CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1.1. Tổng quan về du lịch. 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động du lịch và các loại hình hoạt động kinh doanh du lịch. 1.1.1.1. Khái niệm du lịch. Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh tế có vai trò quan trọng không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về du lịch vẫn chưa có sự thống nhất. Do quan điểm tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau, có cách hiểu khác nhau về du lịch. có khá nhiều khái niệm du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội. Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ. Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình. Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa khái niệm du lịch, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật,…” Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
Trang 1* Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
* Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ
* Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của
họ
* Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa khái niệm du lịch, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng
và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của
cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài
Trang 2nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): “Du lịch
là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi
cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật,…”
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động du lịch
* Hoạt động du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó, hoạt động du lịch trở thành một ngành kinh tế độc lập Ở các nước phát triển và đang phát triển, tỷ trọng
du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, bởi vậy sản phẩm của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng mà các ngành dịch vụ khác không có
* Hoạt động du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch
Trang 3Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân Dịch vụ du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người
* Việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian
Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ ) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng
* Hoạt động du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa,
xã hội Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc
độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội Do đó, dịch vụ
Trang 4du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch
* Hoạt động du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định
Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội
Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan
hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cũng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải có thời gian Ví dụ,
vụ khủng bố 11/9 tại Mỹ, khủng bố tại đảo Bali - Indonêxia, sự kiện ‘‘đảo chính’’ ở Thái Lan đã làm cho ngành du lịch các nước này lao đao có thể nhiều năm mới phục hồi Mặt khác, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi trường cũng là những nhân tố rất quan trọng tác động đến khách du lịch
1.1.1.3 Các loại hình hoạt động kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là quá trình tổ chức sản xuất, lưu thông, mua, bán hàng hóa du lịch trên thị trường, là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Kinh doanh du lịch bao gồm các loại hình:
- Kinh doanh lữ hành
- Kinh doanh lưu trú du lịch
Trang 5- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch
- Kinh doanh các khu du lịch, điểm du lịch
- Kinh doanh thông tin du lịch
Du lịch thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Trước hết hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành, yêu cầu
về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác (giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ) phát triển Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa Sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác Mặt khác, thị trường du lịch rất rộng lớn với nhu cầu hàng hóa, dịch
vụ rất đa dạng và khả năng thanh toán của khách hàng khá cao Thị trường
du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ như thị trường nội địa, nhưng
ở thị trường này lại có khả năng “xuất khẩu tại chỗ” thu vào ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện việc tái phân chia nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng, miền, địa phương trong nước, tạo ra nhiều việc làm cho người dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển nhanh
1.1.2.2 Ý nghĩa chính trị.
Ý nghĩa chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự
Trang 6hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ đề khác nhau, như "Du lịch là giấy thông hành của hòa bình" (1967), "Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người" (1983) các chủ đề này đã kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.1.2.3 Ý nghĩa văn hóa – xã hội.
Du lịch góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế vùng có hoạt động du lịch và giảm quá trình đô thị hóa Thông thường tài nguyên du lịch tự nhiên có ở các vùng hẻo lánh, xa xôi, vùng ven biển Việc khai thác đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa - xã hội Do vậy mà việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm đi sự chênh lệch
về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời cũng góp phần làm giảm đi sự tập trung dân cư ở những trung tâm dân cư
Trong thời gian đi du lịch, du khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và thường tiếp xúc với dân cư địa phương Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, văn hóa của cả khách và người bản xứ được trao đổi và nâng cao
Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước
Thông qua khai thác hoạt động du lịch bằng nhiều hình thức, du khách được mở rộng tầm mắt, thêm phần lịch thiệp, tăng cường hiểu biết, thoải mái tinh thần, tôi luyện tình cảm Vì vậy hoạt động du lịch góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và tu dưỡng đạo đức cho con người Đồng thời, thông qua việc tham gia hoạt động du lịch còn có thể tăng cường sự hiểu bieys của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất nước, con
Trang 7người, lịch sử, văn hóa xã hội của quốc gia Nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, quê hương được tăng lên và có tinh thần trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường trong mỗi người.
Ngoài ra, việc phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội
1.1.2.3 Ý nghĩa môi trường sinh thái.
Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định lại đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Đến lượt mình, quá trình này kích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh có ý nghĩa không nhỏ đối với khách du lịch Nó tạo điều kiện cho
họ hiểu biết sâu sắc các tri thức về tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên, góp phần giáo dục cho khách du lịch về mặt sinh thái học Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt, xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách du lịch và của việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ
du lịch
1.1.3 Các yếu tố tác động tới hoạt động du lịch
1.1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương.
