Chính vì vậy trong phạm vi nghiêncứu của luận án tiến sỹ, với mong muốn nghiên cứu và đánh giá thực trạngcông tác quản lý rủi ro tại các công ty chứng khoán, từ đó góp thêm tiếngnói phản
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 13 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã cónhững bước tiến vượt bậc và đã có lúc được đánh giá là một trong nhữngthị trường có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới; đặc biệt là mức độ, tỷ lệ
và tốc độ tăng vốn hóa Để đáp ứng nhu cầu của thị trường và nắm bắt cơhội kinh doanh mới, nhiều công ty chứng khoán đã được thành lập Mười
ba năm qua, từ chỗ chỉ có 4 công ty chứng khoán khi thị trường đi vàohoạt động, tính đến 31/12/2012 UBCKNN đã cấp phép hoạt động cho 105công ty Thông qua các hoạt động kinh doanh chính như môi giới, tựdoanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư, các công ty chứng khoán đãgóp phần nâng cao tính thanh khoản cho thị trường, thu hút vốn đầu tưtrong và ngoài nước cho nền kinh tế và thúc đẩy thị trường phát triển
Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của thị trường chứng khoán trongthời gian qua, đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008, đã ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoánViệt Nam Nhiều yếu kém của các công ty dần lộ diện: số lượng các công
ty quá nhiều so với quy mô thị trường, năng lực tài chính yếu kém, khảnăng cạnh tranh chưa cao, công tác quản trị công ty chưa hiệu quả … dẫnđến hiệu quả kinh doanh kém, thậm chí nhiều công ty rơi vào tình trạngthua lỗ nhiều năm, mất khả năng thanh khoản và phải nằm trong diện cảnhbáo đặc biệt của UBCKNN
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên, song một trongnhững nguyên nhân chính là do công tác quản lý rủi ro trong hoạt độngkinh doanh của các công ty chứng khoán chưa tốt Ở một vài công ty việcquản lý rủi ro nếu có cũng chỉ mang tính hình thức hoặc dừng ở góc độ xử
lý rủi ro chứ chưa đi vào bản chất là cảnh báo rủi ro nhằm giảm thiểunhững thiệt hại có thể xảy ra cho công ty
Dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, quản lý rủi ro là một nội dung quantrọng giúp công ty có thể chủ động đưa ra các quyết định kinh doanh vàthực hiện các hoạt động này một cách công khai, minh bạch, hiệu quả Vaitrò của quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp đã được các nhà nghiên cứu tạicác nước trên thế giới nghiên cứu sâu sắc dưới nhiều góc độ khác nhau.Nghiên cứu của Clup (2002) về mối quan hệ giữa quản lý rủi ro và cấutrúc vốn của doanh nghiệp đã chỉ ra rằng khi những giả định của Lý thuyếtcấu trúc vốn M&M (Modigliani & Miller) thay đổi, quản lý rủi ro có thểgiúp gia tăng giá trị công ty thông qua việc gia tăng giá trị dòng tiền kỳvọng của công ty, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn
Trang 2Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu chính thức và quy mô về nhữngvấn đề này cho công ty chứng khoán Chính vì vậy trong phạm vi nghiêncứu của luận án tiến sỹ, với mong muốn nghiên cứu và đánh giá thực trạngcông tác quản lý rủi ro tại các công ty chứng khoán, từ đó góp thêm tiếngnói phản biện cho các công ty chứng khoán, giúp các nhà hoạch định chínhsách, các nhà quản lý có cơ sở vững chắc hơn trong việc ra quyết định để
quản lý rủi ro một cách tốt nhất, đề tài “Tăng cường Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các Công ty cổ phần chứng khoán tại Việt Nam”
đã được chọn làm đề tài luận án tiến sỹ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khái niệm quản lý rủi ro doanh nghiệp (Risk Management - ERM)chính thức xuất hiện vào đầu những năm 1950 trên thế giới Đến năm
1963, nghiên cứu của Robert Mehr và Bob Hedges đã tạo ra một bướcngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu về ERM bằng việc tổng kết các quan niệmtrước đây về QLRR và đưa ra một định nghĩa mới về vấn đề này Theo
Robert và Bob, ERM là một quy trình xem xét đánh giá toàn diện các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết những nguy cơ tiềm ẩn cóthể tác động xấu đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽđưa ra các giải pháp ứng phó, phòng ngừa phù hợp tương ứng với từngnguy cơ Trên nền tảng lý thuyết này, các nghiên cứu tiếp theo tập trungvào một số vấn đề sau:
Thứ nhất, quản lý rủi ro được thực hiện như thế nào? Nghiên cứu
của Clup (2001) đã cụ thể hóa quy trình QLRR bao gồm các bước cơ bản:nhận diện rủi ro, phân tích đánh giá rủi ro, phân loại xếp hạng, báo cáo rủi
ro, xử lý rủi ro và giám sát rủi ro
Thứ hai, quản lý rủi ro có tác động như thế nào đến giá trị doanh
nghiệp? Nghiên cứu của Clup (1995) đã hệ thống hóa các luận điểm vềERM giúp nâng cao giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường khônghoàn hảo Mục tiêu của các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như cổ đôngđều hướng đến tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp thông qua các kênh giảmchi phí vốn và gia tăng giá trị dòng tiền kỳ vọng
Thứ ba, mức độ thực hiện QLRR tại các công ty được đánh giá như
thế nào? Nhiều nghiên cứu sử dụng vị trí giám đốc QLRR như một minhchứng cho việc thực hiện ERM, song chỉ tiêu này không phản ánh đầy đủcác nội dung của ERM Một số nghiên cứu khác sử dụng ERM rating củacác tổ chức như Standard & Poor để đo lường Về cơ bản chỉ số này đã baoquát các nội dung và mục tiêu của ERM, nhưng Standard & Poor mới chỉcung cấp rating cho các doanh nghiệp bảo hiểm, đối với các lĩnh vực khácvẫn còn bỏ ngỏ
Trang 3Thứ tư, những nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện
QLRR tại các doanh nghiệp? Nghiên cứu của Kleffner và các cộng sự(2003) cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn thường có xu hướngthực hiện ERM đầy đủ hơn, do đó giá trị doanh nghiệp có xu hướng tănglên Hoyt (2008) cũng đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu ERM tạicác công ty bảo hiểm của Mỹ
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLRR doanh nghiệpsong các nghiên cứu trên vẫn còn nhiều khoảng trống tri thức cần đượctiếp tục nghiên cứu:
Một là, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp tại
các thị trường tài chính đã phát triển, một số được nghiên cứu ở những thị
trường đang phát triển
Hai là, các nghiên cứu thường tập trung nhiều vào các doanh nghiệp
hoặc định chế tài chính như ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm.
Đối với các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư, các nghiên cứu chínhthức về ERM rất ít và ở Việt Nam gần như chưa có Đây là những doanhnghiệp có đặc thù rủi ro rất cao vì vậy ERM là vấn đề cần quan tâm hàngđầu
Ba là, việc yêu cầu thực hiện quản lý rủi ro đối với các doanh nghiệp
ở các thị trường mới nổi và kém phát triển thường đi sau và chưa chặt chẽ
so với các doanh nghiệp ở thị trường đã phát triển
Bốn là, dưới góc độ quản lý vĩ mô, mục tiêu của các quy định về
ERM là nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông và thị trường Do đó, doanhnghiệp bắt buộc phải thực hiện ERM Song chi phí để thực hiện ERM
không phải là nhỏ Chưa có nghiên cứu nào lượng hóa cụ thể chi phí thực hiện ERM và lợi ích mang lại.
Năm là, về phương pháp nghiên cứu, hạn chế chính hiện nay là
thước đo đánh giá mức độ thực hiện ERM.
Tại Việt Nam, Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các
CTCK hiện nay đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dướicác góc độ và mục tiêu nghiên cứu khác nhau Tác giả Lê Công Điền trong
luận văn thạc sỹ kinh tế năm 2010 với đề tài “Quản lý rủi ro tại các Công
ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, đã đánh giá thực trạng quản lý rủi ro của các công ty chứng khoán
trên cơ sở trình bày quy trình từng nghiệp vụ như môi giới, tự doanh, bảolãnh phát hành, kế toán tài chính, qua đó đề cập các rủi ro phát sinh củatừng nghiệp vụ này Trên cơ sở đó, nêu các biện pháp kiểm soát rủi ro màcác CTCK hiện nay đang áp dụng làm nền tảng đề ra các giải pháp hoànhiện quản lý rủi ro tại CTCK [11] Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá chi tiết
Trang 4và cụ thể các rủi ro hệ thống mà công ty chứng khoán có thể gặp phải cũngnhư tác động chéo giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacông ty Đề tài cũng chưa làm rõ thực trạng xử lý rủi ro, các công cụ, biệnpháp phòng hộ rủi ro tại các công ty chứng khoán
Bài báo của PGS.TS Lê Hoàng Nga trên Tạp chí Chứng khoán số
174, tháng 4/2013 đã đưa ra một số nhận diện rủi ro hoạt động và triểnkhai Quản trị rủi ro tại CTCK, trong đó đã phân tích những lý luận cơ bản
về rủi ro hoạt động của CTCK, từ đó đưa ra quy trình quản lý rủi ro Songnhững phân tích trên chưa đi vào thực tiễn và mới chỉ mang tính sơ lược.Một số bài viết khác về quản lý rủi ro của CTCK tập trung vào việc giớithiệu, hướng dẫn quy trình quản lý rủi ro và một số biện pháp để việc triểnkhai được thực hiện hiệu quả
Như vậy, các bài nghiên cứu về QLRR tại các công ty chứng khoán ởViệt Nam mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, xác định rủi ro riêng lẻ tronghoạt động của CTCK Chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích một cách
hệ thống các rủi ro của CTCK bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro riêng lẻ,đồng thời đánh giá mức độ rủi ro của từng loại, trên cơ sở đó đưa ra nhữngkhuyến nghị cụ thể đối với từng loại rủi ro Mặt khác, bản chất của quản lýrủi ro là xác định và cảnh báo sớm các loại rủi ro có thể xảy ra từ đó đưa racác biện pháp phòng hộ và xử lý kịp thời Để làm được điều này cần đánhgiá đúng thực trạng thực hiện công tác quản lý rủi ro tại các CTCK baogồm: thực hiện quy trình quản lý rủi ro; hệ thống cảnh báo sớm, hệ thốngkiểm tra kiểm soát nội bộ Đặc biệt cần phải xác định rõ nhân tố nào ảnhhưởng đến việc thực hiện QLRR của CTCK, từ đó đưa ra những giải phápphù hợp
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ về mặt lý luận các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacông ty chứng khoán và đặc thù quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanhcủa công ty chứng khoán tồn tại dưới hình thức sở hữu là công ty cổ phần
Hệ thống quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công tychứng khoán và các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện QLRR tại từngcông ty và hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện này
Nhận diện và phân tích mức độ rủi ro của từng loại rủi ro theo hainhóm (rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống) trong hoạt động kinh doanhcủa các công ty chứng khoán Việt Nam tồn tại dưới hình thức là công ty cổphần thông qua nghiên cứu khảo sát thực nghiệm Từ đó, đánh giá thựctrạng thực hiện quy trình nội dung quản lý rủi ro cũng như việc sử dụngcác công cụ, biện pháp xử lý rủi ro đối với các loại rủi ro nêu trên tại cáccông ty chứng khoán hiện nay
Trang 5Trên cơ sở định hướng hoạt động của thị trường chứng khoán cũngnhư của các công ty chứng khoán trong giai đoạn tới, kết hợp với nhữngđánh giá nêu trên, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi rotrong hoạt động kinh doanh của các CTCK, từ đó giúp công ty gia tăng giátrị, vị trí trên thị trường, đồng thời phát triển ổn định và bền vững.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các loại rủi ro, quy trình quản lý rủi ro vàcác công cụ quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK tồn tạidưới hình thức là công ty cổ phần
Phạm vi nghiên cứu là nhóm các công ty cổ phần chứng khoán ViệtNam, bao gồm cả công ty chưa niêm yết và đã niêm yết trên Sở giao dịchchứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh, tính đến 31/12/2013, kết hợp với việc nghiên cứu kinh nghiệm quản
lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK ở một số nước trên thếgiới
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng cácphương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh, quy nạp vấn đề Trên
cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánhgiá và làm sáng tỏ các vấn đề thực tiễn, rút ra những điểm chủ yếu cầnđược giải quyết để đề xuất giải pháp, kiến nghị
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra mẫu đối với cácđối tượng là nhà quản lý rủi ro tại các công ty chứng khoán, thống kê thuthập số liệu từ báo cáo tài chính của CTCK, báo cáo thường niên củaUBCKNN dưới dạng bảng số liệu exel, sử dụng phần mềm EPIDATA vàSPSS để phân tích, vẽ đồ thị và tính các hệ số tương quan giữa các biếnngẫu nhiên
Đề tài cũng kế thừa, vận dụng một số kết quả nghiên cứu của cáccông trình khoa học có liên quan đến nội dung nghiên cứu để làm sâu sắcthêm các luận điểm trong đề tài
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 3 chương như sau:Chương 1: Lý luận về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacông ty cổ phần chứng khoán
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacác công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh của các công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam
Trang 6Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được hiểu là những biến cố
không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của CTCK,giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoảnchi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ kinh doanh nhất định
Khái niệm này bao hàm hai nội dung cơ bản: (1) Sự thay đổi; (2) Kếtquả của sự thay đổi là không lường trước được [30] Sự thay đổi hay chính
là sự không chắc chắn về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai,hoặc không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc chắn là baonhiêu phần trăm Doanh nghiệp khi đầu tư thường không chắc rằng dự án
sẽ thành công hay thất bại hoàn toàn, do đó rủi ro thường là điều khôngtránh khỏi Đối với từng quy mô, kết quả của sự thay đổi sẽ khác nhau Về
cơ bản, đối với CTCK, ngoài lợi nhuận, rủi ro có thể ảnh hưởng đến tàisản, uy tín đạo đức, thiệt hại nhân sự, rủi ro nghiệp vụ … và cuối cùng làgiá trị của công ty
1.1.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán
1.1.2.1.Theo đối tượng và hành vi kinh doanh
1.1.2.1.Theo đối tượng và hành vi kinh doanh
Dựa theo tiêu chí này, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCKđược chia thành hai loại Rủi ro của quá trình quản trị hệ thống và Rủi rođặc thù của từng nghiệp vụ kinh doanh
1.1.2.2 Theo nguồn gốc phát sinh rủi ro
Theo cách phân loại này, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứngkhoán được chia thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống
1.1.2.3 Sự tương tác giữa các loại rủi ro
Việc phân tích các loại rủi ro về hình thức thường khá độc lập nhưngtrên thực tế giữa chúng lại có những mối tương quan chặt chẽ với nhau.Chính vì mối tương quan này, việc quản lý rủi ro tại các CTCK không chỉđơn thuần dừng ở việc quản lý từng loại rủi ro riêng lẻ, mà cần có chiếnlược quản lý rủi ro một cách tổng thể và hệ thống để đạt được hiệu quả tốtnhất
Trang 71.1.3 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK
- Nhóm nguyên nhân khách quan
- Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía công ty chứng khoán
- Nhóm nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
1.2 Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLRR trong hoạt động kinh doanh của CTCK
Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK là việc tiếp cận
để nhận dạng và kiểm soát các loại rủi ro có thể xảy ra trong hoạt độngkinh doanh của công ty Từ đó đưa ra các biện pháp, các công cụ phòngngừa rủi ro một cách hiệu quả nhằm giảm thiểu những tổn thất, ảnh hưởngcủa rủi ro đến tình hình hoạt động cũng như tài sản của công ty
QLRR trong hoạt động kinh doanh của CTCK có một số đặc điểm cơbản:
- Quản lý rủi ro là một nhiệm vụ căn bản và có vai trò trung tâm trong
quản trị CTCK
- Quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh của CTCK có nhiều điểmtương đồng với quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh ngân hàng
- Quản lý rủi ro thông qua quản lý vốn
1.2.2 Sự cần thiết của Quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh Công ty
cổ phần chứng khoán
Theo quan điểm hiện đại, thị trường thường không hoàn hảo và nhà
đầu tư khó có thể xây dựng được một danh mục đầu tư đa dạng hóa hoànhảo, chi phí giảm thiểu rủi ro phi hệ thống thường cao hơn lợi ích manglại Trong điều kiện đó, hoạt động QLRR của doanh nghiệp sẽ mang lạihiệu quả tốt hơn vì có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh và nâng cao giá trị công
ty Cụ thể:
- Giảm gánh nặng thuế
- Giảm chi phí đại diện
- Phối hợp chính sách tài chính và chính sách đầu tư
- Giảm chi phí giao dịch
1.2.3 Nội dung Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty
cổ phần chứng khoán
QLRR không phải là một hoạt động đơn thuần mà là một chuỗi cáchoạt động kết nối nhau tạo thành một quy trình mang tính hệ thống giúpcông ty kiểm soát rủi ro hiệu quả Về mặt tổng quát, quy trình quản lý rủi
ro CTCK bao gồm các bước: Nhận diện rủi ro; Phân tích rủi ro; Kiểm soátrủi ro; Giám sát
Trang 81.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần chứng khoán
Tính độc lập của bộ phận QLRR biểu hiện qua vị trí của CRO Đây
là yếu tố quan trọng quyết định đến việc thực hiện QLRR, từ đó cũngquyết định mức độ ảnh hưởng của ERM đến giá trị công ty
Chính sách quản lý rủi ro biểu hiện qua việc CTCK xây dựng khẩu
vị rủi ro từ đó đưa ra các hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng nghiệp vụhoặc nhóm rủi ro chính, áp dụng công cụ, phần mềm để quản lý rủi ro
Hệ thống cảnh báo rủi ro sớm (Emerging risk management): hệ
thống này tập trung vào kiểm soát các nguy cơ có thể xảy ra trong quátrình thực hiện quy trình nghiệp vụ, chấp hành các quy định của pháp luậttrong hoạt động của mỗi nghiệp vụ, đánh giá mức độ tới hạn của các rủi rothị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh toán và tổng giá trị rủi ro tronghoạt động của CTCK
Các mô hình phân tích và lượng hóa rủi ro (Risk models) Việc các
CTCK áp dụng một số mô hình lượng hóa rủi ro như Value at Risk (VaR),phân tích kịch bản, cây quyết định, phương pháp mô phỏng cũng là dấuhiệu cho thấy mức độ thực hiện QLRR
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ thực chất là sự tích hợp một loạt
hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lựccủa mọi thành viên trong công ty để đảm bảo hoạt động hiệu quả, đạt đượcmục tiêu đặt ra một cách hợp lý
An toàn vốn (Capital safety) Một trong những đặc điểm QLRR của
CTCK là thông qua quản lý vốn, do vậy an toàn vốn là chỉ tiêu được ápdụng ở hầu hết các nước đối với lĩnh vực kinh doanh chứng khoán nhằm
đo lường và đánh giá thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacông ty
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần chứng khoán
Cơ cấu tổ chức và hoạt động
Quy mô và năng lực tài chính
Trang 91.3 Kinh nghiệm QLRR trong hoạt động kinh doanh của CTCK ở một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ
- Điều kiện về vốn là công cụ chính được SEC sử dụng nhằm đảmbảo an toàn hoạt động cho các CTCK, NHĐT
- Các NHĐT, CTCK cũng được yêu cầu thực hiện nghiêm ngặt cácquy định về cơ cấu tổ chức, nhân sự trong phòng QLRR
- Mô hình QLRR tại NHĐT thường được được tổ chức với cơ cấucao nhất là Hội đồng QLRR trực thuộc HĐQT; Ủy ban điều hành; Ủy banrủi ro; Ủy ban thông lệ kinh doanh; Ủy ban cam kết; Ủy ban chính sách tíndụng; Ủy ban tài chính; Ủy ban sản phẩm mới; Ủy ban rủi ro hoạt động
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
- Hoạt động QLRR của CTCK cũng được thực hiện thông qua quản
1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
- Trung Quốc cũng xem hoạt động của các CTCK là loại hình kinhdoanh có điều kiện
- Các CTCK phải chịu sự giám sát hoạt động, thực hiện quản lý rủi
ro theo quy định của quy chế giảm thiểu rủi ro và quy chế giám sát CTCK
do Ủy ban giám quản chứng khoán Trung quốc ban hành (China SecuritiesRegulatory Commission - CSRC)
- CTCK được xếp hàng theo các lớp từ A đến E, trong từng lớp,CTCK có thể được phân loại nhỏ hơn thành 11 tiểu lớp (AAA, AA, A,BBB, BB, B, CCC, CC, C, D, E) Mức xếp hạng A, B, và C cho thấy nănglực quản lý rủi ro của công ty chứng khoán là phù hợp kinh doanh hiện tại,trong đó các tiểu lớp phản ánh mức độ tương đối của quản lý rủi ro trongngành
1.3.4 Một số bài học cho các CTCK Việt Nam
- Hoạt động KDCK của các CTCK là loại hình kinh doanh có điều kiện, trong đó vốn pháp định cho từng loại hình kinh doanh luôn được quy định và giám sát chặt chẽ bởi UBCK
- UBCK ban hành quy chế về QLRR và buộc các CTCK phải tuân thủ nhằm tạo ra lớp phòng hộ rủi ro thứ hai tại các CTCK
Trang 10- UBCK cũng đưa ra các biện pháp xử lý đối với các CTCK vi phạm quy chế QLRR rất khắt khe, bao gồm cả xử phạt hành chính và hình sự.
Để đánh giá thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh củaCTCK Việt Nam, NCS đã thực hiện khảo đối với các công ty cổ phầnChứng khoán ở Việt Nam Các câu hỏi khảo sát được gửi đến Trưởng bộphận QLRR tại các CTCK Đối với các công ty chưa có bộ phận này, câuhỏi khảo sát được gửi đến trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ của công ty.Các câu hỏi khảo sát tập trung vào hai nội dung cơ bản: thứ nhất, nhậndiện các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty cổ phầnchứng khoán, thứ hai, mức độ thực hiện QLRR tại các công ty theo cáctiêu chí đã được phân tích trong phần lý thuyết Các số liệu nghiên cứucũng được thu thập thêm từ báo cáo tài chính của các công ty, cũng như từwebsite của công ty trong giai đoạn 2008 – 2013 để thống kê số liệu vềquy mô, năng lực tài chính, tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận của các công
ty, trên cơ sở đó đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc thựchiện QLRR tại công ty Các thông tin về cơ cấu sở hữu, mức độ độc lậpcủa bộ phận QLRR được thu thập thêm từ báo cáo thường niên cũng nhưthông tin từ website của hai sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Tp HồChí Minh Phần mềm EPIDATA và SPSS được sử dụng để nhập liệu vàphân tích kết quả khảo sát
Trên thực tế số lượng CTCK được cấp phép hoạt động tăng từ 4 công
ty trong giai đoạn đầu TTCK đi vào hoạt động lên 105 công ty vào cuốinăm 2008 Con số này được duy trì trong suốt giai đoạn 2009 – 2013 Tuynhiên, trong số các câu hỏi được gửi đến các công ty cổ phần chứng khoán,
số phiếu hợp lệ thu được là 77, số phiếu không hợp lệ do không nhận được
ý kiến phản hồi, không có báo cáo tài chính tính đến thời điểm khảo sát,một số công ty sáp nhập với nhau, một số công ty xin chấm dứt hoạt động
do tình trạng yếu kém trong kinh doanh Trong số các công ty này, có 27
Trang 11công ty niêm yết tính đến cuối năm 2012 và giảm xuống còn 20 công tytính đến cuối năm 2013 Kết quả nghiên cứu như sau:
2.1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
