ngữ lẫn các đối tượng thuộc ngôn ngữ

Nghĩa biểu niệm là mối quan hệ của từ với biểu tượng, khái niệm Xét về mặt bản thể, nó là kết quả của sự phản ánh các thuộc tính của thực tế khách quan được diễn đạt bằng từ Xét về mặt chức năng, nó là các đặc trưng khu biệt làm cho nghĩa của từ này khác với nghĩa của từ khác

Nghĩa biểu hệ còn gọi là nghĩa cấu trúc Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống

từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác Quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống được gọi là nghĩa biểu hệ của từ

Nghĩa biểu thái là mối quan hệ giữa từ và người sử dụng, nó phản ánh sự đánh giá, tình cảm, thái độ của người nói – người nghe, người viết – người đọc Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người [45:31]

Nét nghĩa có thể được định nghĩa là những phần nghĩa thể hiện thuộc tính sự vật mà từ biểu thị, dựa vào đó mà từ có thể thuộc vào một trong các nhóm từ vựng – ngữ nghĩa được phân chia theo chủ đề Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một

số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể, theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định

Trang 20

1.1.2 Trường nghĩa

Theo Đỗ Hữu Châu, Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường

nghĩa Đó là tập hợp đồng nhất với nhau về nghĩa [5:67] Khi nói tới trường từ

vựng, người ta chủ yếu nghĩ tới ba loại trường từ vựng - ngữ nghĩa (gọi tắt là trường nghĩa) sau đây: trường nghĩa trực tuyến, trường nghĩa tuyến tính, trường nghĩa liên tưởng

1.1.2.1 Trường nghĩa trực tuyến (trường nghĩa dọc)

Vốn từ của một ngôn ngữ được chia thành các trường nghĩa trực tuyến thuộc nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù chung nhất đến các nét nghĩa phạm trù nhỏ hơn rồi các nét nghĩa loại, hạng và các nét nghĩa riêng biệt Trường nghĩa trực tuyến bao gồm trường biểu vật và trường biểu niệm [5:68]

Trường biểu vật là tập hợp các từ có quan hệ dồng nhất về phạm vi biểu vật

Số lượng từ ngữ không đồng đều nhau giữa các trường Có những trường có nhiều

từ biểu thị, có những trừơng có ít từ biểu thị Số lượng từ ngữ cũng không đồng đều nhau giữa các miền trong các trường biểu vật của các ngôn ngữ Có những miền trong ngôn ngữ này có từ biểu thị, nhưng trong ngôn ngữ kia không có từ biểu thị

Do từ có hiện tượng nhiều nghĩa nên mỗi từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường Mỗi trường thường có một nhóm từ trung tâm

có tác dụng quy định đặc trưng ngữ nghĩa của trường

Trường biểu niệm là tập hợp các đơn vị từ vựng có cùng cấu trúc biểu niệm khái quát Cũng như trường biểu vật, trường biểu niệm có thể được phân thành nhiều miền nhỏ, với mật độ từ ngữ khác nhau Vì cũng có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể được nằm trong nhiều trường biểu niệm khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường Trường biểu niệm có quan hệ với khái niệm nhưng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm về thực tế khách quan tồn tại trong tư duy

1.1.2.2 Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)

Các từ trong hoạt động còn kết hợp nhau theo trật tự trước sau, nghĩa là theo chiều ngang, chiều tuyến tính Như thế, ngoài các trường nghĩa trực tuyến lại có thể

Trang 21

tập hợp các từ có chung khả năng kết hợp với một từ nào đó để lập nên các trường nghĩa tuyến tính của từ ấy

1.1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng

Là tập hợp các đơn vị từ vựng được gợi lên do sự liên tưởng tự do với một từ trung tâm nào đó Khi một từ được phát ra, người nghe một mặt lĩnh hội ý nghĩa của riêng từ ấy, mặt khác có thể liên tưởng tới nhiều sự kiện xã hội và cá nhân phong phú, sinh động Toàn bộ các từ mang các ý nghĩa liên tưởng ấy họp lại thành trường liên tưởng ngữ nghĩa của từ [5:70]

- Các từ trong trường có thể có cùng quan hệ về mặt cấu tạo

- Các từ trong trường có thể có quan hệ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa hay gần nghĩa

- Các từ trong trường có thể có khả năng kết hợp trong chuỗi lời nói

1.1.3 Các hiện tượng nghĩa của từ

1.1.3.1 Hiện tượng đa nghĩa

Ngôn ngữ có quy luật tiết kiệm: dùng cái hữu hạn để biểu hiện cái vô hạn Quy luật này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm thể hiện ở việc cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, hiện tượng đa nghĩa được xem là một trong

những quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ [13:147]

So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt cũng có những đặc điểm riêng của mình Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt

chủ yếu xảy ra ở các từ Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt có hai kiểu

Thứ nhất là, hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động tự

do Hiện tượng này có tính năng động, phát triển Nghĩa tự do là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các hiện tượng của thực tế khách quan Sự hoạt động của các nghĩa này không bị hạn chế vào các ngữ cố định, mà có mối quan hệ rộng rãi, nhiều

vẻ

Thứ hai là, hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa, hoạt động hạn chế Nghĩa hạn chế là nghĩa chỉ được thể hiện trong những kết hợp hạn chế Có lẽ đối với tiếng Việt, nghĩa hạn chế là hiện tượng phổ biến hơn các ngôn ngữ khác Chính các nghĩa hạn chế góp phần tạo ra tính cố định của các cụm từ

