1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nhu cầu tiếp nhận giáo dục Sức khỏe siinh sản trong nhà trường của học sinh PTTH đô thị hiện nay khóa luận tốt nghiệp

72 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: MỞ ĐẦU1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀIĐất nước ta sau những năm đổi mới với chính sách mở của hội nhập trao đổi thương mại đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối đầu với những khó khăn do tiến trình toàn cầu hóa mang lại. Đó là sự du nhập tràn lan của những văn hóa phương tây gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của giới trẻ, đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh PTTH, lứa tuổi không còn là trẻ con nhưng cũng chưa hẳn là người lớn. Ở giai đoạn này, các em có nhiều biến đổi toàn diện về thể chất, tâm lý, luôn tò mò, muốn tìm hiểu, muốn khám phá về bản thân mình. Chính vì thế mà lứa tuổi này nếu không có nhận thức đúng đắn và sự chỉ dẫn của phụ huynh, nhà trường dễ gây ra những hậu quả đáng lo ngại. Mới đây, trong Hội nghị Sản phụ khoa Việt – Pháp Châu Á Thái Bình Dương đã được tổ chức vào năm 2010, các bác sĩ bệnh viện Từ Dũ cho biết: “Việt Nam là 1 trong 10 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất (20%), đặc biệt là ở trẻ vị thành niên”. Theo báo cáo thống kê của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản, năm 2009, tỷ lệ vị thành niên thanh niên mang thai là 28,20%, tỷ lệ phá thai là 11,05%. Tỷ lệ vị thành niên mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản là 22,55%. Vị thành niên thanh niên nhiễm HIVAIDS trong tổng số ca được xét nghiệm là 1143 ca chiếm tỷ lệ 25,58%. Đó là chưa kể tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ khoa tại các cơ sở tư nhân. Lý do của những hậu quả này là do trẻ vị thành niên quan hệ tình dục quá sớm trong khi còn thiếu nhiều kiến thức về những vấn đề như thai nghén, sinh sản, trách nhiệm cũng như những hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục.Bên cạnh thiết chế gia đình thì thiết chế giáo dục có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các em định hướng, nhận thức đúng đắn trong suy nghĩ và hành động của mình. Trường học là một thành tố của thiết chế giáo dục và là một tác nhân quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân. Trường học là cơ quan chủ yếu chịu trách nhiệm truyền đạt những kiến thức về tự nhiên, xã hội, các kiến thức văn hóa làm công cụ, hành trang cho sự tồn tại và phát triển của mội các nhân. Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc giảng dạy những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội thì một nội dung mới đã được nhà nước quan tâm và lồng ghép vào chương trình học, đó là kiến thức về SKSS. Trong chiến lược giáo dục và đào tạo Việt nam 20002010 đã khẳng định “ giáo dục giới tính – sức khỏe sinh sản cho vị thành niên phải được coi là nội dung bắt buộc và phổ cập trong tât cả các trường học.” Thời gian qua, thực hiện chủ trương của nhà nước, kiến thức về SKSS đã được đưa vào các cấp bậc trong nhà trường, tuy nhiên, cho đến nay đã gần kết thúc chiến lược giáo dục đào tạo 2000 – 2010 nhưng vẫn chưa có một chương trình giáo dục kiến thức SKSS nào chính thức trong các nhà trường mà mới chỉ đưa một số kiến thức nhỏ lẻ vào chương trình giáo dục cho học sinh. Nhiều nhà trường vẫn băn khoăn, chưa tìm ra được phương pháp giảng dạy về SKSS thích hợp. Không ít ý kiến cho rằng giáo dục giới tính, SKSS là vấn đề tế nhị, riêng tư, không nên bàn bạc chốn công khai. Việc giáo dục SKSS sớm là “ vẽ đường cho hươu chạy”, là khuyến khích thanh thiếu niên sớm đi vào hoạt động tình dục. Bên cạnh đó là quan niệm cho rằng không cần phải giáo dục SKSS vì trẻ sẽ tự biết những điều này khi chúng lớn. Đó là những quan niệm sai lầm, dẫn đến sự thiếu hiểu biết của một bộ phận giới trẻ, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như nạo phá thai, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, trong đó có cả HIVAIDS. Bên cạnh đó, một thực tế là tỷ lệ nạo phá thai ở đô thị cao hơn nông thôn. Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2002 TP.HCM “dẫn đầu” cả nước về số ca nạo phá thai với 114.002 ca nạo phá thai, kế đến là Hà Nội (48.140 ca) và Cần Thơ (28.888 ca). Tội phạm vị thành niên đô thị ngày càng gia tăng mà không ít trong số đó là tội xâm phạm tình dục. Các trào lưu lệch lạc về giới tính như đồng tính giả, thích khoe ảnh cơ thể, quay băng sex trong lứa tuổi vị thành niên đều bắt nguồn từ các đô thị lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Hậu quả này là do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, đô thị là nơi rất phát triển, internet, sách báo tràn lan mà không thể quản lý và kiểm soát hết được dẫn đến việc các em dễ dàng tiếp xúc với những văn hóa phẩm đồi trụy và những trào lưu không lành mạnh. Thứ hai, các bậc phụ huynh trong gia đình đô thị mải mê với việc làm ăn kinh tế trong thời buổi kinh tế thị trường nên sao nhãng việc quản lý con cái, phó mặc trách nhiệm này cho người giúp việc và nhà trường. Thứ ba, đô thị cũng là nơi hàng loạt các dịch vụ ra đời mà trong số đó hình thành không ít nhà nghỉ, cơ sở nạo phá thai “ chui” dẫn đến việc các em yên tâm vào nhà nghỉ hay có chỗ giải quyết hậu quả mà không sợ cha mẹ biết. Thứ tư, trẻ em bây giờ, nhất là trẻ em đô thị tuổi dậy thì sớm hơn rất nhiều.Muốn truyền đạt kiến thức SKSS trong nhà trường có hiệu quả, trước hết, chúng ta phải tìm hiểu nhu cầu của đối tượng tiếp nhận mà ở đây là đối tượng học sinh PTTH. Việc tìm hiểu nhu cầu của các em để góp phần xây dụng một chương trình giáo dục phù hợp với lứa tuổi là việc làm cần thiết. Với mong muốn như vậy, em quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nhu cầu tiếp nhận giáo dục SKSS trong nhà trường của học sinh PTTH đô thị hiện nay” với mục đích tìm hiểu nhu cầu của các em để từ đó, đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cho phù hợp.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất nước ta sau những năm đổi mới với chính sách mở của hội nhập traođổi thương mại đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc Tuy nhiên, chúng tacũng phải đối đầu với những khó khăn do tiến trình toàn cầu hóa mang lại Đó

là sự du nhập tràn lan của những văn hóa phương tây gây ảnh hưởng mạnh mẽđến suy nghĩ và hành động của giới trẻ, đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinhPTTH, lứa tuổi không còn là trẻ con nhưng cũng chưa hẳn là người lớn Ở giaiđoạn này, các em có nhiều biến đổi toàn diện về thể chất, tâm lý, luôn tò mò,muốn tìm hiểu, muốn khám phá về bản thân mình Chính vì thế mà lứa tuổi nàynếu không có nhận thức đúng đắn và sự chỉ dẫn của phụ huynh, nhà trường dễgây ra những hậu quả đáng lo ngại Mới đây, trong Hội nghị Sản phụ khoa Việt– Pháp - Châu Á Thái Bình Dương đã được tổ chức vào năm 2010, các bác sĩbệnh viện Từ Dũ cho biết: “Việt Nam là 1 trong 10 nước có tỷ lệ phá thai caonhất (20%), đặc biệt là ở trẻ vị thành niên” Theo báo cáo thống kê của Trungtâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản, năm 2009, tỷ lệ vị thành niên - thanh niênmang thai là 28,20%, tỷ lệ phá thai là 11,05% Tỷ lệ vị thành niên mắc bệnhnhiễm khuẩn đường sinh sản là 22,55% Vị thành niên - thanh niên nhiễm HIV/AIDS trong tổng số ca được xét nghiệm là 11/43 ca chiếm tỷ lệ 25,58% Đó làchưa kể tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ khoa tạicác cơ sở tư nhân Lý do của những hậu quả này là do trẻ vị thành niên quan hệtình dục quá sớm trong khi còn thiếu nhiều kiến thức về những vấn đề như thainghén, sinh sản, trách nhiệm cũng như những hiểu biết về các bệnh lây truyềnqua đường tình dục

Bên cạnh thiết chế gia đình thì thiết chế giáo dục có vai trò quan trọngtrong việc giúp đỡ các em định hướng, nhận thức đúng đắn trong suy nghĩ vàhành động của mình Trường học là một thành tố của thiết chế giáo dục và làmột tác nhân quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân Trường học là cơ

Trang 2

quan chủ yếu chịu trách nhiệm truyền đạt những kiến thức về tự nhiên, xã hội,các kiến thức văn hóa làm công cụ, hành trang cho sự tồn tại và phát triển củamội các nhân

Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc giảng dạy những kiến thức cơ bản

về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội thì một nội dung mới đã được nhànước quan tâm và lồng ghép vào chương trình học, đó là kiến thức về SKSS

Trong chiến lược giáo dục và đào tạo Việt nam 2000-2010 đã khẳng định “ giáo

dục giới tính – sức khỏe sinh sản cho vị thành niên phải được coi là nội dung bắt buộc và phổ cập trong tât cả các trường học.” Thời gian qua, thực hiện chủ

trương của nhà nước, kiến thức về SKSS đã được đưa vào các cấp bậc trong nhàtrường, tuy nhiên, cho đến nay đã gần kết thúc chiến lược giáo dục đào tạo 2000– 2010 nhưng vẫn chưa có một chương trình giáo dục kiến thức SKSS nào chínhthức trong các nhà trường mà mới chỉ đưa một số kiến thức nhỏ lẻ vào chươngtrình giáo dục cho học sinh Nhiều nhà trường vẫn băn khoăn, chưa tìm ra đượcphương pháp giảng dạy về SKSS thích hợp Không ít ý kiến cho rằng giáo dụcgiới tính, SKSS là vấn đề tế nhị, riêng tư, không nên bàn bạc chốn công khai.Việc giáo dục SKSS sớm là “ vẽ đường cho hươu chạy”, là khuyến khích thanhthiếu niên sớm đi vào hoạt động tình dục Bên cạnh đó là quan niệm cho rằngkhông cần phải giáo dục SKSS vì trẻ sẽ tự biết những điều này khi chúng lớn

Đó là những quan niệm sai lầm, dẫn đến sự thiếu hiểu biết của một bộ phận giớitrẻ, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như nạo phá thai, mắc các bệnh lâynhiễm qua đường tình dục, trong đó có cả HIV/AIDS

Bên cạnh đó, một thực tế là tỷ lệ nạo phá thai ở đô thị cao hơn nông thôn.Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2002 TP.HCM “dẫn đầu” cả nước về số ca nạophá thai với 114.002 ca nạo phá thai, kế đến là Hà Nội (48.140 ca) và Cần Thơ(28.888 ca) Tội phạm vị thành niên đô thị ngày càng gia tăng mà không ít trong

số đó là tội xâm phạm tình dục Các trào lưu lệch lạc về giới tính như đồng tínhgiả, thích khoe ảnh cơ thể, quay băng sex trong lứa tuổi vị thành niên đều bắt

Trang 3

nguồn từ các đô thị lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh Hậu quả này là donhiều nguyên nhân Thứ nhất, đô thị là nơi rất phát triển, internet, sách báo trànlan mà không thể quản lý và kiểm soát hết được dẫn đến việc các em dễ dàngtiếp xúc với những văn hóa phẩm đồi trụy và những trào lưu không lành mạnh.Thứ hai, các bậc phụ huynh trong gia đình đô thị mải mê với việc làm ăn kinh tếtrong thời buổi kinh tế thị trường nên sao nhãng việc quản lý con cái, phó mặctrách nhiệm này cho người giúp việc và nhà trường Thứ ba, đô thị cũng là nơihàng loạt các dịch vụ ra đời mà trong số đó hình thành không ít nhà nghỉ, cơ sởnạo phá thai “ chui” dẫn đến việc các em yên tâm vào nhà nghỉ hay có chỗ giảiquyết hậu quả mà không sợ cha mẹ biết Thứ tư, trẻ em bây giờ, nhất là trẻ em

đô thị tuổi dậy thì sớm hơn rất nhiều

Muốn truyền đạt kiến thức SKSS trong nhà trường có hiệu quả, trước hết,chúng ta phải tìm hiểu nhu cầu của đối tượng tiếp nhận mà ở đây là đối tượnghọc sinh PTTH Việc tìm hiểu nhu cầu của các em để góp phần xây dụng mộtchương trình giáo dục phù hợp với lứa tuổi là việc làm cần thiết Với mong

muốn như vậy, em quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nhu cầu tiếp nhận giáo dục SKSS trong nhà trường của học sinh PTTH đô thị hiện nay” với

mục đích tìm hiểu nhu cầu của các em để từ đó, đưa ra những giải pháp, khuyếnnghị cho phù hợp

và thanh niên

Trang 4

Hướng nghiên cứu thứ nhất là tìm hiểu nhận thức, thái độ liên quan đếnvấn đề SKSS của vị thành niên.

Nhìn chung, tỷ lệ thanh thiếu niên đã được nghe nói về chủ đề SKSS là rấtcao, chủ đề được nghe nói ít nhất cũng đạt đến 77,7% Đó là chủ đề về thai nghén

và kinh nguyệt Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề nào đó chưa chắc đã nói lên hiểubiết và kiến thức về vấn đề đó Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về cácbiện pháp tránh thai là khá cao, chiếm 92%, tuy nhiên khi hỏi về thời điểm dễ có

thai trong chu kì kinh nguyệt thì chỉ có dưới 30% trả lời đúng [9] Kết quả thu

được tương tự với đối tượng thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi ở Hải Phòng cho thấy:

Có 79,1% cho rằng mình đã biết về sự thụ thai những chỉ có 72% biết đúng; 9,3%cho rằng trứng gặp tinh trùng chưa chắc đã có thai; 2,3% cho rằng ôm hôn cũng

có thể có thai; 60% không biết hoặc biết sai về khả năng có thai khi giao hợp sauhành kinh; 24% không biết có thể có thai vào thời điểm nào trong chu kì kinhnguyệt 93,2 % biết ít nhất một biện pháp tránh thai hiện đại; Tuy nhiên chỉ có34,7 % cho rằng dùng bao cao su là tốt nhất và 89% biết BCS có thể ngăn ngừacác bệnh LTQĐTD Biết cụ thể về các tai biến do nạo thai: Chảy máu 28,8%;Đau bụng11,6%; Thủng tử cung 19,5%; Vô sinh 28,7%; Nhiễm trùng 24,2%; Sức

khỏe yếu 61,9% [24] Hay ở riêng khu vực nông thôn, hiểu biết của VTN và

thành niên nông thôn về cách phòng tránh thai và các bệnh LTQĐTD là rất hạnchế, 12,6% không biết đến một BPTT nào, BPTT được nhiều người biết nhất

và giáo dục tốt cho vị thành niên về SKSS Nhu cầu cuả VTN về trung tâm tưvấn cho họ đã được đưa ra Các thầy cô giáo, nhân viên y tế và lãnh đạo địa

phương cũng cho rằng trung tâm tư vấn về SKVTN là cần thiết [20] Yếu tố

Trang 5

gia đình và xã hội có tác động đến sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Hà Nội, tuynhiên, tác động của gia đình đối với nhận thức và hành vi tình dục của thanh

niên và vị thành niên rất mờ nhạt [25] Hầu hết đối tượng tự trang bị kiến thức

về BPTT qua đọc sách báo 61%, xem ti vi 47% Chỉ có 10% là được nghe vềBPTT ở trường học và 56% chưa bao giờ nói về các BPTT với bất kì ai Tuy

nhiên, những kiến thức này chưa được cụ thể cho lắm [15]

Hướng tiếp cận thứ ba là tìm hiểu nhu cầu của vị thành niên và thanh niên

về giáo dục giới tính và SKSS

Nhìn chung, nam nữ mong muốn được nhận nhiều thông tin hơn về tìnhdục, hôn nhân, KHHGĐ, sự thụ tinh, nuôi con…Nữ mong muốn nam quan tâm

hơn đến vấn đề BPPT [28].Cần thiết phải đưa giáo dục tình dục và giáo dục

SKSS vào nhà trường với lý do: đó là một bộ phận cấu thành của giáo dục đờisống gia đình và giáo dục giới tính; Giáo dục dân số đã được nghiên cứu đưavào chương trình giáo dục phổ thông từ năm 1984 dưới dạng thích hợp cònchương trình giáo dục giới tính cũng được đề cập những chưa rõ nét Vấn đềgiáo dục giới tính đã được đề cập song giáo dục tình dục chưa được chính thức

đưa vào chương trình vì sợ dư luận chưa cho phép [27]

Có thể nói giáo dục SKSS cho vị thành niên và thanh niên được rất nhiềutác giả quan tâm Tuy nhiên các nghiên cứu thường tập trung vào đối tượngthanh niên và vị thành niên nói chung chứ chưa đi sâu nhiều vào đối tượng họcsinh PTTH Hơn nữa, vấn đề giáo dục SKSS trong trường học vẫn còn rất nhiềubất cập, chưa tìm được giải pháp thích hợp,tâm sinh lý của các em học sinh thìngày càng biến đổi phức tạp, vì vậy vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu, nhất là tìmhiểu nhu cầu của các em học sinh

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu:

- Khảo sát nhu cầu tiếp nhận giáo dục về SKSS trong trường học của họcsinh PTTH đô thị hiện nay

Trang 6

- Chỉ ra những yếu tố tác động đến nhu cầu tiếp nhận giáo dục SKSStrong trường học của học sinh PTTH đô thị hiện nay.