Trang 8Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương như địa hình, rừng, biển, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực vật, động vật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành các trung tâm, khu, điểm đến du lịch và tính bền vững của các sản phẩm du lịch
Thực tiễn cho thấy, một quốc gia, một vùng, một địa phương nếu có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, có khí hậu ấm áp, có rừng, biển, động vật, thực vật phong phú… cộng với nằm ở vị trí có hệ thống giao thông thuận lợi thì ở nơi đó chắc chắn sẽ có sức hấp dẫn lớn thu hút khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu Đồng thời, nơi đó cũng sẽ có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các đối tượng khác nhau góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động du lịch phát triển
1.1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia, một vùng, một địa phương
- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế:
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém Để giải quyết nhu cầu ăn, ở, đi lại nghỉ ngơi du lịch của con người, những cái thiết yếu nhất đối với khách du lịch như mạng lưới đường giao thông, phương tiện giao thông, khách sạn, nhà hàng khó có thể trông cậy vào một nền kinh tế yếu kém
Ngoài ra, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế, cuộc các mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ là nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch Cuộc cách mạng này đã khuấy động mọi ngành sản xuất, đem lại năng suất lao động và hiệu quả cao Đó là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả
Trang 9năng thực tế tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước phát triển nhanh và bền vững
- Dân cư và lao động:
Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số lượng lao động và học sinh tăng lên sẽ làm gia tăng nhu cầu tham gia vào các loại hình du lịch khác nhau Số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất và dịch
vụ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế du lịch Số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc, sự phân bố và mật độ dân cư
có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch
- Điều kiện sống của dân cư:
Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch
Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa, giáo dục
Đồng thời, du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ nhất định Một trong những nhân tố then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Không có mức thu nhập (cả cá nhân và xã hội) cao thì khó có thể nghĩ đến việc nghỉ ngơi du lịch
Cùng với việc tăng mức thu nhập thực tế, các điều kiện sống khác cũng phải liên tục được cải thiện Các phương tiện đi lại của cá nhân tăng lên góp phần phát triển rộng rãi hoạt động du lịch Nhìn chung, ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao tính bình quân theo đầu người, nhu cầu và hoạt động du lịch trên thực tế phát triển mạnh mẽ nhất
- Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch:
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch được hình
Trang 10thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội dưới tác động của các yếu
tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau
- Thời gian rỗi:
Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Nó thật sự trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch
Thời gian rỗi (tự do) là thời gian cần thiết cho con người để nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thành các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè, vui chơi giải trí… Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người
Một cách đầy đủ nhất, có thể hiểu thời gian rỗi là thời gian cần thiết cho việc hồi phục sức lực của con người đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm nào đấy trong điều kiện bình thường của sản xuất… và cả thời gian cần thiết cho việc phục hồi mở rộng để đảm bảo tiếp tục nâng cao năng suất lao động Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian rỗi là giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ
1.1.3.3 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch
Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn (văn hóa) có thể sử
Trang 11dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa - lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Xét về cơ cấu, tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
Các tài nguyên thiên nhiên gồm: địa hình, khí hậu, suối nước khoáng, biển, sông, hồ, thực vật, động vật, rừng, núi, Tài nguyên nhân văn: các tượng đài kiến trúc, công trình văn hóa (viện bảo tàng, triển lãm trưng bày nghệ thuật, nhà hát, thư viện ), các di tích văn hóa, lịch sử, các loại hình văn hóa phi vật thể (lễ hội, âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật, ) Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác thường có sức hút lớn đối với khách du lịch
và chúng có ý nghĩa quan trọng đến chiến lược phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương
1.1.3.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
Kết cấu hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh kết cấu hạ tầng Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì kết cấu hạ tầng mới được đẩy mạnh và trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mặt khác, các hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước cũng là một phần quan trọng không thể thiếu trong kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch
Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch gồm: tất cả các trang thiết bị kỹ thuật cần thiết để đón tiếp và phục vụ khách du lịch về lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung khác Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch cũng rất quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch
Trang 12cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch
Nhìn chung, một quốc gia, một vùng, một địa phương sẽ không khai thác được tiềm năng phát triển du lịch nếu như không có điều kiện về kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch thuận lợi
1.1.3.5 Yếu tố thị trường
Thị trường là một phạm trù của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa, trong đó phản ánh toàn bộ quan hệ giữa cung - cầu và các mối quan hệ như thông tin kinh tế, kỹ thuật, nảy sinh từ các mối quan hệ đó
Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch Các mối quan hệ và cơ chế kinh tế này được hình thành trên cơ sở yêu cầu của các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa, tồn tại trong các hình thái kinh tế
- xã hội nhất định
Ngày nay, thị trường du lịch đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, phát triển năng động với tốc độ nhanh, hội tụ các yếu tố văn minh của nhân loại Do đó, thị trường du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế du lịch Thực tế cho thấy các quốc gia phát triển là các quốc gia có nền công nghiệp du lịch phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu nền kinh tế quốc dân hợp lý và hiện đại
1.1.3.6 Yếu tố quản lý nhà nước
Quá trình phát triển hoạt động du lịch chịu sự tác động của quy luật khách quan trong nền sản xuất xã hội Song, hoạt động du lịch không thể thiếu vắng sự quản lý của nhà nước Bởi vì, nhà nước là chủ thể đặc biệt trong các mối quan hệ xã hội, đảm bảo cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo hướng ngày một tự do, bình đẳng hơn Để đảm bảo cho việc tìm kiếm, hưởng thụ, bảo vệ và tái tạo những tài nguyên du lịch, nhà nước phải điều phối các thành viên, các nhóm xã hội khác nhau để họ thực hiện
Trang 13quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hoạt động du lịch với tư cách là một chủ thể (người bán, người mua và người trung gian)
