1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỨC KHOẺ SINH sản vị THÀNH NIÊN

33 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 109,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề Trong xu thế hiện nay, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi quốc gia. Vì thế các vấn đề về con người, đặc biệt vấn đề sức khỏe sinh sản rất được coi trọng và quan tâm. Sức khoẻ sinh sản (SKSS) là tình trạng khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó. Hình 1. Trẻ vị thành niên Vị thành niên (VTN) là thời kì chuyển từ trẻ con thành người lớn, được đánh dấu bằng những thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từ đơn giản sang phức tạp. Lứa tuổi VTN theo các nhà chuyên môn về y học thì đây là giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi. Là giai đoạn quan trọng diễn ra trong cuộc đời mỗi người, dấu hiệu chính của tuổi dậy thì ở bạn gái là kinh nguyệt (thường bắt đầu ở tuổi từ 9 đến 14) và ở bạn trai là mộng tinh (thường bắt đầu ở tuổi từ 12 đến 15). Khi đó tâm sinh lý của các em đã phát triển, cơ thể đã hoàn thiện các chức năng cơ bản, bắt đầu có khả năng sinh sản, trong khi hiểu biết, vốn sống, nhận thức chưa hoàn toàn trưởng thành.Đồng thời, tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người, nó bắt đầu xuất hiện từ tuổi dậy thì và là một phần bản năng duy trì nòi giống. Trong tuổi dậy thì, sự phát dục không chỉ khích thích các bạn trẻ quan tâm đến bạn khác giới mà làm cho các bạn trẻ luôn sống trong khát kao, mong đợi muốn biết những điều mới lạ, diệu kì của bạn khác giới. Vì vậy, các bạn trẻ dễ có quan hệ tình dục.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA XÃ HỘI HỌC

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN

ĐỀ TÀI:

DÂN SỐ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN

CHỦ ĐỀ:

SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

Giảng viên : TS Nguyễn Thị Nhường Tác giả : Đinh Thị Phương

Lớp : Xã hội học k31

Trang 2

Hà Nội - 2012 Phần mở đầu

I Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề

Trong xu thế hiện nay, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc

đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi quốc gia Vì thế các vấn đề

về con người, đặc biệt vấn đề sức khỏe sinh sản rất được coi trọng và quan tâm

Sức khoẻ sinh sản (SKSS) là tình trạng khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của

bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy

đó

Hình 1 Trẻ vị thành niên

Vị thành niên (VTN) là thời kì chuyển từ trẻ con thành người lớn, được

Trang 3

xã hội chuyển từ đơn giản sang phức tạp Lứa tuổi VTN theo các nhà chuyên môn về y học thì đây là giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi Là giai đoạn quan trọng diễn ra trong cuộc đời mỗi người, dấu hiệu chính của tuổi dậy thì ở bạn gái là kinh nguyệt (thường bắt đầu ở tuổi từ 9 đến 14) và ở bạn trai là mộng tinh (thường bắt đầu ở tuổi từ 12 đến 15) Khi đó tâm sinh lý của các em đã phát triển, cơ thể đã hoàn thiện các chức năng cơ bản, bắt đầu có khả năng sinh sản, trong khi hiểu biết, vốn sống, nhận thức chưa hoàn toàn trưởng thành.Đồng thời, tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người, nó bắt đầu xuất hiện từ tuổi dậy thì và là một phần bản năng duy trì nòi giống Trong tuổi dậy thì, sự phát dục không chỉ khích thích các bạn trẻ quan tâm đến bạn khác giới mà làm cho các bạn trẻ luôn sống trong khát kao, mong đợi muốn biết những điều mới lạ, diệu kì của bạn khác giới Vì vậy, các bạn trẻ dễ có quan

hệ tình dục

Trong những năm qua, VTN được dành sự quan tâm đặc biệt của xã hội Nhiều hoạt động của toàn xã hội nhằm tác động đến lứa tuổi này như: các chương trình, hội thảo về học tập, sức khoẻ, sinh sản, đời sống tình cảm của các em Tuy nhiên, sự tác động của nhưng hoạt động như đã nêu trên vẫn chưa đạt được hiệu quả sâu sắc và hệ thống Nam nữ VTN đang đứng trước

sự đe doạ và thách thức nhiều mặt nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay: đó

là bệnh tật, sự tổn thương về thể trạng và tinh thần cộng với sự thiếu hiểu biết

về thông tin giới tính, an toàn tình dục và kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) Rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra như: tự tử, mại dâm, ma tuý, tảo hôn, yêu kiểu “trào lưu”, Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội Vấn đề SKSSVTN không chỉ mang tính thời sự mà còn có tầm quan trọng đối với các bạn đang trong tuổi VTN Trong khi đó, vấn đề này ở nước ta là một vấn đề mới và khó, những quan niệm về giới tính, SKSS còn mang nặng tư tưởng ấu trĩ, lạc hậu và rất dè dặt