Trang 22

Trong các nghĩa của một từ đa nghĩa có một nghĩa là nghĩa cơ bản còn các nghĩa khác là nghĩa phái sinh Nghĩa cơ bản thường phải là nghĩa tự do Trường hợp

từ có một vài nghĩa tự do thì có một nghĩa tự do là cơ bản, các nghĩa khác là nghĩa

tự do phái sinh

Khi phân tích từ đa nghĩa trong tiếng Việt, cần phân biệt từ có nghĩa khái quát với từ nhiều nghĩa Tiếng Việt có rất nhiều từ nghĩa khái quát Nó có thể tham gia vào những kết hợp rất đa dạng với các từ khác Trong mỗi kết hợp, từ đều có những sắc thái ý nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào những từ kết hợp với chúng Nhưng, những sắc thái kèm theo đó chưa thể gọi là cơ sở để tách ra các nghĩa riêng biệt mà nhiều kết hợp khác nhau có thể cùng khúc xạ một nghĩa duy nhất [13: 153] Mặt khác, tiếng Việt cũng có nhiều từ tham gia kết hợp hết sức rộng rãi với các từ khác, trong đó một số từ kết hợp rất khó nhận ra nghĩa riêng của từ đó Từ đã trở nên trống nghĩa hoặc trừu tượng và khái quát

Ví dụ:

- đánh trong: đánh rơi, đánh bạc, đánh vỡ, đánh thức, đánh mất…

- làm trong: làm hư, làm phiền,…

- phát trong: phát chán, phát cáu, phát điên, phát sợ, phát hoảng…

1.1.3.2 Hiện tượng đồng nghĩa

Có nhiều khái niệm về từ đồng nghĩa Một số người căn cứ vào nghĩa sở chỉ coi từ đồng nghĩa là những tên gọi khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan Sự thống nhất trong loạt đồng nghĩa chủ yếu là chức năng gọi

tên AA Reformatskiy viết: … hai từ cùng gọi tên một sự vật nhưng tương quan với

sự vật đó với những khái niệm khác nhau và chính vì vậy mà qua cách gọi tên bộc

lộ ra nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật đó [13:59] Quan niệm này có từ rất lâu,

gắn liền với việc nghiên cứu các hiện tượng đồng nghĩa trong lĩnh vực danh từ Tiêu chuẩn này dễ dàng áp dụng cho trường hợp các từ cùng biểu thị một sự vật, hiện tượng cụ thể trong thực tế mà chúng ta có thể tri giác được [13:190]

Ví dụ: chỉ người đàn bà sinh ra mình có các từ: mẹ, u, má, bầm… Tuy nhiên,

trong trường hợp các từ biểu hiện những khái niệm không cụ thể, không tri giác

được như: chóng, mau, nhanh… hay sợ, hãi, sợ sệt, hãi hùng… không biết nên cho

Trang 23

chúng vào cùng một đối tượng hay những đối tượng khác nhau Mặt khác, tiêu chuẩn này không phân biệt hai bình diện ngôn ngữ và lời nói

Nhìn chung, có hai hướng quan niệm chính về hiện tượng đồng nghĩa: một là dựa vào đối tượng được gọi tên, hai là dựa vào khái niệm do từ biểu thị Thực ra đồng nghĩa không phải những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa Chúng vẫn có sự dị biệt bên cạnh sự tương đồng Sự dị biệt là lý do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm Những từ đồng nghĩa với nhau tập hợp thành một nhóm gọi là nhóm đồng nghĩa Những từ đồng nghĩa với nhau không nhất thiết phải tương đương với nhau về số lượng nghĩa Thông thường, các từ chỉ đồng nghĩa ở một nghĩa nào đó Một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau Ở nhóm này, tham gia với nghĩa này, ở nhóm khác tham gia với nghĩa khác

Ví dụ: từ coi trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa Tuỳ theo từng nghĩa được nêu lên để tập hợp các từ, mà coi có thể tham gia vào các nhóm như:

- coi – xem: coi hát – xem hát; coi phim – xem phim…

- coi – giữ: coi nhà – giữ nhà, coi em – giữ em…

Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được dùng phổ biến và trung hoà về mặt phong cách, được lấy làm cơ sở để tập hợp và so sánh, phân tích các từ khác Từ đó gọi là trung tâm của nhóm

Ví dụ: trong nhóm từ yếu, yếu đuối, yếu ớt… của tiếng Việt, từ yếu được gọi

là từ trung tâm

Căn cứ vào mức độ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái Từ đồng nghĩa tuyệt đối là những từ đồng nghĩa nhất về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái, chỉ khác ở phạm vi sử dụng, về kết

Trang 24

1.1.3.3 Hiện tượng trái nghĩa

Từ trái nghĩa là một trong những biện pháp tổ chức từ vựng theo sự đối lập

Có thể định nghĩa từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa biểu hiện khái niệm, tương phản về logic, nhưng tương hỗ lẫn nhau Từ trái nghĩa bộc lộ các mặt đối lập của các khái niệm tương liên, gắn liền với một phạm vi sự vật Các từ đối lập nhưng biểu hiện các khái niệm không tương liên thì không phải

là các từ trái nghĩa [13:205] Cũng có nhiều quan niệm về từ trái nghĩa khác đã được đưa ra Tuy nhiên, nét chung được đề cập trong tất cả các quan niệm là sự đối lập về nghĩa Có thể hiểu rằng: từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau trong mối quan hệ tương liên, khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản

về logic

Ví dụ: Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

Những từ có vẻ đối lập với nhau về nghĩa nhưng không nằm trong mối quan

hệ tương liên thì không phải hiên tượng trái nghĩa

Ví dụ: Nhà này tuy bé nhưng mà xinh

Từ trái nghĩa trước hết là một dạng quan hệ giữa các từ trong cùng một trường, cùng tính chất với hiện tượng nhiều nghĩa Trái nghĩa và đồng nghĩa chỉ là những biểu hiện cực đoan của quan hệ đồng nhất và đối lập