Ngoài ra, bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch Thực tiễn cho thấy, nếu một quốc gia, một vùng, một địa phương nào đó xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý có chuyên môn nghiệp vụ về du lịch, có trình độ ngoại ngữ tốt, am hiểu luật pháp quốc tế về du lịch, sử dụng thành thạo các thiết
bị thông tin, điện tử cộng với tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch thống nhất, đồng bộ thì sẽ thúc đẩy du lịch phát triển nhanh Ngược lại, sẽ làm cho du lịch chậm phát triển, thậm chí không phát triển và sử dụng lãng phí tài nguyên du lịch
1.1.3.7 Các bên tham gia hoạt động du lịch
Các bên tham gia hoạt động du lịch bao gồm: khách du lịch; tổ chức,
cá nhân kinh doanh du lịch; cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch Các bên tham gia hoạt động du lịch có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời nhau và là một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Muốn hoạt động du lịch phát triển, thì quốc gia đó, địa phương đó phải tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia cùng phát triển, không xem nhẹ bên nào
1.2 Quản lý nhà nước về du lịch
1.2.1 Quan niệm và đặc điểm của quản lí nhà nước đối với hoạt động du lịch trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1.1 Quan niệm về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước để duy trì và phát triển Việc thành công hay thất bại của ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào khung khổ pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước Do vậy, vấn đề quản
lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là một vấn đế cần thiết được đặt lên
Trang 14hàng đầu Hơn nữa du lịch ở Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển, còn gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn do vậy rất cần có sự định hướng của Nhà nước để du lịch phát triển Có thế kết luận rằng hoạt động du lịch trong nền kinh tế thị trường cần phải có sự quản lý của Nhà nước bởi vì:
- Do những khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị trường gây nên Mặt khác, do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung, cũng như đối với ngành kinh tế du lịch nói riêng trong từng thời kỳ Nhà nước điều tiết, can thiệp vào các quan hệ du lịch nhằm đảm bảo sự ổn định thị trường, giá cả và sự phát triển bền vững của ngành
- Quản lý nhà nước về hoạt động du lịch tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động du lịch Đồng thời, chỉ có sự quản lý thống nhất của Nhà nước về hoạt động du lịch mới giúp cho việc khai thác các thế mạnh của từng vùng, từng địa phương đạt kết quả, hơn nữa lại phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế
- Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác Do vậy, cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hòa mối quan hệ giữa du lịch với các ngành, các lĩnh vực có liên quan
1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch diễn ra trong nền kinh tế thị trường Hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành Chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà nước - vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức hoạt động du lịch Để hoàn thành sứ mệnh của mình, Nhà nước phải
đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý hoạt động du lịch
Trang 15Hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển du lịch là cơ sở, là những công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động du lịch Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp với sự đa dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động Sự quản lý của Nhà nước bảo đảm cho hoạt động du lịch có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng và có tính định hướng rõ rệt Do đó, Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và dùng các công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch
Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy Nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có trình độ, năng lực thật sự Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển Để thực hiện tốt điều này thì tổ chức
bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ trung ương đến địa phương
Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý Hoạt động du lịch với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi lượng khách du lịch tăng cao Trong bối cảnh đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ
và luật pháp quốc tế
1.2.2 Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong nền kinh tế thị trường
1.2.2.1 Vai trò định hướng
Trang 16Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động
du lịch, bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch, phân tích và xây dựng các chính sách du lịch, quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống luật pháp có liên quan tới du lịch, xác lập các chương trình, dự án cụ thể hóa chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế, thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch
1.2.2.2 Vai trò tổ chức và phối hợp
Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý
về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước, nhằm đưa chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển; từ
đó hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý du lịch của trung ương, tỉnh (thành phố), và quận (huyện, thị xã)
Nhà nước tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, bảo
vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động du lịch
1.2.2.3 Vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường
Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng, khuyến khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền Để thực hiện chức năng này, một mặt Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra, mặt khác Nhà nước
Trang 17phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh
tế vĩ mô Trong hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta hiện nay, cạnh tranh chưa bình đẳng, không lành mạnh là một trong những vấn đề gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển ngành Do vậy, vai trò điều tiết của Nhà nước đặc biệt quan trọng
1.2.2.4 Vai trò giám sát
Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về các mặt đăng ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế ), cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động du lịch Đồng thời, Nhà nước phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật
và, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước về hoạt động du lịch Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý du lịch của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về hoạt động du lịch
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu để tự
nó phát triển, để thị trường tự phát phát triển, buông lỏng quản lý của Nhà nước, không có sự thống nhất các yếu tố liên ngành, liên vùng, hoạt động
du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững Nhiều vấn
đề như quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, trật tự an toàn xã hội, liên kết hội nhập, những thỏa thuận đa phương hoặc song phương về tạo điều kiện đi lại cho du khách,… nếu không có vai trò của Nhà nước không thể giải quyết được
Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển
mà xác định nội dung quản lý nhà nước về du lịch phù hợp Đồng thời,
Trang 18nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn được quy định bằng pháp luật, nó mang tính pháp lý chặt chẽ buộc các cấp chính quyền
và các doanh nghiệp phải tuân thủ
Để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước về du lịch có các nội dung chủ yếu sau:
1.2.3.1 Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Nhà nước liên quan đến hoạt động du lịch và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch mang tính đặc thù của địa phương thuộc thẩm quyền.
