1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn

72 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu doanh nghiệp là một cơ thể sống thì vốn được ví như máu chảy xuyên suốt cơ thể đó, nuôi sống từng bộ phận và cung cấp sự sống cho từng hoạt động của doanh nghiệp vì chỉ khi có vốn do

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN LAM PHƯỢNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện dưới sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp được sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Lam Phượng

Trang 4

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đinh, bạn bè, những người đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để giúp em hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất

Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Quý thầy cô, Quý công ty, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Lam Phượng

Trang 5

MỤC LỤC CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN

CỦA DOANH NGHIỆP 1

1.1 Khái quát về vốn của doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1

1.1.2 Vốn của doanh nghiệp 4

1.2 Huy động vốn của doanh nghiệp 7

1.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu 7

1.2.2 Huy động vốn nợ 10

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá huy động vốn 15

1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới huy động vốn của doanh nghiệp 16

1.3.1 Nhân tố chủ quan 16

1.3.2 Nhân tố khách quan 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO TOÀN 21

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Bảo Toàn 21

2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 21

2.1.2 Lịch sử hình thành 21

2.1.3 Cơ cấu, tổ chức 22

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Bảo Toàn giai đoạn 2011 – 2013 25

2.2 Thực trạng huy động vốn của công ty 34

2.2.1 Thực trạng huy động vốn chủ sở hữu 35

2.2.2 Thực trạng huy động vốn nợ 37

2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá huy động vốn 43

2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn 44

2.3.1 Kết quả 44

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 46

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO TOÀN 49

Trang 6

3.1 Định hướng kinh doanh của công ty trong thời gian tới 49

3.1.1 Mục tiêu kinh doanh 49

3.1.2 Phương hướng hoạt động kinh doanh 49

3.2 Giải pháp tăng cường huy động vốn tại công ty 49

3.2.1 Nhóm giải pháp trực tiếp 49

3.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 52

3.3 Một số kiến nghị 55

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần

Bảo Toàn 25

Bảng 2.2 Tình hình tải sản tại công ty cổ phần Bảo Toàn 29

Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu 35

Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn nợ 38

Bảng 2.5 Thực trạng vốn tín dụng thương mại trong nguồn vốn vay 39

Bảng 2.6 So sánh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng 41

Bảng 2.7 Các khoản thuế phải nộp và các khoản phải trả ngắn hạn khác 41

Bảng 2.8 Quy mô vốn của công ty cổ phần Bảo Toàn giai đoạn 2011 - 2013 43

Bảng 2.9 Tốc độ tăng trưởng của Công ty cổ phần Bảo Toàn trong 3 năm gần đây 43

Bảng 2.10 Cấu trúc nguồn vốn giai đoạn 2011 - 2013 44

Bảng 2.11 Chỉ tiêu xác định khả năng sinh lời 44

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ tăng trưởng doanh thu, giá vốn hàng bán và lợi nhuận 26

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu tài sản của Công ty năm 2011 -2013 28

Biểu đồ 2.3 Quy mô vốn của công ty cổ phần Bảo Toàn giai đoạn 2011 -2013 32 Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng các nguồn vốn 34

Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng các nguồn vốn chủ sở hữu giai đoạn 2011 - 2013 35

Biểu đồ 2.6 Tình hình khoản lợi nhuận không chia giai đoạn 2011 -2013 37

Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng nguồn vốn tín dụng thương mại 39

Biểu đồ 2.8 Quy mô nợ dài hạn từ năm 2011 – 2013 42

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Có thể coi vốn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp và doanh nghiệp phải làm sao đảm bảo hiệu quả trong huy động vốn, hiệu quả trong việc sử dụng vốn Một trong những thực trạng đang được đặt ra đối với chúng ta là hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều đang gặp tình trạng thiếu vốn, đặc biệt với các doanh nghiệp cổ phần hóa Ngoài phần vốn cá nhân thì các doanh nghiệp luôn phải tìm cách huy động các nguồn vốn phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng huy động vốn không có nghĩa

là tìm mọi cách để có vốn mà không tính đến hiệu quả của nó Mặt khác, việc huy động vốn từ các nguồn cũng không phải là đơn giản mà ngược lại, còn có rất nhiều khó khăn vướng mắc

Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần Bảo Toàn tôi nhận thấy rằng doanh nghiệp hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn về vấn đề huy động vốn Trước tình hình

đó, bằng kiến thức đã được học tập tại nhà trường và thực trạng tại doanh nghiêp tôi đã

lựa chọn đề tài: “Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Bảo Toàn” cho khóa

luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về huy động của doanh nghiệp đồng thời tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn của Công ty cổ phần Bảo Toàn Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Công ty cổ phần Bảo Toàn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu huy động vốn của doanh nghiệp, những nhân

tố ảnh hưởng và những giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Công ty cổ phần Bảo Toàn

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu huy động vốn của Công ty cổ phần Bảo Toàn Thời gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên giác độ doanh nghiệp trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2013

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài: Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hệ thống hóa và

làm rõ thêm lý luận về tăng cường huy động vốn và giải pháp trong vấn đề huy động vốn, phương thức sử dụng trong việc huy động vốn và hiệu quả trong 3 năm gần đây

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các nhà quản

trị của Công ty cổ phần Bảo Toàn nắm rõ hơn tình hình huy động vốn, phương thức sử dụng trong việc huy động vốn và hiệu quả trong 3 năm gần đây

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân tích thống kê kết hợp công thức, bảng biểu để tính toán và rút ra kết luận

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần Bảo Toàn

Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần Bảo Toàn

Trang 11

1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về vốn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Hiện nay, có khá nhiều cách định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp Mỗi định nghĩa đều là cách nhìn của tác giả trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu Có một số cách hiểu dưới các góc nhìn tiêu biểu như sau:

Theo quan điểm pháp luật: Theo khoản 1 điều 4 của Luật doanh nghiệp ban hành

ngày 29 tháng 11 năm 2005 có định nghĩa rằng “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

Theo quan điểm chức năng: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại

đó lao động là yếu tố trung tâm để kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy” (M.Francois Peroux)

Theo quan điểm phát triển: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” (“Kinh tế doanh nghiệp của

D.Larua.A Caillat – Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992)

Theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được

tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm các phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự

Theo điều kiện hình thành: Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh thành lập nhằm mục đích thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường, với mục tiêu cuốn cùng là sinh lợi

Ngoài những cách nhìn nhận trên còn rất nhiều các góc nhìn khác nhau về doanh nghiệp nhưng nhìn chung có thể hiểu doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng Thông qua đó, tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu đồng thời kết

Trang 12

2

hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội đồng thời thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định

1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp theo những tiêu chí khác nhau

Căn cứ vào hình thức sở hữu tài sản, có thể chia thành:

Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nước quy định Doanh nghiệp có tư cách hợp pháp

có cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và hoạt động dưới 3 hình thức sau:

- Công ty nhà nước gồm: Công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty nhà nước (Tổng công ty do nhà nước quyết định thành lập và đầu tư, Tổng công ty do các công ty

tự đầu tư và thành lập, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước)

- Công ty cổ phần gồm: Công ty cổ phần nhà nước (100% vốn nhà nước) và Công

ty cổ phần có cổ phần chi phối của nhà nước (nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ)

- Công ty trách nhiệm hữu hạn gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên (100% vốn nhà nước) và Công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn góp chi phối của nhà nước (nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ)

Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Theo hình thức này thì vốn đầu tư vào doanh nghiệp do một người bỏ ra Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tư nhân Người quản lý doanh nghiệp do chủ sở hữu đảm nhận hoặc có thể thuê mướn, tuy nhiên người chủ doanh nghiệp là người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn bộ các khoản nợ cũng như các vi phạm trên mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước pháp luật

Công ty: được hiểu là sự liên kết của hai hoặc nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng

sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành để đạt được mục tiêu chung nào đó Các loại hình công

ty phổ biến ở nước ta hiện nay như: Công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Hợp tác xã: là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế

Trang 13

3

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản vay nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cố phần của doanh nghiệp được gọi là

cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khách trong phạm

vu số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình

về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

Căn cứ vào giới hạn trách nhiệm

Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn

Doanh nghiệp có trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ trả nợ thay cho doanh nghiệp dựa trên phần vốn góp của mình khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ

sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh

Trang 14

tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình Có nhiều quan điểm

về vốn như: “Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ” Quan điểm này đã chỉ rõ mục

tiêu của quản lý sử dụng vốn nhưng lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp

Có thể thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về vốn, một mặt thể hiện được vai trò, tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đich nghiên cứu cụ thể Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp Nhưng ta có thể hiểu đơn giản rằng “Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền, là giá trị mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp”

Có thể nói vốn đối với từng doanh nghiệp là rất quan trọng, nó quyết định đến sự hoạt động suôn sẻ của doanh nghiệp Mặc dù để doanh nghiệp có thể hoạt động được một cách suôn sẽ thì cần phải có nhiều yếu tó cùng tham gia vào trong đó nhưng vốn vần là vấn đề quan trọng nhất Nếu doanh nghiệp là một cơ thể sống thì vốn được ví như máu chảy xuyên suốt cơ thể đó, nuôi sống từng bộ phận và cung cấp sự sống cho từng hoạt động của doanh nghiệp vì chỉ khi có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các hợp đồng kinh doanh, mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ sản xuất cũng như trả lương cho công nhâ… Theo đó thì vốn có vai trò vô cùng quan trọng trong doanh nghiệp Cụ thể:

- Đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

Doanh nghiệp thông qua hoạt động đầu tư có thể phát triển và tăng trưởng Đầu tư

ở đây có thể là đầu tư vào một dự án kinh doanh mới hay là mua sắm trang thiết bị mới, xây dựng nhà xưởng,… Nhưng để có thể tiến hành hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp cần phải có vốn Quy mô vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động sẽ quyết định đến khả năng đầu tư vào dự án kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định đến quy mô của dự

án kinh doanh cũng như phạm vi của dự án Vì khi doanh nghiệp muốn quyết định đầu

tư vào một hoạt động mới hay một dự án kinh doanh mới thì yêu cầu đầu tiên mà doanh nghiệp cần cân nhắc là lượng vốn cần phải có để đầu tư vào dự án, quy mô của vốn sẽ quyết định đến quy mô của dự án vì ta không thể đầu tư vào một dự án lớn khi mà ta không có đủ lượng vốn cần thiết Nếu như cố tình đầu tư thì trong quá trình hoạt động

Trang 15

5

sẽ liên tục xảy ra tình trạng thiếu vốn và từ đó sẽ dẫn đến tình trạng dự án sẽ không thể hoạt động suôn sẻ, ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án thậm chí còn gây thiệt hại tới doanh nghiệp Vì vậy, khi quyết định đầu tư thì doanh nghiệp bao giờ cũng phải cân nhắc tới yếu tố vốn

- Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra thì cần phải có máy móc, thiết

bị, nguyên vật liệu, công nhân… Vì vậy cần có vốn để đầu tư vào những nhân tố sản xuất đó Quy mô của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả kinh doanh vì nếu có quy mô vốn lớn, tiềm lực vốn mạnh thì doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện trang bị máy móc thiết

bị hiện đại vào sản xuất nhờ đó mà có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất giá thành sản phẩm nhờ đó sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệp trước các doanh nghiệp khác Nhờ có vốn mà doanh nghiệp cũng có thể tiến hành các hoạt động xúc tiến thị trường, quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn trên thị trường nhằm nâng cao sự thành công của sản phẩm làm cho mọi người biết về sản phẩm

để có thể mua

- Đối với việc tăng tài sản của doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp cũng chính là lượng vốn mà doanh nghiệp có, ở đây tài sản chính là biểu hiện về mặt vật chất của vốn Số lượng tài sản mà doanh nghiệp có cũng nói lên được tiềm lực của doanh nghiệp, nói lên quy mô của doanh nghiệp và trình

độ năng lực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có Vì vậy mà việc tăng tài sản của doanh nghiệp luôn được tiến hành qua các kỳ sản xuất kinh doanh, nó được tiến hành thường xuyên và liên tục trong mỗi doanh nghiệp Nhưng việc tăng tài sản cũng cần phải

có vốn vì tài sản ở đây là trang thiết bị máy móc, nhà xưởng đều cần được mua và đầu

Trên thực tế hiện nay vốn của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tùy theo từng tiêu thức phân loại mà nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau Cụ thể có các cách phân loại sau:

Trang 16

6

Theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo cách phân loại này, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn trung và dài hạn

Vốn trung và dài hạn: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng Nguồn vốn này chủ yếu dành cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ và một phần TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn ngắn hạn: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn và các khoản phải trả khác

Theo nguồn hình thành vốn

Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải trả và vốn chủ

sở hữu Trong quá trình kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có của doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản vốn khá lớn là đi vay của ngân hàng hay các nguồn tài trợ khác Bên cạnh đó còn có các khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng Tất cả các yếu tố này tạo nên nợ phải trả của doanh nghiệp

Nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp

có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ vay của các chủ thé kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách… Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh hoặc các cố đông trong doanh nghiệp cổ phần Có

ba nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:

- Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông, các chủ doanh nghiệp) và lợi nhuận để lại (lợi nhuân không chia) của doanh nghiệp

- Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định) khi Nhà nước cho phép hoặc các thành viên quyết định

- Các quỹ của doanh nghiệp hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ đầu tư…

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp còn có thể bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (khoản phí do ngân sách nhà nược cấp, phát không hoàn lại sao cho doanh nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích chính trị xã hội…)

Trang 17

7

Trong khóa luận, ta sẽ sử dụng cách phân loại theo nguồn hình thành của vốn: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ

1.2 Huy động vốn của doanh nghiệp

Để có được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp

1.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu

1.2.1.1 Vốn góp ban đầu

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu góp Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp Các doanh nghiệp nhà nước ngay từ khi mới thành lập đã được Nhà nước cấp cho một số lượng vốn nhất định Đây là lượng vốn quan trọng để đầu tư xây dựng ban đầu

và mở rộng sản xuất Khi sử dụng vốn này, các doanh nghiệp nhà nước phải nộp thuế

sử dụng vốn Ngân sách nhà nước Từ 01/01/1997, theo Nghị định số 59/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 70/TC-CSTC của Bộ tài chính thì chỉ có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi thì mới phải nộp thuế sử dụng vốn NSNN và được tính lợi nhuận sau thuế

Các doanh nghiệp là công ty tư nhân thì vốn góp là do cá nhân hoặc cổ đông của công ty góp thành Trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,… các nguồn vốn cũng tương tự như trên: vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra hoặc do các bên tham gia đối tác góp vốn Tỷ

lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh

Hiện nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà nước nói riêng đang có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế

Ngoài ra còn có thể huy động vốn từ cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp Với phương thức này, doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một số doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho họat động liên doanh nào đó

Trong thực tế, vốn tự có của doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh

Ưu điểm của vốn góp ban đầu là doanh nghiệp hoàn toàn chủ động sử dụng vốn, không bị phụ thuộc vào bên ngoài Nhưng nó cũng có nhược điểm là thường lượng vốn góp ban đầu là không lớn, trong doanh nghiệp nguồn vốn tự có chỉ chiếm khoảng 20%

- 30% tổng vốn của doanh nghiệp

Trang 18

8

1.2.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Quy mô số vốn ban đầu là vô cùng quan trọng, tuy nhiên số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp Đó là lý do hình thành nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Lợi nhuận không chia là một phần trong lợi nhuận của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng vốn Nguồn vốn được tích lũy từ lợi nhuận không chia được sử dụng để tái đầu tư Rất nhiều công ty coi trọng chính sách tái đầu tư từ số lợi nhuận để lại Họ đặt ra mục tiêu số vốn ngày càng tăng

Việc tự tái đầu tư bằng lợi nhuận không chia là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm được chi phí vốn và giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Đồng thời giúp doanh nghiệp tự chủ trong vấn đề tài chính, dễ dành hơn trong quan hệ tín dụng đối với Ngân hàng, tổ chức tín dụng và các cổ đông Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được khi doanh nghiệp đã và đang hoạt động có lợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư Mặt khác, nguồn vốn từ lợi nhuận để lại cũng có nhược điểm là dễ gây mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nhà quản lý cổ đông, giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu vào thời gian đầu Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp

Tuy nhiện, đối với doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà nước Đối với công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số yếu

tố rất nhạy cảm Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần Các cổ đông không được cổ tức nhưng

bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Điều này một mặt khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời gian trước mắt

Khi nói đến nguồn tái đầu tư của các công ty cổ phần, không thể không lưu ý tầm quan trọng của chính sách phân phối cổ tức Chính sách phân phối cổ tức của công ty

cổ phần cần phải tính đến một số khía cạnh như sau:

+ Lợi nhuận sau thuế

+ Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước

+ Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty

+ Hiệu quả của việc tái đầu tư từ nguồn lợi nhuận để lại

Trang 19

9

1.2.1.3 Phát hành cổ phiếu

Khi mà nhu cầu vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng bởi nguồn vốn nội bộ, doanh nghiệp có thể thu hút nguồn vốn bằng cách phát hành cổ phiếu Điều này sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Phát hành cổ phiếu là việc doanh nghiệp tiến hành phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để huy động vốn từ thị trường tài chính Việc phát hành cổ phiếu này có thể là doanh nghiệp mới phát hành lần đầu lên thị trường chứng khoán hoặc là phát hành thêm cổ phiếu

Cổ phiếu: là giấy tờ xác nhận sự tham gia góp vốn của một chủ thể (gọi là cổ đông) vào một công ty, tức là xác định cổ đông có quyền sở hữu một phần vốn đối với công ty

đó theo tỷ lệ phần tram cổ phiếu của cổ động đó Cổ phiếu có thể được phát hành thành hai loại: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên

Cổ phiếu thường: là cổ phiếu không kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của doanh nghiệp phát hành ra cổ phiếu Cổ phiếu thường không có mức lãi suất cố định và không

có sự ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường, không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác như: môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất,… Cụ thể hơn, thị giá cổ phiếu thường bị phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biến động theo chiều nghịch với biến động lãi suất trái phiếu chính phủ

Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập có lợi nhuận ổn định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo do đó, cổ phiếu ưu đãi thường chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành

Việc phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán sẽ huy động được lượng vốn lớn vì khi doanh nghiệp tiến hành phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán sẽ thu hút được các nhà đầu tư quan tâm mua cổ phiếu của doanh nghiệp do vậy mà lượng vốn thu được từ việc phát hành cổ phiếu là tương đối lớn

Bên cạnh đó, việc phát hành cổ phiếu cũng làm tăng vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp Việc phát hành cổ phiếu ra bên ngoài cũng giống như việc doanh nghiệp kêu gọi thêm các cổ đông mới góp vốn vào doanh nghiệp chỉ có điều là những người nắm giữ cổ phiếu này thì không nằm trong ban lãnh đạo doanh nghiệp Nhờ có lượng vốn này mà doanh nghiệp sở hữu thêm đượng một lượng vốn góp lớn, do vậy mà vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp tăng lên Việc phát hành cổ phiếu này vừa làm tăng lượng vốn

Trang 20

10

chủ sở hữu của doanh nghiệp vừa giúp doanh nghiệp có được vốn để đầu tư vào các dự

án kinh doanh hay mua sắm tài sản cố định mới… Vừa làm giảm tranh chấp về quyền lãnh đạo khi mà những nhà đầu tư nắm giữ cố phiếu này không nằm trong ban lãnh đạo doanh nghiệp

Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu cũng gặp phải một số nhược điểm như sau: Khi muốn phát hành cổ phiếu thì doanh nghiệp phải tiến hành những khâu chuẩn

bị nhất định, tiến hành xin giấy phép với các nhà chức trách và cùng phải tiến hành khảo sát thị trường xem phản ứng của nhà đầu tư với cổ phiếu của doanh nghiệp là như thế nào, do vậy sẽ gây tốn kém cho doanh nghiệp Thêm vào đó, việc tiến hành cũng cần thời gian lâu dài do các quá trình và thủ tục cần hoản thành cũng sẽ gây mất thời gian cho doanh nghiệp

Một nhược điểm nữa là việc phát hành quá nhiều cổ phiếu có thể sẽ làm giảm giá trị thị trường của cổ phiếu của doanh nghiệp Với những doanh nghiệp đã tham gia thị trường chứng khoán mà phát hành thêm cổ phiếu cũng có nghĩa là làm tăng lượng cung

cổ phiếu của doanh nghiệp lên, điều đó sẽ dẫn đến việc các cổ phiếu cũ và những cổ phiếu mới lên sàn bị giảm giá từ đó mà dẫn đến uy tín của doanh nghiệp có thể bị suy giảm nếu tình trạng đó kéo dài

Việc phát hành cổ phiếu thường có quy định về mặt pháp lý vì nhà nước cần có những chế tài quản lý để tránh những tình trạng các doanh nghiệp phát hành quá nhiều

cổ phiếu trong khi lượng vốn chủ sở hữu không đủ sẽ làm cho các nhà đầu tư gặp phải nhiều rủi ro khi đầu tư hơn Vì vậy, việc phát hành cổ phiếu này không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể tiến hành được

1.2.2 Huy động vốn nợ

1.2.2.1 Vay các tổ chức tín dụng

Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của bản thân các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch

vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn

Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị trường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường phải vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự

án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp

Trang 21

11

Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay, bao gồm vay dài hạn (thường tính từ 3 năm trở lên; có nơi tính từ 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1năm đến 3 năm) và vay ngắn hạn (dưới 1 năm) Tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loại trong thực tế không giống nhau giữa các nước và có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương mại

Tuỳ theo tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loại cho vay thành các loại như: cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tài sản lưu động, cho vay để thực hiện dự án Cũng có những cách phân chia khác như: cho vay theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức bảo đảm tiền vay

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm nhưng nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn (lãi suất)

- Điều kiện tín dụng: Các doanh nhiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng được những nhu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu Trước tiên, ngân hàng phải tích luỹ hồ sơ xin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự

án đàu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn

- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người đi vay có tài sản thế chấp trong nhiều trương hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ.v.v…do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng

- Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh nghiệp tuy nhiên trong một số trường hợp, điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị kiểm soát

- Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn hơn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kỳ ở nước ta, lãi suất vay vốn khá cao

và thiếu cạnh tranh do đó không tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rông sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại (commercial credit) hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp (suppliers credit) Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm

Trang 22

12

hay trả góp Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế Trong một số doanh nghiệp, nguồn tín dụng thượng mại dưới dạng các khoản phải trả (Accounts payable) có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn

Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa, nó còn tạo khả năng

mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện ràng buộc cụ thể

có thể được định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên, cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn

Chi phí để sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của khoản vay, đó

là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua bán hàng hoá trả chậm, chi phí này có thể ẩn dưới hình thức thay đổi mức giá, tuỳ thuộc quan hệ

và thoả thuận cụ thể giữa các bên Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranh hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2.2 Phát hành trái phiếu công ty

Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn Trái phiếu còn được gọi là trái khoán Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng ta chỉ xem xét trái phiếu công ty trên một khía cạnh cơ bản

Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính

Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái phiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếu doanh nghiệp như sau:

Trái phiếu có lãi suất cố định

Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiều nhất, tức là phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Như vậy cả doanh nghiệp (người đi vay) và người giữ trái phiếu (người cho vay) đều biết mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại (kỳ hạn) của trái phiếu Việc thanh toán lãi suất trái phiếu cũng thường được quy định

rõ, ví dụ trả hai lần trong năm vào ngày 30/06 và ngày 31/12

Trang 23

là phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu của các công ty khác và trái phiếu Chính phủ Giả sử trái phiếu kho bạc Nhà nước kỳ hạn 5 năm có lãi suất 7,0%/năm, trái phiếu trung bình của một số công ty khác cùng kỳ hạn: 8,0%/năm; khi đó để phát hành thành công trái phiếu, cần quy định lãi suất trái phiếu sao cho có thể cạnh tranh được với mức lãi suất đó Tuy nhiên một ràng buộc khác là chi phí lãi vay mà công ty phải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm các yếu tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất

- Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng không những đối với công ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình thị trương vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý Ví dụ, trong tháng 09/2001, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam phát hành các loại trái phiếu

vô danh và ghi danh với kỳ hạn 5 năm và 7 năm Loại trái phiếu 5 năm bán được với số lượng rất lớn nhưng loại trái phiếu 7 năm thì không hấp dẫn công chúng

- Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanh nghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Các doanh nghiệp có uy tín và vững mạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy đông vốn Trong việc phát hành trái phiếu, cũng cần chú ý đến mệnh giá vì nó có thể liên quan đến sức mua của dân chúng Đặc biệt, ở Việt Nam khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức mệnh giá vừa phải để có thể nhiều người mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường

Trái phiếu có lãi suất thay đổi

Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực ra loại này có lãi suất phụ thuộc vào một

số nguồn lãi suất quan trọng khác Chẳng hạn, lãi suất LIBOR (London Interbank Offeredrate) hoặc lãi suất cơ bản (Prime Rate)

Khi nào nên phát hành loại trái phiếu thả nổi? Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao động của lãi suất thực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thoả đáng khi so sánh với tình hình thị trường Vì vậy, một số người ưa thích trái phiếu thả nổi Tuy nhiên, loại

Trang 24

14

trái phiếu này có một vài nhược điểm: Doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất

Trái phiếu có thể thu hồi

Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hành những trái phiếu có thể thu hồi, tức

là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại trái phiếu Thông thường người

ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi, ví dụ trong thời gian 36 tháng

Loại trái phiếu có thể thu hồi có những ưu điểm sau:

- Có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng Khi không cần thiết, doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu, tức là giảm số vốn vay

- Doanh nghiệp có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các trái phiếu đó

Tuy nhiên nếu không có những hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này không được ưa thích

Chứng khoán có thể chuyển đổi

Các doanh nghiệp thường phát hành những chứng khoán kèm theo những điều kiện

có thể chuyển đổi được Nói chung, sự chuyển đổi và lựa chọn cho phép các bên (doanh nghiệp, người đầu tư) có thể lựa chọn cách thức đầu tư có lợi và thích hợp

Có một số hình thức chuyển đổi, ở đây chỉ đề cập đến hai loại:

- Giấy bảo đảm: Người sở hữu giấy baỏ đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu thường, thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định

- Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường Nếu thị giá của cỏ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao

1.2.2.3 Các khoản nợ tích lũy, khách hàng trả tiền trước

Các khoản nợ tích lũy chủ yếu là nợ lương của công nhân viên và nợ thuế của chính phủ Lương của công nhân thường được trả hàng tháng theo chế độ tạm ứng vào giữa mỗi tháng và thanh toán vào đầu tháng sau Giữa 2 kỳ trả lương sổ sách kế toán của doanh nghiệp cho thấy những khoản nợ lương trong kỳ Ngoài ra, doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước của năm trước vào đầu năm sau sau khi đã được duyệt quyết toán

Trang 25

Các khoản nợ tích lũy hay khách hàng trả tiền trước này sẽ tự thay đổi cùng với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô, các khoản nợ này cũng tự động tăng và khi thu hẹp sản xuất, chúng cũng giảm theo

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá huy động vốn

1.2.3.1 Quy mô vốn

Quy mô vốn sẽ thể hiện lượng vốn mà doanh nghiệp đã huy động được Tùy theo từng ngành nghề khác nhau mà nhu cầu sử dụng vốn cũng khác nhau Tuy nhiên, lượng vốn mà doanh nghiệp huy động được sẽ thể hiện khả năng hoạt động của doanh nghiệp liệu có hiệu quả và đáng tin cậy hay không cũng như có đủ vốn để sử dụng phục vụ cho từng mục đích hoạt động của doanh nghiệp hay không Quy mô vốn càng lớn chứng tỏ khả năng tài chính của doanh nghiệp càng cao, uy tín càng được đảm bảo và làm tăng

cơ hội mở rộng sản xuất cho doanh nghiệp mang lại lợi nhuận lớn hơn

1.2.3.2 Tốc độ tăng trưởng tài sản

Tỷ lệ tăng trưởng tài sản cho biết mức tăng trưởng tài sản tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ Tỷ lệ này âm đồng nghĩa với tăng trưởng âm Trường hợp tài sản của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng tài sản là không xác định Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng tài sản như sau:

Tốc độ tăng trưởng=Lợi nhuận năm sau - Lợi nhuận năm trước

Lợi nhuận năm trướcTuy nhiên, nếu một doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa chia để tái đầu tư, thì việc tăng trưởng tài sản thường mang ý nghĩa doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và việc tăng trưởng tài sản thường là một dấu hiệu tốt

Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là vốn vay thì chúng ta lại cần thận trọng Vì vốn vay sẽ phải trả cả lãi lẫn gốc, nên việc sử dụng vốn vay để đầu tư mang theo nhièu rủi ro, và quyết định đầu tư sai lầm có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị thua

lỗ nặng nề hoặc phá sản

Trang 26

16

1.2.3.3 Cơ cấu nguồn vốn

Tổng nợVốn chủ sở hữuChỉ tiêu này cho biết tỷ lệ giữa nguồn vốn nợ so với vốn chủ sở hữu là bao nhiêu Nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn

Do mỗi nguồn vốn huy động có chi phí khác nhau nên với cùng một lượng vốn huy động nhưng tỷ lệ các nguồn vốn khác nhau thì cũng mang lại kết quả khác nhau Do vậy, khi huy động vốn phục vụ kinh doanh thì các nhà quản trị phải tính toán một cơ cấu vốn hợp lí

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì Tỷ

lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn

1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới huy động vốn của doanh nghiệp

1.3.1 Nhân tố chủ quan

Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp vì nếu quy mô của doanh nghiệp lớn thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ vì khi doanh nghiệp có quy

mô lớn điều đó đồng nghĩa với việc doanh thu hàng năm sẽ lớn hơn từ đó dẫn đến việc lợi nhuận để lại sẽ lớn làm cho lượng vốn tích lũy qua các năm sẽ lớn hơn Trái lại khi quy mô doanh nghiệp nhỏ thì ta không thể mong chờ có được một mức doanh thu và lợi nhuận cao để có được tích lũy vốn lớn đưa vào đầu tư được Từ đó mà khả năng huy động vốn từ nguồn lợi nhuận để lại của doanh nghiệp lớn luôn có ưu thế so với các doanh nghiệp nhỏ Mặt khác, doanh nghiệp có quy mô lớn đồng nghĩa với việc giá trị tài sản mà doanh nghiệp có sẽ lớn hơn so với các quy mô vừa và nhỏ đây là một thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp khi đi vay tín dụng ngân hàng vì khi đi vay khi đi vay tín dụng ngân hàng thì bao giờ ngân hàng cũng căn cứ vào giá trị tài sản mà doanh nghiệp

có để cho vay vốn, ta không thể vay vốn với số lượng lớn khi mà phần giá trị tài sản của doanh nghiệp nhỏ bé Vì vậy mỗi khi đi vay tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp lớn với giá trị tài sản lớn của mình có thể đem ra thế chấp để vay được số lượng vốn lớn cần

Trang 27

17

thiết để cung cấp vốn cho những hoạt động đầu tư của mình nhưng trái lại với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc vay tín dụng ngân hàng một khối lượng vốn lớn là không dễ dàng khi mà giá trị tài sản mà doanh nghiệp có chưa nhiều nên chưa thể tạo được lòng tin đối với ngân hàng để cho vay Một điểm mạnh nữa của những doanh nghiệp có quy

mô lớn là doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, hoạt động lâu trên thị trường nên có được lòng tin của khách hàng và các đối tác nên họ

có thể tiến hành vay tín dụng thương mại từ các đối tác cũng trở lên dễ dàng Họ có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên phân phối cho vay những khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn điều đó sẽ tạo lợi thế cho họ trong việc huy động vốn Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có thuận lợi hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị trường thì điều đầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp phải đủ lớn để có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng tin đối với những nhà đầu tư khi mà các doanh nghiệp lớn định phát hành trái phiếu, rõ ràng khi phải lựa chọn giữa hai loại trái phiếu thứ nhất

là của một doanh nghiệp vừa và nhỏ và một bên là của một doanh nghiệp lớn thì chúng

ta thường có xu hướng chọn trái phiếu của doanh nghiệp có quy mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp,… Với doanh nghiệp

có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà doanh nghiệp có chắc chắn cũng sẽ lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi muốn huy động vốn từ nguồn này khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể tạm thời dùng nguồn vốn của quỹ dự phòng này để bù đắp vào chỗ thiếu và đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào

Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị trường lớn

và ổn định thì khả năng huy động vốn cũng sẽ cao hơn Đúng vậy, khi mà hai doanh nghiệp có cùng quy mô thì yếu tố lĩnh vực hoạt động sẽ quyết định đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp rõ ràng là doanh nghiệp nào đang hoạt động trong những ngành mà có lợi nhuận cao, những ngành hấp dẫn thì sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu

tư quan tâm từ đó mà dẫn đến khả năng huy động vốn cũng sẽ cao hơn còn trái lại doanh nghiệp doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực mà lợi nhuận thấp, chi phí cao thì việc thu hút vốn, thu hút các nhà đầu tư thường là khó khăn hơn Thêm vào đó thì việc hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh mới là một ưu thế lớn cho các doanh nghiệp khi thu hút đầu tư, vì khi một ngành mới xuất hiện chưa có nhiều nhà đầu tư tham gia vào nên thị trường còn rất lớn do vậy mà doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường

Trang 28

18

từ đó mà có được doanh thu và lợi nhuận lớn, dễ dàng huy động vốn từ nội bộ Đến khi các doanh nghiệp khác bắt đầu quan tâm vào lĩnh vực mới này thì doanh nghiệp đã nắm chắc được thị trường từ đó tạo được ưu thế trước các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh, dễ dàng thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp hay tiến hành liên doanh góp vốn với doanh nghiệp,… Lĩnh vực hoạt động ở đây cũng liên quan đến thị trường hoạt động và những nhà cung ứng đối tác cho doanh nghiệp Rõ ràng khi mà một lĩnh vực hoạt động có thị trường rộng lớn, tiềm năng thì khả năng thu hút vốn đầu tư vào đó

là cao hơn rất nhiều khi mà ta hoạt động trong một ngành mà thị trường nhỏ hẹp không thu hút được sự quan tâm của những nhà đầu tư nên khả năng thu hút vốn đầu tư rất hạn chế Còn việc các nhà cung ứng đối tác cũng quan trọng vì nó quyết định đến các khoản vay tín dụng thương mại của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Khi mà doanh nghiệp đang hoạt động tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất nhiều đối với những doanh nghiệp làm ăn đình đốn Khi mà doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả điều đó đồng nghĩa với việc vòng quay của vốn được rút ngắn, vốn không bị ứ đọng làm cho vốn liên tục được đầu tư tiếp tục làm tăng giá trị đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc doanh thu và lợi nhuân của doanh nghiệp sẽ lớn làm cho phần lợi nhuận để lại của doanh nghiệp lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho doanh nghiệp, tạo nên số lượng vốn chủ sở hữu được gia tăng Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì uy tín của doanh nghiệp càng lớn càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chú ý từ đó sẽ dễ dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, khi mà hiệu quả sản xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay tín dụng thương mại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao tạo được lòng tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng huy động vốn vào để đầu tư vào những dự án kinh doanh của mình Còn trái lại khi mà sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông được thì doanh nghiệp khó

có khả năng huy động vốn lớn vì không thu hút được sự quan tâm của những nhà đầu

tư, không tạo được niềm tin về khả năng thanh toán tới những nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn khi đi vay

Uy tín của doanh nghiệp

Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được uy tín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà đầu tư thì doanh nghiệp

sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn Uy tín của doanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh doanh hay quy mô của doanh nghiệp trong

Trang 29

19

việc thu hút vốn đầu tư vì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện tại những thời điểm nhất định, không doanh nghiệp nào là có thể hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao trong suốt thời gian dài cả, nhưng uy tín của doanh nghiệp thì khác nó được xây dựng qua nhiều giai đoạn, phải được tạo dựng rất lâu vì vậy mà uy tín của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp huy động vốn Khi mà doanh nghiệp có uy tín lớn thì việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu ra thị trường tài chính thì sẽ được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà đầu tư trước những doanh nghiệp khác chưa có uy tín, hay uy tín còn chưa nhiều Uy tín của doanh nghiệp như là một tài sản vô hình, nó được xây dựng qua thời gian, qua quá trình hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường, nó như là thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường

1.3.2 Nhân tố khách quan

Tình hình thị trường

Rõ ràng khi mà thị trường ổn định không có biến động, khủng hoảng thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ tốt hơn nhiều khi mà tình hình thị trường biến động hay trở lên xấu đi Khi mà tình hình thị trường phát triển ổn định thì các nhà đầu tư sẽ

mở rộng đầu tư quan tâm nhiều đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp cũng như bản thân doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp sẽ dễ dàng huy động vốn từ các nhà đầu tư, kêu gọi vốn từ thị trường, vay vốn của các đối tác, nhưng mà khi thị trường diễn biến xấu đi, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp từ đó các nhà đầu tư sẽ thu hẹp đầu tư dẫn đến việc huy động vốn của doanh nghiệp sẽ không thể được diễn ra một cách dễ dàng khi mà doanh nghiệp cũng sẽ phải thu hẹp hoạt động, doanh thu và lợi nhuận giảm xuống là cho nguồn vốn nội bộ cũng sẽ giảm theo khiến cho khả năng huy động vốn bị ảnh hưởng

Trang 30

20

hợp, hạn chế thị trường, hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp thì nó sẽ làm cho doanh nghiệp không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn của doanh nghiệp bị hạn chế, doanh nghiệp không thể phát triển được

Lạm phát

Ảnh hưởng của lạm phát khiến cho đồng tiền mất giá và làm vốn của doanh nghiệp

bị giảm dẩn theo tốc độ trược giá của tiền tệ hay các nhân tố các động đến cung cầu đối với hàng hóa của doanh nghiệp Nếu nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ cho hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, tồn đọng gây ứ đọng vốn và từ đó nhu cầu huy động vốn cũng sẽ giảm

Lãi suất

Lãi suất là chi phí mà doah nghiệp phải trả cho phần vốn huy động từ bên ngoài vậy nên nó cũng ảnh hưởng đến quyết định cũng như hiệu quả của việc huy động vốn Với mức lãi suất quá cao mà doanh nghiệp gặp phải tình trạng khó khăn sẽ khiến cho doanh nghiệp sử dụng vốn không hiệu quả, không đem lại lợi nhuận và sẽ gặp phải rủi

ro trong thanh toán và từ đó doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc đến việc có nên huy động thêm vốn hay không, làm giảm quy mô của doanh nghiệp

Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho dù nó là từ phía nào thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác nhau tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi trong lúc này nhưng lại gây khó khăn trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi với từng điều kiện nhất định, tận dụng những thuận lợi mà các nhân tố này mang lại vào doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp mà có giải pháp huy động vốn cho hiệu quả

Trang 31

21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

BẢO TOÀN 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Bảo Toàn

2.1.1 Giới thiệu chung về công ty

Tên Công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO TOÀN

Tên Công ty viết bằng tiếng nước ngoài:

“BAO TOAN JOINT STOCK COMPANY”

Trong đó: 1.200.000 cổ phần với mệnh giá 10.000 đồng

Với việc đầu tư các máy móc, thiết bị hiện đại, khu trưng bày giới thiệu sản phẩm

về nội thất rộng lớn, được tín nhiệm là nhà phân phối cho nhiều hãng nội thất có uy tín như: Hoà Phát, CAESAR, TOTO, Đài Loan, gạch TAICERA, gạch Đồng Tâm, Sơn KOVA đội ngũ cán bộ nhân viên tư vấn kỹ thuật được đào tạo chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý hiện đại, đội ngũ công nhân lành nghề được đào tạo chính quy

Trong thời gian qua, Công ty đã thi công và thiết kế nhiều công trình có quy mô vừa và lớn về lĩnh vực cung cấp thiết bị, nội thất, xây dựng, lắp đặt hệ thống điện nước, đạt chất lượng cao, kỹ thuật và thẩm mỹ

Các công trình tiêu biểu: Cung cấp Gói thấu Cung cấp và lắp đặt trang bị nội thất

đồ gỗ Trụ sở làm việc Chi cục Thuế huyện Thạch Hà, Chi cục thuế huyện Cẩm xuyên , chi cục thuế huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nâng cấp sửa chữa Nhà làm việc Thường trực

Trang 32

22

và Văn phòng Tỉnh ủy Hà Tĩnh., Xây dựng và hoàn thiện hệ thống nội thất Ngân hàng ACB Hà Tĩnh, thi công cải tạo Nhà khách Hương Thủy/ BCH Quân sự tỉnh Hà Tĩnh, thi công cải tạo, sửa chữa các cửa hàng trực tiếp của Viettel; thi công xây dựng hạng mục sân vườn Tòa nhà Viettel Hà Tĩnh, cung cấp thi công lắp đặt nội thất Toà nhà điều hành điện lực Hà Tĩnh, Dự ÁN FORMOSA

Các ngành nghề kinh doanh chính của Công ty

- Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, giao thông, thủy lợi, đường

và trạm day điện đến 35KV; phá dỡ, san lấp mặt bằng

- Kinh doanh nhà hàng, khách sạn ;

- Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng;

- Dịch vụ vận tải hàng hóa đường bộ;

- Kinh doanh, sửa chữa, mua, bán ôtô;

Trang 33

23

Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Bảo Toàn được hình thành theo mô hình chuyên môn hóa từng bộ phận Với quy mô hiện tại của công ty thì việc sử dụng mô hình này sẽ giúp cho công ty tiết kiệm được tối đa chi phí quản lý, tiết kiệm tối đa về thời gian sản xuất, giao hàng và quyết toán Nhờ đó mà công ty hoạt động và phát triển rất hiệu quả trong những năm gần đây

Giám đốc

Trực tiếp quản trị công ty, quyết định hướng đi và phương hướng phát triển của công ty Ngoài ra, giám đốc cũng là người đưa và thực hiện chiến lược kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và đúng mục tiêu đã đề ra

Phân xưởng sản xuất

+ Là phòng ban trực tiếp sản xuất, chịu trách nhiệm quản lý vận hành máy móc, hệ thống thiết bị phụ an toàn, hiệu quả theo đúng phương thức và quy trình Nếu có sự cố gì xảy ra liên quan tới trang thiết bị sản xuất thì đơn vị sản xuất phải chịu trách nhiệm với giám đốc;

+ Sắp đặt, lên lịch sản xuất cũng như bố trí nhân lực phù hợp với lịch trình sản xuất để có thể kịp thời giao hàng cho các hóa đơn đến hạn;

+ Phát hiện kịp thời các hư hỏng và trạng thái làm việc không bình thường của thiết bị Tiến hành xử lý, khắc phục nhanh chóng, chính xác các sự cố của thiết bị theo đúng quy trình vận hành, để không làm trì hoãn tiến độ sản xuất; + Nắm vững tình hình thiết bị, ghi và tính toán các thông số vận hành đúng giờ, chính xác Tổng hợp và báo cáo tình trạng vận hành thiết bị, thông số kỹ thuật theo quy định

Phòng kinh doanh

+ Trình bày các mặt tốt và chưa tốt của công ty để qua đó có thể tham mưu cho ban giám đốc những chính sách, chiến lược kinh doanh tốt, đúng hướng nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho công ty;

Trang 34

24

+ Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như tiếp thị hàng hoá, dịch vụ, quản

lý lưu kho hàng hoá của công ty Thực hiện các công việc chăm sóc đối với những khách hàng quan trọng của công ty;

+ Đối chiếu với sổ kế toán thường xuyên để có thể kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí và tránh tình trạng rò rỉ hay hao hụt;

+ Chịu trách nhiệm về quản lý, tổ chức vận hành kho thành phẩm, lập và lưu trữ phiếu nhập, phiếu xuất, kiểm kể hàng tồn kho cuối tháng theo quy trình luân chuyển chứng từ của công ty

Phòng nhân sự

+ Đây là phòng ban chịu trách nhiệm trực tiếp liên quan đến nhân sự của công ty Phòng nhân sự phải đưa ra kế hoạch bố trí nhân lực hợp lý để tránh tình trạng dư thưa hay thiếu hụt nhân lực cho công ty;

+ Đưa ra các kế hoạch về quy hoạch cán bộ, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng trình độ cấp bậc nhằm phục vụ cho việc đề bạt bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo để nâng cao năng lực, đáp ứng được các yêu cầu của từng vị trí công tác trong công ty

Phòng kế hoạch

+ Đây là phòng chịu trách nhiệm xem xét tình hình hoạt động chung của công ty, qua đó tham mưu cho ban giám đốc giúp đưa ra phương hướng phát triển công ty hiệu quả hơn;

+ Giám sát các phòng ban để theo dõi tiến độ thực hiện công việc của các phòng ban

+ Quản lý chi phí kinh doanh và doanh thu bán hàng;

+ Mở sổ sách, theo dõi chính xác toàn bộ tài sản tiền vốn của doanh nghiệp quản lý và sử dụng theo quy định của chế độ hạch toán kế toán thống kê hiện hành;

+ Hạch toán đầy đủ các chi phí phát sinh trong năm tài chính

Trang 35

25

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Bảo Toàn giai đoạn 2011 – 2013

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Toàn

Đơn vị: đồng

Chỉ tiêu

2011 2012 2013 Tuyệt đối Tương

đối Tuyệt đối

Tương đối

Trang 36

26

2.1.4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ tăng trưởng doanh thu, giá vốn hàng bán và lợi nhuận

Về doanh thu: Doanh thu của công ty không có nhiều biến động lớn, sự thay đổi

nhiều nhất là khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2012 Năm 2012 doanh thu của công ty tăng 9.432.665.960 đồng so với năm 2011, tương ứng với mức tăng 19,62% Doanh thu năm 2012 tăng cao như vậy là do trong năm 2012 tỉnh Hà Tĩnh thực hiện quy hoạch nhiều dự án lớn khiến nhu cầu về xây dựng và nội thất tăng cao tạo điều kiện phát triển cho công ty Ngoài việc đảm bảo chất lượng thi công xây dựng, công ty còn duy trì việc cung cấp nội thất cho các khu trung cư, công trình lớn tại tỉnh Có thể nói, năm

2012 công ty đã tạo được nhiều uy tín về chất lượng sau một thời gian hoạt động và có chỗ đứng nhất định đối với khách hàng lớn của mình Nhờ sự quy hoạch lớn của tỉnh và những quyết định tập trung kinh doanh chính xác của mình, công ty đã đạt được mức doanh thu cao trong năm 2012

Bước sang năm 2013 doanh thu công ty đạt được là 57.330.715.402 đồng, giảm 190.056.788 đồng, tương ứng giảm 0,003% so với năm 2012 Trong thời gian từ năm

2012 tới năm 2013 tình hình bất động sản trong nước bị đóng băng khiến cho tình hình xây dựng tại các công trình bị trì trệ khiến nhu cầu về nội thất giảm đã kéo theo doanh

số bán hàng bị giảm sút Đây cũng là nguyên nhân chính của việc giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty trong thời gian này điều đó cũng đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh của công ty đang có chiều hướng đi xuống

3,839,319,549 4,294,670,958 2,518,877,115

36,505,698,704

43,760,823,753 46,379,218,185 48,088,106,230

57,520,772,190 57,330,715,402

10,000,000,000

Ngày đăng: 26/05/2016, 23:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Toàn - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Toàn (Trang 35)
Bảng 2.2. Tình hình tải sản tại công ty cổ phần Bảo Toàn - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.2. Tình hình tải sản tại công ty cổ phần Bảo Toàn (Trang 39)
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu (Trang 45)
Bảng 2.4. Cơ cấu nguồn vốn nợ - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.4. Cơ cấu nguồn vốn nợ (Trang 48)
Bảng 2.5. Thực trạng vốn tín dụng thương mại trong nguồn vốn vay - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.5. Thực trạng vốn tín dụng thương mại trong nguồn vốn vay (Trang 49)
Bảng 2.6. So sánh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.6. So sánh vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng (Trang 51)
Bảng số liệu phản ánh sự tương quan giữa các khoản vốn chiếm dụng của Công ty - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng s ố liệu phản ánh sự tương quan giữa các khoản vốn chiếm dụng của Công ty (Trang 51)
Bảng 2.11. Chỉ tiêu xác định khả năng sinh lời - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.11. Chỉ tiêu xác định khả năng sinh lời (Trang 54)
Bảng 2.10. Cấu trúc nguồn vốn giai đoạn 2011 - 2013 - Tăng cường huy động vốn của công ty cổ phần bảo toàn
Bảng 2.10. Cấu trúc nguồn vốn giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w