Trong nhóm từ trái nghĩa, không có từ trung tâm như trong nhóm đồng nghĩa Từ này là tấm gương phản chiếu từ kia và ngược lại Vì thế, trong mỗi nhóm

từ trái nghĩa sẽ chỉ gồm hai từ và thường được gọi là một cặp trái nghĩa

Việc xác định các cặp trái nghĩa có nhiều phức tạp, không dựa hẳn vào một tiêu chí nào đó mà quy tắc ngôn ngữ cho phép Suy rộng ra là chúng phải cùng có khả năng xuất hiện trong một ngữ cảnh Nếu hai từ là trái nghĩa thì chúng phải đảm bảo mối quan hệ liên tưởng đối lập nhau một cách thường xuyên và mạnh, bởi vì mỗi từ trong cặp trái nghĩa là tấm gương phản chiếu từ kia [62]

Trong ngôn ngữ, hiện tượng trái nghĩa xảy ra nhiều nhất trong khu vực các tính từ, tiếp đến là các động từ Cũng có các danh từ trái nghĩa nhưng ít hơn và phải

có điều kiện Từ trái nghĩa tiếng Việt đồng thời gắn liền với tính cân xứng, nghĩa là dung lượng ngữ nghĩa của các từ trái nghĩa phải tương đương với nhau trong khi hướng theo các chiều khác nhau

Trang 25

1.1.3.4 Hiện tượng đồng âm

Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau

về nghĩa Hiện tượng đồng âm nói chung và từ đồng âm nói riêng thường xuất hiện

ở những đơn vị có kích thước vật chất không lớn, tức là có thành phần phần ngữ âm không phức tạp Vì vậy, ta chỉ có đồng âm giữa từ với từ là chủ yếu, và đây là nét chủ đạo Còn đồng âm giữa từ với cụm từ hoặc cụm từ với cụm từ thì rất hiếm hoi [13:174]

Từ đồng âm trong tiếng Việt, do đặc trưng loại hình đơn lập của tiếng Việt quy định, có những đặc điểm riêng Vì tiếng Việt không biến hình nên những từ nào đồng âm với nhau thì luôn luôn đồng âm trong tất cả mọi bối cảnh được sử dụng Vì tiếng Việt không có sự đối lập gốc từ với phụ tố, các từ được tạo nên chủ yếu bằng

sự kết hợp với tiếng nên đồng âm giữa từ với từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng

Hiện tượng đồng âm của từ và các đơn vị từ vựng khác trong tiếng Việt có thể hình thành từ những con đường sau đây:

Do sự tiếp nhận các từ nước ngoài Nhìn chung, những từ gốc Pháp và gốc Hán tạo nên một số lớn các loạt từ đồng âm trong tiếng Việt

Do sự biến đổi ngữ âm Bản thân các từ ngoại lai khi vào tiếng Việt đã có sự biến đổi ngữ âm và do đó đồng âm với nhau hoặc đồng âm với một từ vốn có của tiếng Việt Ngoài ra có những cặp từ đồng âm là kết quả của quá trình biến đổi ngữ

âm trong tiếng Việt

Do sự phân hóa ý nghĩa của từ đa nghĩa Về mặt đồng đại, hiện tượng đồng

âm tiếng Việt bao gồm không những các đơn vị khác nhau về nguồn gốc, giống nhau về ngữ âm mà cả các đơn vị cùng một nguồn gốc nhưng đã phát triển xa nhau

về ngữ nghĩa

Do sự hình thành các đơn vị từ vựng mới trên cơ sở chất liệu vốn có

1.1.3.5 Hiện tượng chuyển loại

Hiện tượng chuyển loại của từ là hiện tượng một từ khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác

Trang 26

Ví dụ:

- Tôi định nói những suy nghĩ (1) vừa rồi của tôi đối với anh

- Bắt chước anh, em cũng tập suy nghĩ (2)

(1): danh từ, (2): động từ

- Chúng ta hãy chung tay khắc phục khó khăn cho giáo dục miền núi (1)

- Tôi khó khăn (2) lắm mới thuyết phục được cháu

(1) : danh từ, (2): tính từ

Hiện tượng chuyển loại có một số đặc điểm như sau:

- Từ chuyển loại có hình thức đồng âm: Chúng là hai từ đồng âm khác từ loại

- Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng chung: Khi một từ chuyển loại (thành một từ khác, đồng âm), yếu tố nghĩa từ vựng chung sẽ được giữ lại trong cả hai từ do đối tượng phản ánh trong từ không thay đổi Như vậy, từ ban đầu và từ chuyển loại chỉ thay đổi ở ý nghĩa ngữ pháp

Từ ban đầu có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp khác với từ chuyển loại, mặc dù không phải lúc nào cũng xác định hoặc phân biệt được một cách dứt khoát Trong tiếng Việt, ta thường gặp một số trường hợp chuyển loại sau đây:

- Chuyển loại động từ - danh từ - tính từ, thường gặp đối với lớp từ đa tiết

ghép gốc Hán – Việt: quần chúng, ý thức, khuyết điểm, hòa bình … Từ

Hán –Việt thường khó định loại khi đứng riêng một mình

- Chuyển loại giữa động từ - danh từ:

+ Từ chỉ hành động như cày, bừa, cưa đục … chuyển loại thành tên gọi

đồ vật như (cái) cày, (cái) bừa, (cái) cưa, (cái) đục…

+ Từ chỉ hành động như: cuộn, bó, nắm … chuyển thành đơn vị sự vật tương ứng: (một) cuộn, (một) bó, (một) nắm …

+ Từ chỉ hành động đa tiết như: suy nghĩ, đắn đo, lo ngại… chuyển thành tên gọi khái niệm hay sự vật trừu tượng: (những) suy nghĩ, (những) lo

ngại, (những) đắn đo…

- Chuyển loại giữa tính từ - danh từ: Từ chỉ tính chất đa tiết thường chuyển

thành danh từ chỉ sự vật trừu tượng: khó khăn, gian khổ, sung sướng …

thành (mọi) khó khăn, (mọi) gian khổ, (mọi) sung sướng…

Trang 27

- Chuyển loại trong nội bộ từ loại danh từ: danh từ chỉ đồ vật như chén,

bát, thuyền, xe, mâm… chuyển thành danh từ chỉ đơn vị (vật chứa đựng)

như: (một) chén (rượu), (một) bát (cơm), (một) thuyền (cá)…

- Từ thực từ sang hư từ: Hiện tượng chuyển loại thực từ sang hư từ thường kèm theo hiện tượng mờ nghĩa trong thực từ