Để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp tỉnh phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tín dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh du lịch
Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh Thực
Trang 19hiện chuẩn hóa các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện
Mặt khác, hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch
là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch Vì vậy, chính quyền cấp tỉnh cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch tại các khu, điểm du lịch như: mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ trong việc tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch
Ngoài ra, chính quyền cấp tỉnh cần phải đảm bảo bình ổn giá cả tiêu dùng và thị trường du lịch, có chính sách điều tiết thu nhập hợp lý và hướng các doanh nghiệp du lịch tham gia thực hiện các chính sách xã hội
ở địa phương Để thực hiện điều này, chính quyền cấp tỉnh phải sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý nhằm hạn chế tình trạng nâng giá, độc quyền trong hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương Du lịch là khâu đột phá kích thích sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực và cũng là lĩnh vực tạo ra lợi nhuận cao Vì vậy, phải có chính sách hợp lý để hướng các doanh nghiệp sử dụng nguồn lợi nhuận thu được tiếp tục đầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững, khai thác hợp lý tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa có tiềm năng phát triển du lịch để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sở tại
1.2.3.2 Xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch
ở địa bàn để giúp các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch định hướng phát triển
Xây dựng và công khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn của chính quyền cấp tỉnh Nó
Trang 20giúp cho các cá nhân, tổ chức (nhà đầu tư) an tâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du lịch
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn
vị kinh doanh là lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch, hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ Vì thế, chính quyền cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
du lịch của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả nước Đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mới có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển chung của địa phương
1.2.3.3 Thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực du lịch do địa phương quản lý
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, vai trò của kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng trong việc chi phối hoạt động của thị trường, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác đã được thực tế khẳng định và nó càng trở nên quan trọng Cùng với việc sử dụng và phát huy khả năng điều tiết, chi phối của kinh tế nhà nước, chính quyền cấp tỉnh cần phải quan tâm đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Trước hết phải hoàn thành lộ trình đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực du lịch do địa phương quản lý, theo hướng từng
Trang 21bước trở thành các doanh nghiệp kinh doanh hiện đại, có sự liên kết với mạng lưới các hộ kinh doanh cá thể, có khả năng mở rộng các hoạt động
du lịch liên vùng, khu vực và kinh doanh lữ hành quốc tế Mặt khác, cần
có chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp du lịch nhà nước với nhiều hình thức như đầu tư vốn thông qua góp vốn cổ phần của các công ty nhà nước, tăng cường cán bộ có năng lực, hỗ trợ một phần kinh phí quảng bá thương hiệu, xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch và đào các bộ quản lý,
1.2.3.4 Tạo lập sự gắn kết liên ngành, liên vùng, liên quốc gia trong hoạt động du lịch; giữa địa phương và Trung ương trong quản lý nhà nước về du lịch
Nâng cao tính liên kết là một điều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên ngành, liên vùng, liên quốc gia Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ tạo nên một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi, công bằng Để đạt được điều này, một mặt, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ, liên hệ mật thiết với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật
về du lịch; thực hiện nguyên tắc và các cơ chế, chính sách phát triển du lịch của quốc gia nói chung và ở địa phương nói riêng nhằm đảm bảo đạt hiệu lực, hiệu quả
Mặt khác, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt việc cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới về du lịch, tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý nhà nước và cán
bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họ hiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụ của Nhà nước và của doanh nghiệp theo luật pháp quốc tế và điều kiện của Tổ chức thương mại thế giới Chính quyền cấp tỉnh cần phải trở thành trung tâm gắn kết giữa các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn với thị trường liên
Trang 22vùng, khu vực và trên thế giới, nhất là với các trung tâm kinh tế lớn Một mặt, chính quyền cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ tham gia hợp tác quốc tế về
du lịch theo quy định của pháp luật, góp phần đẩy mạnh liên kết và hội nhập dịch vụ du lịch với các nước trong khu vực và quốc tế
Ngoài ra, cần chủ động làm "đầu nối" thông qua việc tổ chức và thiết lập các điểm thông tin, lựa chọn và công bố các địa chỉ giao dịch của các
cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có uy tín đang hoạt động tại các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới nhằm giúp các doanh nghiệp có những thông tin cần thiết để có thể lựa chọn đối tác liên doanh, liên kết Đồng thời, cũng cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, xúc tiến quảng
bá du lịch của địa phương thông qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tổ chức các đoàn công tác kết hợp tham quan trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trong nước hoặc nước ngoài
1.2.3.5 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch
Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Bởi vì, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng của nguồn nhân lực Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 231.2.4.6 Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động du lịch và xử
lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương Do đó, chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành
vi tiêu cực có thể xảy ra
Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh
về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng
ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, ; đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước và những bài học rút ra cho tỉnh Đắk Lắk
Dưới tác động của công cuộc đổi mới và sự quan tâm chỉ đạo của Nhà nước đối với hoạt động du lịch thời gian qua, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có nhiều cố gắng, nỗ lực hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn nhằm khai thác đạt hiệu quả cao nhất tiềm năng và thế mạnh trong phát triển du lịch của địa phương mình, nhất là các tỉnh, thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Bình, Lâm Đồng Tuy nhiên, luận văn chỉ nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của thành phố Cần Thơ (là trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long, tương đồng với Đắk Lắk đang phát triển thành trung tâm kinh tế - văn hóa của
Trang 24vùng Tây Nguyên) và tỉnh Lâm Đồng (là tỉnh phát triển về du lịch thuộc vùng Tây Nguyên)