Vì vậy, việc quan tâm và tìm hiểu về SKSSVTN là điều cần thiết

Trang 4

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề thế giới và Việt Nam

1 Trên thế giới:

Vấn đề giáo dục giới tính(GDGT) nói chung được nhiều nước ở Châu

Âu quan tâm từ rất sớm Có thể nói rằng Thuỵ Điển là quốc gia đầu tiên, là cái nôi nảy sinh nghiên cứu vấn đề này Năm 1921 đã coi tình dục là quyền tự

do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội Họ đã thành lập “Hiệp hội quốc gia tình dục” (1933).Bộ giáo dục Thuỵ Diểnđã quyết định đưa thí điểm GDGT vào nhà trường (năm 1942) và năm 1956 thì chính thức dạy phổ cập trong tất cả các trường từ tiểu học đến trung học

Hầu hết các nước Đông Âu(Đức, Tiệp, Ba Lan, ) Tây Âu, Bắc Âu cũng có những quan điểm xem xét vấn đề GDGT là vấn đề lành mạnh, họ đã tuyên truyền rộng khắp cho mọi người hiểu rõ những quy luật hoạt động của quan hệ tình dục

Ở Châu Á, GDGT được xem là lĩnh vực cấm kị do ảnh hưởng của quan niệm phong kiến về tôn giáo Song dân số gia tăng quá nhanh, chất lượng cuộc sống không được đảm bảo đã khiến các nước này thức tỉnh và nhìn nhận lại vấn đề một cách thích đáng Họ đã thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và

sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ xã hội

Tại hội nghị ICPD(Internation Conference on Population Development)

ở Cairo(Ai Cập) năm 1994 thì vấn đề về SKSS được coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình dân số thế giới.Trong đó, vấn đề SKSSVTN

là một vấn đề quan trọng Hội nghị này đã thống nhất một chương trình hoạt động về văn hoá và phát triển trong 20 năm tới, nó đưa ra một khái niệm chiến lược mới về SKSS, đề ra 15 nguyên tắc khẳng định con người mới là trung tâm đối với sự phát triển bền vững.Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc

Trang 5

• Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh( 1995)

• Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tai Hague, Hà Lan( 1999)

• Hội nghị dân số cấp cao của uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á- Thái Bình Dương( ESCAP) và quỹ dân số Liên Hợp Quốc( UNFPA) tại Băng Cốc

Đặc biệt thông điệp của tiến sĩ Nafit Sadik- Giám đốc điều hành quỹ dân số Liên Hợp Quốc đã nêu: “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và

họ biết SKSS rất quan trọng Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm, muốn bảo vệ SK của chính mình và của cả người mình yêu vì họ biết rằng đây là việc nên làm Phần lớn trong số họ khát khao tìm hiểu, họ muốn thông tin về tình dục và sức khoẻ tình dục Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ

và người yêu họ không có thai ngoài ý muốn, tránh được các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục bao gồm cả HIV-AIDS”

Nhân dịp ngày dân số thế giới( 11-07-1998) UNFPA đã gửi thông điệp tới các nước trên thế giới: “ Những quan tâm hàng đầu hiện nay được tập trung vào các vấn đề về SKSSVTN”

Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới vấn đề SKSS, coi đó là một vấn đề có tính chiến lược quốc gia

2 Tại Việt Nam

Cuối thế kỉXIX, đầu thế kỉXX, Đảng và Nhà Nước ta đã coi trọng giáo dục dân số( GDDS) là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng tới việc bảo vệ, CSSK bà mẹ trẻ em, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Ngày 24- 12- 1968, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có chỉ thị 176A với nội dung chỉ đạo: “Bộ giáo dục, bộ đại học và trung cấp chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình, về nuôi dạy con cái”

Trang 6

Sau khi Nhà nước thống nhất, năm 1976 ngay trong nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã ghi rõ: “đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, ra sức phòng và chữa bệnh phụ khoa, các bệnh nghề nghiệp phụ nữ” Sau khi có nghị quyết TW IV về chính sách DS- KHHGĐ và chiến lược DS- KHHGĐ đến năm 2000, do đó có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường kinh phí và đổi mới cơ chế quản lý, củng

cố hệ thống tổ chức, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ truyền thông và KHHGĐ, sự tham gia của các nghành, đoàn thể vì công tác DS- KHHGĐ đã có chuyển biến rõ rệt, đạt được những kết quả đáng khích lệ Kết quả đó góp phần đáng

kể vào việc nâng cao điều kiện sức khoẻ trong đó có SKSS cho các cặp vợ chồng và tuổi VTN