- Chuyển loại danh từ và quan hệ từ: quan hệ từ của trong tiếng Việt hiện nay có nguồn gốc từ danh từ; ngoài ra, một số danh từ chỉ vị trí: trên,

dưới, trong, ngoài… chuyển thành quan hệ từ: (ngồi) trên (ghế), (họp) trong (hội trường), (đi) dưới (nước) …

- Chuyển loại động từ và quan hệ từ: một số quan hệ từ có nguồn gốc từ

động từ như: cho, bằng, vào, để…

- Chuyển loại danh từ - đại từ: nhiều danh từ chỉ người trong quan hệ thân

thuộc như ông, bà, cháu, cô, dì… chuyển thành đại từ nhân xưng (lâm

thời)

- Chuyển loại trong nội bộ hư từ: một số phụ từ có thể thực hiện chức năng

liên kết của quan hệ từ như còn, rồi … hoặc dùng phối hợp hai phụ từ để kiêm chức năng liên kết như vừa … vừa, đã… lại, mới …đã… hoặc dùng phối hợp một quan hệ từ với một phụ từ: vừa mới …nên …

Hiện tượng chuyển loại là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ, là một trong những phương thức cấu tạo từ có khả năng sản sinh rất cao Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập với đặc điểm từ không biến đổi hình thái và do vậy hiện tượng chuyển loại của từ rất phổ biến Mặt khác, vì từ vựng tiếng Việt mang bản chất đa từ loại nên người nước ngoài cũng gặp trở ngại nhất định trong việc nhận diện từ khi học tiếng Việt

Chuyển loại của từ là hiện thực của đời sống ngôn ngữ Nhưng cũng nên phân biệt hiện tượng chuyển loại đã ổn định trong ngôn ngữ, với hiện tượng chuyển loại chỉ có tính chất cục bộ và có tính lâm thời, trong những điều kiện và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

1.1.3.6 Hiện tượng từ tương tự

Từ tương tự là những nhóm từ gần nhau về mặt âm thanh và ý nghĩa Căn cứ vào ngữ âm của từ ngữ, có thể chia từ tương tự trong tiếng Việt thành ba loại:

Trang 28

Trùng nhau ở âm đầu: bám, bấu, bíu; buộc, bó, băng; chầu, chờ, chực;

khênh, khiêng, khuân; phòi, phì, phọt, phun, v.v…

Trùng nhau ở phần vần: băm, bằm, vằm; bấu, cấu; bớt, ngớt; đớp, tợp, hớp;

cái, mái, nái, gái, v.v

Trùng nhau ở cả âm đầu và phần vần: băm, bằm; lui, lùi; xoăn, xoắn; đớp,

nái để chỉ giống cái nhưng cách dùng khác nhau

Có quan hệ tương cận về nghĩa: bú và vú, chêm và nêm, đan và nan, đệm và

nệm, v.v (quan hệ hành động - đối tượng); gạn và cạn, giết và chết; đập và giập, thắt và chặt, v.v (quan hệ hành động - kết quả)

Có quan hệ tương đồng về tính chất tượng hình, tượng thanh: bét, bẹt, dẹt,

kẹt, tẹt, ; bức bối, nhức nhối, bực bội, tức tối, v.v ; khật khưỡng, ngất ngưởng, vật

Mục đích của phương pháp này giúp người học ngoại ngữ đọc được những tài liệu và những tác phẩm văn học bằng ngôn ngữ đích GV giữ vai trò tuyệt đối điều hành trong lớp, trong khi đó HV chỉ là người thụ động tiếp nhận thông tin mới

GV chỉ sử dụng ngôn ngữ nguồn trong việc giảng dạy và hướng dẫn Do vậy, chỉ có

sự tương tác một chiều giữa GV với HV và ngôn ngữ nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc dạy từ vựng và ngữ pháp Khi HV mắc lỗi GV sửa trực tiếp những lỗi sai của HV Tài liệu giảng dạy chủ yếu dựa vào những bài văn chương gốc hoặc những bài của GV Từ vựng được giảng dạy chủ yếu bằng cách sau: Cung cấp một số

Trang 29

lượng lớn từ vựng của ngôn ngữ đích với từ vựng của ngôn ngữ nguồn tương ứng cho HV ghi nhớ; tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, điền từ vào chỗ trống hoặc dạy từ có cùng nguồn gốc; dịch những đoạn văn dài và sử dụng từ trong những tác phẩm văn học và thông qua đó HV có thể học được từ vựng Phương pháp này có ưu điểm là tận dụng hết trí nhớ máy móc của HV để ghi nhớ một khối lượng lớn từ vựng đơn lẻ

và HV có thể nhanh chóng học được một khối lượng từ vựng trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, việc tiếp nhận một khối lượng từ vựng lớn như vậy thì HV chỉ lưu trữ chúng trong bộ nhớ ngắn hạn mà khó có thể chuyển sang bộ nhớ dài hạn Dạy từ vựng chỉ bó hẹp trong những tác phẩm văn học hoặc những bài giảng của GV mà không được mở rộng ra HV chỉ học được từ vựng thông qua cách dịch từng từ tương đương mà không thể nắm rõ được cách sử dụng từ