1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới sông ngòi kênh rạch Cần Thơ tiếp giáp với 5 tỉnh: phía bắc giáp An Giang và đông bắc giáp Đồng Tháp, phía nam giáp Hậu Giang, phía tây giáp Kiên Giang, phía đông giáp Vĩnh Long Cần Thơ có nhiều hệ thống sông ngòi kênh rạch như sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Thốt Nốt, rạch Ô Môn Thành phố Cần Thơ có 3 bến cảng có thể tiếp nhận tàu trên 10.000 tấn phục vụ cho việc xếp nhận hàng hóa dễ dàng Địa danh Cần Thơ có xuất xứ từ tên “cầm thi giang” (sông thơ, đàn) cho thấy đây là vùng văn hoá sông nước Con sông gắn liền với mọi hoạt động kinh tế, văn hoá cư dân Nét độc đáo tự nhiên và kiến trúc đô thị của Cần Thơ là mạng lưới kênh rạch Kênh rạch cũng là "đường phố", nó mang vẻ đẹp cho một đô thị lớn từng được mệnh danh là Tây Đô Cần Thơ lại có vẻ đẹp bình dị nên thơ của làng quê sông nước, dân cư tập trung đông đúc, làng xóm trù phú núp dưới bóng dừa Cần Thơ nổi tiếng với bến Ninh Kiều, vườn cò Bằng Lăng Đã từ lâu, nơi đây là trung tâm kinh tế - văn hoá của các tỉnh miền Tây Nam Bộ
Ngoài đặc trưng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ được ví như “đô thị miền sông nước” Cần Thơ có hệ thống sông ngòi chằng chịt, vườn cây ăn trái bạt ngàn, đồng ruộng mênh mông Các cù lao như: Tân Lộc, cồn Sơn, cồn Khương, cồn Âu trên sông Hậu hết sức độc đáo để phát triển loại hình du lịch sông nước
Với tiềm năng và lợi thế sẵn có, thành phố Cần Thơ đã xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng được ưu tiên phát triển Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của thành phố Cần Thơ đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch
Trang 25trên địa bàn, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật, doanh thu, số lượng du khách, năm sau luôn tăng hơn năm trước
Để đạt được những kết quả tích cực nói trên về phát triển du lịch, thành phố Cần Thơ đã thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước chủ yếu sau: xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển du lịch (thành phố Cần Thơ đã thu hút được nhiều dự án đầu tư phát triển các khu du lịch, đã hình thành được nhiều khu, điểm du lịch mới tạo thành chuỗi các điểm du lịch thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng ); bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch cho từng giai đoạn phù hợp với xu thế phát triển chung hiện nay và những năm tiếp theo, đó là coi du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long và du lịch văn hóa là hướng đột phá trong chiến lược phát triển du lịch của thành phố; tập trung đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, tăng cường việc liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; ưu tiên hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước nói chung và cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu mới
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng là vùng đất Nam Tây Nguyên, nằm ở độ cao trung bình từ
800 - 1000m so với mặt nước biển Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên và
là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông suối lớn
Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của Lâm Đồng khá phát triển Ngoài hệ thống đường bộ liên vùng, cảng hàng không Liên Khương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 30 km đang được nâng cấp thành sân bay quốc tế
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch như bưu chính viễn thông, ngân hàng, hệ thống giao thông và các dịch vụ y tế, bảo hiểm,…tương đối phát triển
Trang 26Thành phố Đà Lạt đã gần 120 năm tuổi (phát hiện 1893), đang trở thành một trong những địa danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước, một thành phố nghỉ mát lâu đời ở nước ta Đà Lạt nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông Những hồ đẹp ở Đà Lạt là hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Vạn Kiếp, hồ Mê Linh Những hồ này nằm ngay trong thành phố, tên thơ mộng như cảnh hồ thơ mộng, mỗi hồ gắn với một truyền thuyết xa xưa
Du khách đến Đà Lạt vừa thăm viếng, vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt bao gồm nhiều loại trái cây như hồng, mận, đào, bơ; nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu niệm của riêng vùng Đà Lạt Vẻ đẹp của Đà Lạt còn được ngợi ca nhiều và hấp dẫn du khách bởi hàng trăm, ngàn loại hoa, loại phong lan độc đáo, hoặc được sản sinh riêng trên mảnh đất này, hoặc lấy giống từ nhiều nơi như: Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Italy, như hoa hồng, hoa bất tử, hoa
đỗ quyên, hoa xác pháo, hoa tư tưởng, hoa trà mi, mi mô za, mai anh đào, thủy tiên trắng
Những địa danh thu hút khách của Đà Lạt là Đồi Cù, Hồ Xuân Hương,
Hồ Suối Vàng, Công viên hoa Đà Lạt và các điểm tham quan du lịch khác như Đỉnh Lang Biang, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly, Thác Datanla, Thác Hang Cọp, Thác Prenn, Thác Pongour, Thung lũng Tình Yêu, Đồi Mộng
Mơ, Thung Lũng Vàng (gần Hồ Dan Kia), Hồ Tuyền Lâm, Khu Biệt thự Trần Lệ Xuân … đều là những điểm đến đầy ấn tượng đối với du khách Các chương trình du lịch được ưa thích ở Đà Lạt gồm tour dã ngoại, thể thao như tham gia các hoạt động ngoài trời: picnic, cắm trại, câu cá, leo núi, tham gia các hoạt động thể thao… cho các đối tượng là sinh viên, học sinh, chinh phục đỉnh Langbiang, tour mạo hiểm, thể thao, các hoạt động câu cá, chèo thuyền, cắm trại; tour du lịch sinh thái, nghiên cứu chuyên đề tour săn bắn thể thao; tour văn hóa, lễ hội như tham quan, tìm hiểu tập quán văn hóa, sinh hoạt lễ hội của cộng đồng các dân tộc ít người
Trang 27cư trú trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Tham dự lễ hội đâm trâu, biểu diễn cồng chiêng, ca nhạc dân tộc, tham quan làng Gà - K’long tìm hiểu về nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc K’ho, tham quan, tìm hiểu tập tục, tập quán canh tác, cư trú của dân tộc Chil tại làng dân tộc Darahoa, tham quan làng nghề thêu tay truyền thống tại Đà Lạt Sử Quán…
Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng có mức tăng trưởng khá cao, doanh thu từ du lịch cũng cao nhất so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên Hoạt động du lịch lữ hành có nhiều tiến bộ, đáp ứng nhu cầu đi
du lịch trong và ngoài nước của nhân dân trên địa bàn và khách du lịch nước ngoài Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch cũng đã được cải thiện cả về
số lượng và chất lượng, bước đầu đáp ứng yêu cầu của du khách
Cùng với sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật ngành, các lĩnh vực kết cấu hạ tầng của tỉnh như giao thông, điện, thông tin liên lạc phát triển khá nhanh, một số hạ tầng cơ sở du lịch đang được đầu tư xây dựng đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách và bước đầu đã tạo được sự quan tâm của các nhà đầu tư phát triển du lịch, mở ra triển vọng mới về xã hội hóa du lịch
Các loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh đã tạo được sự hấp dẫn khách
du lịch, đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng; công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, giới thiệu về một địa danh du lịch với nét đặc trưng mới (Festival hoa) hàng năm, đã tạo được ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách về một
Đà Lạt đang từng ngày đổi mới để làm hài lòng du khách
Đội ngũ lao động dồi dào, từng bước được chuẩn hóa và bổ sung kịp thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch được quan tâm
tổ chức thường xuyên để đáp ứng yêu cầu phát triển cho từng thời kỳ Hình thức đào tạo, bồi dưỡng đa dạng đã góp phần bổ sung kịp thời nguồn nhân lực lao động du lịch địa phương
Công tác quản lý nhà nước về du lịch có nhiều tiến bộ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân
Trang 28tỉnh thực hiện nhiều công việc liên quan đến công tác quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Xây dựng và triển khai quy hoạch,
kế hoạch, chương trình phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã được phê duyệt Thực hiện
có hiệu quả công tác phòng chống các tệ nạn xã hội trên địa bàn, công tác quản lý chuyên ngành từng bước đi vào nề nếp, tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển
Để đạt được những thành quả trên, thời gian qua Lâm Đồng đã chú trọng thực hiện những giải pháp sau:
Một là, kiện toàn công tác tổ chức của ngành, sắp xếp, luân chuyển cán bộ công chức của Sở và của các doanh nghiệp theo phân cấp quản lý chuyên ngành đủ mạnh để phát huy sức mạnh toàn ngành đưa hoạt động
du lịch phát triển
Hai là, phát huy vai trò quản lý nhà nước về hoạt động du lịch đối với tất cả các đối tượng, thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh dịch vụ và dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn tỉnh; ngành du lịch tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành để tạo sự chuyển biến đồng bộ trong hoạt động du lịch Tiếp tục cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch theo cơ chế một cửa Phối hợp với các ngành chức năng tăng cường phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho du khách và bảo vệ môi trường du lịch trên địa bàn Sắp xếp ổn định bộ máy theo hướng tinh gọn, đẩy mạnh tin học hóa trong hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp du lịch, tạo sự gắn bó, hợp tác vì mục tiêu phát triển du lịch Phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch tỉnh và Hiệp hội du lịch tỉnh Lâm Đồng
Ba là, tổ chức lấy ý kiến đông đảo công chức trong ngành và nhân dân trên địa bàn để xây dựng hình ảnh, biểu tượng của du lịch Lâm Đồng
Trang 29Bốn là, đầu tư xây dựng một số quy hoạch chi tiết ở các khu du lịch trọng điểm để làm cơ sở cho việc đầu tư và kêu gọi đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
Năm là, tăng cường phối hợp liên ngành và liên vùng (đặc biệt với Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ) trong việc thực hiện quy hoạch, quản lý ngành, xúc tiến quảng bá du lịch và bảo vệ môi trường
1.3.3 Bài học rút ra cho tỉnh Đắk Lắk
Từ kinh nghiệm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở các địa phương nêu trên, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Đắk Lắk như sau:
Một là, phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho thời gian dài, hợp lý; có chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng thúc đẩy du lịch phát triển
Ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung và vùng Tây Nguyên nói riêng, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế -
xã hội của địa phương phát triển Các tỉnh, thành phố này đều có quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch và các chính sách nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển du lịch Quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch và các chính sách phát triển du lịch được xây dựng rất đồng bộ, thống nhất và có các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn phát triển Đồng thời, các tỉnh, thành phố này cũng rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ spr vật chất – kỹ thuật du lịch
Hai là, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách Xã hội càng văn minh, nhu cầu của khách du lịch càng phong phú, đa dạng Vì vậy, việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách là một tất yếu cần được thực hiện tốt
Trang 30Ba là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch Mục đích của tuyên truyền, xúc tiến trong kinh doanh du lịch là nhằm giới thiệu, hình thành và định hướng nhu cầu của du khách đối với các sản phẩm du lịch của địa phương Để làm tốt công tác này, cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, ngân sách về tuyên truyền, quảng bá du lịch càng tăng thì hiệu quả của nó đem lại ngày càng lớn Có thể nói, làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch là một trong những kinh nghiệm quan trọng đưa du lịch phát triển
Bốn là, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp với nhau để phát triển du lịch Trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới, ngành du lịch phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt Do vậy, liên kết, hợp tác trong du lịch giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp du lịch với nhau để cùng phát triển trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Việc liên kết, hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các tua, tuyến du lịch và trong việc thực hiện xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch,
để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch ngày càng cao
Sáu là, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động du lịch, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch Việc phát triển du lịch đang đặt ra ngày càng nhiều vấn đề
Trang 31không thể xem nhẹ, chẳng hạn, tình trạng gây tổn hại về môi trường, tài nguyên du lịch thiên nhiên, thậm chí là xâm phạm cả vào các công trình văn hóa, lịch sử và kéo theo sự phát triển của một số tệ nạn xã hội hoặc tình trạng cố tình vi phạm pháp luật của một số tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch Điều đó cho thấy, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh du lịch, đồng thời làm tốt việc bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Khái quát về sự phát triển du lịch ở Đắk Lắk
2.1.1 Điều kiện, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Đắk Lắk tác động đến hoạt động du lịch
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch
* Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý: Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 1.306.201 ha, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp Lâm Đồng và Bình Phước; phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km Độ cao trung bình 400 – 800m so với mặt nước biển Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, có quốc lộ 14 chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với thành phố
Hồ Chí Minh qua Bình Phước và Bình Dương
Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc
Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng Vùng phía Tây Bắc
có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá
Tài nguyên thiên nhiên
Trang 33- Tài nguyên đất: Toàn tỉnh có 8 nhóm đất, trong đó có 2 nhóm chiếm ưu thế cả về diện tích và ý nghĩa sử dụng là nhóm đất xám chiếm 1.069.637 ha, bằng 54,57% diện tích tự nhiên và nhóm đất đỏ 723.077 ha, bằng 36,52% Chất lượng của các loại đất chủ yếu đều thích hợp cho phát triển cây công nghiệp có giá trị như: cà phê, cao su, hồ tiêu cho năng suất cao và chất lượng tốt.
- Tài nguyên rừng: Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn
- Tài nguyên khoáng sản: Đắk Lắk có nhiều loại khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là: sét cao lanh với trữ lượng ước tính khoảng 60 triệu tấn, phân bố ở M’Đrắk, Buôn Ma Thuột; sét gạch ngói với trữ lượng ước tính trên 50 triệu tấn, phân bố ở Krông Ana, M’Đrăk, Buôn Ma Thuột, Cư Jút và nhiều nơi trong tỉnh Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như Vàng (Ea Kar), chì (Ea H’leo), phốt pho (Buôn Đôn), than bùn (Cuôr Đăng), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng… có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh
Nguồn nước: Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, nhưng do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô Đáng chú ý là sông Sêrêpôk với 2 nhánh sông chính là sông Krông Ana
và Krông Nô, sông Krông H’năng và sông Đồng Nai Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea sô…
* Tài nguyên du lịch.