2.1.1 Sơ lược về các công ty cổ phần chứng khoán Việt Nam
Tính chất sở hữu, hiện có khoảng 44% CTCK trong nhóm khảo sát
có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 13 công ty đã có tỷ lệ vốn đầu tưnước ngoài ở mức tối đa là 49%, 3 công ty có tỷ lệ trên 40%, 8 công ty cóvốn ngoại từ 5-30% và 22% có vốn ngoại dưới 5% Nếu tính theo vốn điều
lệ, tổng giá trị vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đến cuối năm 2013 là4.510,13 tỷ đồng, chiếm 19,7% tổng vốn điều lệ của các CTCK có vốn đầu
tư nước ngoài và bằng 12,88% vốn điều lệ của tất cả các CTCK hiện đanghoạt động trên TTCK
Nghiệp vụ kinh doanh, Trên thực tế, trung bình trong giai đoạn 2008
– 2013, trong mẫu nghiên cứu chỉ có 2% công ty thực hiện duy nhấtnghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán trong khi có khoảng 60% các CTCKhoạt động với 2 đến 3 nghiệp vụ, 38% các CTCK thực hiện đầy đủ cả 4nghiệp vụ cơ bản
Quy mô vốn của các CTCK không ngừng gia tăng trong những năm
qua, nhưng nếu xét về tiềm lực tài chính, các công ty này vẫn ở mức rấtthấp Tính đến cuối năm 2013 chỉ có khoảng 26,8% công ty chứng khoánđạt đủ điều kiện để thực hiện tất cả nghiệp vụ Trong đó, số CTCK cólượng vốn lớn (trên 1000 tỷ) chiếm số lượng rất ít, thậm chí có xu hướnggiảm dần trong vòng 4 năm trở lại đây
Năng lực tài chính Mặc dù quy mô vốn của các CTCK không
ngừng gia tăng trong những năm qua, nhưng nếu xét về tiềm lực tài chính,các công ty này vẫn ở mức rất thấp so với các định chế tài chính khác trênTTCK Việt Nam cũng như các thị trường khác trong khu vực Nếu so sánhvới các Ngân hàng thương mại, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính hiệnđang niêm yết trên thị trường thì quy mô tài sản của các CTCK đang niêmyết vẫn thấp hơn khá nhiều Bảng 2.1 cho thấy, tính đến cuối năm 2013bình quân tổng tài sản của một NHTM đạt khoảng 271.700 tỷ đồng, con sốnày đối với Công ty bảo hiểm là 5.150 tỷ đồng, trong khi CTCK chỉ là1.428 tỷ đồng chưa bằng 30% mức trung bình của công ty bảo hiểm
Khả năng sinh lời Từ năm 2011 đến nay, TTCK có dấu hiệu phục
hồi và tăng điểm, các hệ số khả năng sinh lời của các CTCK cũng có xuhướng tăng trở lại, tuy rằng bình quân vẫn đang ở mức âm
Khả năng thanh toán Phần lớn các công ty được nghiên cứu đều có
khả năng thanh khoản tương đối tốt, trong đó có 27 công ty có hệ số tài sản
Trang 12Sử dụng phương pháp kiểm định KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) vàBarlett để kiểm định sự tương thích của mẫu khảo sát nêu trên KMO làchỉ tiêu xem xét sự thích hợp của EFA, nếu 0,5<= KMO <= 1 phân tíchnhân tố là thích hợp Barlett kiểm định giả thuyết H0: độ tương quan giữacác biến quan sát bằng 0 Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig <0,05) thì các biến có tương quan với nhau trong tổng thể Kết quả phân tíchEFA được trình bày trong bảng 2.12 có hệ số KMO = 0,542 (>0,5) chothấy phân tích nhân tố EFA là thích hợp và Sig = 0,000 (<0,005) chứng tỏcác biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể
Bảng 2.12 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
Tiếp đến phương pháp Principal componants analysis được áp dụng
để xác định yếu tố giải thích được nhiều biến thiên nhất trong tổng thể.Theo tiêu chuẩn Kaiser, những yếu tố có chỉ số Eigenvalue nhỏ hơn 1 sẽ bịloại khỏi mô hình vì nó bao hàm ít sự biến thiên được giải thích bởi mộtbiến duy nhất Kết quả bảng 2.13 cho thấy từ 34 biến ban đầu, có 10 nhân
tố có Eigenvalue > 1 và được chọn
Khi các nhân tố đã được xác định, phép xoay Varimax được sử dụng
để tìm ra các yếu tố có trị số lớn nhất Để phân tích nhân tố EFA được xem
là quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, chỉ giữ lại những biến quan sát cótrọng số lớn hơn 0,5 Sau khi dán nhãn các biến, kết quả được trình bàytrong bảng 2.15 Đối với rủi ro hệ thống, các yếu tố như biến động lãi suất,