1.2.2 Phương pháp trực tiếp

Phương pháp trực tiếp bắt chước cách tiếp thu ngôn ngữ tự nhiên của con người nên nó còn có tên gọi khác là phương pháp tự nhiên Mục đích chính của phương pháp này là HV học cách giao tiếp và suy nghĩ bằng ngôn ngữ đích GV đóng vai trò như một người bạn của HV và định hướng tất cả các hoạt động trên lớp trong khi đó HV là người tham gia chủ động vào những hoạt động mà GV đưa ra Ngôn ngữ nguồn không được sử dụng trong lớp học, và có sự tương tác ba chiều (HV tương tác với HV, HV tương tác với GV, GV tương tác với HV) Khi HV mắc lỗi thì GV dùng nhiều cách để sửa lỗi GV khuyến khích HV tự nhận biết và tự sửa lỗi mà mình mắc phải Giảng dạy từ vựng bằng phương pháp này được nhấn mạnh hơn so với các nội dung khác Tài liệu giảng dạy chủ yếu dựa vào những bài đọc mà

từ vựng được chia theo chủ đề và những bài hội thoại theo tình huống Do vậy, chương trình học được thiết kế dựa theo chủ đề và tình huống Từ vựng được giảng dạy chủ yếu là việc dạy nghĩa của từ Nghĩa của từ cụ thể chủ yếu được giải thích bằng cách sử dụng: những vật cụ thể dùng để giảng dạy, hoạt động nối liền nhà trường với thực tế, kịch câm, tranh ảnh, ví dụ, mẫu câu, mối liên hệ giữa hình thức

và ý nghĩa Phương pháp dùng trực tiếp hay còn gọi là phương pháp dùng vật thật, việc thật Nghĩa của từ được hiểu thông qua đồ dùng hoặc chức năng của những đồ dùng mà GV mang từ thế giới bên ngoài vào lớp học.VD: các loại hoa quả, áo quần… Một vũng nước có thể tạo ra bằng cách đổ một ít nước xuống sàn nhà Động

Trang 30

từ xé có thể dạy bằng cách xé một tờ giấy Nghĩa của từ có thể được giới thiệu bằng

cách chỉ vào đồ vật hoặc đưa đồ vật lên để HV quan sát Trong trường hợp từ vựng chỉ những đồ vật không thể mang được đến lớp học hoặc không có sẵn thì GV có thể dùng tranh ảnh từ sách báo, tạp chí để dạy Cần chọn những tranh ảnh đơn giản,

ít chi tiết, bố cục và mục đích rõ ràng Ngoài ra, những GV có năng khiếu vẽ thì có thể phác hoạ lên bảng để giới thiệu từ mới Những từ vựng có nghĩa trừu tượng được giảng giải bằng liên kết các ý tưởng Một ưu điểm dễ nhận thấy của phương pháp này là việc dạy nghĩa của từ cụ thể được minh họa trực quan và được đặt trong mối liên hệ giữa nhà trường và thực tế HV sẽ nhanh chóng tiếp thu được nghĩa của

từ Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là khó giải thích nghĩa của từ trừu tượng

1.2.3 Một số hình thức giới thiệu và giảng dạy từ vựng khác

Dùng ngôn ngữ, cử chỉ GV dùng ngôn ngữ cử chỉ biểu hiện trên nét mặt để thể hiện tình cảm, cảm xúc như sung sướng, phấn khởi, tức giận, mệt mỏi, đói, khát Những động tác hoa chân múa tay có thể dùng để mô phỏng các hành động và trạng

thái của con người như thả diều, nhảy múa, chơi đàn, trượt ngã, bối rối, kinh

ngạc…

Dùng ngữ cảnh và giải thích Nghĩa của từ được suy luận trong ngữ cảnh

GV có thể tạo ngữ cảnh bằng cách sử dụng ngữ liệu đã học, từ đó giới thiệu nghĩa

của từ mới Nên tạo những ngữ cảnh ngắn gọn, dễ hiểu Ví dụ: Lan không nói dối

Lan không gian lận trong thi cử Lan nói thật Vậy Lan là người thế nào? à thật thà

Dùng ví dụ và giới thiệu từ vựng theo chủ điểm Đó là những từ có liên quan đến nhau về mặt ngữ nghĩa GV phát triển từ mới thông qua từ vựng học sinh đã học Ví dụ như các từ về đồ dùng gia đình, rau củ, phương tiện giao thông… GV liệt

kê các ví dụ về đồ đạc như bàn, ghế, tủ, giường… để người học đoán ra từ đó

Dùng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa tương đối Có thể dùng từ đồng nghĩa, trái

nghĩa của một từ để giới thiệu từ này, ví dụ: từ đồng nghĩa của từ bướng bỉnh là

ngoan cố, từ trái nghĩa của từ nóng vội là kiên nhẫn

Trang 31

Dùng ngôn ngữ trung gian Tiếng Anh có thể được dùng để giải thích, làm rõ

nghĩa từ mới khi không còn biện pháp nào tốt hơn nữa, ví dụ: Chúng ta nói từ rotten

như thế nào trong tiếng Việt? à mục nát

1.2.4 Mối quan hệ giữa các phương pháp

Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định khi vận dụng trong dạy và học tiếng Vì vậy, chúng ta cần biết phối hợp các phương pháp này khi sử dụng trong dạy học tiếng Việt sao cho phù hợp với từng nội dung bài học Các bước trong mỗi quy trình cần được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo Tuỳ thuộc vào từng tình huống, nội dung dạy học và đối tượng dạy học cụ thể,

GV linh hoạt rút gọn hoặc mở rộng triển khai các bước theo quy trình trên cơ sở đảm bảo mục tiêu của bài học

1.3 Bản đồ tư duy

1.3.1 Khái niệm

BĐTD là một sơ đồ giúp chúng ta ghi lại điều cần trình bày, cần ghi nhớ bằng việc dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này nhanh hơn, dễ nhớ hơn và dễ ôn tập hơn Nó tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh, màu sắc của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của câu chuyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não khả năng liên kết và tưởng tượng [37:63]

Phương pháp này được Tony Buzan phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế

kỉ 20) Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony Buzan và

họ đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục

Đây là công cụ tổ chức tư duy nền tảng Với phương pháp này, người dùng

có thể chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra một cách vô cùng dễ dàng Nó là công cụ tổ chức, sắp xếp thông tin, tư duy, là phương pháp ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả cao Cụ thể, nó giúp chúng ta:

