Lý do chọn đề tài Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dân số và kế hoạchhoá gia đình DS-KHHGĐ, coi công tác này là một bộ phận quan trọng củachiến lược phát triển đất nước, l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dân số và kế hoạchhoá gia đình (DS-KHHGĐ), coi công tác này là một bộ phận quan trọng củachiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội(KT-XH) hàng đầu ở nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượngcuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình và của toàn xã hội Chính vìvậy cách đây 52 năm, ngay khi bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm phát triểnKT-XH lần thứ nhất, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số216/CP ngày 26/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn Đây là văn bản đầutiên về hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, khởi đầu công tác DS-KHHGĐ ởnước ta với mục tiêu: Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuậncủa gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo việc sinh đẻ củanhân dân ta cần được hướng dẫn một cách thích hợp Với Quyết định này,Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á triểnkhai chương trình DS-KHHGĐ
Trải qua hơn 50 năm thực hiện công tác dân số, Việt Nam đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng từ việc sinh đẻ mang tính tự nhiên, bản năng sangviệc sinh đẻ mang tính chủ động, có kế hoạch; từ việc sinh nhiều con, chấtlượng thấp sang việc sinh ít con, chất lượng ngày càng cao Số con trung bình
của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 6,4 con (năm 1960) xuống
còn 2,05 con vào năm 2012 Tuổi thọ bình quân tăng từ 40 tuổi (năm 1960)
lên 73 tuổi (năm 2012) Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 3,5% (năm 1960) xuống
còn 1,06% năm 2012 Các biện pháp tránh thai (BPTT) ngày càng đa dạng, tỷ
lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT ngày một tăngcao; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số đang dần được củng cố vàhoàn thiện; cuộc vận động thực hiện quy mô gia đình ít con được đông đảonhân dân hưởng ứng
Trang 2Để đạt được những kết quả như trên, Nhà nước đã có nhiều chính sáchdân số phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và từng bước đượcđiều chỉnh theo hướng bao quát toàn diện hơn, chú trọng nâng cao chất lượngdân số và thích ứng với những biến đổi về cơ cấu dân số
Pháp lệnh Dân số (số 06/2003/PL-UBTVQH11) ngày 09 tháng 01 năm
2003 và Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số UBTVQH12) ngày 27 tháng 12 năm 2008 đã được Uỷ ban Thường vụ Quốchội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, XII ban hành lànhững văn bản mang tính pháp lý cao nhất của Việt Nam trong lĩnh vực dân
(số15/2008/PL-số Pháp lệnh Dân số (PLDS) đã thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sáchcủa Đảng về dân số và phù hợp với xu thế xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam
Kể từ ngày có hiệu lực thi hành đến nay, PLDS đã góp phần to lớn vào
sự phát triển KT-XH của đất nước; vào việc thực hiện thành công các mụctiêu phát triển thiên niên kỷ, chỉ tiêu hàng năm và dài hạn về dân số; nâng caotrách nhiệm của công dân trong việc kiểm soát sinh sản, thực hiện các biệnpháp nâng cao chất lượng dân số và nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước
về dân số bằng pháp luật
Chiến lược dân số và sức khoẻ sinh sản (DS-SKSS) giai đoạn
2011-2020 là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển KT-XH, được thựchiện trong mối liên hệ với nhiều chiến lược quốc gia thuộc các lĩnh vực khác,nhằm giải quyết các vấn đề DS-SKSS Chiến lược này tập trung cải thiện tìnhtrạng sức khoẻ sinh sản (SKSS), nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ sinh sản (CSSKSS) bao gồm cả kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), duytrì mức sinh thấp hợp lý, hạn chế xu hướng gia tăng mất cân bằng giới tínhkhi sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhânlực, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, thực hiện thành công sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 3Huyện Thường Tín là một huyện của thành phố Hà Nội, trong nhữngnăm qua công tác DS-CSSKSS luôn được lãnh đạo Huyện uỷ, Hội đồng nhândân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND) quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để hoànthành tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao Mức sinh và tỷ lệ tăng dân số đãgiảm mạnh; tình trạng SKSS, sức khoẻ bà mẹ và trẻ em được cải thiện rõ rệt,góp phần đáng kể vào những thành tựu phát triển KT-XH thời kỳ đổi mới vànâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân địa phương.
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song nhiều vấn đề vềDS-SKSS vẫn là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của địaphương Quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao; tỷ lệ người cao tuổi tăngnhanh, tỷ số giới tính khi sinh ngày càng mất cân bằng nghiêm trọng; sốngười sinh con thứ ba ngày càng nhiều, trong đó không ít là cán bộ đảng viên,công chức nhà nước; nhận thức của một số lãnh đạo xã và nhân dân địaphương còn coi nhẹ vai trò công tác DS-CSSKSS; công tác lãnh đạo, chỉ đạocòn thiếu đồng bộ, thiếu quyết liệt; công tác vận động, tuyên truyền ở một sốđịa phương còn đơn giản, hình thức
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Quản lý nhà nước về dân sức khoẻ sinh sản trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” là
số-vô cùng cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững củađịa phương, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng cuộc sống của nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân khẩu học,SKSS, KHHGĐ, chất lượng dân số của Hà Nội Đó là:
- “Khảo sát tình hình người cao tuổi đang sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2001) của Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Sở Lao động - Thương binh
- Xã hội, Ban đại diện người cao tuổi thành phố Hà Nội) Kết quả cuộc khảosát đã cung cấp những thông tin phong phú, đa dạng về thực trạng người cao
Trang 4tuổi và công tác người cao tuổi tại Thủ đô; đề xuất 8 kiến nghị vừa mang tính
lý luận, tính thực tiễn và khả thi;
- “Nghiên cứu các chính sách và giải pháp nhằm ổn định dân số và nâng cao chất lượng dân số phục vụ phát triển KT-XH Thủ đô giai đoạn 2001-2020” (đề tài cấp thành phố, năm 2001, Chủ nhiệm đề tài: Bác sỹ Lê
Quý Thu) Nghiên cứu đã phân tích cơ sở lý luận về dân số, các chỉ tiêu đánhgiá chương trình dân số, những đặc điểm và các yếu tố KT-XH tác động đếnchất lượng dân số Phân tích thực trạng công tác dân số ở Hà Nội trong 10năm qua và dự báo trong giai đoạn 2001-2010 Đề tài đã đề xuất các chínhsách và giải pháp ổn định, nâng cao chất lượng dân số trong giai đoạn tới;
- “Điều tra, khảo sát thực trạng, tìm giải pháp hạn chế một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn Hà Nội” do Uỷ ban Dân số-
Gia đình và Trẻ em và Viện Khoa học Dân số - Gia đình và Trẻ em thực hiệnnăm 2006 Kết quả nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố KT-XH chính
có ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn Thủ đô Đề tài đề xuất 6 kiếnnghị nhằm hạn chế một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến nâng cao chất lượngdân số Thủ đô trong thời kỳ 2006-2010
- “Thực trạng và giải pháp phát triển một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dân số thủ đô” - Đề tài cấp thành phố, 2009, Chủ
nhiệm đề tài: Bác sỹ Nguyễn Thị Thanh Hương Đề tài đã làm rõ thực trạngmột số dịch vụ xã hội cơ bản, phân tích các yếu tố tác động tới chất lượng củacác đơn vị có liên quan đến chất lượng dân số Thủ đô; đề xuất các giải pháp,chính sách, biện pháp phát triển các dịch vụ xã hội nhằm nâng cao chất lượngdân số Thủ đô;
- “Quản lý nhà nước về DS-SKSS trên địa bàn thành phố Hà Nội”
(Luận văn thạc sĩ năm 2012 của tác giả Vũ Minh Lộ) Tác giả đã khái quátnhững kiến thức cơ bản quản lý nhà nước (QLNN) về DS-SKSS; phân tíchthực trạng dân số và tình trạng QLNN về DS-SKSS trên địa bàn thành phố Hà