Năm 1985,TW hội liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục

“Ba triệu bà mẹ nuôi con khoẻ, dạy con ngoan” trong đó có nội dung GDSKSS ở tuổi dạy thì

Ở nước ta giai đoạn 1989- 1992 các dự án GDDS đã bắt đầu được thử nghiệm Giai đoạn từ 1994- 1998 bắt đầu đã thể chế hoá GDDS trong nhà trường Các nội dung SKSS đã chính thức lồng ghép vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là GDSKSS cho VTN Tháng 10- 1996 hội thảo về SKSSVTN đã nhấn mạnh đầu tư giải quyết vấn đề SKSSVTN là một yêu cầu quan trọng trong vấn đề phát triển đất nước

Uỷ ban phòng chống HIV đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, hoạt động can thiệp tại cộng đồng, tổ chức, nghiên cứu, khảo sát thực trạng tình hình nhằm bảo vệ VTN, nâng cao hiểu biết và khả năng dự phòng của VTN trước sự tấn công của đại dịch HIV- AIDS và các tệ nạn xã hôi Thông qua các hoạt động đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục SKSS cho VTN

Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em cũng rất quan tâm đến SKSS VTN,

Trang 7

hành vi bền vững về dân số, SKSS, KHHGĐ trên cơ sở cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung, hình thức phù hợp đối với từng vùng, từng khu vực, từng nhóm đối tượng Chú trọng hình thức tư vấn, đối thoại, vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới, thanh niên và những VTN Năm 2004, uỷ ban dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án “

mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS KHHGĐ cho VTN và TN” tại

10 tỉnh, thành phố Đến năm 2006, mở rộng ra 28 tỉnh, thành phố Mục tiêu chính của đế án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS KHHGĐ bao gồm các vấn đề liên quan về giới, giới tính, tình dục an toàn, bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV- AIDS góp phần làm giảm các hành vi gây tác hại đến SKSS VTN

Ngoài ra, trong những năm gần đây có thể kể đến các công trình nghiên cứu về vấn đề SKSSVTN như:

• Hoàng Bá Thịnh (chủ biên) (1999), “Một số nghiên cứu về SKSSVN sau Cairo, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội

• Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Hà Nội 2002, “chăm sóc sức khoẻ sinh sản”

• Nguyễn Thị Nhường, “Tăng cường giáo dục và chăm sóc SKSSVTN và sinh viên đại học năm 2004”

• Nguyễn Quốc Anh, Daniel Weitraud, Nguyễn Mỹ Hương, Metherdith Caplan,

“sức khoẻ sinh sản vị thành niên”, NXB Lao động xã hội, 2005

Có thể thấy, ở nước ta vấn đề SKSS VTN đã được quan tâm song chưa nhiều

III Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lý luận: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu lý luận về vấn đề nghiên cứu

Trang 8

• Hơn 50 triệu VTN nữ trong độ tuổi 15- 19 đã kết hôn, một số họ có rất ít kiến thức về SKSS Nữ VTN tuổi từ 15- 19 luôn cao hơn nhiều so với nam VTN cùng tuổi, cụ thể là nam VTN chỉ chiếm 2,2% trong khi nữ VTN chiếm tới 8,5%.

• Mỗi năm, 16 triệu VTN nữ thành mẹ Một nửa số này đang sống tại quốc gia Bangladesh, Brazil, Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Nigeria và Hoa Kì

Khoảng 2 triệu ca phá thai tuổi 15- 19, chiếm tỷ lệ khoảng 10% phụ nữ phá thai mỗi năm

• Theo tổ chức y tế thế giới, hàng năm có khoảng 250 triệu người mới bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) mà hàng đầu ở độ tuổi 20- 24, thứ hai là độ tuổi 15- 19

Khoảng 40% số ca nhiễm HIV mới là trong thanh niên tuổi 15- 24 Khoảng 7000 người tuổi bị nhiễm HIV mỗi ngày, 5 người trẻ tuổi bị nhiễm HIV mỗi phút Trong đó, chỉ 40% nam và 38% nữ có kiến thức đúng đắn về cách lây truyền HIV