- Sáng tạo hơn

Trang 32

- Tiết kiệm thời gian

- Giải quyết các vấn đề

- Tập trung

- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của con người

- Ghi nhớ tốt hơn

- Học nhanh hơn và hiệu quả hơn

- Nhìn thấy “bức tranh toàn thể”

Trang 33

chọn được từ khóa quan trọng nhất để cho vào phần trung tâm của bản đồ Từ ấy thể hiện chủ đề của BĐTD mà chúng ta trình bày Nên chọn các từ then chốt là các từ

có khả năng gợi lại thông tin hữu ích, viết các từ đó rõ ràng trên các nhánh Chỉ nên viết một từ khoá trên mỗi nhánh để tránh bị hạn chế trong các câu chữ Từ then chốt

có thể là một ngữ gồm nhiều từ, điều quan trọng là mỗi mỗi từ chỉ diễn tả một ý tưởng hay một khái niệm

Trong bài học từ vựng tiếng Việt, từ then chốt thể hiện nội dung của bài học Thường từ then chốt sẽ nằm ở tiêu đề bài học (với BĐTD vẽ nội dung toàn bài) hoặc nằm ở tên các đề mục (với BĐTD vẽ nội dung một đề mục nhất định) Với văn bản không có tên đề mục thì ta cần tóm tắt nội dung văn bản rồi từ đó tiến hành tìm

từ khóa trong nội dung đã được tóm tắt

Dùng từ then chốt vì có thể đưa ra kiến thức một cách giản lược, dễ thấy Hơn nữa, còn có tác dụng kích thích tư duy Khi thấy một đoạn văn, câu văn dài đầy

đủ thông tin, bộ não sẽ không hoạt động thêm Nhưng khi thấy một từ khóa, bộ não

sẽ lí giải, huy động thêm thông tin Từ đó, các ý tưởng, các nhánh nhỏ của bản đồ

mới ra đời Ví dụ: Từ khóa của bài Ôn tập từ tiếng Việt là từ

Hình 1.2 Ví dụ về từ then chốt trong BĐTD

Hình ảnh then chốt hiệu quả sẽ kích thích cả hai bên não và tác động đến tất

cả các giác quan của người dùng Hình ảnh có tác dụng tương tự chức năng của bán cầu phải – nơi điều khiển cảm xúc, trí tưởng tượng, tính toàn thể Hình ảnh giúp

Trang 34

nắm bắt nhanh chóng cốt lõi của vấn đề và là nền tảng của chương trình lập BĐTD Một hình ảnh huy động rất nhiều kỹ năng tư duy trên vỏ não như màu sắc, hình thể, đường nét, kích thước, kết cấu, nhịp điệu thị giác và đặc biệt là sự tưởng tượng vì thế so với từ, hình ảnh kích thích não làm việc hiệu quả hơn, có khả năng gợi liên kết phong phú, mạnh mẽ, chính xác hơn, kết quả là tăng cường hoạt động ký ức và

tư duy sáng tạo Khi lập BĐTD, chúng ta chọn các hình ảnh đơn giản nhưng có khả năng gợi liên tưởng Các hình ảnh có thể biểu thị một khái niệm, chẳng hạn trí nhớ

hoặc một đồ vật Ví dụ: Trong bản đồ về các từ chỉ cảnh quan nông trại, ta có thể dùng hình ảnh con bò, con gà, nông dân, rơm

Hình 1.3 Ví dụ về hình ảnh then chốt trong BĐTD

1.3.2.2 Tâm bản đồ và các ý tưởng cơ bản

Hệ thống thị giác của con người, đặc biệt là võng mạc, hoạt động dựa trên nguyên tắc vừa chú ý đến trung tâm, vừa chú ý đến ngoại vi [28:31] Cách hoạt động này giúp con người vừa có thể xem xét chính xác một tâm điểm, vừa quan sát được xung quanh Tâm BĐTD rất quan trọng vì đó là nơi bắt đầu của quá trình phân nhánh – một quá trình mang tính sáng tạo Bằng từ then chốt ở trên, chúng ta triển khai thành nhiều ý nhỏ khác nhau Đó là các ý tưởng Vấn đề là sẽ sắp xếp nó thế

Trang 35

nào? Thường ý nào đứng trước, cho ở phần đầu bản đồ, ý sau cho ra sau Còn các ý tương đương thì cứ để tất cả xung quanh bản đồ Từ các ý nhỏ thứ nhất, ta tiếp tục triển khai ý nhỏ thứ hai (nếu có) từ ô ý nhỏ thứ nhất Và cứ thế cho tới khi hết ý Các ý nhỏ cũng phải tìm từ khóa cụ thể, chọn màu phù hợp VD: trong BĐTD về

các đới khí hậu trên trái đất, ta có từ khóa trung tâm là khí hậu Các từ khóa phụ tạo

thành ý nhỏ xung quanh là nhiệt đới, hàn đới và ôn đới Trong mỗi ý lại chia thành

ý nhỏ vị trí, lượng mưa, nhiệt độ, gió…

Hình 1.4 Ví dụ về tâm và các ý tưởng cơ bản trong BĐTD

Trang 36

không bị rối vì sự mất cân đối Chúng ta nên vẽ các nhánh một cách hài hoà để bản

ý phụ màu nhạt hơn Đây là chức năng phân cấp thông tin và tạo các mối quan hệ đan xen giữa các cấp độ Nhờ đó thông tin sẽ được ghi nhớ dễ dàng Chúng ta cần

sử dụng màu sắc bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Đôi khi ta chỉ ghi nhớ được màu sắc chứ không nhớ ngay được chữ viết