- Từ đó, đưa ra những khuyến nghị về giải pháp có tính khả thi cho vấn

đề giáo dục SKSS trong trường học cho học sinh PTTH tại đô thị

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Chỉ ra được nhu cầu tiếp nhận giáo dục về SKSS trong trường học củahọc sinh PTTH đô thị

- Tìm ra những yếu tố tác động đến nhu cầu tiếp nhận giáo dục SKSStrong trường học của học sinh PTTH đô thị hiện nay

- Đề xuất những khuyến nghị và giải pháp nhằm tăng hiệu quả giáo dụcSKSS trong nhà trường, đáp ứng được nhu cầu thông tin của học sinh PTTH đôthị hiện nay

4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhu cầu tiếp nhận giáo dục về SKSS trong trường học

b.Thời gian nghiên cứu: Tháng 4/2010

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp luận:

a Phương pháp luận chung: chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của

Đảng và Nhà nước về giáo dục giới tính, SKSS cho thanh thiếu niên

b Phương pháp luận chuyên biệt: lý thuyết chức năng, lý thuyết xã hội hóa,

lý thuyết nhu cầu, lý thuyết truyền thông

Trang 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập thông tin

+ Phương pháp nghiên cứu định lượng :

- Nghiên cứu 300 phiếu Anket đối với học sinh

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên đơn giản mỗi khối 10,11,12chọn 100

+ Phương pháp nghiên cứu định tính:

- Phỏng vấn sâu 6 học sinh : Các khối 10, 11,12, mỗi khối phỏng vấn 1 họcsinh nam và 1 học sinh nữ

- Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nhà trường

+ Phương pháp phân tích tài liệu :

Phân tích sách giáo khoa lớp 10,11,12 và các tài liệu có sẵn trong nước vàngoài nước có liên quan

b Phương pháp xử lý thông tin: SPSS cho số liệu định tính, Nvivo cho số liệu

định lượng

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Nội dung giáo dục SKSS các em được tiếp nhận trong nhà trường cònchưa đầy đủ

- Các em học sinh ở lớp học trên có nhu cầu tiếp nhận các nội dung giáodục về SKSS cao hơn các em học sinh ở lớp học dưới

- Hình thức giáo dục SKSS mà các em học sinh tiếp nhận chủ yếu làphương pháp dạy học truyền thống , chỉ truyền tải những kiến thức từ sách giáokhoa nên các em học sinh thường không hài lòng về phương pháp giảng dạy củagiáo viên

- Với mỗi nội dung giáo dục SKSS khác nhau các em mong muốn hìnhthức giảng dạy khác nhau

Trang 8

- Những em học sinh trong gia đình bố mẹ có học vấn cao thường tự tinkhi trao đổi về thông tin SKSS với thầy cô giáo hơn những em khác.

- Học sinh nam và học sinh nữ có nhu cầu tiếp nhận đối tượng giảng dạySKSS theo giới tính của mình.( Học sinh nữ mong muốn đối tượng giảng dạy là

nữ giới còn học sinh nam mong muốn đối tượng giảng dạy là nam giới)

Thực trạng tiếp nhận giáo dục SKSS của học sinh PTTH đô thị

- Thực trạng tiếp nhận về nội dung

- Thực trạng tiếp nhận về đối tượng cung cấp thông tin

- Thực trạng tiếp nhận về hình thức cung cấp thông tin

đô thị hiện nay

Thực trạng tiếp nhận giáo dục về SKSS

Nội dung

Hình thức cung cấp

Đối tượng cung cấpNhu cầu tiếp nhận

giáo dục về SKSS

Trang 9

Nhu cầu tiếp nhận giáo dục về SKSS của học sinh PTTH đô thị hiện nay

- Nhu cầu tiếp nhận về nội dung

- Nhu cầu tiếp nhận về đối tượng cung cấp thông tin

- Nhu cầu tiếp nhận về hình thức cung cấp thông tin

8 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

8.1 Ý nghĩa về mặt lý luận:

Việc khảo sát nhu cầu giáo dục SKSS trong trường học của học sinhPTTH tại đô thị giúp làm rõ hơn những lý luận về nhu cầu tiếp nhận giáo dụcSKSS của lứa tuổi vị thành niên

8.2.Ý nghĩa về mặt thực tiễn:

Đế tài chỉ nghiên cứu trường hợp một trường học cụ thể nên chỉ có ýnghĩa tham khảo cho các nghiên cứu khác tương tự, không có ý nghĩa suy rộngcho tổng thể

9 KẾT CẤU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn bao gồm 3 phần lớn:

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng tiếp nhận giáo dục SKSS trong nhà trường của học sinhPTTH đô thị hiện nay

Chương 3: Nhu cầu tiếp nhận giáo dục SKSS trong nhà trường của học sinhPTTH đô thị hiện nay

Phần III: Kết luận và khuyến nghị

Trang 10

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG KHÓA LUẬN:

1.1.1 Sức khỏe:

“Sức khỏe là trạng thái không có bệnh tật, cảm thấy thoải mái về thể

chất, thư thái về tinh thần.” [23]

Tổ chức y tế thế giới WHO đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe vào tháng6/1946 trong hội nghị về sức khỏe toàn cầu tại NewYork: “ sức khỏe là tìnhtrạng phát triển hài hòa của con người về thể chất, trí tuệ, khả năng hòa nhậpcộng đồng chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật, ốm đau hoặc không

bị chấn thương, tàn phế.” [29]

1.1.2.Sức khỏe sinh sản:

Hội nghị về Dân số và Phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Cairo, Ai cập năm

1994 đã định nghĩa về SKSS như sau:

“ Sức khỏe sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất,tinh thần và xã hội chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứliên quan đến hệ thống sinh sản, hàm ý là con người có thể có cuộc sống tìnhdục thỏa mãn, an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào

và thường xuyên như thế nào trong việc này Điều kiện cuối cùng này ngụ ý nói

về quyền của phụ nữ và nam giới, được thông tin và tiếp cận các biện pháp kếhoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp, tùy theo sự lựa chọncủa họ cũng như được lựa chọn những phương pháp thích hợp nhằm điều hòaviệc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch vụ chămsóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ antoàn, và tạo cho các cặp vợ chồng có điểu kiến tốt nhất để tạo ra những đứa con

khỏe mạnh.” [19]

Trong kế hoạch hành động sau hội nghị Cairo của Quỹ dân số Liên hiệpquốc : SKSS bao gồm 6 nội dung chính:

Trang 11

Theo ICPD thì sức khỏe sinh sản bao gồm các nội dung chính sau:

1/ Làm mẹ an toàn: Làm mẹ an toàn biểu hiện trong việc chăm sóc và đảm bảosức khỏe cho bà mẹ và trẻ em,trước và sau khi sinh

2/ Kế hoạch hóa gia đình: Kế hoạch hóa gia đình nhằm đảm bảo quyền lợi của cáccặp vợ chồng trong việc lựa chọn và sử dụng biện pháp tránh thai, quyền sinh contheo ý muốn, phù hợp với các nguyên tắc về phát triển kinh tế-xã hội

3/ Nạo phá thai: Giảm tỷ lệ phá thai ở tất cả các lưa tuổi sinh đẻ

4/ Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: Giảm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinhsản ở phụ nữ như viêm hố chậu, viêm đường âm đạo, viêm cổ tử cung

5/ Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Phòng chống nguy cơ mắc các bệnh lâynhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS

6/ Giáo dục giới tính: Giáo dục giới tính rộng rãi cho thanh thiếu niên

7/ Vô sinh: Điều trị và phòng tránh các bệnh liên quan đến vô sinh

8/ Điều trị và phát hiện sớm các bệnh ung thư vú và đường sinh dục

9/ Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

10/ Thông tin giáo dục truyền thông về sức khỏe sinh sản nhằm hướng tới thay đổi

nhận thức và hành vi của cộng đồng [13]

Do phạm vi và mục đích nghiên cứu chính của đề tài nên đề tài tập trung nghiêncứu vào những nội dung SKSS vị thành niên liên quan đến hiểu biết về các yếu tốsinh học, hành vi sinh lý trọng tâm và cần thiết nhất cho lứa tuổi học sinh PTTH:Bệnh lây truyền qua đường tình dục, Nạo phá thai, Biện pháp tránh thai, sự thụthai, giới tính, hành vi tình dục an toàn Những yếu tố tâm lý hay, tình cảm, phẩm

Trang 12

chất không được đề cập đến trong đề tài này.