2 Tại Việt Nam:

Tháng 12 năm 2003, trong tổng số hơn 80 triệu dân thì có hơn 17 triệu VTN (chiếm 22% cơ cấu dân số) Đến năm 2006, Việt Nam có hơn 84 triệu dân thì có 26,5 triệu người là thanh niên trẻ (chiếm 31,5%)

a Nạn tảo hôn và kết hôn ở tuổi VTN:

Theo điều tra của tổng cục thống kê có 17000 VTN tuổi từ 13- 14,126000 VTN tuổi 15- 17đã có vợ, có chồng

b Quan hệ tình dục, mang thai ngoài ý muốn và phá thai ở tuổi VTN:

Trang 9

• theo kết quả khảo sát của bộ y tế năm 2002 có 11,2% VTN có quan hệ tình dục (QHTD), trong đó 33,9% không sử dụng biện pháp tránh thai nào Có khoảng 300000 phụ nữ thai nghén dưới tuổi 20, trong đó có 80% VTN có thai không hề biết, có 5,7% VTN có chồng, mang thai và sinh con.

• QHTD ở tuổi VTN chiếm tỷ lệ cao và có chiều hướng tăng:

 Theo hai cuộc điều tra: điều tra gia đình Việt Nam 2006 (gọi tắt là ĐTGĐ 2006) và điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 năm

2008 được tiến hành ở 10.044 VTN và thanh niên trong 14-25 tuổi sống ở khắp 63 tỉnh/thành trên toàn quốc (gọi tắt là SAVY 2) của bộ y tế và tổng cục thống kê:

 Tỷ lệ chấp nhận “nam nữ chung sống không đăng ký kết hôn” chia theo độ tuổi (so sánh 2 cuộc điều tra):

6,021,2

5,119,6

 Tỷ lệ chấp nhận “phụ nữ không chồng nhưng sinh con” chia theo độ tuổi (so sánh 2 cuộc điều tra):

Đơn vị: % Cuộc điều tra/ Độ tuổi 14-17 18-21 22-25ĐTGĐ 2006

SAVY 2

2429,5

25,735,6

27,537,7

Từ 2 bảng trên ta thấy tỷ lệ chấp nhận “nam nữ chung sống không đăng

ký kết hôn” và “phụ nữ không chồng nhưng sinh con” chia theo độ tuổi tăng lên nhanh chóng giữa 2 cuộc điều tra ĐTGĐ 2006 và SAVY 2 (2008) Đặc biệt, ở độ tuổi VTN chiếm tỷ lệ rất cao

 Theo nghiên cứu dọc tại huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương về “yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ liên quan đến QHTD ở VTN” Được thực hiện trên tổng số 9.220 người, gồm 4.720 nam (chiếm 51,2%) và 4.500 nữ (chiếm 48,8%) VTN chưa kết hôn trong AH1 vòng 1 (năm 2006) và 8.713 người, gồm 4.459 nam

Trang 10

(chiếm 51,2%) và 4.254 nữ (chiếm 48,8%) VTN chưa kết hôn trong AH2 vòng 2 (năm 2009) thì: tỷ lệ hiệu chỉnh VTN đã QHTD là 1,7% ở nam và 0,4% ở nữ (điều ta 2006); 4,9% ở nam và 1,9% ở nữ (điều tra 2009) Tỷ lệ mắc mới (QHTD) là 49/1.000 nam trong 3 năm và 19/1.000 nữ trong 3 năm (2006-2009).

• Theo cuộc điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2010-2011 của tổng cục thống kê thì ở nước ta có 7,5% nữ 15-19 đã bắt đầu có con Khoảng 3 trong số 4 phụ nữ ở tuổi 15-49 đang có chồng hoặc đang sống chung như vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai (chiếm 77,8%), trong đó: 59,8% sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại; 17,9% sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống Việc sử dụng các biện pháp tránh thai truyền thống hay hiện đại trong số phụ nữ trẻ ở tuổi 15-19 đã có chồng hoặc chung sống như vợ chồng rất thấp chỉ đạt 2,1% Nhu cầu tránh thai không được đáp ứng khá thấp 4,3% trong số phụ nữ ở tuổi 19-49 nhưng tăng lên 15,6% đối với phụ nữ trẻ trong tuổi 15-19