Trang 37

Hình 1.6 Ví dụ về màu sắc trong BĐTD

1.3.3 Ứng dụng của BĐTD

1.3.3.1 Tự phân tích và tư duy

BĐTD là một công cụ đặc biệt hữu ích để phân định các lựa chọn cá nhân Bằng cách sử dụng BĐTD vạch ra những nhu cầu, mong muốn, ưu tiên và hạn chế, người dùng khả năng hình thành các quyết định dựa trên một tầm nhìn rõ ràng hơn

về những vấn đề liên quan Vì BĐTD sử dụng hết các kỹ năng của vỏ não nên mỗi người sẽ có một hình ảnh phản chiếu toàn diện về bản thân Khi đã thấy được hình ảnh phản chiếu rõ ràng thì nên bắt đầu sử dụng BĐTD để phân tích

BĐTD tự phân tích mang lại cái nhìn tương đối về bản thân, tạo ra hình ảnh trung thực và đầy đủ về đối tượng nhờ sử dụng hết các kỹ năng của vỏ não Bên cạnh đó nó cho thấy tầm nhìn vĩ mô lẫn vi mô về đối tượng, bao gồm những xu thế tổng quát cũng như những chi tiết nhỏ nhưng có liên quan, nó giúp việc hoạch định tương lai dễ dàng và chính xác hơn nhờ hoạch định này được đặt vào bối cảnh hiện trạng của đối tượng Mặt khác nó có chức năng như bộ hồ sơ lưu trữ thường xuyên Nhờ sử dụng màu sắc, hình ảnh, mã tự, BĐTD giúp người sử dụng diễn đạt cảm xúc

và phân tích bản thân tương đối dễ dàng

Trang 38

Cấu trúc của BĐTD đảm bảo các đối tượng tham dự đều chân thật và thẳng thắn, nó mang lại cho người tham dự cái nhìn toàn diện về quan điểm của người khác Bên cạnh đó nó bồi đắp tính chân thực giữa các đối tượng tham dự BĐTD đặt vấn đề trong bối cảnh rộng lớn, cho phép người tham dự hiểu sâu hơn về nguyên nhân phát sinh và tạo ra một động lực mạnh hơn về tìm kiếm giải pháp Đây cũng được xem như là một hồ sơ lưu trữ thường xuyên về mối quan hệ, có thể dùng BĐTD về các mặt tích cực và giải pháp để làm nguồn sức mạnh cũng như hỗ trợ cho mối quan hệ phát triển [40:25]

BĐTD loại bỏ sự căng thẳng, khó chịu phát sinh từ cách sắp xếp không hợp

lý và sự lo lắng thất bại của người tư duy Nó giải phóng các điểm nút liên kết ý tưởng, giúp tiếp nhận thông tin mới, nhờ đó nâng cao khả năng sáng tạo và tính độc đáo BĐTD giảm thời gian chuẩn bị, kết cấu và hoàn chỉnh tác vụ thuyết trình hoặc viết văn, giúp liên tục kiểm soát quy trình phân tích và sáng tạo Mặt khác nó mang lại một tiểu luận, một dự án hoặc báo cáo có trọng tâm rõ ràng và bố cục hợp lý

Trang 39

Hiệu quả giảng bài sẽ được tăng lên Điều quan trọng của việc giảng dạy là làm sao

để lên kế hoạch chương trình dạy học thật tốt Với yêu cầu đưa ra chương trình giảng dạy mới bao gồm: tóm tắt, mục tiêu và định hướng cho môn học khiến cho công việc càng thêm quá tải Với BĐTD, GV có thể tạo riêng cho mình kế hoạch năm theo thứ tự, ưu tiên các chủ đề chính và thêm thời hạn khi cần thiết BĐTD là công cụ giảng dạy lý tưởng, giúp GV phân phát tài liệu bài tập trong lớp học, vì trong BĐTD sẽ chứa thông tin ngắn gọn, màu sắc, hình ảnh cùng với cách bố trí trực quan hấp dẫn sẽ cuốn hút các HV ngay lập tức

BĐTD hỗ trợ cách nhìn tổng quan, ngắn gọn về một chủ đề, làm cho ngay cả những vấn đề phức tạp nhất cũng trở nên dễ hiểu và thú vị BĐTD đặc biệt hữu ích cho người học trực quan, chẳng hạn HV mắc chứng khó đọc: thường những HV này

dễ cảm thấy thất vọng và lười đọc khi bài học ở dạng văn bản toàn chữ BĐTD là công cụ giảng dạy lý tưởng, giúp GV phân phát tài liệu bài tập trong lớp học, BĐTD chứa thông tin ngắn gọn, màu sắc, hình ảnh cùng với cách bố trí trực quan hấp dẫn

sẽ cuốn hút HV Do tính chất của BĐTD là biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng và dễ nhớ nên người học có khuynh hướng đạt điểm cao hơn trong các

kỳ thi Khác với văn bản trình bày nội dung theo cách tuần tự, BĐTD không những biểu hiện sự kiện mà còn cho thấy mối liên hệ giữa các sự kiện ấy, nhờ đó giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề

Bên cạnh đó, BĐTD là công cụ lý tưởng hỗ trợ cho các cuộc thảo luận trong

lớp, vì bản chất của BĐTD là khuyến khích các HV tập trung liên kết giữa các chủ

đề cũng như, hình thành lan tỏa ý tưởng và ý kiến của họ Sử dụng BĐTD trong lớp

học kích thích lối tư duy tập thể Cả GV và HV đều là thành viên của tập thể đó Các cá thể tiếp thu rất nhiều kiến thức và mỗi người đều có những tri thức và quan điểm khác nhau để xử lý thông tin, giải quyết vấn đề Nhờ sự kết hợp kiến thức BĐTD của người này với người khác, HV tạo điều kiện cho những liên tưởng của mình và của người khác phát triển mạnh mẽ Quy trình ứng dụng BĐTD tập thể chú trọng đồng đều đến cá nhân và tập thể Đóng góp của cá nhân mỗi HV mang lại lợi ích cho tư duy tập thể lớp học và ngược lại, tư duy tập thể phản hồi sức mạnh cho từng thành viên, tăng cường khả năng đóng góp của mỗi thành viên cho tập thể Việc sử dụng BĐTD trong các hoạt động học tập tập thể tạo ra một sự đồng tâm