Trang 5Nội; đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN về DS-SKSStrên địa bàn thành phố Hà Nội…
Kể từ khi có Quyết định 2013/QĐ- TTg về “Chiến lược DS-SKSS giaiđoạn 2011- 2020, do Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 14/11/2011, vớimục tiêu nâng cao chất lượng dân số, cải thiện SKSS, duy trì mức sinh thấphợp lý, giải quyết tốt những vấn đề cơ cấu dân số, phân bố dân số góp phầnthực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Chiếnlược DS-SKSS giai đoạn 2011- 2020 với mục tiêu mới, trên cơ sở đó đã cómột số nghiên cứu về công tác QLNN về DS-SKSS tại một số địa phương.Tuy nhiên, có thể thấy cho đến nay, chưa có nghiên cứu riêng nào về công tácQLNN về DS-SKSS trên địa bàn huyện Thường Tín
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đánh giá về thực trạng và đề ra những giải pháp nhằm hoànthiện QLNN về DS-SKSS trên địa bàn huyện Thường Tín thành phố Hà Nộitrong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Khái quát những kiến thức cơ bản quản lý nhà nước về DS-SKSS
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về DS-SKSS trên địa bàn huyệnThường Tín thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về DS-SKSS trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý nhà nước về DS-SKSS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng QLNN về DS-SKSS trên địa bàn huyện Thường Tín, thànhphố Hà Nội trong giai đoạn 2007- 2012
Trang 65 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng, Nhànước ta; các kiến thức lý luận về dân số, CSSKSS
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương phápduy vật biện chứng; phương pháp duy vật lịch sử; phương pháp tổng hợp,phân tích tài liệu, so sánh, thống kê; phương pháp khảo sát, điều tra Trong
đó, phương pháp được sử dụng chủ yếu là tổng hợp và phân tích tài liệu
Đối với phương pháp khảo sát, điều tra, tác giả đã điều tra 3 nhóm đốitượng (tổng số 1050 phiếu điều tra):
- Người dân (vị thành niên, cặp vợ chồng, người ngoài tuổi sinh đẻ):
350 người thuộc 5 xã, mỗi xã 70 người Các xã: Văn Bình, Tự Nhiên, TôHiệu, Nghiêm Xuyên, Văn Tự
- Người cung cấp phương tiện, dịch vụ dân số/KHHGĐ/SKSS và nângcao chất lượng dân số 350 người trên địa bàn huyện Thường Tín
- Cán bộ Đảng, nhà nước, đoàn thể, sự nghiệp (29 xã/thị trấn và huyện):Chủ tịch, Bí thư, Mặt trận Tổ quốc, Văn phòng; Tư pháp, Tài chính, Hội Phụ
nữ, Đoàn Thanh niên…: 350 người
Phiếu điều tra được gửi theo đường công văn đến các đơn vị Riêngđiều tra với đối tượng nhân dân, thông qua Cụm trưởng cụm dân cư tác giảcùng đi điều tra, lấy số liệu theo mẫu
Kết quả số phiếu thu về là 1050 đạt 100%
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: nghiên cứu, hệ thống hóa một cách toàn diện những
vấn đề cơ bản của QLNN về công tác DS-SKSS
- Về mặt thực tiễn: nghiên cứu, đánh giá thực trạng QLNN về công tác
DS-SKSS trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội Từ đó đưa ra
Trang 7các giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về công tácDS-SKSS ở địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược DS-SKSSgiai đoạn 2011-2020, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ
XV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thường Tín khoá XXII
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dân số - sức
khỏe sinh sản;
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dân số - sức khỏe sinh sản
trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà
nước về dân số - sức khỏe sinh sản trên địa bàn huyện Thường Tín trong thờigian tới
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DÂN SỐ - SỨC KHỎE SINH SẢN
cư [13, tr.13], [16, tr.1]
* Quy mô dân số
Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa
lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định.
Quy mô dân số biến động theo thời gian và không gian, mức tăng giảmtuỳ thuộc vào các biến số: sinh, chết, di dân và các biến số này được xác địnhqua tổng điều tra dân số, thống kê dân số, dự báo dân số [13, tr.18], [16, tr.1]
* Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính,
độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác.
Trang 9Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính,tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mứcsống, thành thị nông thôn… [13, tr.26], [16, tr.1]
* Phân bố dân cư
Phân bố dân cư là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính [16, tr.1].
số cụ thể, dân số của mỗi nước hoặc mỗi vùng và vào những thời kỳ nhất định
sẽ có một chất lượng nhất định Chất lượng dân số được nhìn nhận liên quanbiện chứng đến số lượng dân Chất lượng dân số bao hàm chất lượng người từlúc mới sinh cho đến khi chết, cả nam và nữ Chất lượng dân số không chỉđược đánh giá về nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, các số đo cơ bản vềvòng ngực, bụng, tay, chân, sự cân đối của cơ thể với từng lứa tuổi ), tố chất,sức chịu đựng dẻo dai… mà còn được nhìn nhận thông qua cuộc sống tinhthần, con người quan hệ với nhau như thế nào, họ có cơ hội bình đẳng khôngtrước sự lựa chọn việc làm, giáo dục, phúc lợi, hôn nhân gia đình , có đượctôn trọng và tự do cá nhân không, họ có môi trường để phát huy khả năngsáng tạo hay không trong thực tế Chất lượng dân số bao hàm các khái niệm
về chất lượng nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng lao động
Người ta có thể nhận biết chất lượng dân số một cách tổng thể địnhtính Các nước phát triển thường được coi là có chất lượng dân số cao hơn cácnước đang phát triển, mà không kể dân số của nước này hay nước khác cóđông về số lượng hay không Một khi kinh tế phát triển cao sẽ là tiền đề vậtchất để cải thiện về mặt tinh thần và xã hội của dân cư Đồng thời, khi có một
Trang 10môi trường xã hội tốt, con người được coi là trung tâm của sự phát triển, họ sẽ
có điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển Trong thực tế, khi đánh giá chấtlượng dân số người ta thường thông qua hệ thống các chỉ tiêu và có thể phân
tổ các chỉ tiêu này như sau: 1/ về mặt thể lực (chiều cao, cân nặng, sự cân đốicủa cơ thể, sức khoẻ ); 2/ về mặt trí lực (trình độ học vấn, chuyên môn, nghềnghiệp, văn hoá ); 3/ về mặt phẩm chất (thái độ cần cù yêu lao động và laođộng có kỷ luật, có tổ chức, tính gắn bó cộng đồng, tính sáng tạo )
Tuy nhiên ở đây theo cách tiếp cận hệ thống và có thể lượng hoá, sosánh, ngoài các chỉ tiêu nhân khẩu học, người ta đưa ra các chỉ tiêu khái quáttính chung cho toàn bộ dân số như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổngsản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người; chỉ số phát triển con người(HDI); các chỉ báo về sức khoẻ và dinh dưỡng; các chỉ báo về giáo dục
Quản lý nhà nước về chất lượng dân số là việc theo dõi, tổng hợp vềchất lượng dân số; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của phápluật để bảo đảm chất lượng dân số đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực [6, tr.10]
1.1.2 Khái niệm về sức khoẻ sinh sản
Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát
triển (ICPD) họp tại Cairo (Ai Cập) thì “Sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm yếu trong tất cả các vấn đề liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con người, các chức năng và quá trình của nó” Do đó SKSS hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình dục thoả
mãn, an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thườngxuyên như thế nào trong việc này Điều kiện cuối cùng này ngụ ý nói về quyềncủa phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp KHHGĐ antoàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp nhằm điều hoà việc sinh đẻ không trái vớipháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thích hợp
Trang 11giúp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, và tạo cho các cặp
vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khoẻ mạnh [6, tr.8]
Từ định nghĩa này có thể khẳng định rằng, việc CSSKSS là một tổngthể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnhphúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS Nó cũng baogồm cả sức khoẻ tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan
hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản
và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Mặt khác, “Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi
cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình” [16,
Tiếp cận như vậy là hướng về chất lượng nguồn lực con người, tạo rathế vững chắc, tự giác, tự quyết định vấn đề KHHGĐ Chăm lo SKSS khôngchỉ tập trung vào chăm lo cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh sản mà cònchăm lo tác động đến xã hội để quyền sinh sản của con người được đảm bảotối đa về sự an toàn của hệ thống sinh sản, có môi trường thuận lợi cho việcđảm bảo quyền sinh sản được thể chế hoá bằng chính sách và luật pháp vàthống nhất nhận thức của xã hội về vấn đề này theo đúng nghĩa về SKSS Yếu
tố thể chất về cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh sản, yếu tố tâm lý, tinhthần, yếu tố xã hội Cách tiếp cận CSSK hiện đại nhất là CSSKSS theo vòngđời và quyền sinh sản của con người
Trang 12Ở các quốc gia phát triển, có chỉ số phát triển con người (HDI) caoCSSKSS bao gồm cả nam và nữ, nhưng ở các nước đang phát triển thì mới có
đủ nguồn lực chăm lo cụ thể đến nữ giới
* Nội dung sức khoẻ sinh sản
Trong kế hoạch hành động sau hội nghị Cairo của Quỹ dân số Liên hợpquốc (UNFPA), SKSS bao gồm 6 nội dung chính có liên quan mật thiết vớinhau, đó là: quyền sinh sản; KHHGĐ; sức khoẻ phụ nữ và làm mẹ an toàn; vôsinh; bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhưng mỗikhu vực, mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên của riêng mình Ở ViệtNam các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình SKSS đã cụ thểhoá thành 10 nội dung như sau:
1) Làm mẹ an toàn: bao gồm việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ vàsau khi đẻ mẹ và con an toàn;
2) Kế hoạch hóa gia đình: làm cho mức sinh sản tự nhiên phù hợp vớinhịp độ phát triển kinh tế, bảo đảm thực hiện quyền sinh sản;
3) Nạo, hút thai (giảm nạo hút thai ngoài ý muốn);
4) Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: viêm hố chậu, viêm âm đạo,viêm tử cung;
5) Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như: lậu, giang mai, viêmgan B và HIV/AIDS;
6) Giáo dục tình dục;
7) Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục;
8) Vô sinh (giúp đỡ các cặp vô sinh, cá nhân vô sinh);
Trang 13* Mục tiêu của sức khoẻ sinh sản
Bảo đảm rằng các dịch vụ CSSKSS trên mọi lĩnh vực, bao gồm cảKHHGĐ và các thông tin chính xác, toàn diện đều có thể chấp nhận được, dễtiếp cận, vừa túi tiền và thuận lợi đối với khách hàng
Cho phép và hỗ trợ khách hàng tự quyết định về việc sinh đẻ và lựachọn các BPTT cũng như lựa chọn các biện pháp khác để điều khiển quá trìnhsinh sản một cách hợp lý, và được cung cấp thông tin, giáo dục và các biệnpháp để đạt được mục tiêu đó
Đáp ứng nhu cầu về SKSS thay đổi qua các giai đoạn cuộc sống, phùhợp với tính đa dạng của các cộng đồng địa phương
1.1.3 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về dân số
- sức khoẻ sinh sản
1.1.3.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Như vậy, nói đến quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và
ít nhất một đối tượng chịu tác động của chủ thể quản lý và các khách thể cóquan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý;
- Phải có mục tiêu vạch ra cho cả đối tượng và chủ thể quản lý;
- Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đối tượng quản lý cóthể là con người, sự vật, hiện tượng được chủ thể quản lý;
- Khách thể, xét trong quan hệ độc lập với chủ thể, là con người hoặc tổchức mà qua đó chủ thể quản lý có thể tác động lên đối tượng quản lý
Trang 14Sơ đồ 1.1: Logic của quá trình quản lý
1.1.3.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người [14, tr.10].
Quản lý nhà nước biểu hiện trước hết ở việc tác động vào nhận thứchành vi của con người, các tổ chức, buộc mọi cá nhân, tổ chức phải hànhđộng theo một định hướng và mục tiêu nhất định Bên cạnh việc sử dụng phápluật như một phương thức cơ bản, quan trọng nhất, Nhà nước cũng chú trọngđến việc tuyên truyền, giáo dục và động viên tinh thần các công dân, kết hợpvới việc xây dựng và thực hiện các chính sách đòn bẩy kích thích kinh tế, vậtchất nhằm phát huy tính chủ động, sánh tạo của cơ quan, doanh nghiệp và mọitầng lớp nhân dân
Quản lý nhà nước khác với dạng quản lý của các chủ thể như Côngđoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên… ở chỗ các chủ thể này dùng hình thứcgiáo dục, vận động quần chúng là chủ yếu còn QLNN sử dụng phương thứcpháp luật là chủ yếu [14, tr.10]
1.1.3.3 Khái niệm quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
Quản lý nhà nước về DS-SKSS là quá trình tác động có ý thức, có tổ chức của nhà nước đến các quá trình và yếu tố DS-SKSS nhằm làm thay đổi trạng thái DS-SKSS để đạt được mục tiêu đã đề ra [14, tr.11].
Trang 15Quá trình quản lý đó đi từ việc nghiên cứu hoạch định chính sách, xâydựng pháp luật, các chiến lược, chương trình, kế hoạch, xây dựng hệ thống tổchức bộ máy, hình thành cơ chế quản lý điều hành và tác động làm cho cácchủ trương, chính sách đến tận người dân và biến nó thành hiện thực trongcuộc sống Quản lý nhà nước về DS-SKSS đòi hỏi phải nắm được một cáchđầy đủ, kịp thời và chính xác tình hình dân số bao gồm quy mô, cơ cấu, phân
bổ và chất lượng dân số
- Chủ thể QLNN về DS-SKSS là nhà nước với hệ thống các cơ quan của
Nhà nước được phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 khu vực là Lậppháp, Hành pháp và Tư pháp Trong đó, quản lý hành chính (Hành pháp) vềDS-SKSS là cực kỳ quan trọng
- Đối tượng QLNN về DS-SKSS là các quá trình và yếu tố dân số bao
gồm sinh, tử, di cư, quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số
- Khách thể của QLNN về DS-SKSS là các tổ chức, cá nhân
- Mục tiêu QLNN về DS-SKSS là trạng thái thay đổi về các yếu tố quy
mô, cơ cấu, phân bổ dân số, thực hiện CSSKSS hoặc các quá trình sinh, chết,
di dân mà nhà nước mong muốn đạt được cho phù hợp với điều kiện pháttriển KT-XH của đất nước
Quản lý nhà nước về DS-SKSS cũng như các lĩnh vực khác được thựchiện thông qua việc ban hành và thực thi các đường lối, chính sách và phápluật Đồng thời, trong những điều kiện cụ thể, nhà nước đảm nhiệm việc tổchức, cung cấp các dịch vụ về DS-SKSS như là các dịch vụ công, để quá trìnhthay đổi nhận thức và hành vi của công dân diễn ra đúng hướng và nhanhchóng hơn
1.2 Quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
1.2.1.1 Một số thành tựu cơ bản sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh Dân số (2003-2013)
Trang 16* Về nhận thức
Qua 10 năm triển khai thực hiện PLDS, công tác DS-SKSS đã cónhững chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ pháttriển KT-XH của đất nước Để có được kết quả này là do nhận thức của cáccấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về công tác DS-SKSS có nhiều thay đổi và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn địnhquy mô, cơ cấu dân số, nâng cao chất lượng dân số Mặt khác, chính sự nhậnthức này cũng tác động tích cực trở lại đối với việc đạt được các kết quả củacông tác DS-SKSS
* Về quy mô dân số
Năm 2003, dân số Việt Nam là 80,47 triệu người, tăng lên 82,39 triệungười vào năm 2005, 86,93 triệu người vào năm 2010 (đạt mục tiêu Chiến lược
đề ra là dưới 89 triệu người) và 88,78 triệu người năm 2012 [2, tr.17]
Đồ thị 1.1: Quy mô dân số Việt Nam 2002-2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4 hàng năm.
Từ 2003-2012, dân số đã tăng thêm 8,31 triệu người Tỷ lệ phát triển dân
số từ 1,17% (2003) xuống 1,05% năm 2010 (vượt mục tiêu đề ra là 1,14% vàonăm 2010) và 1,06% năm 2012 [2, tr.17]
Trang 17Đồ thị 1.2: Tỷ lệ tăng dân số Việt Nam 2002-2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4 hàng năm.
Sau 3 năm thực hiện PLDS từ năm 2005 đã đạt mức sinh thay thế trênphạm vi cả nước, những năm gần đây đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế.Nhờ quá trình giảm sinh này, nhịp độ gia tăng dân số đã chậm lại Tốc độ giatăng dân số bình quân năm thời kỳ 1989-1999 là 1,7%, đến thời kỳ 1999-2009còn 1,2% Quy mô dân số cả nước, từ chỗ tăng thêm trung bình gần 1,2 triệungười mỗi năm trong thời kỳ 1989-1999, đến thời kỳ 1999-2009 còn 945nghìn người/1 năm Đặc biệt, từ 1/4/2010 đến 1/4/2011 số dân cả nước chỉtăng thêm 863.140 người [2, tr.18]
Từ năm 2003 đến nay, mức sinh giảm chậm và có sự dao động “Lênxuống” qua các năm Tổng tỷ suất sinh (TFR) từ 2,28 con/1 phụ nữ (2002)giảm xuống 2,09 con/1 phụ nữ (2006), đạt 2,00 con/1 phụ nữ (2010) và 2,05con/1 phụ nữ (2012) 8 năm chúng ta đã duy trì tổng tỷ suất sinh ổn định trongkhoảng 2,0 - 2,1 con là một thành công lớn mà chưa quốc gia nào trên thế giớilàm được [2, tr.19]
Trang 18Đồ thị 1.3: Tổng tỷ suất sinh Việt Nam 2002-2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4 hàng năm.
Tỷ suất sinh thô từ (CBR) 19,0‰ (2002) dao động tăng lên 19,2‰(2004) và giảm dần xuống 17,1‰ (2010) và 16,9‰ (2012) Mức giảm sinhtrong 10 năm 2002-2012 là 2,1‰, bình quân mỗi năm giảm 0,21‰ Tỷ lệ sinhcon thứ 3 trở lên giảm từ 21,5% (2003) xuống 20,8% (2005), 15,1% (2010)
và 14,2% (2012) [2, tr.17]
* Về cơ cấu dân số
Kết quả giảm sinh còn làm thay đổi rõ rệt cơ cấu dân số theo tuổi, 4năm sau PLDS Việt Nam đã bước vào thời kỳ cơ cấu “Dân số vàng”, tạo lợithế về nguồn nhân lực, một điều kiện quan trọng để nền kinh tế có bước tăngtrưởng bứt phá
Đồ thị 1.4: Tỷ trọng dân số theo nhóm tuổi năm 2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2012.
* Về chất lượng dân số
Trang 19Chỉ số phát triển con người gia tăng ở cả 3 yếu tố thành phần là thu nhậpquốc dân bình quân đầu người, tuổi thọ trung bình và chỉ số giáo dục Tuổi thọbình quân của nước ta đạt khá cao từ 68,5 tuổi năm 2000, tăng lên 73 tuổi năm
2010, vượt mục tiêu Chiến lược đề ra là 71 tuổi Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổigiảm khá nhanh, từ 31,2‰ năm 2000 xuống còn 17,8‰ năm 2005 và đạt 15,8‰năm 2010, vượt mục tiêu Chiến lược đề ra là dưới 20‰ năm 2010 [2, tr.23]
Đồ thị 1.5: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) Việt Nam 2002-2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2012.
Đồ thị 1.6: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) Việt Nam 1979-2009
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2012.
1.2.1.2 Những thách thức về dân số - sức khoẻ sinh sản cần giải quyết trong thời gian tới
* Quy mô dân số
Trang 20Tuy đã đạt mức sinh thay thế, nhưng những nguyên nhân khách quan
và chủ quan làm mức sinh trở lại vẫn còn nguyên giá trị như: phong tục tậpquán, tư tưởng Nho giáo muốn có đông con, phải có con trai còn rất nặng nềcủa người dân trong xã hội nông nghiệp (dân số nông thôn chiếm tới 70%); sốphụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng nhanh, lên 25,9 triệu người, chiếmtới 29,8% dân số vào năm 2020; một số tỉnh có mức sinh đã tăng trở lại saukhi đạt mức sinh thay thế trước năm 2005 Vì vậy, nếu chủ quan, thoả mãn thìtổng tỷ suất sinh có thể là 2,35-2,5 con, quy mô dân số sẽ đạt mức cực đại là130-142 triệu người vào năm 2050 (theo dự báo của Liên hợp quốc)
Với quy mô gần 90 triệu người, Việt Nam hiện là nước đông dân thứ 14trên thế giới và thứ 3 ở Đông Nam Á Quy mô dân số lớn, mật độ dân số caochúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn về mọi mặt cản trởtiến trình phát triển KT-XH của đất nước
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên ở nước ta vẫn còn cao nhất là ở khuvực nông thôn (16,3% năm 2012) Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở nông thôn còncao và cao gấp khoảng 2 lần khu vực thành thị (dù ở nông thôn, tình trạng nàyđang có xu hướng giảm nhanh) [2, tr.19]
* Cơ cấu dân số
Hiện tượng nổi lên trong thập kỷ qua là tỷ số giới tính khi sinh tăngnhanh và bước vào mức cao từ 107 (01/4/1999), lên 110,5 (01/4/2009) và112,3 (01/4/2012) Dự báo tỷ số này có thể vượt trên mức 120 vào năm 2020nếu không có giải pháp tích cực Tình trạng này sẽ tác động xấu đến các chỉ
số nhân khẩu học, vấn đề trật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn trong việc xâydựng gia đình của các thế hệ tương lai
Trang 21Đồ thị 1.7: Tỷ số giới tính khi sinh, Việt Nam 2006-2012
Nguồn: Tổng cục DS-KHHGĐ, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4 hàng năm.
Tuổi thọ bình quân tăng nhanh và mức sinh giảm, nên số lượng và tỷ lệngười cao tuổi trong dân số đã tăng lên rõ rệt, với 7% dân số 65 tuổi trở lênnăm 2011 thì nước ta đã bước vào giai đoạn “Già hoá dân số” Số lượngngười cao tuổi sẽ tăng nhanh trong 20 năm tới, từ khoảng 11 người dân mới
có 1 người cao tuổi năm 2010 lên 6 người dân có 1 người cao tuổi năm 2029
và thời gian quá độ từ “Già hoá dân số” sang “Dân số già” ngắn hơn nhiềunước trên thế giới chỉ khoảng 16-18 năm [2, tr.46]
* Phân bố dân số
Tình trạng di cư ngày càng diễn ra mạnh mẽ, số lượng người di cư ngàycàng đông và nhu cầu tư vấn, cung cấp phương tiện tránh thai (PTTT), dịch
vụ CSSKSS, dịch vụ khám, phát hiện sớm, điều trị các dị dạng, bệnh, tật bẩmsinh cho hàng triệu người di cư là rất cần thiết và rất lớn
Tình trạng di cư diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới sẽ làm thay đổi cơcấu và phân bố dân cư Những nơi người di cư đến sẽ làm tăng dân số, trở nênquá tải và nhiều khi không đáp ứng được hết các nhu cầu cơ bản về ăn, ở, môitrường, học tập, văn hoá, CSSKSS , trong khi nơi đi chỉ còn người già và trẻ
em, sẽ làm thay đổi cơ cấu dân số và phân bố dân cư của cả nơi xuất cư và di
cư đến [2, tr.47]
* Chất lượng dân số
Trang 22Mặc dù chỉ số phát triển con người tăng lên, nhưng chưa làm thay đổi
vị trí trong danh sách các nước được xếp hạng, Việt Nam vẫn nằm trongnhóm các nước có chỉ số phát triển con người ở mức trung bình là 0,590điểm, thứ bậc xếp hạng là 128/187 nước tham gia xếp hạng Sức khoẻ thể lựccủa Việt Nam còn kém so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đặcbiệt là chiều cao, cân nặng và sức bền
Tỷ lệ trẻ em mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền chiếm tới 3% và
xu hướng tiếp tục gia tăng do điều kiện sống, môi trường độc hại, lối sốnghoặc phong tục, tập quán lạc hậu Tỷ lệ người bị khuyết tật chiếm từ 7,8% dân
số từ 5 tuổi trở lên, trong đó tỷ lệ người không thể nhìn, nghe, vận động, ghinhớ là 4,9% Nếu không có biện pháp ngăn chặn trong việc dự phòng và điềutrị sớm một số bệnh thì tỷ lệ trẻ em mới sinh bị dị tật bẩm sinh có khả năngtăng cao và để lại hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội, trong khi đó nhiềubệnh có thể dự phòng hay điều trị sớm được Vì vậy việc sàng lọc trước sinh,sàng lọc sơ sinh là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dân số
Mặc dù Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu “Dân số vàng” nhưng chấtlượng nguồn nhân lực, chất lượng dân số còn hạn chế: tỷ lệ biết đọc, biết viếtcao nhưng trình độ bậc trung, bậc cao còn thấp
* Sức khoẻ sinh sản
Tình trạng sức khoẻ bà mẹ còn nhiều thách thức Tai biến sản khoa và
tử vong mẹ tuy đã giảm nhưng vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng,miền Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹtrước, trong và sau sinh, chăm sóc sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi,vùng sâu, vùng xa; đẻ không có cán bộ được đào tạo đỡ còn khá phổ biến ởmột số vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinhsau đẻ còn thấp
Cung ứng phương tiện tránh thai gặp khó khăn Trong những năm tới,
do số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ vẫn tiếp tục tăng (đạt xấp xỉ 27 triệu
Trang 23người vào năm 2020), nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt làcác BPTT hiện đại sẽ tiếp tục tăng và luôn giữ ở mức cao Hầu hết PTTT phảinhập khẩu, trong khi nguồn quốc tế viện trợ PTTT không còn Vì vậy việcđảm bảo an ninh PTTT trong giai đoạn tới là một thách thức lớn, Nhà nướccần đầu tư hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để mua PTTT.
Tình trạng phá thai và vô sinh còn nhiều Tỷ lệ phá thai, bao gồm cả
phá thai ở thanh niên, vị thành niên còn cao Tình trạng phá thai lặp lại cònkhá phổ biến, phá thai không an toàn không ít Tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinhthứ phát còn khá cao, nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cho người vôsinh còn hạn chế
Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền qua đường tình dục- HIV và ung thư đường sinh sản còn cao Việc khám, phát
hiện, điều trị, theo dõi và tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm đúng mức Việcsàng lọc và phát hiện sớm ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng rãi
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV từ chồng và bạn tình có xu hướng gia tăng
1.2.1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
Học thuyết Mác - Lê nin đã khẳng định: sản xuất vật chất và tái sảnxuất dân cư, suy cho cùng, là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loàingười Chỉ khi nào quá trình tái sản xuất con người ở mức hợp lý, tức là sốdân và nhịp độ gia tăng dân số phù hợp với nền sản xuất vật chất thì xã hộimới phát triển, chất lượng cuộc sống của con người mới được nâng cao
Phát triển xã hội là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống; nghĩa là làmcho thu nhập của người dân ngày càng được nâng lên, xã hội phát triển và tạođược nhiều việc làm, đời sống tinh thần được chăm lo, các điều kiện về chămsóc sức khoẻ cho người dân được tiếp cận ở mức cao, cơ hội học tập và nềngiáo dục được mở rộng và có chất lượng, xã hội công bằng và người dân đượcsống trong môi trường tốt nhất có thể Tuy nhiên, phát triển xã hội hay chấtlượng cuộc sống xã hội lại phụ thuộc và bị tác động ảnh hưởng trực tiếp bởi
Trang 24số lượng và chất lượng dân số Dân số vừa là lực lượng sản xuất, chủ thể của
xã hội và dân số cũng là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ xã hội Với
cả hai khía cạnh này, dân số có quan hệ chặt chẽ, cùng với sự phát triển vàtương tác qua lại với kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật,quốc phòng- an ninh, môi trường do vậy ngày càng đặt ra trước nhà nướcnhiều vấn đề trong lĩnh vực DS-CSSKSS đòi hỏi QLNN về DS-SKSS phảikhông ngừng đổi mới về nội dung và phương pháp để đáp ứng với sự pháttriển không ngừng của xã hội
Sau hơn 50 năm (1961-2013) thực hiện chủ trương, chính sách, phápluật của Đảng, Nhà nước về dân số, KHHGĐ và CSSKSS, đặc biệt là sau 10năm (2003-2013) thực hiện Chiến lược Dân số và Chiến lược quốc gia vềCSSKSS; thực hiện cam kết quốc tế về dân số- phát triển và các mục tiêu pháttriển Thiên niên kỷ, công tác DS-KHHGĐ, CSSKSS đã đạt những kết quảquan trọng Tuy nhiên, nhiều vấn đề DS-SKSS vẫn là thách thức lớn đối với
sự phát triển bền vững của đất nước
Mặt khác, bên cạnh những thành tích nổi bật mà QLNN về DS-SKSS
đã đạt được thì vẫn tồn tại không ít những hạn chế cần phải khắc phục như:nhà nước chưa ban hành Luật Dân số, một số văn bản hướng dẫn còn chậmban hành; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về DS-CSSKSS còn hạnchế (chưa thường xuyên, sâu rộng tới mọi thành phần trong xã hội…); côngtác chỉ đạo, điều hành còn thiếu đồng bộ, quản lý dân cư còn nhiều bất cập; sốliệu về các chỉ tiêu DS-CSSKSS giữa các đơn vị theo dõi không thống nhất.Công tác truyền thông chưa đủ mạnh để làm cho người dân thay đổi hành vi.Ngân sách địa phương eo hẹp nên việc đầu tư nguồn lực tài chính cho côngtác DS-CSSKSS còn rất hạn chế…); công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữliệu quốc gia về dân cư còn chậm
Trang 25Do vậy, QLNN về DS-SKSS là yêu cầu tất yếu, khách quan đồng thờiđòi hỏi QLNN phải không ngừng đồi mới về nội dung, phương pháp để đápứng với sự phát triển không ngừng của xã hội.
1.2.2 Chức năng quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
1.2.2.1 Xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật về DS-SKSS là toàn bộ quá trình nghiên cứu, soạnthảo, ban hành, phổ biến và thực thi các văn bản qui phạm pháp luật nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội, hành vi của tổ chức, cá nhân trong các hoạtđộng về hoặc liên quan đến lĩnh vực DS-SKSS
Đối tượng điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật về DS-SKSSkhông chỉ bao gồm các tổ chức, cá nhân là đối tượng quản lý mà còn bao gồm
cả các cơ quan, tổ chức cá nhân đóng vai trò là chủ thể quản lý Quá trình xâydựng pháp luật về DS-SKSS giúp cho chủ thể quản lý có được hành lang pháp
lý trong việc thực hiện các mục tiêu DS-SKSS
1.2.2.2 Xây dựng kế hoạch
Chức năng xây dựng kế hoạch là chức năng quan trọng nhất trong cácchức năng quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn, xây dựng chươngtrình hành động trong tương lai của hệ thống
Trong công tác DS-CSSKSS, xây dựng kế hoạch là chức năng cơ bảncủa QLNN về DS-SKSS, là sự mở đầu của quá trình quản lý, đồng thời là mộtbiện pháp hữu hiệu của quản lý Nhờ có kế hoạch mà hoạt động của toàn bộ
hệ thống cơ quan QLNN về DS-SKSS cũng như hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác DS-SKSS được tiến hành thống nhất
và hướng vào mục đích chung
Ngoài ra, kế hoạch còn là căn cứ cho các hoạt động tổ chức, điều hành,giám sát và đánh giá kết quả, hiệu quả QLNN về DS-KHHGĐ nói riêng, côngtác DS-SKSS nói chung
1.2.2.3 Tổ chức, điều hành
Trang 26Chức năng tổ chức, điều hành công tác DS-SKSS là tập hợp nhữngnhiệm vụ mà cơ quan nhà nước các cấp phải thực hiện nhằm thiết lập hệthống quản lý cũng như vận hành hệ thống đó hoạt động trong khuôn khổ củapháp luật theo định hướng của chính sách và kế hoạch về DS-SKSS
Tổ chức, điều hành có vị trí then chốt trong tiến trình QLNN về SKSS: tạo ra sự thống nhất, động lực sáng tạo cho các cơ quan, đơn vị trong
hệ thống quản lý nhà nước, cơ quan quản lý các chương trình dự án SKSS Huy động được và sử dụng có hiệu quả các lực lượng và nguồn lựccông tác DS-SKSS (bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực, nguồn lực trongnước và nguồn lực nước ngoài)
DS-1.2.2.4 Giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá
* Giám sát
Giám sát về DS-SKSS là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhànước nhằm phát hiện, chấn chỉnh những lệch lạc trái pháp luật, sai mục tiêutrong công tác DS-CSSKSS
Mục đích của hoạt động giám sát này không chỉ đảm bảo việc tuân thủhiến pháp, pháp luật, chính sách về DS-SKSS, mà còn dự báo xu thế vận động
và phát triển của các yếu tố và quá trình dân số là căn cứ cho điều chỉnh chínhsách phát hiện và điều chỉnh những lệch lạc, vướng mắc trong việc thực hiệncác chương trình, kế hoạch dự án thuộc lĩnh vực DS-SKSS
* Kiểm tra
Kiểm tra là yêu cầu căn bản của quản lý nói chung và QLNN về SKSS nói riêng, đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả caohơn, các hoạt động tuân thủ đầy đủ pháp luật và chính sách, đồng thời đảmbảo thực thi quyền lực, quyền kiểm soát của nhà nước
DS-Kiểm tra giúp cơ quan quản lý nhà nước theo sát và đối phó kịp thờivới sự thay đổi của tình hình, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình hoàn thiện
và đổi mới QLNN về DS-SKSS
* Thanh tra
Trang 27Thanh tra về DS-SKSS thuộc loại thanh tra chuyên ngành, nghĩa là hoạtđộng thanh tra được thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trongviệc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn kỹ thuật, quy tắcquản lý về DS-SKSS
Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật về DS-SKSS; phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chínhsách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biệnpháp khắc phục; phát huy những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệulực, hiệu quả của hoạt động QLNN về DS-SKSS, bảo vệ lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
* Đánh giá
Đánh giá là một chức năng quan trọng của quản lý nói chung và QLNN
về DS-SKSS nói riêng, là khâu không thể thiếu của quá trình quản lý Đánhgiá là một hoạt động khoa học, có tính khái quát mà bản chất là sự so sánhgiữa các phần việc, kết quả đã đạt được sau một khoảng thời gian nhất địnhvới các mục tiêu đề ra để xem xét mức độ đạt được mục tiêu về DS-SKSS
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về dân số - sức khoẻ sinh sản
Pháp lệnh dân số do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua, ban hànhnăm 2003, quy định nội dùng QLNN về dân số gồm:
- Xây dựng, tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch,chương trình, kế hoạch và các biện pháp thực hiện công tác dân số;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dân số;
- Tổ chức, phối hợp thực hiện công tác dân số giữa các cơ quan nhànước, đoàn thể nhân dân và các tổ chức, cá nhân tham gia công tác dân số;
- Quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ về tổ chức bộ máy và cán bộ quản lýnhà nước về dân số;
Trang 28- Tổ chức, quản lý công tác thu thập, xử lý, khai thác, lưu trữ thông tin,
số liệu về dân số; công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dâncư; tổng điều tra dân số định kỳ;
- Tổ chức, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làmcông tác dân số;
- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyểngiao công nghệ trong lĩnh vực dân số;
- Tổ chức, quản lý và thực hiện tuyên truyền, phổ biến, vận động nhândân thực hiện pháp luật về dân số;
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật về dân số
Tiểu kết chương 1
Công tác DS-CSSKSS là một bộ phận quan trọng của Chiến lược pháttriển đất nước, là một trong những yếu tố hàng đầu để nâng cao chất lượng vàphát huy thế mạnh về nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từnggia đình và của toàn xã hội
Nội dung của chương 1 đã trình bày tổng quan về dân số, SKSS, quản
lý nhà nước về DS-SKSS, khái quát một cách hệ thống những kiến thức cơbản của quản lý nhà nước về DS-SKSS Trên cơ sở đó nêu bật sự cần thiết củaquản lý nhà nước về DS-SKSS, đây là yêu cầu tất yếu, khách quan đồng thờiđòi hỏi công tác quản lý phải không ngừng đổi mới về nội dung và phươngpháp để đáp ứng với sự phát triển không ngừng của xã hội
Việc đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về DS-SKSS trên địa bàn huyệnThường Tín, thành phố Hà Nội sẽ được trình bày trong chương 2 của luận văn
Chương 2
Trang 292.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thường Tín
Huyện Thường Tín là một huyện trực thuộc thành phố Hà Nội gồm 28
xã và 1 thị trấn với 169 thôn, cụm dân cư, tổ dân phố, diện tích 127,59 km²,nằm ở phía Nam của Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp huyện Thanh Oai, phíaBắc giáp huyện Thanh Trì, phía Đông giáp sông Hồng, ngăn cách với tỉnhHưng Yên, phía Nam giáp huyện Phú Xuyên
Thường Tín có hệ thống đường giao thông thuận lợi với hai tuyếnđường bộ chạy dọc huyện là quốc lộ 1A và đường cao tốc Pháp Vân- CầuGiẽ Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 3 nhà ga là gaThường Tín, ga Tía và ga Đỗ Xá Đường thủy có sông Hồng, với cảng HồngVân, cảng Vạn Điểm Qua sông đi tỉnh Hưng Yên bằng các bến phà, đò ngangdọc các xã ven sông Hồng
2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội huyện Thường Tín
Với số dân gần 230 triệu người, kinh tế của huyện tập trung chủ yếuvào phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nên đời sống nhân dântrong huyện ngày một thay đổi Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng:53,4%; thương mại dịch vụ: 32,5%; nông nghiệp: 14,1%
Kinh tế của huyện được quy hoạch thành 3 vùng Vùng 1: phía Bắchuyện sẽ tập trung các cơ sở quốc doanh của Trung ương, thành phố và các xínghiệp liên doanh với nước ngoài và đầu tư phát triển các làng nghề điêukhắc, mây tre đan xuất khẩu, sơn mài… Vùng 2 nằm ở giữa huyện - là vùngtrọng điểm sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất thực phẩm để cung cấp
Trang 30cho nhu cầu địa phương, tạo sản phẩm hàng hóa Đi đôi với phát triển nôngnghiệp, trong vùng 2 còn hình thành một số cơ sở chế biến nông sản, dịch vụnông nghiệp và một số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vùng 3 - phíaNam huyện - là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp, bên cạnh tiềmnăng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động thươngmại - dịch vụ khác.
Huyện Thường Tín là vùng đất đang trong quá trình đô thị hoá nhanhnên có nhiều tiềm năng cho việc phát triển kinh tế Hiện nay, huyện có nhiều
có nhiều các khu công nghiệp và cụm công nghiệp như: khu công nghiệp HàBình Phương nằm ở khu vực các xã Hà Hồi, Văn Bình và Liên Phương; cụmcông nghiệp Quất Động nằm trên địa bàn xã Quất Động; cụm công nghiệpDuyên Thái nằm ở xã Duyên Thái; cụm công nghiệp Liên Phương ở xã LiênPhương; cụm công nghiệp làng nghề: Vạn Điểm (mộc), cụm công nghiệp làngnghề Duyên Thái(sơn mài); Cụm công nghiệp làng nghề mây tre đan (NinhSở), cụm công nghiệp làng nghề Tiền Phong (bông len), cụm công nghiệplàng nghề mộc Văn Tự
Các lĩnh vực văn hoá xã hội trên địa bàn huyện cũng ngày càng khởi sắc
Sự nghiệp giáo dục- y tế cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ với việcđảm bảo tốt chất lượng dạy và học, giữ vững phổ cập tiểu học đúng độ tuổi,duy trì kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện tốt chương trình phổcập giáo dục phổ thông trung học Đến nay toàn huyện có 31 trường đạt chuẩnQuốc gia Có 29/29 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế theo tiêu chí cũ trong
đó có 13 đạt chuẩn quốc gia về y tế theo tiêu chí mới giai đoạn 2011 - 2020
Thường Tín là vùng đất có lịch sử văn hoá lâu đời, nhiều di tích lịch sửvăn hoá và làng nghề truyền thống Huyện có 126 làng cổ, thì 126 làng cónghề, trong đó 47 làng nghề được UBND Thành phố công nhận làng nghềtruyền thống Huyện là vùng đất khoa bảng, trong danh sách ghi tên nhữngngười đỗ tiến sỹ qua các triều đại phong kiến (gần 70 người) Nhiều dòng họ,
Trang 31nhiều gia đình nối đời đỗ đạt, điển hình là họ Vũ làng Ba Lăng xã DũngTiến được coi là đất học với nhiều người học rộng tài cao Họ Từ ở làng KhêHồi xã Hà Hồi được gọi là "Họ Tiến sỹ" vì có đông người đỗ khoa bảng
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, thực thiệnnếp sống văn minh trong nếp sống xã hội như cưới, tang, và lễ hội được nhândân hưởng ứng tích cực, đặc biệt là việc tang văn minh, tiến bộ Đến hết năm
2013 huyện có 85,6% số hộ đạt Gia đình văn hoá, 97 làng, tổ dân phố đạtdanh hiệu Làng văn hoá, 125 cơ quan, đơn vị doanh nghiệp văn hoá
2.1.3 Tình hình dân số - sức khoẻ sinh sản huyện Thường Tín
2.1.3.1 Xu hướng biến đổi quy mô dân số huyện Thường Tín
Pháp lệnh dân số đã quy định, Nhà nước điều chỉnh quy mô dân số phùhợp với sự phát triển KT-XH, tài nguyên, môi trường thông qua các chươngtrình, dự án phát triển KT-XH, CSSKSS, KHHGĐ để điều chỉnh mức sinh và
ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý
Bảng 2.1: Dân số trung bình giai đoạn 2007- 2012
Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hà Nội, Niên giám thống kê Hà Nội 2012-tr.29,32
Quy mô dân số huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội tăng từ 214,2nghìn người năm 2007 lên 230,6 nghìn người vào năm 2012 (tăng thêm 16,4nghìn người trong vòng 6 năm, trung bình tăng mỗi năm khoảng 2,73 nghìnngười (xem Bảng 2.1) Sự biến đổi này không chỉ do tăng dân số tự nhiên (làmức chênh lệch giữa số sinh và số chết so với dân số trung bình trong kỳ
Trang 32nghiên cứu) mà còn do tốc độ tăng dân số cơ học cao, khó kiểm soát ở hầu hết
xã, thị trấn của huyện Thường Tín
Huyện Thường Tín không chỉ là địa phương đông dân, mà còn là địaphương có mật độ dân số (MĐDS) rất cao, cao gấp 50 lần mật độ chuẩn (cácnhà khoa học của Liên hợp quốc cho rằng, để cuộc sống thuận lợi, mật độ dân
số bình quân thích hợp là 35-40 người) So sánh MĐDS (tính đến năm 2012):của toàn quốc là 268 người/km2; của thành phố Hà Nội là 2059 người/km2;của huyện Thường Tín là 1810 người/km2- cao hơn 6,85 lần MĐDS của cảnước Điều đó cho thấy, dân số của thành phố Hà Nội nói chung và của huyệnThường Tín nói riêng chịu sự quá tải rất lớn về dân số, làm ảnh hưởng tớigiao thông, nhà ở, y tế, giáo dục, môi trường, mỹ quan… của Huyện
Bảng 2.2: Tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết thô giai đoạn 2007- 2012
Năm Tỷ suất sinh thô (‰) Tỷ suất chết thô (‰)
Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hà Nội, Niên giám thống kê Hà Nội 2012-tr.40,42
Cục Thống kê thành phố Hà Nội, Niên giám thống kê Hà Nội 2010-tr.34,38
Tỷ suất sinh thô (số trẻ em sinh ra sống trên 1000 dân, đây là một trongnhững chỉ tiêu đo lường mức sinh của dân số, là một trong hai thành phần củatăng dân số tự nhiên) của huyện Thường Tín đa phần cao hơn của thành phố
Hà Nội, hiện nay đang có xu hướng giảm (xem Bảng 2.2: năm 2009 là18,17‰; năm 2010 là 17,83‰; năm 2011 là 18,39‰; năm 2012 là 18,39‰).Tuy nhiên so với cả nước tỷ suất sinh thô của huyện Thường Tín vẫn cao hơn(năm 2011 của cả nước là 16,6‰; năm 2012 của cả nước là 16,9‰) [24,tr.78], điều đó chứng tỏ mặc dù có chiều hướng giảm nhưng số lượng trẻ emsinh ra hàng năm của huyện Thường Tín vẫn cao
Trang 33Tỷ suất chết thô (số người chết trên 1000 dân, đây là một trong haithành phần của tăng dân số tự nhiên) của huyện Thường Tín hàng năm đềucao hơn đáng kể so với của thành phố Hà Nội tuy nhiên vẫn thấp hơn so vớitoàn quốc (xem Bảng 2.2): năm 2012 (của huyện Thường Tín là 6,04‰; củathành phố Hà Nội là 4,61‰; của toàn quốc là 7,0‰) [24, tr.78].
Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng dân số và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2007
Hiện nay thông điệp “Mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con” đã thấm vào
ý thức mỗi người dân, góp phần to lớn tạo nên sự chuyển biến mang tínhbước ngoặt trong tư tưởng, nhận thức của mọi người, chuyển từ mô hình sinh
Trang 34nhiều, chất lượng thấp sang mô hình sinh ít, có chất lượng Điều này cũngđược thể hiện rõ qua kết quả của cuộc khảo sát.
Bảng 2.4: Thái độ của cán bộ quản lý, người cung cấp dịch vụ,
người dân đối với quy định “Mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con”
Ý kiến quản lý (%) Cán bộ Người cung cấp dịch vụ (%) Người dân (%)
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, tháng 9-2013 (Câu 1- Phụ lục 2,4,6).