• Theo số liệu mới nhất từ Trung tâm nghiên cứu, hành động vì cộng đồng (REACOM), hiện Việt Nam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, với khoảng 400.000 ca phá thai/năm, trong đó phụ nữ trẻ chưa

có gia đình chiếm 20-30% tổng số ca phá thai, vị thành niên phá thai muộn và không an toàn có 53% Những số liệu trên cho thấy những "lỗ hổng" kiến thức về giáo dục giới tính, chăm sóc SKSS ở tuổi vị thành niên của Việt Nam

là quá lớn Với sự thiếu hiểu biết những kiến thức về giáo dục giới tính, chăm sóc SKSS, nhiều trẻ vị thành niên đã phải gánh chịu những biến chứng nặng

nề từ việc quan hệ tình dục trước hôn nhân và nạo phá thai không an toàn

Nói về thực trạng này, bác sĩ Nguyễn Hồng Minh, Giám đốc Trung tâm

Tư vấn SKSS và Kế hoạch hóa gia đình, Bệnh viện (BV) Phụ sản Trung ương, cho biết: “Quả thực, có khá nhiều trẻ vị thành niên coi chuyện nạo phá thai là chuyện rất bình thường và dửng dưng trước sự đau khổ của bố mẹ

"Tôi không thể hiểu và lý giải được tại sao một cháu bé mới 14 tuổi (mang

Trang 11

thai tháng thứ 5), lại có thái độ thờ ơ đến tàn nhẫn trước sự lo lắng của người thân đến vậy" Bác sĩ Minh chia sẻ.

Theo Bác sĩ Trần Thị Hoan, Phó Giám đốc Trung tâm chăm sóc SKSS Thanh Hóa, số thai phụ mới học lớp 9 - 10 đến Trung tâm cũng có xu hướng tăng hơn trước Phần lớn những cháu này đều không nắm được kiến thức về SKSS, tình dục an toàn, nên có thái độ khá sợ hãi Ngược lại nhiều trẻ vị thành niên khoảng 17 – 18 tuổi có thai ngoài ý muốn lại có thái độ rất bất cần,

“giải quyết” đến lần thứ 3 - 4 mà vẫn tươi tỉnh như không, chẳng có vẻ lo lắng

về hậu quả, sức khỏe giảm sút và nguy cơ viêm nhiễm, vô sinh về sau

c Nhiễm các bệnh lay truyền qua đường tình dục (STIs) và HIV/AIDS:

Tại Việt Nam, theo ước tính có khoảng 800.000 đến 1.000.000 người mắc bệnh STIs mỗi năm, trong đó VTN và thanh niên chiếm khoảng 40% Một số bệnh như giang mai, lậu vốn được xem là của người lớn lại có mặt ở 1,2-1,5% số trẻ dưới 15 tuổi Tại Bệnh viện Da liễu TW số bệnh nhân mắc các bệnh STIs là học sinh, sinh viên đã tăng gấp 6 lần trong vòng 4 năm

Ở nước ta tính đến cuối năm 2003 đã có 76.180 người nhiễm HIV, trong đó VTN và thanh niên chiếm 60% Hầu như tất cả phụ nữ từ 15-24 tuổi

đã từng nghe nói đén HIV (96,5%) nhưng chỉ 1 trong số 2 phụ nữ trong độ tuổi này (51,1%) có hiểu biết toàn diện về HIV Hầu như tất cả phụ nữ 15-49 đều biết HIV lây truyền từ mẹ sang con (92,4%) Trong số 5 phụ nữ từ 15-24 tuổi có 3 người biết nơi xét nghiệm HIV/AIDS (60,7%) trong 3 người đó thì

có 1 người từng đi xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua là 16,2% và chỉ 7,9%

đã nhận được kết quả xét nghiệm Khoảng 1/3 phụ nữ tuổi từ 15-19 đi khám thai trong lần mang thai gần nhất được xét nghiệm HIV (chiếm 36,1%) Trong

đó, tỷ lệ phụ nữ ở thành thị (chiếm 56,4%) cao hơn nhiều so với phụ nữ ở nông thôn (27,7%) Trẻ em gái và phụ nư dễ bị nhiễm STIs, HIV/AIDS hơn

so với nam giới Ước tính khoảng 7,3 triệu nữ giới đang sống chung với HIV/AIDS so với 4,5 triệu nam thanh niên

d Bị xâm hại và lạm dụng tình dục: tỷ lệ gái mại dâm ở tuổi VTN có chiều

hướng gia tăng: năm 1989 mới chiếm 2,1% trong số gái mại dâm thì đến năm

Trang 12

1992 tăng lên 5,22% và đến năm 1996 lên tới 12% Theo số liệu điều tra từ 1990-1995 có khoảng 5.000 phụ nữ và trẻ em gái bị đưa qua biên giới Campuchia, Trung Quốc Tại Campuchia có 60-65% gái mại dâm trong tổng

số 45.000 từ Việt Nam sang Theo cục phòng chống tệ nạn xã hội, năm 2002

cả nước có khoảng 55.693 gái mại dâm, trong đó gần 50% độ tuổi thanh niên Hiện nay ở nước ta có khoảng 80.000 gái mại dâm, trong đó 10% là VTN Theo báo cáo của tòa án tối cao, một nửa nạn nhân trong tổng số 1.407 trường hợp bị lạm dụng tình dục là VTN

V Nguyên nhân

• Ở nhiều nơi theo tập quán vẫn tồn tại nạn tảo hôn:

Cha mẹ muốn đảm bảo QHTD phải trong khuôn khổ hôn nhân, do quan niệm giá trị chính yếu của con gái là làm mẹ, làm vợ, do các em thiếu cơ hội được học hành và tìm kiếm việc làm nên các em trai và gái thường lập gia đình sớm

• Tâm lý lứa tuổi:

VTN thường tò mò, muốn khám phá cái mới nhưng thiếu kỹ năng cần thiết để ứng phó với cảm xúc giới tính và thách thức cuộc sống Mặt khác, nữ VTN thường bị thụ động trong QHTD, trong nhiều trường hợp bị ép buộc, xâm hại

• Tuổi dậy thì sớm hơn:

Theo 2 cuộc Điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam của Bộ

Y tế và Tổng cục Thống kê được tiến hành từ 2003-2008 (gọi tắt là SAVY 1

và SAVY 2) Tuổi bắt đầu có kinh ở nữ và mộng tinh/xuất tinh ở nam có xu hướng giảm, nam nữ thanh niên ở đô thị bắt đầu có sự kiện này sớm hơn nam

nữ ở nông thôn Ngược lại, tuổi được phép kết hôn lại muộn hơn trước nhiều Con người được tự do hơn trong một xã hội phát triển hơn Vì vậy QHTD (cả ngoài hôn nhân) có xu hướng sớm hơn trước Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, tuổi QHTD lần đầu trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi (20 cho nam và 19,4 cho nữ) ở SAVY 1 xuống 18,1 tuổi (18,2 cho nam và 18 cho nữ)

• Do tính chất của hoạt động tình dục:

Trang 13

Không dự định trước, đầy tính ngẫu nhiên nên dễ dẫn đến có thai ngoài

ý muốn, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

• VTN thiếu kiến thức, khả năng tiếp cận các thông tin SKSS kém:

Phương tiện thông tin đại chúng (tivi, đài, báo, tạp chí, sách…) hiện được đánh giá là nguồn cung cấp thông tin chủ đạo, trên diện rộng Trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin về SKSS/TD VTN đã được cung cấp tới VTN&TN thông qua nhiều chương trình và với nhiều hình thức như: chương trình cung cấp kiến thức, chương trình tư vấn về các vấn đề SKSS/TD VTN, chương trình nghệ thuật (phim, kịch, ca múa nhạc), chương trình giới thiệu các hoạt động giao lưu (tương tác, thi giao lưu…) Theo Điều tra quốc gia về VTN&TN Việt Nam (SAVY – Bộ Y tế, 2005), 93,4% VTN&TN cho biết đã nhận được các thông tin về SKSS/TD qua các phương tiện truyền thông địa chúng Tuy nhiên, thông tin về SKSS/TD được chuyển tải qua kênh này không chuyên sâu

Trong nhà trường, giáo dục SKSS/TD VTN được yêu cầu lồng ghép vào các môn học chính khóa là Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngữ văn

từ 6-7 năm nay Tuy nhiên, việc thực hiện không mang tính chất bắt buộc, nó tuỳ thuộc vào thời lượng dư của mỗi môn học Thực tế, chương trình bắt buộc phải thực hiện đối với các môn học ở trường phổ thông hiện đang quá tải Khả năng lồng ghép giáo dục SKSS/TD VTN rất khó khăn Thêm vào đó, việc triển khai giáo dục lồng ghép SKSS/TD VTN trong nhà trường còn gặp nhiều rào cản khác như năng lực của đội ngũ giáo viên trong giáo dục SKSS/TD VTN còn hạn chế; giáo viên, các bậc phụ huynh, cộng đồng không ủng hộ giảng dạy các nội dung SKSS/TD VTN Giáo dục SKSS/TD VTN thông qua các hình thức ngoại khóa là hình thức hữu ích nhưng chỉ mới đang thử nghiệm, dự kiến triển khai từ năm học 2007-2008 (ISDS, 2006) Trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề hoàn toàn không có chương trình giáo dục SKSS/TD VTN ngoại trừ khối trường sư phạm với yêu cầu đào tạo giáo viên phục vụ giáo dục SKSS/TD VTN Song cũng chỉ riêng tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 là có môn học bắt buộc

Trang 14

về nội dung này cho giáo sinh của bốn khoa, còn các trường sư phạm khác cũng chỉ giảng dạy lồng ghép (IPSS, 2007).

Mức độ tiếp cận của VTN&TN với các nhà chuyên môn như nhân viên

y tế, các nhà tư vấn về SKSS/TD VTN hiện rất thấp Ngay tại các điểm (22 xã/phường) đã triển khai chương trình can thiệp Sáng kiến SKSS thanh thiếu niên châu á (RHIYA VN), mới chỉ có khoảng 30% VTN&TN đã tiếp cận được với các nhà tư vấn và nhận được tư vấn về các nội dung SKSS/TD (IPSS, 2007)

Khả năng tiếp cận thông tin về SKSS/TD của VTN&TN qua các cuộc họp cộng đồng cũng hạn chế (36% VTN/TN tại các xã/phường có chương trình RHIYA cho biết đã tiếp cận được thông tin về SKSS qua nguồn này) Một số các hoạt động khác như thành lập câu lạc bộ "mẹ và con gái" và "bố

và con trai" để tuyên truyền, cung cấp kiến thức về SKSS/TD cho cả VTN&TN và các bậc phụ huynh đã được triển khai ở một số tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hòa Bình, Phú Thọ, Tiền Giang ) song chất lượng hoạt động của các câu lạc bộ này chưa cao, mới chỉ mang tính phong trào chưa đi vào chiều sâu (IPSS, 2006)

VTN&TN thôi học, đi làm sớm, VTN&TN di cư ít có cơ hội tiếp cận với các thông tin về SKSS/TD vì họ hầu như không tham gia các sinh hoạt cộng đồng, các hoạt động của các tổ chức, đoàn thể địa phương và không có điều kiện vật chất (tivi, radio…) để tiếp cận với thông tin đại chúng VTN&TN người dân tộc thiểu số sống ở các vùng sâu, xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển rất khó khăn trong tiếp cận thông tin SKSS/TD VTN (IPSS, 2006)

• Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ, các phương tiện tránh thai của VTN:

Trong việc cung cấp các dịch vụ SKSS, các dịch vụ xét nghiệm, khám

và điều trị về các bệnh LTQĐTD, bệnh phụ khoa và HIV/AIDS chủ yếu tập trung ở các cơ sở y tế tuyến tỉnh trở lên Các cơ sở y tế ở tuyến huyện chỉ cung cấp một số dịch vụ liên quan đến bệnh LTQĐTD, nạo phá thai an toàn Trạm y

tế tuyến xã chưa đủ điều kiện cung cấp đầy đủ các dịch SKSS Hệ thống y tế

Trang 15

nhà nước chưa có được các cơ sở cung cấp dịch vụ dành riêng cho VTN&TN Một số can thiệp SKSS/TD VTN do các tổ chức UNFPA, WHO, Pathfinder, KFW tài trợ, đã thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ SKSS/TD dành riêng cho VTN&TN Tuy nhiên, những cơ sở này còn ít được VTN&TN biết đến do thiếu tuyên truyền, quảng bá rộng rãi trong cộng đồng (IPSS, 2007).

Trong cộng đồng, các cặp vợ chồng có thể dễ dàng nhận miễn phí, mua với giá tiếp thị xã hội BCS, viên uống tránh thai từ nhiều nguồn khác nhau (ngành dân số, hội phụ nữ, hội KHHGĐ, trạm y tế xã/phường, thị trường tự do…) Tuy nhiên, VTN&TN lại không dễ dàng để có thể tiếp cận với các nguồn cung cấp bao cao su và viên uống tránh thai từ các nguồn này Đối với một số xã/phường đã có các can thiệp SKSS/TD VTN, VTN&TN có thể nhận BCS và viên uống tránh thai tại các góc thân thiện hoặc trung tâm thanh niên

Do những rào cản về mặt tâm lý và từ cộng đồng, số VTN&TN đến tiếp nhận BCS và viên uống tránh thai tại các cơ sở trên còn hạn chế (IPSS, 2007)

Đối với tuyến trung ương và tỉnh (bệnh viện sản, trung tâm sức khỏe sinh sản tỉnh/thành phố), chất lượng kỹ thuật của các dịch vụ được cung cấp

đã được đảm bảo theo đúng chuẩn quốc gia song thiếu tính thân thiện, tính bảo mật Hoạt động tư vấn đi kèm với cung cấp dịch vụ còn ít Đối với tuyến huyện, chất lượng của các dịch vụ được cung cấp ở hơn 20% số quận/huyện còn chưa đạt chuẩn quốc gia Dịch vụ được cung cấp ở các cơ sở y tế xã/phường phần lớn chưa đảm bảo chất lượng (chỉ 16,7% số trung tâm y tế xã/phường đạt tiêu chuẩn chăm sóc sản khoa thiết yếu cơ bản) Nguyên nhân của tình trạng trên là do năng lực chuyên môn về SKSS/TD VTN của cán bộ

y tế tuyến xã/phường còn thấp Ngay cả ở tuyến huyện, nhiều cán bộ y tế chưa có năng lực tư vấn về SKSS/TD VTN, xét cả về góc độ kiến thức, kỹ năng giao tiếp, tư vấn cho VTN&TN (CARE, 2004, UNFPA, 2007)

Đối với các dịch vụ do tư nhân cung cấp, chất lượng dịch vụ còn chưa được kiểm định do thiếu hệ thống kiểm tra, giám sát, đánh giá từ phía các cơ quan quản lý nhà nước Các góc dịch vụ thân thiện dành cho VTN&TN được xây dựng từ một số các chương trình, dự án viện trợ đã cung cấp dịch vụ chất

Trang 16

lượng tốt, đảm bảo thái độ thân thiện, tính bảo mật, đa phần VTN&TN được lựa chọn nhân viên tư vấn là nam hay nữ phù hợp nguyện vọng của họ.

Trẻ VTN thường từ chối các dịch vụ vì:

 Thái độ xét đoán của người lớn

 Thiếu sự riêng tư và bảo mật

 Sự không thoải mái khi tiếp xúc với nhân viên

 Đôi khi đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha mẹ trong các dịch vụ sức khỏe tính dục và sinh sản

Điều này chứng tỏ chất lượng dịch vụ kém

• Nhận thức và các năng lực của cộng đồng:

Mặc dù đang có những chuyển biến trong thái độ ủng hộ đối với các chương trình, can thiệp SKSS/TD VTN song nhiều lãnh đạo cấp xã/phường chưa nhận thức rõ về vấn đề này cũng như tầm quan trọng, mức độ cần thiết của các chương trình SKSS/TD VTN Một số khảo sát gần đây tại các địa phương đã từng triển khai can thiệp SKSS/TD VTN cho thấy, lãnh đạo xã/phường thường chỉ ủng hộ việc cung cấp thông tin liên quan đến SKSS/TD, chứ không ủng hộ việc cung cấp dịch vụ, kể cả việc cung cấp BCS

và các biện pháp tránh thai khác Đặc biệt hơn, họ không ủng hộ quyền được bảo mật thông tin khi sử dụng dịch vụ của VTN&TN (IPSS, 2006)

Đối với các giáo viên, nhiều thầy,cô giáo hiện còn thiếu hiểu biết về các quyền SKSS/TD VTN Họ cho rằng các quyền SKSS/TD VTN chỉ là "quyền được hiểu biết về quan hệ tình dục, các BPTT, luật hôn nhân, gia đình và thực hành theo đúng luật pháp" (CARE, 2004) Nhiều giáo viên, thậm chí cả giảng viên một số trường đại học sư phạm chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/TD VTN (IPSS, 2006; IPSS, 2007)

Nhận thức của các bậc cha mẹ và những thành viên khác trong cộng đồng về SKSS/TD VTN còn thấp Nhiều người hiểu SKSS đơn giản là "đẻ đúng tuổi và KHHGĐ" (CARE, 2004) Đây chính là nguyên nhân khiến họ không ủng hộ các chương trình, can thiệp SKSS/TD VTN Tại một số điểm đã triển khai các can thiệp SKSS/TD VTN, hiện các bậc cha mẹ cũng chỉ chấp nhận việc cung cấp thông tin về SKSS/TD VTN mà không ủng hộ việc cung cấp dịch vụ, nhất là dịch vụ tránh thai (IPSS, 2006)

Ngày đăng: 27/05/2016, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Trẻ vị thành niên - SỨC KHOẺ SINH sản vị THÀNH NIÊN
Hình 1. Trẻ vị thành niên (Trang 2)
Hình 2. Nạo phá thai - SỨC KHOẺ SINH sản vị THÀNH NIÊN
Hình 2. Nạo phá thai (Trang 20)
Hình 3. Bế tắc - SỨC KHOẺ SINH sản vị THÀNH NIÊN
Hình 3. Bế tắc (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w