Trang 40

nhất trí, bồi đắp tinh thần đồng đội đoàn kết trong một tập thể lớp học và hướng tất

cả các hoạt động cá nhân vào hoạt động của một nhóm, một lớp

Tóm lại, BĐTD gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên, nhờ đó giúp

họ tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn trong lớp, nó làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn đối với cả GV và HV

1.3.3.3 Trong quản lý và kinh doanh

BĐTD mang lại một phong cách quản lý và tổ chức tốt hơn, dẫn đến một lực lượng lao động có động lực cao hơn BĐTD cải thiện tình trạng giao tiếp giữa các nhân viên trong cơ quan, nâng cao hiệu năng và kết quả của công tác đào tạo, bên cạnh đó nó còn giúp cho việc tiếp thị và khuyến mãi nhắm đúng trọng tâm hơn, từ

đó dẫn đến doanh số bán hàng cao hơn BĐTD đảm bảo mọi thành viên đều hiểu quan điểm của nhau, đưa tất cả các ý kiến đóng góp vào tình huống liên quan Việc này làm tăng thêm không khí tích cực, nhiệt tình và hợp tác trong tổ chức đó, mỗi thành viên đều có phiên bản hoàn chỉnh về cuộc họp, nhờ đó tất cả mọi người đều

có thể hiểu và nhớ chính xác những nội dung đã được thông qua Hội họp dùng BĐTD thường chỉ mất 1/5 thời gian so với hội họp thông thường và có khả năng làm tăng được các mục tiêu đã đề ra [37:28]

Thuyết trình là đứng trước đám đông trình bày về kế hoạch, phương án hay công việc của mình Thuyết trình tốt là một lợi thế nhưng đôi khi nó cũng tạo một

số áp lực BĐTD làm tăng giao tiếp bằng mắt đối với người nghe, cho phép người nói dùng điệu bộ thoải mái, tăng mức độ tập trung sự chú ý cho cả diễn giả lẫn thính giả Với BĐTD, chúng ta đặt các chủ đề của bài thuyết trình ở trung tâm của trang giấy và phát triển dựa trên các hình ảnh và từ khoá sẽ trình bày Cách làm này rất khoa học giúp người thuyết trình tự tin rất nhiều Nó được hình thành, các nhánh, các ý trung tâm sẽ được sắp xếp theo trật tự, làm nổi bật vấn đề và liên kết giữa các nhánh BĐTD tận dụng nhiều kỹ năng liên quan đến vỏ não, giúp người dùng chỉnh sửa bài thuyết trình cho phù hợp với nhu cầu của người nghe và theo đúng thời gian quy định, mở rộng các chủ điểm, mang lại một bài thuyết trình dễ nhớ, lý thú và hiệu quả với cả diễn giả lẫn người nghe BĐTD giúp não bộ đánh giá được vấn đề một cách tổng quan Diễn giả có thể linh hoạt trong cách trình bày, kiểm soát được thời gian cũng như nội dung muốn truyền tải Thuyết trình tốt với BĐTD giúp người

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adam Khoo (2010), Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, (Bản dịch), Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, bạn cũng thế
Tác giả: Adam Khoo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2010
2. Anne Debroise (2008), Bí ẩn của bộ não (Bản dịch), Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí ẩn của bộ não
Tác giả: Anne Debroise
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2008
3. Lưu Tuấn Anh (2008), “Việc sử dụng ngôn ngữ trung gian trong quá trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học cho người nước ngoài, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc sử dụng ngôn ngữ trung gian trong quá trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học cho người nước ngoài
Tác giả: Lưu Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2008
4. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1975
5. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1986
6. Đỗ Hữu Châu (2009), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2009
7. Trần Đình Châu (2009), “Sử dụng Bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS học tập môn toán”, Tạp chí Giáo dục kỳ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS học tập môn toán”," Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Trần Đình Châu
Năm: 2009
8. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy (2010), “Bản đồ tư duy - công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường”, Báo Giáo dục& Thời đại, số 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy - công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường”, "Báo Giáo dục "& Thời đại
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy
Năm: 2010
9. Trần Đình Châu (2010), Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tốt – học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy
Tác giả: Trần Đình Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
10. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Eran Katz (2010), Bí mật của trí nhớ siêu phàm (bản dịch), Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí mật của trí nhớ siêu phàm
Tác giả: Eran Katz
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2010
12. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, văn Việt, người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ TPHCM
Năm: 2003
13. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
14. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2010
15. Trần Thị Minh Giới (2011), “Giới thiệu một cách dạy phát triển từ vựng qua chủ đề cho học viên nước ngoài”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Việt Nam học và tiếng Việt: các hướng tiếp cận, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu một cách dạy phát triển từ vựng qua chủ đề cho học viên nước ngoài”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Việt Nam học và tiếng Việt: các hướng tiếp cận
Tác giả: Trần Thị Minh Giới
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2011
16. Phan Văn Giưỡng (2013), “Phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai”, Đại hội Hội Giáo tiểu bang Nam Úc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai”
Tác giả: Phan Văn Giưỡng
Năm: 2013
17. Phan Văn Giưỡng (2009), Sổ tay giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai (từ lý thuyết đến thực hành), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai (từ lý thuyết đến thực hành)
Tác giả: Phan Văn Giưỡng
Năm: 2009
18. Glebova I.I (1975), “Mấy suy nghĩ về ranh giới các đơn vị cấp độ hình vị và từ vị trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về ranh giới các đơn vị cấp độ hình vị và từ vị trong tiếng Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Glebova I.I
Năm: 1975
19. Hoàng Văn Hành (1998), Từ tiếng Việt (hình thái – cấu trúc – từ láy – từ ghép – chuyển loại, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tiếng Việt (hình thái – cấu trúc – từ láy – từ ghép – chuyển loại
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1998
20. Nguyễn Thị Hiền (2012), Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm, Đề tài NCKH cấp trường – ĐH NN – ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm