Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005-2010 và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả cho thị xã Sông Công
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NINH VĂN QUÝ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2005-2010 VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ CHO THỊ XÃ SÔNG CÔNG GIAI ĐOẠN 2011-2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 9 - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NINH VĂN QUÝ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2005-2010 VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ CHO THỊ XÃ SÔNG CÔNG GIAI ĐOẠN 2011-2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 62 16
Hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Viết Khanh
2 TS Hoàng Văn Hùng
Thái Nguyên, 9 - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng vào công trình khoa học nào
Tác giả
Ninh Văn Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thày giáo PGS TS Trần Viết Khanh, Thày giáo TS Nguyễn Văn Hùng Sự giúp đỡ của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, sự quan tâm tạo điều kiện của Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng quản lý và xây dựng đô thị, Phòng Thống kê thị xã Sông Công, Khoa sau đại học trường Đại học Nông Lâm Đại học Thái Nguyên và các thầy cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp
Tự đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu đó./
Thái Nguyên, Ngày 30 tháng 09 năm 2010
Ninh Văn Quý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BẢN ĐỒ - HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý đất đai 3
1.1.1 Đất đai và các chức năng của đất đai 3
1.1.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất 5
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 6
1.1.4 Các xu thế phát triển sử dụng đất 11
1.1.5 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường 15
1.2 Khái quát chung về quy hoạch sử dụng đất 18
1.2.1 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất 18
1.2.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 20
1.2.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất 24
1.3 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong nước và nước ngoài 25
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong nước 25
1.3.2 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới 30
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.2 Địa điểm nghiên cứu 34
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 34
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên liên quan đến sử dụng đất 34
2.3.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35
2.3.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai 35
2.3.5 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 36
2.3.6 Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu phương án quy hoạch sử dụng đất thị xã giai đoạn 2005 - 2010, phân tích những vấn đề tồn tại trong sử dụng đất so với phương án quy hoạch 36
2.3.7 Các giải pháp thực hiện cho giai đoạn 2011-2020 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 37
2.4.2 Phương pháp thống kê, so sánh 37
2.4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 37
2.4.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Điều kiện tự nhiên 38
3.1.1 Vị trí địa lý 38
3.1.2 Địa hình - thổ nhưỡng 38
3.1.3 Khí hậu, thời tiết 39
3.1.4 Nguồn nước, thuỷ văn 40
3.1.5 Thảm thực vật 41
3.1.6 Khoáng sản 41
3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên liên quan đến sử dụng đất 41
3.2.1 Thuận lợi 41
3.2.2 Khó khăn 42
3.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 43
Trang 73.3.1 Tăng trưởng kinh tế 43
3.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 46
3.3.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế, xã hội gây áp lực lên đất đai 57
3.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai 59
3.4.1 Tình hình quản lý đất đai 59
3.4.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 64
3.4.3 Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng và tình hình quản lý đất đai thị xã Sông Công 72
3.5 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 74
3.5.1 Tình hình biến động đất đai giai đoạn 2005 - 2010 74
3.5.2 Nhận xét chung về tình hình quản lý, sử dụng và biến động đất đai trên địa bàn thị xã trong giai đoạn 2005 - 2010 87
3.6 Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu phương án quy hoạch sử dụng đất thị xã giai đoạn 2005 - 2010, phân tích những vấn đề tồn tại trong sử dụng đất so với phương án quy hoạch 89
3.6.1 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 89
3.6.2 Phân tích những vấn đề tồn tại trong sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 so với phương án quy hoạch 100
3.7 Các giải pháp thực hiện cho giai đoạn 2011-2020 102
3.7.1 Giải pháp cơ chế, chính sách 102
3.7.2 Giải pháp về kỹ thuật 102
3.7.3 Giải pháp về xã hội 102
3.7.4 Giải pháp về môi trường 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND Uỷ ban nhân dân
TN & MT Tài nguyên và môi trường KT-XH Kinh tế xã hội
SDĐ Sử dụng đất QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CSD Chưa sử dụng
DT Diện tích
QH Quy hoạch
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thống kê số lượng gia súc - gia cầm năm 2009 Thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên 47 Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 Thị xã Sông Công - tỉnh Thái
Nguyên 66 Bảng 3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 Thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên 68 Bảng 4 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 Thị xã Sông Công
- tỉnh Thái Nguyên 71 Bảng 5: So sánh các chỉ tiêu sử dụng đất năm 2005 - 2010 75 Bảng 6: Phân tích nguyên nhân biến động diện tích đất nông nghiệp từ năm
2005 đến năm 2010 77 Bảng 7: Phân tích nguyên nhân biến động diện tích đất ở từ năm 2005 đến năm 2010 81 Bảng 8: Phân tích nguyên nhân biến động diện tích đất chuyên dùng từ năm
2005 đến năm 2010 82 Bảng 9: Phân tích nguyên nhân biến động diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng từ năm 2005 đến năm 2010 85 Bảng 10: Phân tích nguyên nhân biến động diện tích đất chưa sử dụng từ năm 2005 đến năm 2010 86 Bảng 11: So sánh biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005 - 201090 Bảng 12 : So sánh biến động diện tích đất phi nông nghiệp giai đoạn 2005-2010 93 Bảng 13: So sánh biến động diện tích đất chưa sử dụng giai đoạn
2005 - 2010 94 Bảng 14: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu SDĐ trong QHSDĐ thị xã Sông Công
- tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005-2010 99
Trang 10DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Bản đồ hành chính thị xã Sông Công 45
Hình 1: Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG 111
Hình 2: Nhà máy may Shinwon Hàn Quốc 111
Hình 3: Trung tâm tương mại thị xã Sông Công 111
Hình 4: Trung tâm y tế thị xã Sông Công 111
Hình 5: Công ty TNHH XNK TM Quang Thành Đạt 111
Hình 6: Bảo hiểm xã hội thị xã Sông Công 111
Hình 7: Đất sạch chưa được các chủ đầu tư tiến hành thi công 112
Hình 8: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất khu công nghiệp 112
Hình 9: Hệ thống sử lý nước thải còn chưa phù hợp với quy mô nhà máy tại khu công nghiệp Sông công 112
Hình 10: Đất sạch chưa được nhà đầu tư xây dựng đúng tiến độ 112
Hình 11: Đất sạch đã xây dựng nhưng chậm hơn so với tiến độ thực hiện QH 112
Hình 12: Đất sạch chưa được xây dựng 112
Trang 11MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là bộ phận hợp thành của môi trường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố khu dân
cư và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng [26]
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm
1992, Tại chương 2, điều 17 quy định:”Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Tại điều 18 quy định:”Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích
và có hiệu quả” [17]
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai Trong thời gian qua, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước và đã đạt được một số kết quả nhất định Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước đã được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 tại kỳ họp thứ
5, khoá IX Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đã triển khai ở 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã hoàn thành tại 411 huyện, quận, thị xã, thành phố - chiếm 62% tổng số đơn vị cấp huyện Quy hoạch
sử dụng đất cấp xã đã triển khai và hoàn thành tại 5.878 xã, phường, thị trấn - chiếm 55% tổng số đơn vị cấp xã [10]
Thị xã Sông Công đã xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời
kỳ 1997-2020 được UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định số 2978/QĐ-UB ngày 13/11/1997[5] Đó là căn cứ quan trọng để thị xã triển khai thực hiện các chương trình phát triển KT-XH của thị xã Tuy nhiên, quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn bộc lộ một
số tồn tại nhất định Đặc biệt sau khi quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt
Trang 12và đưa vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập hoặc không điều chỉnh kịp những biến động về sử dụng đất trong quá trình thực hiện quy hoạch tại địa phương
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005-2010 và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả cho thị xã Sông Công giai đoạn 2011-2020” là một vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm kiểm tra tình hình sử dụng đất thực tế trên địa bàn thị xã, kiến nghị những nội dung sử dụng đất bất hợp lý, không phù hợp với phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, hoặc góp ý kiến điều chỉnh nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến động trong phát triển KT-XH của thị xã
Mục đích, yêu cầu của đề tài
Mục đích
Phân tích những biến động trong sử dụng đất đai thị xã Sông Công (giai đoạn 2005-2010), đánh giá tình hình sử dụng đất thực tế theo quy hoạch sử dụng đất thị xã Sông Công đến năm 2010, đề xuất điều chỉnh những bất hợp lý trong sử dụng đất, phục vụ chương trình phát triển KT-XH trên địa bàn thị xã
Yêu cầu
+ Đánh giá chính xác thực trạng sử dụng các loại đất trên địa bàn thị xã Sông Công về số lượng, chất lượng, phân bố loại hình sử dụng, hiệu quả sử dụng đất, xu thế biến động các loại đất, mức độ đáp ứng nhu cầu đất đai cho quá trình phát triển KT-XH của thị xã
+ Đề xuất điều chỉnh những bất hợp lý trong sử dụng đất đối với từng loại hình sử dụng đất cụ thể: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng theo phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý đất đai
1.1.1 Đất đai và các chức năng của đất đai
Luật Đất đai năm 1993 xác định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng” Mặt khác, “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học có thể hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa ) ” [21]
Như vậy, “Đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của
xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau:
- Chức năng sản xuất: Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống hỗ trợ cuộc sống của con người hoặc trực tiếp hoặc thông qua chăn nuôi và thông
Trang 14qua việc sản xuất ra sinh khối, đất đai cung cấp thực phẩm, cỏ khô, sợi, nhiên liệu, củi gỗ và các chất liệu sinh khối khác cho việc sử dụng của con người
- Chức năng môi trường sinh thái: Đất là cơ sở của tính đa dạng sinh học trên trái đất vì nó cung cấp môi trường sống cho sinh vật và bảo vệ nguồn gien cho các thực vật, động vật, vi sinh vật sống trên và dưới mặt đất
- Chức năng điều tiết khí hậu: Đất và việc sử dụng nó là nguồn, nơi xẩy
ra hiệu ứng nhà kính và là một yếu tố quyết định đối với việc cân bằng năng lượng toàn cầu - phản xạ, hấp thụ, chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và tuần hoàn nước trên trái đất
- Chức năng dự trữ và cung cấp nước: Đất điều chỉnh việc dự trữ dòng chảy của tài nguyên nước mặt, nước ngầm và ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
- Chức năng dự trữ: Đất là nơi dự trữ khoáng sản và vật liệu thô cho việc sử dụng của con người
- Chức năng kiểm soát ô nhiễm và chất thải: Đất có chức năng tiếp nhận, làm sạch, môi trường đệm và chuyển đổi các hợp chất nguy hiểm
- Chức năng không gian sự sống: Đất cung cấp cơ sở vật chất cho việc định cư của con người, cho các nhà máy và hoạt động xã hội như thể thao, giải trí
- Chức năng lưu truyền và kế thừa: Đất là vật trung gian để lưu giữ, bảo
vệ các bằng chứng lịch sử, văn hóa của loài người; là nguồn thông tin về các điều kiện thời tiết và việc sử dụng đất trước đây
- Chức năng không gian tiếp nối: Đất cung cấp không gian cho sự dịch chuyển của con người, cho việc đầu tư, sản xuất và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa các vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên
Sự thích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện rất khác nhau ở mọi nơi trên thế giới Các khu vực cảnh quan là khu vực tài nguyên thiên
Trang 15nhiên, có động thái riêng của chúng Nhưng con người lại có rất nhiều tác động ảnh hưởng đến động thái này (cả về không gian và thời gian) Có thể cải thiện chất lượng của đất cho một hoặc nhiều chức năng (ví dụ thông qua phương thức kiểm soát xói mòn), nhưng nói chung đất đã hoặc đang bị các hoạt động của con người gây thoái hoá
1.1.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất (có vị trí, hình thể, quy
mô diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác đi - không
có đất sẽ không có sản xuất (đối với mọi ngành) cũng như không có sự tồn tại của chính con người
1.1.2.1 Lợi ích của việc sử dụng đất trong các ngành phi nông nghiệp
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất
1.1.2.2 Lợi ích của việc sử dụng đất trong các ngành nông nghiệp
Đất đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ
sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như cày bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm lợi ích cơ bản sau:
Trang 16- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người;
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế - xã hội, khi mức sống con người còn thấp, các lợi ích chủ yếu của đất đai thể hiện tập trung ở sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Khi cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, lợi ích của đất từng bước được mở rộng, việc sử dụng đất cũng phức tạp hơn, vừa là căn cứ cho sản xuất nông - lâm nghiệp vừa là không gian và địa bàn cho sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều này có nghĩa, đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