Đắk Lắk hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên (rừng núi, sông hồ, thác ghềnh,…) và văn hóa (lễ hội, phong tục tập quán, nghề truyền thống, di
Trang 34tích lịch sử văn hóa,…) Vì vậy tài nguyên du lịch nơi đây hết sức phong phú, đa dạng và hấp dẫn, bao gồm:
- Các giá trị văn hóa từ Di sản thế giới không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời Chủ nhân của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Mặc dù không tự đúc được cồng chiêng nhưng với đôi tay và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã thổi hồn và tiếp thêm sức sống cho cồng chiêng Tây Nguyên để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và tiếng lòng người Tây Nguyên, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên.Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với chủ thể gồm nhiều dân tộc khác nhau: Ê Đê, M’Nông, Ba Na, Mạ, Lạch,…Những giá trị văn hóa chính của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, lễ cúng Bến nước,…) và những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,…) Tất cả đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 25 tháng 11 năm 2005.Đối với du lịch, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đặc biệt có giá trị cao, được xây dựng thành những sản phẩm hấp dẫn khách
du lịch như các tour tham quan văn hóa, tham dự lễ hội cồng chiêng, các sản phẩm lưu niệm,…
- Cà phê – sản vật nông nghiệp nổi bật nhất của Đắk Lắk
Thổ nhưỡng đất đỏ bazan cùng chế độ nhiệt ngày và đêm có biên độ lớn, khí hậu mỗi năm hai mùa đã tạo nên một trong những sản vật đặc hữu
Trang 35của Đắk Lắk đó là cà phê Cà phê Đắk Lắk (Buôn Ma Thuột) từ lâu được biết đến không chỉ ở Việt Nam mà đã thành thương hiệu nổi tiếng trên toàn thế giới Không chỉ là thức uống, cà thê xét dưới góc độ văn hóa còn
là sự kết tinh của một nền nông nghiệp được hình thành lâu đời gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Đắk Lắk
Trên phương diện du lịch, cà phê có khả năng tạo thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn như: tham quan các trang trại cà phê, tham quan quá trình sản xuất cà phê, homstay trong vùng trồng cà phê, các sản phẩm lưu niệm từ cà phê (tranh bằng hạt cà phê, điêu khắc trên hạt cà phê, gỗ lũa từ thân cây cà phê,…) và lễ hội cà phê
- Voi – loài vật biểu tượng của Đắk Lắk
Nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng ở Bản Đôn đã hình thành từ lâu, kèm theo đó là cả một hệ thống tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa có liên quan đến voi Voi không chỉ là loài vật đơn thuần mà còn là biểu tượng gắn với những truyền thuyết, những sự tích anh hùng của người dân thượng ngàn Tây Nguyên Các sản phẩm du lịch gắn với voi đang được khai thác bao gồm: tham quan rừng và các khu sinh thái tự nhiên bằng voi, các lễ hội văn hóa liên quan đến voi, biểu diễn nghệ thuật đường phố
có sự tham gia của voi,…
- Tài nguyên du lịch sinh thái
Đắk Lắk có hệ thống sông suối phong phú mà tiêu biểu là sông Sêrêpôk với hai nhánh chính Krông Ana và Krông Nô chảy ngược từ Tây sang Đông, qua địa phận Đắk Lắk hàng trăm ki-lô-mét trên địa hình chia cắt mạnh, chênh lệch độ cao lớn đã hình thành những thác ghềnh ngoạn mục, có những nơi lòng hẹp dốc lớn, cột nước òa vỡ tạo âm thanh ầm ầm hùng vĩ (thác Đray Sáp thượng, thác Đray Hling, thác Đray Nur, thác Ba Tầng,…), có nơi lòng suối trải rộng, len nhiều nhánh tạo nên dòng chảy trải dài hàng trăm mét trên các ghềnh đá lớn êm ả nhẹ nhàng (thác Thủy Tiên, thác Bảy Nhánh,…) Tất cả đều ẩn mình trong những cánh rừng
Trang 36nguyên sinh tạo nên khung cảnh vừa dữ dội mạnh mẽ lại vừa kì bí thơ mộng.
Ở Đắk Lắk, hệ sinh thái hồ ngoài mục đích tưới tiêu, làm thủy điện, điều hòa dòng chảy,… còn là nơi khai thác du lịch với các loại hình như tham quan, vãn cảnh, thể thao giải trí trên nước như hồ Lắk, hồ Ea Kao,
hồ Ea Chư Cáp, hồ Ea Đờn,… Một số hồ lớn có các tiểu đảo như hồ Buôn Jông, hồ Ea Suop thượng, hồ Chư Minh,… là nơi có thể khai thác sản phẩm du lịch hồ - đảo rất sinh động và hấp dẫn Ngoài ra hồ Lắk còn là một biểu hiện của sự đa dạng về tài nguyên tự nhiên với hệ sinh thái đất ngập nước nằm trên cao nguyên Tuy thủy vực không lớn như các vùng ngập nước khác ở đồng bằng nhưng nơi đây là vùng dân cư lâu đời, có những đặc điểm riêng về sinh cảnh tạo nên một sắc thái riêng biệt trong khu vực Tây Nguyên
Rừng Đắk Lắk được phần lớn được phân bố đều ở các huyện trong tỉnh, phong phú và đa dạng, có giá trị phòng hộ cao Rừng ngoài vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai,…còn là nơi mang nhiều bí ẩn cho khám phá, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái với nhiều loại động thực vật quý hiếm
Hệ thống di tích lịch sử văn hóa của Đắk Lắk bao gồm hệ thống di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của người tiền sử như di chỉ ở Drai Si (huyện Cư M’Gar), xã Ea Tiêu, xã Quảng Điền (huyện Krông Ana), xã Buôn Triết, hồ Lắk (huyện Lắk),… và những dấu tích của người Chăm để lại với tháp Yang Prong (thần vĩ đại) ở xã Ea Rốk (huyện Ea Súp) – là tháp Chăm cổ duy nhất còn lại ở Tây Nguyên, khu mộ cổ thuộc địa phận
xã Ea Ktur và xã Cư Ewy (huyện Cư Kuin), giếng Chăm ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hòa Thành (huyện Krông Bông)
Hệ thống di tích lịch sử cách mạng ở Đắk Lắk gồm hàng chục di tích gắn với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhu nhà đày Buôn
Trang 37Ma Thuột, đình Lạc Giao, hàng đá Đắk Tuar, đồn điền Ca Đa, biệt điện Bảo Đại,…
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế
Trong thời gian qua, kinh tế Đắk Lắk đã đạt được những thành tựu đáng kể với tốc độ tăng trưởng cao, bước đầu phát huy được các thế mạnh
về cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây lâm nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản; dịch vụ du lịch,…; xây dựng kết cấu hạ tầng, mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài; gắn kết phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và củng cố an ninh quốc phòng
Giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng trưởng GDP (giá so sánh) của Đắk Lắk đạt 8,2%/năm, GDP tăng từ 4.879 tỷ VNĐ (năm 2000) lên 7.235
tỷ VNĐ (năm 2005) Giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng GDP (giá
so sánh) cao hơn 1,5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, đạt mức 12,1%/năm GDP từ 7.895 tỷ VNĐ (năm 2006) lên 12.812 tỷ VNĐ (năm 2010) Như vậy, sau 10 năm, GDP năm 2010 của Đắk Lắk đã tăng 2,62 lần so với năm 2000
Xét theo từng ngành, trong toàn giai đoạn 2000 – 2010, công nghiệp – xây dựng là ngành có tốc độ tăng trưởng lớn nhất với 21,93%/năm (giai đoạn 2000 – 2005) và 16,57%/năm (giai đoạn 20006 – 2010) Thương mại – dịch vụ có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai với 15,73%/năm (giai đoạn
2000 – 2005) và 20,52%/năm (giai đoạn 20006 – 2010) Nông – lâm nghiệp có mức tăng trưởng thấp, chỉ đạt 4,62%/năm (giai đoạn 2000 – 2005) và 7,99%/năm (giai đoạn 20006 – 2010) Nguyên nhân là do sự chuyển dịch cơ cấu ngành, thêm vào đó do ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực như hạn hán, dịch bệnh và giá cả các mặt hàng chủ lực như cà phê, cao su,… có năm sụt giảm mạnh
Công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ có sự tăng trưởng với tốc độ cao trong giai đoạn 2000 – 2010 Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế tỉnh Đắk Lắk, nông – lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 49,9%
Trang 38(năm 2010), công nghiệp – xây dựng chỉ chiếm 17,4% (năm 2010) Thương mại – dịch vụ bước đầu khẳng định được vai trò và vị thế của mình khi chiếm tỷ trọng 32,7% (năm 2010).