Với kết quả khảo sát ở bảng trên cho thấy, tuyệt đại bộ phận cán bộ quản
lý (98,9%) cho rằng quy định“Mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con” là “Đồng ý”
hoặc “Hoàn toàn đồng ý”, với người cung cấp dịch vụ là 85,9 % và với ngườidân là 77,7% Tuy nhiên, tỷ lệ “Không đồng ý” và “Hoàn toàn không đồng ý”của người cung cấp dịch vụ là 11,7% và của người dân là 21,4% là khá cao
Bảng 2.5: Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở
lên của huyện Thường Tín giai đoạn 2007- 2012
Năm Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 (người) Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (%)
Trang 35đẻ không ngừng tăng lên nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm dần hàngnăm, điều đó ghi nhận sự nỗ lực của các cấp các ngành trong lãnh đạo, chỉđạo công tác DS-CSSKSS ở huyện Thường Tín Tuy nhiên, tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên của huyện Thường Tín mặc dù có giảm song vẫn ở mức rất cao Điểnhình các xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao như: Tiền Phong, Lê Lợi, ThưPhú, Thống Nhất, Văn Tự, Minh Cường, Vạn Điểm…
Tổng tỷ suất (TFR) là số con đã sinh ra sống tính bình quân trên mộtphụ nữ (hoặc một nhóm phụ nữ) trong suốt thời kỳ sinh đẻ Qua quá trìnhthực hiện PLDS năm 2003, cán bộ và nhân dân trong huyện đã ý thức đượcquyền, nghĩa vụ của công dân trong thực hiện chính sách DS-CSSKSS nêntrong những năm qua huyện Thường Tín đã khống chế được mức sinh và dầnđưa mức sinh đi vào ổn định Từ chỗ mỗi phụ nữ có mức sinh 3 con/phụ nữ năm
2003 đến năm 2012 số con trung bình của một phụ nữ sinh ra của huyện ThườngTín là 2,1 con/phụ nữ (Bảng 2.6) đạt mức sinh thay thế (cả nước đạt mức sinhthay thế năm 2005, thành phố Hà Nội đạt mức sinh thay thế từ năm 1995)
Bảng 2.6: Tổng tỷ suất (TFR) giai đoạn 2007- 2012
2.1.3.2 Cơ cấu dân số huyện Thường Tín
Điều 13, Pháp lệnh dân số quy định về điều chỉnh cơ cấu dân số, theo
đó “Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý
Trang 36về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, ngành nghề và các đặc trưng khác; bảo vệ và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát triển”
Cơ cấu dân số về độ tuổi và quy mô, huyện Thường Tín cũng nhưthành phố Hà Nội và cả nước bước vào thời kỳ cơ cấu “Dân số vàng” (tỷtrọng dân số trong độ tuổi lao động > 60%), và đang đi vào giai đoạn ổn định,tạo điều kiện thuận lợi về nguồn nhân lực để phát triển KT-XH
Do mức độ sinh gần đây đã giảm đáng kể trong khi tuổi thọ trung bìnhngày càng tăng đã làm cho dân số nước ta có xu hướng già hoá với tỷ trọngdân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng
Bảng 2.7: Tỷ số giới tính và tỷ số giới tính khi sinh huyện Thường Tín
nữ giới), hiện tượng này của Việt Nam còn bị ảnh hưởng của các cuộc chiến tranhtrong thế kỷ 20 Tuy nhiên, tỷ số giới tính có xu hướng tăng liên tục sau khi ViệtNam thống nhất đất nước vào năm 1975 Cụ thể, tỷ số giới tính năm 2007 là 92,10nam/100 nữ; năm 2012 là 96,09 nam/100 nữ (xem Bảng 2.7)
Cơ cấu dân số về giới tính của từng vùng, từng địa phương chịu ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó trực tiếp vẫn là tỷ số số giới tính khi sinh
Trang 37Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) được xác định bằng số bé trai trên 100 bé gáiđược sinh ra của một thời kỳ, thường là một năm lịch Tỷ số này thông thường
là 104-106/100 và nhìn chung ổn định qua thời gian và không gian giữa cácchâu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người Nhà nước có nhiều chínhsách và biện pháp để ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi “Cấm lựachọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức” để đảm bảo cân bằng giới tínhtheo quy luật sinh sản tự nhiên cũng như định hướng về bình đẳng giới, xoá
bỏ sự phân biệt giữa con trai và con gái
Ba năm gần đây mất câng bằng giới tính tăng lên đột biến (Bảng 2.7:năm 2007 là 116; năm 2010 là 124; năm 2011 là 120; năm 2012 là 124) Tỷ sốgiới tính khi sinh hiện nay đã trở nên “Nóng” và thực sự thu hút sự chú ý củacác phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội Tình trạng mất cânbằng giới tính khi sinh xảy ra khá trầm trọng, là hồi chuông cảnh báo các cấp,ngành phải quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác DS-CSSKSS
Trong tương lai gần, mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn tới những
hệ luỵ về hôn nhân, gia đình và xã hội nghiêm trọng, đòi hỏi những giải pháphữu hiệu, hài hoà lợi ích để giải quyết vấn đề lựa chọn giới tính khi sinh.Trong tương lai xa, mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tác động tới hôn nhân
và cấu trúc gia đình Nam giới trong độ tuổi kết hôn sẽ bị dư thừa so với nữ
do tỷ lệ nữ giới đang giảm dần trong cùng một thế hệ, và kết quả là họ có thểphải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời, phải trìhoãn hôn nhân hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân… Đối với xã hội, vấn đề trật
tự, an ninh và an sinh xã hội, chăm sóc người cao tuổi, người không có khảnăng tự phục vụ độc thân… sẽ có những thách thức mới
Mất cân bằng giới tính khi sinh nếu không kịp thời giải quyết sẽ để lạitai hoạ cho dân tộc và đất nước Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh làmột đòi hỏi bức xúc, là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng vàNhà nước giao cho ngành DS-KHHGĐ trong thời gian tới
2.1.3.3 Chất lượng dân số huyện Thường Tín
Trang 38Vấn đề nâng cao chất lượng dân số lần đầu tiên được đề cập có tính hệthống trong Chiến lược Dân số giai đoạn 2001-2010 và Nghị quyết số 47-NQ/TW với những giải pháp hết sức tổng quát và đã được quy định nội dung
của PLDS, khẳng định “Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (khoản 2, Điều 20 PLDS).
Hiện nay, song song với việc thực hiện mục tiêu giảm sinh và giảm sinhcon lần 3 huyện Thường Tín đang áp dụng các mô hình nhằm nâng cao chấtlượng dân số đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô tronggiai đoạn mới như: đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh, mô hình CSSKSSphụ nữ quanh tuổi mãn kinh, mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, sànglọc khiếm thính, chăm sóc sức khoẻ phụ nữ làng nghề, chăm sóc sức khoẻ
nam giới… Các mô hình nâng cao chất lượng dân số đang triển khai thực hiện
tại huyện Thường Tín đã đem lại kết quả cao góp phần nâng cao chất lượngdân số, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá của huyện
Từ hiệu quả hoạt động của các mô hình cho thấy, tuổi thọ trung bìnhcủa người dân được tăng lên, tỷ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi (IMR) giảm và tỷ lệtrẻ em chết dưới 5 tuổi (I5MR) không ngừng giảm mạnh; số trẻ suy dinhdưỡng hàng năm không ngừng giảm (năm 2007 là 16% năm 2012 xuống 8%);
tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước khi sinh không ngừng tăng (năm
2007 là 20%, năm 2012 là 60%) Số thanh, thiếu niên tiếp cận được với cáckiến thức về SKSS, KHHGĐ năm sau cao hơn năm trước [12] (bảng 2.8)
Bảng 2.8: Một số kết quả về chất lượng dân số giai đoạn 2007-2012
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (%) 16 13 11 10,5 9 8
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng
Tỷ lệ thai phụ được tuyên truyền, 70 78 85 90 92 95
Trang 392.1.3.4 Khái quát về sức khoẻ sinh sản trên địa bàn huyện Thường Tín
Trong những năm gần đây các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tựnguyện áp dụng các BPTT của huyện mỗi năm một tăng (năm 2007 là 72,0%,năm 2012 là 73,5%), khoảng cách giữa các lần sinh được duy trì ở mức từ 3-5năm, số phụ nữ bắt đầu sinh con lần đầu ở tuổi 22 chiếm 70% số phụ nữ trong
độ tuổi 15-49 có chồng trong độ tuổi sinh đẻ Tỷ lệ người áp dụng BPTT tuyhàng năm có tăng song vẫn ở mức thấp, nhất là các BPTT lâm sàng Vẫn cònrất nhiều thanh niên chưa được tiếp cận với kiến thức về DS-CSSKSS đặcbiệt là các biện pháp tránh thai [12] Tình trạng tảo hôn và có con trước hônnhân ở tuổi vị thành niên vẫn đang tồn tại và có chiều hướng gia tăng Tỷ lệnạo phá thai vẫn ở mức cao
Các chỉ tiêu về CSSKSS cơ bản đều đạt chỉ tiêu, trong đó có một sốvượt chỉ tiêu Năm 2011: số người triệt sản là 50/35= 143% kế hoạch; sốngười tiêm thuốc tránh thai là 211/205= 102% kế hoạch; số người tiêm thuốctránh thai là 3178/2900= 110% kế hoạch; số người sử dụng bao cao su là3860/3000= 128% kế hoạch; số người được khám viêm nhiễm đường sinh sản
là 6496/6071= 107% [1]
Tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván, tỷ lệ phụ nữ có thaiđược khám 3 lần trở lên, tỷ lệ bà mẹ sinh con được cán bộ y tế chăm sóc hàng
Trang 40năm không ngừng được nâng lên (năm 2012 ba chỉ số này đều đạt 100%) [1].
Tỷ lệ phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt hàng năm giảm đáng kể (Bảng 2.9:năm 2007 là 1,3% nhưng đến năm 2012 là 0,96%)
Bảng 2.9: Một số kết quả về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2007-2012
Bảng 2.10: Đánh giá của người dân và người cung cấp dịch vụ
về việc tìm/nhận phương tiện tránh thai tại địa phương
Ý kiến Người dân (%) Người cung cấp dịch vụ (%)
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, tháng 9-2013 (câu 3- Phụ lục 4; câu 5- Phụ lục 6)
Bảng 2.11: Tỷ lệ cán bộ được hỏi cho biết địa phương có xây dựng và triển
khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số