1.1.3.Giới tính:

Là những đặc điểm khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ do

tự nhiên quy định, sự khác biệt này có liên quan đến quá trình sản xuất nòi giống,

cụ thể là phụ nữ có thể mang thai và sinh con còn nam giới là một trong các yếu tốtạo ra quá trình thụ thai Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta

sinh ra đã có và không thể thay đổi được [18]

1.1.4.Biện pháp tránh thai:

Tránh thai là phương pháp đảm bảo không có sự thụ thai khi giáo tiếptình dục Nhờ đó sẽ không có đứa trẻ sinh ra ngoài ý muốn và các cặp bạn tình

có thể nếm đủ trọn vẹn khoái lạc khi không có sự băn khoăn, lo lắng

Các BPTT phải thật sự đáng tin cậy, không làm tổn hại đến sức khỏe cho

cả hai người Sau khi ngừng sử dụng các biện pháp và phương tiện tránh thai,khả năng thụ thai phải được khôi phục trở lại, không làm hại tới sức khỏe củađứa trẻ muốn sinh sau này

Hiện nay có rất nhiều loại BPTT được sử dụng những chúng chia làm hailoại chính: BPTT truyền thống và BPTT hiện đại:

- BPTT tự nhiên là không sử dụng bất kì một dụng cụ, thuốc men hay thủthuật nào để ngăn cản việc thụ tinh Đó là các biện pháp tính theo chu kì kinh,theo sự bài tiết chất nhầy cổ tử cung, theo thân nhiệt, xuất tinh ngoài

- BPTT hiện đại là phương pháp sử dụng dụng cụ hoặc thuốc tránh thaibao gồm: bao cao su, vòng, mũ cổ tử cung, màng ngăn âm đạo, thuốc uống,

thuốc tiêm tránh thai, dịch vụ làm tức ống dẫn tinh hoặc ống dẫn trứng [30]

1.1.5.Nạo hút thai:

Là các thủ thuật kết thúc quá trình thai nghén trong thời gian đầu của thời

kì thai kỳ chưa phát triển quá 12 tuần tuổi hoặc khi thai đã lớn

Nạo hút thai gồm những phương pháp:

- Hút chân không

Trang 13

- Dùng thuốc hết 7 tuần.

- Phương pháp nong và nạo

- Phá thai bằng laze

- Pha thai bằng tia tử ngoại

Biến chứng có thể xảy ra:

- Tai biến sớm: lo sợ, mất nhiều máu, buồn nôn

- Tai biến muộn: vô sinh, chửa ngoài dạ con…[30]

1.1.6 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục:

BLTQĐTD là nhiễm khuẩn truyền từ người này sang người khác trongkhi qua hệ tình dục

Phân loại các BLTQĐTD thường hay gặp:

- Các bệnh do vi khuẩn như: Lậu, Giang mai, bệnh hạ cam, viêm niệu đạo

do Clamydia, u hạt bẹn, viêm âm đạo do vi khuẩn

- Các bệnh do virut: HIV/AIDS, Herpes sinh dục, viêm gan B, sùi mào gà

- Bệnh do đơn bào: Trùng roi âm đạo

- Nấm: Candida âm đạo

- Các kí sinh vật ngoài da: Cái ghẻ, rận mu [10]

1.1.7.Tình dục an toàn

- Tình dục: là một khía cạnh trung tâm trong đời sống con người, nó baophủ dục tính, giới tính, nhân dạng và vai trò giới, khuynh hướng tình dục, sựluyến ái, khoái lạc, quan hệ riêng tư và sự sinh sản Tình dục được trải nghiệmthông qua suy nghĩ, tưởng tượng, ham muốn, quan niệm, thái độ, giá trị, hành

vi, thục hành, vai trò và các mối quan hệ Trong khi tình dục có thể bao gồm tát

cả các chiều cạnh trên, không phải mọi chiều cạnh đều được trải nghiệm và thểhiện Tình dục chịu ảnh hưởng và sự tương tác của các yếu tố sinh học, tâm lý,

xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, luật pháp, lịch sử, tín ngưỡng và tinh

thần.[11]

Trang 14

- Tình dục an toàn: TD an toàn là TD không dẫn đến mang thai ngoài ýmuốn và lây nhiễm các bệnh qua đường TDnhư: lậu, giang mai, HIV/AIDS

TD an toàn là những hình thức quan hệ TD có thể giúp hạn chế nguy cơ

bị lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường TD, điều này có nghĩa là không có

sự tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm đạo và tinh dịch từ người này sang

người khác.[32]

1.1.8 Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản

Nhiễm khuẩn đường sinh sản là bệnh mắc phải do các tác nhân gây bệnhthuộc nhóm vi khuẩn, nấm, đơn bào, ký sinh vật là các bệnh có thể phòng ngừa

và chữa khỏi được và các tác nhân là virus hiện nay chưa chữa khỏi được nhưng

có thể phòng ngừa được

 Vi khuẩn: lậu cầu khuẩn, chlamydia trachomatis, xoắn khuẩn giang mai, trựckhuẩn gây bệnh hạ cam, Gardnerella vaginalis và các vi khuẩn kỵ khí

 Virus: herpes sinh dục, virus gây bệnh sùi mào gà , HIV, virus viêm gan B…

 Đơn bào: Trùng roi âm đạo

 Nấm men: candida

 Kí sinh vật ngoài da: ghẻ, rận mu

Nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm ba loại:

 Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục như nhiễm chlamydia,lậu, trùng roi âm đạo, giang mai, hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục,HIV

 Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong đường sinh dục của người phụ nữ bình thường như viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm đạo do nấm men

 Các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn (như khám, sau phá

thai, ): liên cầu, tụ cầu, E coli, nấm [31]

Trang 15

1.1.9 Nhu cầu

“Nhu cầu là sự phản ánh khách quan các đòi hỏi vật chất, tinh thần và xã hộicủa đời sống con người, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từngthời kỳ Nhu cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Mức độ nhu cầu

và phương thức thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội,trước hết là trình độ kinh tế Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất vàtoàn xã hội phát triển Đặc điểm nhu cầu của các tầng lớp nhân dân phụ thuộc vàođịa vị của họ trong nền sản xuất xã hội, tùy thuộc vào những đặc trưng về nhân

khẩu, chủng tộc, dân tộc,…về các điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên” [24]

Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó.Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cơ thể sống vào môi trường bên ngoài, thểhiện những ứng xử tìm kiến khi cơ thể thiếu những điều kiện để tồn tại và pháttriển Con người luôn nảy sinh những nhu cầu mới theo năng lực về thể chất, trí

tuệ, tâm hồn ngày càng tăng của con người [22]

Theo nhà tâm lý học người Mỹ Maslow, có 5 thang bậc về nhu cầu:

- Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu cơ bản để duy trì bản thân cuộc sống conngười ( Thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở )

- Nhu cầu về an toàn: Là nhu cầu cần tránh những nguy hiểm về thân thểnhu tai nạn, mất tài sản

- Nhu cầu về xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cầnđược người khác chấp nhận

- Nhu cầu được tôn trọng: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin

- Nhu cầu tự hoàn thiện: Đó là sụ mong muốn đạt tới chỗ mà con người

có thể đạt tới Tức là làm cho tiềm năng của con người đạt tới mức tối đa và cóthể đạt đến một mục tiêu nào đó

1.1.10.Tiếp nhận:Tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển giao cho [22]

Ở đây, tiếp nhận giáo dục SKSStrong nhà trường là được đón nhận kiến thức

SKSS từ thầy cô giáo trong trường học

Trang 16

1.1.11.Học sinh PTTH

Học sinh PTTH là nhóm đổi tượng tuổi tù 16-19 đang theo học các lớp

10,11,12 tại các trường PTTH [22]

1.1.12.Đô thị

Là nơi dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất [22]

Theo xã hội học, đô thị là một kiến tạo lãnh thổ xã hội, một hình thức cutrú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người được đặc trưng bởi các chỉ báo:

1.Số lượng dân cư tập trung trên một lãnh thổ hạn chế

2.Đại bộ phận dân cư làm hoạt động sản xuất phi nông nghiệp

3.Là môi trường sống trực tiếp tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển

Trang 17

Sức khỏe sinh sản là nội dung quan trọng không thể thiếu đối với cá nhân

để bảo vệ cho chính bản thân và để bảo đảm cho sự phát triển của giống nòi đểđảm bảo cho xã hội phát triển lâu dài và bền vững Nhà trường là nơi cung cấpkiến thức một cách hệ thống và bài bản Do đó, nhà trường có vai trò quan trọngtrong việc cung cấp kiến thức về SKSS cho mỗi cá nhân Bên cạnh đó, việccung cấp kiến thức cũng phải phù hợp với nhu cầu của cá nhân theo từng thời

kỳ và hoàn cảnh khác nhau

1.2.2.Lý thuyết xã hội hóa

Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, qua đó, cá nhân

có thể học hỏi và lĩnh hội, tiếp nhận truyền thống văn hóa như khuôn mẫu, tác

phong, chuẩn mực giá trị văn hóa để phù hợp với vai trò xã hội của mình [16]

Nhà trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa của cánhân Nhà trường có vai trò truyền thụ những tri thức khoa học, giá trị chuẩnmực nói chung và kiến thức về sức khỏe sinh sản nói riêng Với đặc trưng riêngbiệt, nhà trường có đủ những điều kiện thuận lợi để truyền đạt tri thức cho các

em học sinh Nhà trường có những phương pháp dạy bài bản với sự chỉ dẫn tậntình của thầy cô giáo , học sinh có thể tiếp thu và có được sự hiểu biết, sự nhậnthức đúng đắn về kiến thức sức khỏe sinh sản

Quá trình xã hội hóa không chỉ diễn ra một chiều mà diễn ra hai chiều ,tác động qua lại lẫn nhau Dó đó, để học sinh có thể tiếp thu kiến thức hiệu quả,giáo viên phải không ngừng nâng cao kiến thức và đổi mới phương pháp giảngdạy phù hợp với nhu cầu cầu học sinh, ngược lại, học sinh cũng phải đóng góp ýkiến của mình, nghiêm túc tiếp thu kiến thức để giờ học có hiệu quả

1.2.3Lý thuyết truyền thông

Năm 1948,nhà khoa học về truyền thông và giao tiếp Mĩ H.Laswell đã

công bố công thức [17]

Trang 18

Nguồn tin : Người cung cấp thông tin

Thông điệp: Nội dung thông tin - thông điệp chúa những nội dung gì:

Những nội dung cần truyền đến đối tượng và nhu cầu của người tiếp nhânthông tin Xây dựng nội dung này theo nguyên tắc:

- Phù hợp với pháp luật ,đường lối,chính sách của Đảng,Nhà nước

- Đơn giản,dễ nhớ,dễ hiểu,phù hợp đối tượng (văn hóa,phong tục tập quán)

- Phù hợp với điều kiện tiếp nhận của đối tượng

Kênh truyền thông: là phương tiện kĩ thuật và phương thức truyền tải thông

tin tương ứng Các kênh truyền thông chủ yếu như:

- Truyền thông đại chúng:

báo in,phát thanh,truyền hình,sách,tạp chí,áp phích,internet…Kênh nàycung cấp nhiều thông tin đến nhiều đối tượng tạo nên một khung cảnh tâm

lý xã hội,dư luân xã hội thực hiện một nhiệm vụ nào đó

- Kênh truyền thông trực tiếp:nói chuyện,hội thảo,sinh hoạt câu lạcbộ Kênh này có sự giao tiếp trực tiếp giữa người phát và người nhận thôngtin giúp cho việc khắc phục khó khăn của 2 phía làm tăng hiệu quả tácđộng

- Kênh truyền thông dân gian:biểu diễn văn nghệ,ca hát,chèo,tuồng,đốvui Kênh truyền thông này dễ đi vào lòng người do phù hợp thị hiếu,kíchthích tâm lý hào hứng tùy đối tượng tiếp nhận

- Kênh truyền thông giáo dục

Người nhận tin: Tức là đối tượng - ai là người tiếp nhận thông tin? những

đặc điểm của đối tượng là gì? đặc điểm nhân khẩu học, tâm lý, tôn giáo, tínngưỡng, phong tục tập quán, những đặc điểm xã hội khác ra sao? Hiểu được

Message ( Thông điệp)

Channel ( Kênh)

Receiver ( Người nhận tin)

Effect ( Hiệu quả)

Source

( Nguồn

tin)

Trang 19

những đặc điểm này của đối tượng mới chọn lựa được phương thức truyềnthông phù hợp, đem lại hiệu quả cao.

Hiệu quả thế nào: Phân tích nhận thức, hành vi, hiệu quả truyền thông đến

đối tượng, Phản hồi của đối tượng thế nào

Sau này mô hình của Lasswell được Claude Shannon và những người nghiêncứu Slbécnêtíc ( lý thuyết hệ thống ) bổ sung có nhấn mạnh đến yếu tốđiều khiển, phản hồi và nhiễu:

S: Nguồn phát, chủ thể truyền thông

M: Thông điệp, nội dung truyền thông

C: Kênh truyền thông

R: Người nhận thông điệp (đối tượng )

E: Hiệu quả truyền thông

N: Nhiễu ( yếu tố sai số thông tin )

F: Phản hồi

Quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng gồm các bước sau:

Thứ nhất, tiền đề nhận thức của công chúng xã hội có vai trò như một yếu

tố nền cho sự tiếp nhận thông tin Đó chính là trình độ hiểu biết, kinhnghiệm sống, các quan điểm chính trị - xã hội cũng như những mặc cảmxuất phát từ những tín điều tôn giáo

N

F

Trang 20

Thứ hai, sự quan tâm của đối tượng đối với nguồn tin, công chúng tập

trung chú ý vào thông tin khi người ta cảm nhận thấy sự cần thiết hay có

ý nghĩa nào đó đối với họ

Thứ ba, sự đánh giá của công chúng xã hội đối với nguồn thông tin Sự

đánh giá này là cánh cửa quan trọng nhất dẫn đến việc công chúng có tiếpnhận nguồn thông tin hay không

Thứ tư, bước thử nghiệm của đối tượng được thực hiện trên thực tế hay

thông qua thí nghiệm tưởng tượng Đây là thử thách cuối cùng đối vớinguồn thông tin trước khi nó mang lại hiệu quả trên thực tế nghĩa là trởthành các hành vi xã hội

Cuối cùng, công chúng chấp nhận và điều chỉnh hành vi xã hội của mình

phù hợp với quy mô, tính chất và khuynh hướng của nguồn thông tin từcác phương tiện truyền thông đại chúng

Như vậy, truyền thông có tác động đến đối tượng tiếp nhận như một quátrình Truyền thông có hiệu quả với từng cá nhân khác nhau Loại hình kênhtruyền thông trong trường học chủ yếu là kênh truyền thông trực tiếp,giữa giáoviên với học sinh, kênh này có sự giao tiếp trực tiếp giữa người phát và ngườinhận thông tin giúp cho việc làm tăng hiệu quả tác động lẫn nhau giữa hai phía.Nắm được nhu cầu của đối tượng tiếp nhận sẽ dễ dàng hơn cho quá trình truyềnđạt kiến thức về SKSS

Truyền thông về SKSS cho học sinh PTTH không phải dễ Đây là lứa tuổikhông phải là trẻ con những cũng chưa thực sự chín chắn Truyền thông khôngđúng cách hoặc không đúng nhu cầu có thể khiến các em học sinh không tiếpnhận được kiến thức hoặc tiếp nhận kiến thức một cách hời hợt dẫn đến hiểu sai,

tò mò và tự mày mò kiến thức bằng những cách nguy hiểm hơn Từ nhận thức sai

có thể dẫn đến hành vi sai và gấy ra nhiều hậu quả cho cả cá nhân và xã hội.Ngược lại, đáp ứng được đúng nhu cầu của các em học sinh PTTH sẽ giúp cho các

em thấy được thông tin đó là hợp lý, phù hợp với mình, sẽ nhớ được kiến thức và

Trang 21

có thể áp dụng vào hành vi Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu trong quá trình truyềnthông về SKSS cho đối tượng học sinh PTTH là rất quan trọng.

1.2.4 Lý thuyết nhu cầu:

Nhà tâm lý học người Mỹ Maslow, có 5 thang bậc về nhu cầu:

- Nhu cầu được tôn trọng: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin

- Nhu cầu tự hoàn thiện: Đó là sụ mong muốn đạt tới chỗ mà con người

có thể đạt tới Tức là làm cho tiềm năng của con người đạt tới mức tối đa và cóthể đạt đến một mục tiêu nào đó

Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslowhiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc: thêm vào nhu cầu nhận thức, nhu

cầu thẩm mỹ và nhu cầu về sự siêu nghiệm [35]

Tiếp nhận giáo dục trong trường học chính là nhu cầu về nhận thức Conngười luôn mong muốn tiếp nhận những tri thức khoa học để làm phong phúthêm kiến thức của bản than mình Do đó, được tiếp nhận những kiến thức vềSKSS là nhu cầu chính đáng của học sinh PTTH

Trang 22

1.2.5 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục SKSS cho

vị thành niên:

Nắm bắt được nhu cầu của thanh niên và vị thành niên đối với vấn đềchăm sóc SKSS, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách thích hợp

Ngày 22 /3/2005, Bộ chính trị đã đưa ra Nghị quyết số 47-NQ/TW về

tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Trongmục một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu có ghi:

“ Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe

sinh sản và kế hoạch hóa gia đình Hoàn thiện hệ thống dịch vụ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và thực hiện KHHGĐ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sử dụng về các biện pháp tránh thai Chú trọng đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao trình độ cán bộ y tế, tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích các tổ chức xã hội

và tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ này Đẩy mạnh tiếp thị xã hội và bán rộng rãi các phương tiện tránh thai Tập trung triển khai các loại hình cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình phù hợp đối với từng vùng Tăng cường các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đối với vùng nông thôn, vùng đông dân có mức sinh cao, vùng sâu, vùng

xa, vùng khó khăn Chú ý đúng mức đến việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ đối với vị thành niên, thanh niên Lồng ghép hoạt động cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình với phòng, chống HIV/AIDS.”

Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã chỉ rõ: “ Thay đổihành vi bền vững sẽ diễn ra phù hợp với các vấn đề dân số, SKSS/KHHGĐbằng cách cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác phù hợp với mỗi vùng, khu vực

và nhóm đối tượng”

Mục tiêu cụ thể đối với 5 nhóm đối tượng:

- Với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ: Tăng sử dụng các BPTT antoàn, hiệu quả và tự nguyện; thực hành chăm sóc SKSS phù hợp, trọng tâm

Trang 23

nhằm giảm phá thai, tai biến do mang thai và các bệnh nhiễm khuẩn qua đườngsinh sản.

- Với nam giới: Tăng sử dụng các BPTT an toàn, hiệu quả và tự nguyện,giảm quan hệ tình dục không an toàn, ủng hộ và chia sẻ trách nhiệm với phụ nữtrong KHHGĐ và CSSKSS

- Với vị thành niên: Có hành vi đúng đắn và có trách nhiệm về dân số,SKSS/KHHGĐ, giảm nạo phá thai VTN, thực hiện kết hôn muộn

- Với những người cung cấp dịch vụ SKSS,KHHGĐ: tăng nhanh sốngười có hiểu biết về kiến thức, kỹ năng truyền thông và tư vấn vềSKSS/KHHGĐ để tăng số khách hang được tư vấn có chất lượng tại các trungtâm tư vấn

- Với các nhà lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng: Tăngcường sự hiểu biết các cấp ủy Đảng và chính quyền về chiến lược quốc gia dân

số, SKSS để lồng ghép các chuuwong trình nghị sự ở địa phương

Trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trong từng nămhọc cụ thể đều đề cập đến việc đưa giáo dục giới tính, SKSS vào trong trường

học Trong chỉ thị số 61/2008/CT/BGDĐT “ Về tăng cường phòng chống

HIV/AIDS trong ngành giáo dục” đã chỉ rõ: Lồng ghép nội dung phòng chống

HIV/AIDS vào các hoạt động của phong trào thi đua “ Xây dựng trường học

thân thiện, học sinh tích cực” và các hoạt động khác có liên quan như: giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, mại dâm và các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí.”

Vấn đề chăm sóc SKSS, đặc biệt là SKSS vị thành niên đã đượcĐảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước đãban hành nhiều chính sách, pháp lệnh nhằm thực hiện chăm sóc SKSS vàKHHGĐ bên vững

Trang 24

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN GIÁO DỤC SKSS TRONG TRƯỜNG HỌC

CỦA HỌC SINH PPTH ĐÔ THỊ HIỆN NAY 2.1.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

Hà Nội, thủ đô của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trungtâm đầu não về chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật của cá nước Sauđợt mở rộng hành chính vào năm 2008, Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong

17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày

1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.448.837 người

Là thủ đô của nước Việt Nam, mạng lưới thông tin, internet, sách báo vôcùng phát triển và luôn được cập nhật Dịch vụ thông tin thuận lợi và rẻ hơn rấtnhiều so với các địa phương khác Do đó, lứa tuổi vị thành niên, thanh niên,trong đó bao gồm cả lứa tuổi PTTH có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin mìnhmong muốn

Hơn thế nữa, các trường PTTH ở Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm, ưutiên của các cơ quan chức năng, do đó, những chương trình giáo dục luôn đượcthí điểm ở Hà Nội đầu tiên

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại trường PTTH Nhân Chính, là mộttrường điểm thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, trường luôn được quantâm ưu tiên giảng dạy những nội dung kiến thức mới nhất, thuận lợi với mụcđích nghiên cứu của đề tài Do đó, đề tài chọn trường THPT Nhân Chính làmđịa bàn nghiên cứu

Có thể nói địa bàn Hà Nội là nơi mà các em học sinh PTTH có thể nhậnđược những kiến thức mới mẻ nhất, rộng nhất, sâu nhất so với các tỉnh thànhtrong cả nước

2.2.Đặc điểm của khách thể nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu là các em học sinh đang học tại trường PTTH NhânChính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Trường PTTH Nhân Chính có

Trang 25

tổng số 1589 học sinh với 12 lớp 10, 12 lớp 11, 12 lớp 12, số học sinh namnhiều hơn số học sinh nữ.

Khi thu về được 300 phiếu điều tra thì có : 167 học sinh nam chiếm 55,7% tổng

số mẫu nghiên cứu và 133 học sinh nữ chiếm 44,3% tổng số mẫu nghiên cứu

Số học sinh học lớp 10 là 100 học sinh chiếm 33,3%, số học sinh học lớp 11 là

100 học sinh chiểm 33.3%, số học sinh học lớp 12 là 100 chiếm 33,3% tổng sốmẫu nghiên cứu

2.3.Kiến thức chung về SKSS của học sinh PTTH đô thị hiện nay

Kiến thức của học sinh PTTH về SKSS là một yếu tố rất quan trọng trongviệc đánh giá xem hiểu biết của các em học sinh đến đâu và tìm hiểu xem nhậnthức này các em có được từ nhà trường hay từ nguồn cung cấp nào khác Mụcđích là để đánh giá một phần vai trò của nhà trường trong việc cung cấp nhữngkiến thức về SKSS mà các em đang có Để kiểm tra kiến thức từng nội dungSKSS của các em học sinh PTTH đô thị khá rộng, đề tài không chú trọng vàotừng phần kiến thức cụ thể mà chì đánh giá chung về kiến thức của các em họcsinh, chủ yếu là để biết được các em tự đánh giá kiến thức về SKSS của mìnhnhư thế nào

Đề tài có đưa ra tám câu hỏi về các lĩnh vực: giới tính, sự thụ thai vàmang thai, nạo phá thai, biện pháp tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tìnhdục, tình dục an toàn, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản để kiểm tra kiến thứcchung về SKSS của các em học sinh PTTH như sau:

1 Không thể có thai nếu chỉ QHTD một lần

2 HIV/AIDS chỉ có thể lây qua đường tình dục

3 Dùng BCS có thể tránh được HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đườngtình dục khác

4 Hôn nhau có thể dẫn đến mang thai

5 Khi mang thai, phụ nữ thường không có kinh nguyệt

6 Nạo phá thai không để lại hậu quả gì

Trang 26

7 Tình dục an toàn là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và khôngmắc các bệnh LTQĐTD.

8 Bạn chỉ bị nhiễm nấm ở đường sinh sản nếu bạn đã QHTD

Với mỗi câu trả lời đúng các em được 1 điểm Đề tài xếp theo bậc thangđiểm để đánh giá kết quả hiểu biết chung về SKSS của các em học sinh PTTHnhư sau:

6-8 điểm: Hiểu biết nhiều

3-5 điểm: Hiểu biết

0-2 điểm: Hiểu biết ít

Qua một số câu hỏi để kiểm tra về kiến thức chung của các em có thểthấy được kiến thức chung của các em về một số vấn đề cơ bản tương đối tốt.Bảng 2.1: Đánh giá kiến thức chung về SKSS của các em học sinh

và lớp 12 hiểu biết nhiều về SKSS cao hơn hẳn so với lớp 10 Có thể do hiệuquả giảng dạy SKSS trong nhà trường, càng học lên cao thì các em càng nắm

Trang 27

được nhiều kiến thức về SKSS hơn Tuy nhiên, khi đi sâu vào tỷ lệ trả lời đúngtrong từng câu hỏi kiểm tra kiến thức ,có một điều đáng ngạc là tỷ lệ trả lờiđúng của các em học sinh lớp 12 lại thấp hơn so với các em học sinh lớp 11.Như câu hỏi kiểm tra về vấn đề HIV/AIDS, tỷ lệ các em học sinh trả lời đúngchỉ có 61%, thấp hơn cả tỷ lệ trả lời đúng của các em học sinh lớp 10 là 75%.Đương nhiên, điều này cũng có thể giải thích do kiến thức về SKSS của các emhiện có không chỉ do nhà trường cung cấp mà còn phải kể đến cả trình độ nhậnthức chung của các em và sự quan tâm tìm hiểu kiến thức ngoài phạm vi nhàtrường của các em học sinh.

Sự khác biệt giữa nam và nữ không thể hiện rõ ở bảng trên nhưng đi sâuvào tỷ lệ trả lời đúng ở các câu hỏi thì có thể nhận thấy sự khác biệt Ở một sốvấn đề, các em nam nắm được kiến thức tốt hơn các em nữ, ngược lại, có một sốvấn đề các em nữ lại nắm tốt hơn Những vấn đề mà các em nữ nắm tốt hơn cóthể thấy đó là vấn đề liên quan đến việc mang thai, liên quan trực tiếp đến SKSScủa các em nữ còn không mấy ảnh hưởng trực tiếp đến SKSS của các em nam.Như câu hỏi : " Khi mang thai, phụ nữ thường không có kinh nguyệt", chỉ có42,1% số em trai lớp 10 trả lời đúng, trong khi đó, có đến 79% số em nữ lớp 10trả lời đúng, tỷ lệ các em nam trả lời đúng theo bậc lớp học cũng tăng lênnhưng tỷ lệ trả lời đúng của các em nam vẫn ít hơn các em nữ cùng bậc học

Kiến thức chung về SKSS của các em học sinh khá tốt, tuy nhiên, khiđược yêu cầu tự đánh giá kiến thức của mình về hiểu biết SKSS của bản thân,phần lớn các em còn tỏ ra thiếu tự tin Đề tài yêu cầu các em tự đánh giá hiểubiết của mình đối với từng lĩnh vực SKSS là: giới tính, tình dục an toàn, sự thụthai và dấu hiệu mang thai, nạo phá thai, biện pháp tránh thai, BLTQĐTD, bệnhnhiễm khuẩn đường sinh sản

Mức điểm được cho với mức đánh giá với mỗi lĩnh như sau:

Hiểu biết nhiều=2 điểm Không biết gì=0 điểm

Hiểu biết=1 điểm

Trang 28

Với 7 lĩnh vực thang điểm để đo sự tự đánh giá về kiến thức SKSS của các emnhư sau:

0-4 điểm: hiểu biết ít

5-9 điểm: hiểu biết

10-14 điểm: hiểu biết nhiểu

Bảng2.2: Tự đánh giá về kiến thức SKSS của các em học sinh

Kết quả tự đánh giá kiến thức của các em học sinh cho một kết quả khácvới việc đánh giá kiến thức chung về SKSS của các em học sinh qua một số câuhỏi Số học sinh hiểu biết ít tăng lên đáng kể so với việc đánh giá kiến thức củacác em qua một số câu hỏi Số học sinh hiểu biết nhiều cũng giảm đi so với việcđánh giá kiến thức của các em qua một số câu hỏi Điều này cho thấy mặc dù

Trang 29

các em đã nắm được một số thông tin về vấn đề SKSS nhưng chỉ ở mức độ hiểubiết hời hợt, máy móc, học thuộc lòng hơn là nắm được bản chất Các em có thể

đã biết nhưng chưa hiểu, chưa thể biến thông tin thành kiến thức của mình nênchưa đủ tự tin để đánh giá về kiến thức của mình Có thể do nhà trường haynhững nguồn cung cấp thông tin chưa có phương pháp cung cấp kiến thức phùhợp, chưa xây dựng một nội dung phù hợp cho các em, chưa đáp ứng đúng nhucầu của các em học sinh khiến các em không có hứng thú tiếp nhận kiến thức vềSKSS dẫn đến việc tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, hời hợt, không nắmđược tầm quan trọng cũng như bản chất của vấn đề Sự thiếu tự tin của các emkhi đánh giá kiến thức của mình chứng tỏ hiệu quả chưa cao trong công tác giáodục SKSS trong nhà trường nói riêng và trong công tác truyền thông về SKSSnói chung

Bên cạnh đó, khi đi kiểm tra tỷ lệ các em tự đánh giá ở từng nội dung thì

mộ số nội dung các em tự nhận kiến thức của mình là không biết gì khá nhiều ở

cả 3 bậc lớp học, đó là nội dung về sự thụ thai và dấu hiệu mang thai, biện pháptránh thai, nạo phá thai và bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản Trước đây, nhữngnội dung SKSS này có thể coi là còn xa lạ, chưa phù hợp với độ tuổi của các

em, khi nào lập gia đình rồi mới cần biết những trước những thực trạng nạo pháthai ở lứa tuổi vị thành niên như hiện nay thì lỗ hổng trong kiến thức về SKSScủa các em ở những nội dung này là vô cùng nguy hiểm và đáng báo động

Tuy nhiên, đề tài mới chỉ kiểm tra được kiến thức chung về SKSS của các

em chứ chưa đi sâu vào từng nội dung cụ thể nên chưa thể đánh giá được nhậnthức, kiến thức cụ thể trong từng nội dung của các em học sinh PTTH

2.4.Nguồn cung cấp kiến thức về SKSS cho học sinh PTTH đô thị hiện nay

Đây là yếu tố quan trọng để đánh giá xem học sinh PTTH được tiếp nhậnkiến thức về SKSS từ nguồn nào nhiều nhất Cũng từ đó đánh giá xem nhàtrường có vai trò như thế nào trong việc cung cấp kiến thức SKSS cho các emhọc sinh PTTH

Trang 30

Kết quả khảo sát cho thấy nguồn mà các em học sinh PTTH tiếp nhậnkiến thức về tất cả các lĩnh vực skss chủ yếu là các phương tiên truyền thông đạichúng

Biểu 2.1:Nguồn cung cấp chủ yếu kiến thức về SKSS cho các em học sinh(%).

Như vậy, nguồn thông tin mà các em tiếp nhận kiến thức SKSS chủ yếu

là qua các kênh truyền thông đại chúng như truyền hình, internet và sách báo/tạp chí Các em học sinh được tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ truyềnhình, sách báo… Khi đi sâu tìm hiểu xem phương tiên truyền thông nào cungcấp nhiều kiến thức, thông tin về SKSS cho các em học sinh nhất thì internetchiếm đa số Internet là kho kiến thức rộng lớn, chứa đựng cả những kiến thứcchính xác và không chính xác, ở tuổi các em trong lứa tuổi tò mò, muốn khámphá, tìm hiểu, chưa biết chọn lọc thông tin, kiến thức dề dẫn đến tiếp nhậnnhững thông tin xấu, không tốt từ internet Đây cũng là vấn đề đáng lưu ý chocác nhà quản lý truyền thông trong việc cung cấp thông tin cho các em học sinh

Trong số những nguồn cung cấp thông tin kiến thức khác thì bạn bè lànguồn cung cấp thông tin nhiều thứ hai về SKSS cho các em học sinh PTTH

Trang 31

Biểu 2.2: Tỷ lệ học sinh chọn bạn bè làm nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về SKSS(%)

Việc trao đổi vấn đề SKSS với bạn bè sẽ có sự đồng cảm lớn, dễ dànghơn so với việc trao đổi với thầy cô giáo hay bố mẹ Do đó, môi trường bạn bècũng là nguồn cung cấp kiến thức SKSS quan trọng cho các em học sinh Tuynhiên, trong môi trường bạn bè, các em có thể thu được những kiến thức khôngchính xác, không đúng Do đó, việc trao đổi thông tin kiến thức SKSS qua bạn

bè đối với các em học sinh PTTH cần có sự hướng dẫn và chọn lọc

Nhà trường, thầy cô giáo chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong việc cungcấp kiến thức SKSS cho các em học sinh

Biểu2.3: Tỷ lệ học sinh chọn thầy cô giáo làm nguồn cung cấp thông tin chủ yếu

về SKSS(%)

Trang 32

Số học sinh lựa chọn nhà trường làm nguồn cung cấp thông tin chủ yếu

vầ các lĩnh vực SKSS rất ít Nội dung SKSS nhà trường cung cấp nhiều nhất làgiới tính và sự thụ thai và dấu hiệu mang thai Điều này cho thấy nhà trườngchưa phát huy được vai trò của mình trong việc cung cấp những kiến thức, trithức khoa học về sinh học, y học cho các em học sinh Nhà trường là nơi cungcấp kiến thức một cách khoa học, bài bản nhất nhưng nhà trường chưa tận dụngđược ưu thế của mình trong việc cung cấp kiến thức SKSS cho các em

Như vậy, có thể thấy rằng, các em học sinh PTTH đô thị biết về một sốvấn đề SKSS được tuyên truyền rộng rãi như biện pháp tránh thai, HIV/AIDS,nạo phá thai… nhưng sự thiếu tự tin khi đánh giá kiến thức của các em chứng

tỏ hiệu quả của chương trình giáo dục SKSS mà các em nhận được chưa cao.Các em biết nhưng chưa hiểu sâu vấn đề Chưa biến thành kiến thức của bảnthân Bên cạnh đó, lượng kiến thức về SKSS mà các em nhận được lại chủ yếu

từ phương tiên truyền thông đại chúng, vai trò của nhà trường trong việc giáodục SKSS cho các em học sinh còn khá mờ nhạt, nhà trường chưa phát huyđược vai trò của mình trong lĩnh vực cung cấp kiến thức về SKSS

2.5.Nội dung giáo dục SKSS học sinh PTTH đô thị được tiếp nhận trong trường học hiện nay

Hiện nay, việc đưa giáo dục giới tính, SKSS vào trong trường học, nhất làcấp bậc PTTH đang quan tâm và bàn luận rộng rãi Hầu hết mọi người đều nhậnthức được rằng việc đưa giáo dục giới tính, SKSS vào trong trường học là rất

cần thiết Tuy nhiên, có một thực tế là chương trình giáo dục giới tính, SKSS

hiện nay chưa được đưa vào nhà trường một cách chính thức và bài bản Các

em hiện nay hầu như chỉ được tiếp xúc với nội dung giáo dục SKSS ít ỏi quaviệc lồng ghép trong các môn học chính khoá

Khi được hỏi về môn học có đề cập đến nội dung giáo dục SKSS trongnhà trường PTTH hiện nay, câu trả lời của các em hầu hết tập trung vào mônsinh học ( 97%), và môn giáo dục công dân (61%)

Trang 33

Ở bộ môn giáo dục công dân lớp 10, trong tổng số 2 chương với 16 bài

giảng của cuốn sách, chỉ có bài 12 “ Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình ” là đề cập đến những khái niệm và nội dung về tình yêu, sức khỏe sinh

sản Trong bài học này, các em được tiếp xúc với những kiến thức về một số

điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ Đó là: " không nên yêu quá sớm vì

còn chưa ổn định và hoàn thiện về mặt nhận thức, không nên yêu một lúc nhiều người để chứng tỏ khả năng chinh phục hay vụ lợi, không nên có quan hệ tình dục trước hôn nhân vì đây là một vấn đề được dư luận xã hội không đồng tình,

đi ngược lại với những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, để lại nhiều hậu quả tai hại như nạo phá thai dẫn đến vô sinh, lây nhiễm bệnh tật qua đường tình dục, HIV/AIDS…" Ngoài ra, trong phần câu hỏi và bài tập, sách có

đưa ra những câu hỏi về hôn nhân và gia đình, tình dục trước hôn nhân để họcsinh tự thảo luận Tuy nhiên, những kiến thức về sức khỏe sinh sản hầu nhưkhông có và không rõ ràng Trong phần kiến thức của bài học, các em chủ yếuđược cung cấp những kiến thức về pháp luật chứ không khai thác sâu nhữngkiến thức liên quan đến giới tính Sách mới chỉ nêu ra tình dục không an toàntrước hôn nhân sẽ dẫn đến những hậu quả gì chứ chưa đưa ra các bệnh lây quađường tình dục và cách phòng tránh như thế nào hay làm thế nào để tránh việcquan hệ tình dục sớm Bên cạnh đó, sách còn dè dặt trong việc nói đến quan hệtình dục và tình dục an toàn Như vậy, khi gặp tình huống cụ thể, khó khăntrong cuộc sống thực, các em khó có thể tự tìm lời giải đáp cho mình Nhìnchung những nội dung về SKSS chỉ dừng lại ở tính cảnh báo nhưng chưa cụ thể.Một điều đáng ngạc nhiên là trong khi sách giáo dục công dân lớp 10 có đề cậpđến vấn đề SKSS, tuy với nội dung ít và chưa đầy đủ thì sách giáo dục công dânlớp 11 và 12 lại không hề đề cập đến vấn đề này

Ở bộ môn sinh học, trong sách sinh học lớp 10, Chương III, Bài 44 có đềcập đến vấn đề HIV và hội chứng AIDS Tuy nhiên, sách giáo khoa chỉ nói rấtchung chung và sơ sài về con đường nhiếm HIV, nói nhiều về cách thức virut

Trang 34

HIV phát triển thành bệnh AIDS hơn là con đường lây nhiếm Cách phòng tránh

cũng chỉ nêu rất chung chung : " Hiện nay chưa có thuốc chữa AIDS đặc hiệu,

chỉ có thuốc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh Một số loại thuốc có thể làm ngăn cản sự nhân lên của virut nhưng mới đang trong quá trình thử nghiệm.Mức độ phát triển của bệnh còn phụ thuộc vào cơ thể của người bệnh Phòng tránh bằng cách sống lành mạnh, thực hiện các biện pháp vệ sinh y tế, không tiêm chích ma túy " Như vậy, HIV/AIDS ở đây không được nhìn nhận

nhiều về khía cạnh là một bệnh có thể lây truyền qua đường tình dục, cũngkhông nói đến cách ngăn chặn việc lây truyền HIV/AIDS qua đường tình dục là

sử dụng bao cao su mà chỉ nếu một cách chung chung

Đối với sách giáo khoa sinh học lớp 11, trong bài 37 : " Sinh trưởng và phát triển ở động vật " có nói đến quá trình phát triển của cơ thể người gồm 2

giai đoạn: giai đoạn phôi thai và giai đoạn khi sinh ra Ở trong phần giai đoạnphôi thai chỉ nhắc đến quá trình phôi thai diễn ra trong tử cung của người mẹ

Giai đoạn thụ thai và phát triển như thế nào chưa nói rõ Trong bài 46: " Cơ chế điều hoà sinh sản "có nói đến cơ chế điều hoà sinh tinh và cơ chế điều hoà sinh trứng Trong bài 47: " Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch

ở người" chỉ có nêu tên về các biện pháp tránh thai, tuy nhiên phần các biện

pháp tránh thai có đưa hình ảnh nhưng cơ chế tác dụng thế nào thì chưa nói rõ

mà để học sinh tự tìm hiểu, cách sử dụng các biện pháp tránh thai cũng chưađược nhắc đến Bài cũng có nhắc đến hậu quả của nạo phá thai những chỉ được

đề cập ít ở cuối bài : “Phá thai có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối

với người phụ nữ như mất nhiều máu, viêm nhiễm cơ quan sinh dục, gây vô sinh, thậm chí tử vong” Vấn đề SKSS vị thành niên cũng không được đề cập

nhiều trong sách sinh học lớp 11, đa số những phần trong sách sinh học đều lànói đến quá trình sinh sản và phát triển ở thực vật, động vật Bộ phận sinh sản

và quá trình sinh sản ở người chỉ được đề cập rất ít và còn né tránh những vấn

đề nhạy cảm như cách sử dụng biện pháp tránh thai, quá trình thụ thai ở người

Trang 35

Sách sinh học lớp 12 chỉ có 1 bài đề cập đến vấn đề sức khỏe sinh sản:

“ Bảo vệ vốn gen của loài người và một số vấn đề xã hội của di truyền học ”.

Bài học có đề cập đến vấn đề tư vấn di truyền và việc sàng lọc trước sinh: " Để

tránh sinh ra những con người có khuyết tật di truyền thì việc phát hiện nguy cơ sinh con có khuyết tật di truyền cũng như phát hiện sớm những thai nhi có khuyết tật di truyền là điều cần thiết Việc này có thể được thực hiện qua các chuyên gia được gọi là chuyên gia tư vấn di truyền Việc tư vấn này giúp đưa ra tiên đoán và cho lời khuyên về khả năng mắc một bệnh di truyền nào đó ở đời con của các cặp vợ chồng mà bản thân họ hay một số người trong dòng họ đã mắc bệnh ấy Điều này giúp các cặp vợ chồng quyết định có nên sinh con hay không và nếu có thì họ nên làm gì để tránh cho ra đời những đứa trẻ tật nguyền." Lớp 12 là lứa tuổi gần đến tuổi trưởng thành nhưng vấn đề giáo dục

giới tính, SKSS lại không được đề cập đến những phần quan trọng và cấp thiếtcho lưa tuổi của các em mà chỉ để cập đến một phần nhỏ liên quan đến việc gen

di truyền khi sinh con Như vậy, sách còn thiếu kiến thức SKSS cần thiết vàchưa coi trọng vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh, chưa xác định được đúngnhu cầu, trọng tâm của vấn đề SKSS mà học sinh cần

Việc lồng ghép những nội dung giáo dục SKSS vào trong sách giáo khoachưa đi đúng vào trọng tâm cần thiết cho các em, còn né tránh nhiều vấn đề vàchưa bao quát đầy đủ Tuy nhiên, bên cạnh nội dung giáo dục SKSS trong sáchgiáo khoa thì nội dung SKSS các em được tiếp nhận trong trường học còn phải

kế đến yếu tố trong quá trình giảng dạy, giáo viên có nói thêm về những thôngtin SKSS cần thiết cho các em hay không và nội dung học sinh được tiếp nhậntrong hoạt động ngoại khoá của trường

Bên cạnh việc đưa chương trình giáo dục giới tính lồng ghép thông qua

bộ môn sinh vật và giáo dục công dân, trường còn tổ chức cung cấp nội dung vềSKSS thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần và hội thảo chuyên đề theo hìnhthức câu lạc bộ, tuy nhiên, nội dung giáo dục SKSS, giới tính trong những buổi

Trang 36

học này chủ yếu nói về tâm lý học sinh, tâm lý tuổi mới lớn, quan hệ giữa bạnnam và bạn nữ chứ không đề cập nhiều đến những nội dung bảo vệ SKSS chohọc sinh.

Khảo sát đánh giá chung những nội dung về SKSS học sinh được tiếpnhận trong trường PTTH thì thu được kết quả như sau:

Qua khảo sát có thể thấy rằng, nội dung mà các em học sinh được tiếpxúc nhiều nhất là " giới tính" và " bệnh lây truyền qua đường tình dục vàHIV/AIDS" Nội dung nạo phá thai và bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản số họcsinh được tiếp nhận khá ít, chỉ có 20,3% học sinh được tiếp nhận nội dung nạophá thai và 25,7 % học sinh được tiếp nhận nội dung bệnh nhiễm khuẩn đường

Thường trong những buổi hội thảo ngoại khóa nhà trường hay trao đổi với các em về vấn đề tâm lý tuổi mới lớn, về quan hệ giữa bạn nam và bạn nữ

Ví dụ như nếu các em có biểu hiện gì trong trường lớp vượt qua nội dung bạn bè thì giáo viên hay những cán bộ trong trường sẽ nhắc nhở hay giảng giải cho các em hiểu ở lứa tuổi này không nên yêu sớm, sẽ dẫn đến những chuyện không hay ( Phó hiệu trưởng trường nhân chính)

Ngày đăng: 20/10/2017, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w