Nhìn chung, Đắk Lắk về cơ bản vẫn là tỉnh nông nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hiện nay Mặc dù vậy, trong giai đoạn 2000 – 2010, đã có những chuyển biến tích cực theo hướng tăng giá trị và tỷ trọng của các ngành kinh tế quan trọng và đạt hiệu quả cao GDP bình quân năm 2010 (theo giá hiện hành) đạt 14,2 triệu VNĐ/người, tương đương với 663 USD/người (giá so sánh năm 1994)
2.1.1.3 Điều kiện văn hóa - xã hội
Dân số Đắk Lắk năm 2010 là 1.758 ngàn người, tốc độ tăng trưởng dân số bình quân giai đoạn 2000 – 2010 đạt 1,23%/năm Mật độ dân số đạt 134 người/km2 Dân số đô thị chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 22%), còn lại phần lớn là dân số nông thôn Toàn tỉnh có 44 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 72% Phần lớn dân cư của tỉnh là dân di cư
tự do từ nơi khác đến
Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm, củng cố Cán bộ y tế
cơ sở được tăng cường Toàn tỉnh hiện có 191 cơ sở y tế gồm 19 bệnh viện và 172 trạm y tế xã, phường 96% số xã có trạm y tế, 82,8% trạm y tế
xã có bác sĩ và 95,5% số thôn buôn có nhân viên y tế Các chương trình y
tế quốc gia và khám chữa bệnh miễn phí theo chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số,… được triển khai tốt, khống chế không để dịch bệnh có quy mô lớn xảy ra Hoạt động truyền thông phòng chống lao và các loại dịch bệnh xã hội, HIV-AIDS… được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.Các hoạt động văn hóa thể thao ngày càng đa dạng về nội dung và hình thức, hướng vào việc xây dựng nếp sống văn hóa làng xã, văn hóa cộng đồng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Các lễ hội có quy
Trang 39mô địa phương, khu vực và quốc gia được tổ chức thường xuyên đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân Hệ thống nhà sinh hoạt cộng đồng cho các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số được tỉnh quan tâm đầu tư cùng với hệ thống các sân thể thao tại các buôn làng bước đầu
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng đời sống của người dân
Giáo dục, đào tạo có nhiều tiến bộ, phát triển mạnh cả về số lương, quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu học tập của xã hội Số học sinh các cấp học tăng bình quân 0,7%/năm Trên địa bàn có 100% số xã, phường có trường tiểu học, 98,8% số xã, phường có trường trung học cơ sở Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 88% Cơ sở vật chất trường học được đẩy mạnh đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục
2.1.1.4 Tình hình chính trị, quốc phòng - an ninh
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an minh nhân dân được giữ vững Lực lượng vũ trang không ngừng được củng cố và vững mạnh toàn diện, chủ động nắm chắc tình hình và
xử lý tốt các tình huống, không để bị động Công tác đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, đẩy lùi tệ nạn xã hội được tăng cường
Tình hình chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác đối ngoại được thực hiện có hiệu quả Trong những năm qua, cùng với tập trung phát triển kinh tế - xã hội, công tác giáo dục quốc phòng được chú trọng, nhất là bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán
bộ chủ chốt các cấp
Kết hợp tốt phát triển kinh tế - xã hội - đối ngoại với quốc phòng, an ninh, hệ thống các công trình phòng thủ được xây dựng, từng bước đáp ứng nhiệm vụ và tình hình mới Triển khai, thực hiện có hiệu quả phương
án phòng chống gây rối, bạo động, bạo loạn, khủng bố; phương án bảo vệ
an ninh tuyến biên giới; phương án bảo đảm an ninh trật tự và kế hoạch
Trang 40đấu tranh với các đối tượng trọng điểm Qua đó kịp thời phát hiện, đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động xâm nhập, móc nối, tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật
2.1.1.5 Đánh giá chung về điều kiện, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Đắk Lắk đối với hoạt động du lịch trên địa bàn
- Những thuận lợi:
Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia
Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và Đăk Nông) Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai qua quốc lộ 14 sẽ đến trung tâm kinh tế Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Phía đông giáp tỉnh Khánh Hoà qua quốc lộ 26, đây là trung tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời có cảng biển giao thương hàng hoá với nước ngoài Phía nam là các tỉnh Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh qua quốc lộ 14 Đây là trung tâm kinh tế trọng điểm của phía Nam Phía tây là vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu kinh tế Đăk Ruê
Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung sẽ hình thành mạch giao thông rất thuận lợi để phát triển thương mai - dịch vụ Cùng với việc Chính phủ đầu tư tuyến đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu
tư nhằm khai thác lợi thế của tuyến giao thông này Điển hình là việc đầu
tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) và các trục giao thông sẽ hình thành nhánh của con đường xuyên Á bắt đầu từ Côn Minh (Trung