1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI tập lớn nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trung học

27 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 51,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚN: Đề tài: “Nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trung học”.   Contents LỜI NÓI ĐẦU: 2 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 3 1. Lý do chọn đề tài: 3 2. Mục tiêu của đề tài: 4 3. Nhiệm vụ của đề tài: 5 II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 7 1. Cơ sở lý luận của đề tài: 7 2. Các khái niệm liên quan: 9 3. Phương pháp nghiên cứu: 11 4. Giả thiết nghiên cứu: 11 III. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU: 13 IV. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA TRẺ: 18 VI. NHỮNG NGUYÊN NHÂN DÂN ĐẾN NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH THPT: 21 VII. ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THIẾU KIẾN THỨC GDGTSKSS CỦA HỌC SINH THPT: 22 VIII. KHUYẾN NGHỊ: 23   LỜI NÓI ĐẦU: Thế hệ trẻ, những mầm non của đất nước, những con người được mong mỏi sẽ phát triển đất nước, đưa đất nước tiến lên cùng với toàn cầu. Cũng bởi lẽ đó mà trẻ em, đặc biệt là trẻ vị thành niên cần được chăm sóc, trang bị đầy đủ những kiến thức, nguồn lực để phát triển đầu đủ, tốt nhất nhằm hoàn thiện cả thể chất lẫn tinh thần, hoàn thành những mong mỏi của đất nước. Nhưng có lẽ, sự chăm sóc, trang bị ấy đang chưa được thật sự đầy đủ, an toàn. Hiện nay, tỷ lệ giáo dục giới tính và Sức khỏe sinh sản trong trường học tại Việt Nam rất thấp (chỉ có khoảng 0.3% trường Trung học phổ thông có đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy cho học sinh). Thiếu hụt kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến số lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao. Điều này ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên. Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 1519 trong đó 8090% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm. Việc mang thai ở tuổi vị thành niên để lại những hệ lụy và hậu quả nặng nề do các bà mẹ nhỏ tuổi còn quá trẻ, thể chất và tinh thần chưa phát triển để sẵn sàng làm mẹ. Giáo dục giới tính và Sức khỏe sinh sản dường như vẫn là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam. Trẻ vị thành niên, đặc biệt là trẻ đang học Trung học phổ thông,là lứa tuổi đang trong quá trình hoàn thiện, và có sự tò mò lớn nhất, các em muốn, và cần biết những thông tin về lứa tuổi dậy thì của mình, những thông tin về giới và một vài thông tin khác. Những kiến thức ít ỏi được “lồng ghép” trong các môn xã hội ở trường học là chưa đủ.Vì vậy nhu cầu được cung cấp nhũng thông tin chính xác phù hợp với lứa tuổi của các em là hoàn toàn hợp lý, cần thiết.Câu hỏi được đưa ra là: “Khi bố mẹ các em bận quá nhiều công việc tại cơ quan, công việc nhà và các mối quan hệ khác, chưa kể đến sự ngại ngùng, không đủ kỹ năng thậm chí thiếu sự quan tâm, tương đồng về lứa tuổi để có thể tâm sự, dạy dỗ trẻ kiến thức về giớ, SKSS thì làm sao để các em có đầy đủ kiến thức giới? Hơn nữa thời gian của trẻ phần lớn ở trường, ở các trung tâm dạy thêm, thời gian để cùng cha mẹ tâm sự, chia sẻ là rất ít ỏi và không thể đủ để giáo dục trẻ những điều này. Vậy phải làm thể nào để trẻ được cung cấp đủ những thông tin cần thiết?”. Và làm sao để các em hiểu nhưng không xa đà vào quan hệ tình dục? Làm sao để các em có thể quan hệ tình dục an toàn?... Đây là lý do khiến Nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trung học cần được quan tâm và coi trọng.

Trang 1

BÀI T P L N:Ậ Ớ

Đ tài: “Nhu c u giáo d c gi i tính và s c kh e sinh s n c a h c sinh phề ầ ụ ớ ứ ỏ ả ủ ọ ổ

thông trung h c”.ọ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU: 2

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 3

1 Lý do chọn đề tài: 3

2 Mục tiêu của đề tài: 4

3 Nhiệm vụ của đề tài: 5

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 7

1 Cơ sở lý luận của đề tài: 7

2 Các khái niệm liên quan: 9

3 Phương pháp nghiên cứu: 11

4 Giả thiết nghiên cứu: 11

III TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU: 13

IV THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA TRẺ: 18

VI NHỮNG NGUYÊN NHÂN DÂN ĐẾN NHU CẦU GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH THPT: 21

VII ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THIẾU KIẾN THỨC GDGT&SKSS CỦA HỌC SINH THPT: 22 VIII KHUY N NGH : Ế Ị 23

Trang 3

sự chăm sóc, trang bị ấy đang chưa được thật sự đầy đủ, an toàn Hiện nay, tỷ lệgiáo dục giới tính và Sức khỏe sinh sản trong trường học tại Việt Nam rất thấp(chỉ có khoảng 0.3% trường Trung học phổ thông có đưa giáo dục giới tính vàogiảng dạy cho học sinh) Thiếu hụt kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản và

kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến số lượng mang thai ở tuổi vịthành niên ngày càng tăng cao Điều này ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe vàkhả năng học tập của thanh thiếu niên Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình ViệtNam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á

và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thaităng liên tục qua các năm Việc mang thai ở tuổi vị thành niên để lại những hệlụy và hậu quả nặng nề do các bà mẹ nhỏ tuổi còn quá trẻ, thể chất và tinh thầnchưa phát triển để sẵn sàng làm mẹ Giáo dục giới tính và Sức khỏe sinh sảndường như vẫn là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam

Trẻ vị thành niên, đặc biệt là trẻ đang học Trung học phổ thông,là lứa tuổiđang trong quá trình hoàn thiện, và có sự tò mò lớn nhất, các em muốn, và cầnbiết những thông tin về lứa tuổi dậy thì của mình, những thông tin về giới vàmột vài thông tin khác Những kiến thức ít ỏi được “lồng ghép” trong các môn

xã hội ở trường học là chưa đủ.Vì vậy nhu cầu được cung cấp nhũng thông tinchính xác phù hợp với lứa tuổi của các em là hoàn toàn hợp lý, cần thiết.Câu hỏiđược đưa ra là: “Khi bố mẹ các em bận quá nhiều công việc tại cơ quan, côngviệc nhà và các mối quan hệ khác, chưa kể đến sự ngại ngùng, không đủ kỹ

Trang 4

năng thậm chí thiếu sự quan tâm, tương đồng về lứa tuổi để có thể tâm sự, dạy

dỗ trẻ kiến thức về giớ, SKSS thì làm sao để các em có đầy đủ kiến thức giới?Hơn nữa thời gian của trẻ phần lớn ở trường, ở các trung tâm dạy thêm, thờigian để cùng cha mẹ tâm sự, chia sẻ là rất ít ỏi và không thể đủ để giáo dục trẻnhững điều này Vậy phải làm thể nào để trẻ được cung cấp đủ những thông tincần thiết?” Và làm sao để các em hiểu nhưng không xa đà vào quan hệ tìnhdục? Làm sao để các em có thể quan hệ tình dục an toàn? Đây là lý do khiếnNhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trunghọc cần được quan tâm và coi trọng

1 Lý do chọn đề tài:

Dù bất cứ quốc gia nào thì vai trò của người trẻ luôn được khẳng định,Tuổi trẻ- nhóm tuổi có tiềm năng to lớn quyết định sự thịnh vượng của mỗi quốcgia, dân tộc Cũng vì thế, tuổi trẻ, đặc biệt là trẻ vị thành niên luôn nhận được sựquan tâm hàng đầu của nhà nước và toàn xã hội trong việc chăm sóc, bảo vệ, đặcbiệt là việc giáo dục Ở đây việc giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giáo dụcnhân cách, nhận thức, hành vi, hay văn hóa Mà việc giáo dục về giới tính và sứckhỏe sinh sản cũng rất được coi trọng, nhất là ở các nước phương Tây như:

Ở Hà Lan, hầu như các trường cấp II đều có các bài giảng về giáo dục giớitính; hơn một nửa trường tiểu học có thảo luận về tình dục và tránh thai Truyềnthông đã khuyến khích đối thoại công khai và chương trình chăm sóc sức khỏeđảm bảo một cách tiếp cận bí mật và không phán xét Hà Lan có tỉ lệ mang thai

vị thành niên ở hàng thấp nhất thế giới, và cách tiếp cận của Hà Lan thườngđược các nước khác coi là hình mẫu

Ở Thụy Điển, giáo dục giới tính trở thành chương trình bắt buộc tronggiáo dục học đường từ năm 1956 Môn học được bắt đầu từ tuổi lên 7-10 và tiếptục ở những lớp cao hơn, có liên hệ chặt chẽ với những môn như sinh học và

Trang 5

lịch sử.

Tại Việt Nam, với đặc trưng văn hóa riêng của người Á Đông khép kín,cẩn trọng và rụt rè, cùng với nhận thức của người dân còn hạn chế, nên vấn đềgiới tính được xem là tế nhị, thường lảng tránh và ít được đề cập công khai

Có lẽ đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc mỗi năm tại Việt Namtrung bình có khoảng 300.000 ca nạo phá thai, tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trongkhu vực Đông Nam Á và được xếp thứ 5 trên thế giới Điều đáng buồn nhất là tỉ

lệ nạo phá thai lại rơi chủ yếu vào lứa tuổi vị thành niên Nếu chúng ta khôngthay đổi quan niệm và cách tiếp cận ngay bây giờ thì con số ấy sẽ còn ra tăngvào những năm tiếp theo

2 Mục tiêu của đề tài:

3 Nhiệm vụ của đề tài:

Trang 6

Với đề tài “ Nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinhTrung học phổ thông.” nên nhiệm vụ đặt ra là:

Nhiệm vụ đầu tiên: Phải làm cho chính bản thân các em học sinh Trunghọc phổ thông nhận thức đúng đắn và rõ ràng hơn về việc giáo dục giới tính ởlứa tuổi vị thành niên và tầm quan trọng của nó Bởi các em chỉ khi các em biết,hiểu được đúng tầm quan trọng và sự cần thiết của nó, các em mới có thể ápdụng vào thực tiễn

Nhiệm vụ thứ 2: Phải làm cho các bậc cha mẹ nhận thức tốt tầm quantrọng, ý nghĩa thiết thực của nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản ởlứa tuổi vị thành niên Bởi vì khi bậc cha mẹ càng hiểu rõ về việc giáo dục vànhu cầu của việc giáo dục giới tính, SKSS thì việc giáo dục mới mang tính hiệuquả thiết thực và xóa bỏ những suy nghĩ sai lệch về việc giáo dục giới tính vàSKSS

Nhiệm vụ thứ 3: Là đề tài phải nêu lên tầm quan trọng của việc giáo dụcgiới tính, SKSS không những ở trong gia đình mà còn ở trường học và trong xãhội cũng là những môi trường để thực thi việc giáo dục giới tính

Nhiệm vụ thứ 4: Nêu lên nguyên nhân và tác hại khi trẻ vị thànhniên thiếu kiến thức về giáo dục giới tính Khi xem về nhiêm vụ này của đề tài tathấy khi các em không được giáo dục đầy đủ, kém hiểu biết về giới tính, khônglàm chủ được một số bản năng, thì sẽ dễ đưa các em sa vào các con đường saitrái Chỉ ra được một số nguyên nhân chủ yếu như là thiếu hiểu biết về nguyênnhân, ảnh hưởng phim ảnh, không được gai đình quan tâm, các tệ nạn xã hộingày càng gia tăng, ảnh hưởng qua lối sống du nhập từ nước ngoài…

Trang 7

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Cơ sở lý luận của đề tài:

 ''Lý thuyết xã hội hóa”

Xã hội hóa là quá trình học tập văn hóa của mọi người và phong cáchsống trong nền văn hóa ấy Đối với cá nhân, xã hội hóa mang lại những động lựccần thiết cho hoạt động và tham gia xã hội Đối với cá nhân, xã hội hóa là nhữngphương tiện để đạt được sự tương tác văn hóa của xã hội thông qua việc đưa cácthành viên cá nhân vào các luật lệ, cách ứng xử, giá trị, động lực của xã hội Đâychính là ý tưởng tập hợp của Clausen (1968) Từ nền tảng các lý thuyết xã hộihóa đã có từ Platon, Montaigne và Roussean, Clausen định nghĩa: ''Xã hội hóa làkhiến con người có tính xã hội, thích hợp với xã hội''

Từ điển American Heritage đã định nghĩa xã hội hóa một cách tổng quát

Xã hội hóa là '' Một quá trình tương tác, nhờ đó cá nhân đạt được sự nhận biếtmình và các chuẩn tác, giá trị, cách ứng sử và các kỹ năng xã hội thích hợp với

vị trí của mình Một hành động hoặc một quá trình hành động tạo tính xã hội''

Xã hội hóa sẽ mang đến cho cá nhân những kỹ năng cần thiết mà xã hộiđòi hỏi, nhờ các kỹ năng đó có đủ khả năng hòa nhập mà chính họ đang sống vàlàm việc Quá trình xã hội hóa có thể đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ ít đến nhiều Quá trình xã hội hóa diễn ra ở ba quá trình: giai đoạn giađình, giai đoạn nhà trường, giai đoạn mà người ta thực sự bước vào đời Đây là

ba tác nhân giúp cá nhân hòa nhập vào xã hội Trong quá trình xã hội hóa củamột cá nhân chúng ta cần chú ý đến quá trình đứt đoạn xã hội hóa thì phải táihòa nhập dù vậy ở đây xảy ra trường hợp nếu cá nhân đã bị đứt đoạn xã hội hóaquá lâu thì việc tái hòa nhập là một khó khăn

Lý thuyết này cho phép chúng ta tìm hiểu về đề tài dưới góc độ tìm hiểunhững yếu tố tác động và ảnh hưởng của văn hóa lên nhận thức của các bậc phụhuynh trong việc giáo dục giới tính cho con em của họ chẳng hạn như trình độhọc vấn, thu nhập, lối sống văn hóa Từ đó hình thành nên những đặc điểm

Trang 8

trong suy nghĩ của bậc cha mẹ về vấn đề giới tính Có thể nói đa số những ngườilàm cha mẹ ở Việt Nam đều đánh giá sai về tầm quan trọng của việc giáo dụcgiới tính, họ coi giới tính là một vấn đề tế nhị nên thường lảng trách khi con cáicủa họ đề cập đến nó.

Theo Clausen quá trình xã hội hóa chia làm ba giai đoạn trong đó giaiđoạn đầu là từ gia đình Chính gia đình là nơi cung cấp những kiến thức đầu tiêncho cá nhân để hòa nhập vậy nên việc thay đổi suy nghĩ sai lệch về vấn đề giáodục giới tính là rất cần thiết

 “Lý thuyết nhu cầu của Maslow”:

Theo thuyết nhu cầu của Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người đượcchia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh phản ánh mức độ cơ bảncủa nó với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiênvừa là một thực thể xã hội; 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow là:

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc nhu cầu tự nhiên - thức

ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân

thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc - muốn

được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thânhữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến - cần có cảm giác được

tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được thể

hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận làthành đạt

Những nhu cầu căn bản ở phía đáy tháp, phải được thỏa mãn trước khinghĩ đến các nhu cầu khác Các nhu cầu bậc cao hơn sẽ nảy sinh và mong muốn

và thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu ở dưới đã được đáp ứngđầy đủ Cấp độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con

Trang 9

người gồm nhu cầu ăn, mặc, ở Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầubảo vệ Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ giữa người với người, quan

hệ con người với tổ chức với tự nhiên Con người luôn có nhu cầu được yêuthương gắn bó, nhận được sự chú ý Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người

từ thấp đến cao Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ thỏa mãn khi nhu cầu cấp thiếthơn được đáp ứng

Đề tài sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét nhu cầu của trẻ vịthành niên Trong đó nhu cầu tình dục trong tháp nhu cầu được xếp ở đáy Chính

vì thế, trẻ ở độ tuổi vị thành niên rất cần được trang bị những kiến thức liênquan về giới như quan hệ tình dục, kiến thức sinh sản

2 Các khái niệm liên quan:

Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khimột ai đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, ngườilãnh đạo tôn giáo, hay qua truyền thông Nó cũng có thể được truyền dạy quacác tác giả với các tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí, hay qua các trangweb về giáo dục giới tính Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trườnghọc hay người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này

Thỉnh thoảng giáo dục giới tính chính thức được dạy như một chươngtrình đầy đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học haytrung học cơ sở Ở những trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong mộtlớp học rộng hơn về sinh học, sức khỏe, kinh tế gia đình hay giáo dục thể chất.Một số trường không dạy giáo dục giới tính, bởi nó vẫn là một vấn đề gây tranh

Trang 10

cãi ở một số quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ (đặc biệt về vấn đề độ tuổi trẻ em cầnnhận được sự giáo dục như vậy, số lượng chi tiết liên quan, và các chủ đề vềkhuynh hướng tình dục ví dụ như cách thực hiện, tình dục an toàn, thủ dâm, tìnhdục trước hôn nhân và đạo đức tình dục).

 Sức khỏe sinh sản:

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏemạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liênquan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Chăm sócSKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho conngười có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyếtnhững vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dụcvới mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người vớicon người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuầncho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục

 Nhu Cầu:

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn,nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùytheo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗingười có những nhu cầu khác nhau

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp báchthì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhucầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này,nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sựthoả mãn nhu cầu)

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Về mặt quản lý, người quản

lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân.Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu kháctheo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiểnđược các cá nhân

Trang 11

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt haymất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống.Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâudài tồn tại, phát triển và tiến hóa.

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vicủa con người nói riêng Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiêncứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội

 Vị thành niên:

Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất Tổ chức Y tế Thếgiới (WHO) quy định lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên và chia làm 3nhóm nhỏ:

- Vị thành niên nhỏ: 10 tuổi – 13 tuổi

- Vị thành niên trung bình: 14 tuổi – 16 tuổi

- Vị thành niên lớn: 17 tuổi – 19 tuổi

Việc phân định này cần thiết để kết hợp phát triển sinh học và tâm lý xãhội từng thời kỳ Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, năm 1995, Vụ Bảo

vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ – Bộ Y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổiVTN thành hai nhóm tuổi, nhóm một từ 10 – 14 tuổi và nhóm hai từ 15 – 19tuổi

Theo cuốn “Từ điển Luật học” của NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội –1999(tr568): “Vị thành niên( chưa thành niên) là người chưa đến độ tuổi đượcpháp luật coi là đủ khả năng để sử dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu tráchnhiệm.Người chưa đủ 18 tuổi là vị thành niên”

3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu:

Phương pháp quan sát

4 Giả thiết nghiên cứu:

Trang 12

Giả thiết 1: Do nhận thức sai về tầm quan trọng của việc giáo dục giớitính nên nhu cầu giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, đặc biết là trẻ VTNđang học THPT chưa được chú trọng.

Giả thiết 2: Giới tính là một vấn đề nhạy cảm nên những bậc cha mẹ, phụhuynh gặp khó khăn trong việc nói chuyện và giáo dục về vấn đề này

Giả thiết 3: Do những bậc cha mẹ thiếu thông tin về những vấn đề liênquan đến giới tính nên không thể chia sẻ với con của mình

Giả thiết 4: Việc giáo dục giới tính và SKSS hầu như chưa được đưa vàochính khóa, chưa được giảng dạy bài bản, phù hợp khiến nhu cầu của trẻ VTNkhông được đáp ứng đúng, đủ dẫn đến những tìm hiểu sai lệch, những hànhđộng không có phòng, chẳng có tránh

Trang 13

III TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:

Liên quan đến đề tài, đã có những bài viết, công trình nghiên cứu sau:Bài nghiên cứu '' Sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên Việt Nam '' nằmtrong chương trình điều tra ban đầu của RHIYA ( Sáng kiến sức khỏe thanhthiếu niên châu Á ) do PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng, ThS Lưu Bích Ngọc thựchiện, đã chỉ ra những sai lầm trong kiến thức về giới tính nói chung và sức khỏesinh sản nói riêng Đề tài được thực hiện vào năm 2006, với đối tượng là thanhthiếu niên ở độ tuổi từ 15-20 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các kiến thứchợp về sức khỏe sinh sản-tình dục, tránh thai và các bệnh liên quan đến đườngtình dục chỉ được xác định ở mức biết ban đầu, chỉ có 21% thanh thiếu niênđược đánh giá là có kiến thức này Trong đó, kiến thức về sinh sản và phòngtránh thai được đánh giá là kém nhất trong các kiến thức về sức khỏe sinh sản,chỉ có 46.7% thanh thiếu niên có kiến thức đúng về sinh sản Kiến thức về bệnhliên quan đến đường tình dục là kém thứ hai chỉ có 1/3 thanh thiếu niên được hỏinêu được tên ba loại bệnh trở lên, rất ít trong số đó biết được cách chữa trị vànơi chữa trị Kiến thức về về sử dụng biện pháp tránh thai được đánh giá là kémthứ ba Từ những kết quả nghiên cứu cứu này, đề tài đã cho chúng ta một bứctranh tổng quát về kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản

Bài viết “Tại sao cần giáo dục giới tính cho lứa tuổi Vị thành niên” củatrang cẩm nang sức khỏe1 cũng đã có bài viết nêu rõ một số nguyên nhân đểchứng minh rằng việc giáo dục kiến thức giới tính ở độ tuổi VTN là rất quantrọng Trong bài viết này tác giả cũng đã đưa ra những con số cụ thể của việc trẻkhông được GDGT như: “Việt Nam là nước đứng thứ 5 thế giới về tình

trạng nạo phá thai ở tuổi vị thành niên Theo số liệu của Vụ Sức khỏe Bà mẹ

-Trẻ em, tỷ lệ trẻ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tụcqua các năm: Năm 2010 là 2,9%, năm 2011 là 3,1% và đến năm 2012 là 3,2%tương ứng với tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% năm 2010, 2,4% năm 2011

1 http://nhatkybe.vn/cam-nang/suc-khoe/tai-sao-can-giao-duc-gioi-tinh-cho-lua-tuoi-vi-thanh-nien.html

Ngày đăng: 10/12/2021, 00:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê số lượng giải quyết tiếp nhận khai báo tạm trú tại Ninh Thuận từ - BÀI tập lớn nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trung học
Bảng 1 Thống kê số lượng giải quyết tiếp nhận khai báo tạm trú tại Ninh Thuận từ (Trang 85)
Bảng 2: Thống kê số lượng tài khoản đăng ký khai báo tạm trú cho người nước ngoài thông  qua  Internet  từ  tháng  01/2017  đến  tháng  12/2018 - BÀI tập lớn nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh phổ thông trung học
Bảng 2 Thống kê số lượng tài khoản đăng ký khai báo tạm trú cho người nước ngoài thông qua Internet từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2018 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w