1.1.3.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian (diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng ), cần lưu ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất (nhiệt
độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất) Trong
số các điều kiện tự nhiên, khí hậu là yếu tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các yếu tố khác
- Yếu tố khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, sai khác về độ ẩm
Trang 17trong ngày, giữa các mùa trong năm hay các khu vực khác nhau trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, rừng tự nhiên và thực vật thuỷ sinh Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng nhất định đối với sinh trưởng, phát triển và quang hợp của cây trồng Chế độ nước, lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, thảm thực vật, gia súc và thuỷ sản
- Địa hình và thổ nhưỡng: Sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao
so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, từ đó ảnh hưởng tới sản xuất và phân bố các ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình, gây khó khăn cho thi công Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay thấp Độ dầy tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn đối với sinh trưởng của cây trồng
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số
Trang 18và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Điều kiện kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi
sự năng động của con người và các điều kiện KT-XH, kỹ thuật hiện có; Quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng ; Quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau Nhưng với điều kiện KT-XH khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu quả KT-XH rất cao; ngược lại có nơi bị bỏ hoang hoá hoặc khai thác với hiệu quả rất thấp Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của đất đai chỉ là một tồn tại khách quan, khai thác và sử dụng đất đai quyết định vẫn là do con người Cho dù điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế, nhưng các điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật không tương ứng, thì ưu thế tài nguyên cũng khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng như chuyển hoá thành ưu thế kinh tế Ngược lại, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác và sử dụng đất, sẽ phát huy mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất, đồng thời góp phần cải tạo môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên từ bất lợi thành
có lợi cho phát triển KT-XH
Trang 19Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và KT-XH khác nhau đã tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất đai, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình
độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế và các ngành càng phát triển, yêu cầu
về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ được nâng cao
Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh
tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai Trong điều kiện nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất được dùng cho xây dựng
cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất Tuy nhiên, nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm chí huỷ hoại đất đai
Thí dụ, việc gia tăng đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự tiến bộ, phồn vinh của xã hội, có thể đem lại lợi ích rất lớn cho những người kinh doanh bất động sản, chủ đất, các nhà công nghiệp, chủ doanh nghiệp Nhưng sự phân bố đất đai không hợp
lý, thiếu lý trí, không chú ý đến việc xử lý nước thải, khí thải và chất thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn một diện tích lớn đất canh tác, cùng với việc gây ô nhiễm đất đai, nguồn nước, bầu khí quyển, huỷ hoại chất lượng môi trường cũng như những hậu quả khôn lường khác
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh
Trang 20hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật KT-XH để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố
tự nhiên, KT-XH trong lĩnh vực sử dụng đất đai Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu
sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
1.1.3.3 Đặc tính không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất (như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội) đều cần đến đất đai như không gian để hoạt động Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng Đặc tính không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất
Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí khi
sử dụng và số lượng không thể vượt phạm vi quy mô hiện có Do vị trí và không gian của đất đai không bị mất đi và cũng không tăng thêm trong quá trình sử dụng, nên phần nào đã giới hạn sức tải nhân khẩu và số lượng người lao động, có nghĩa tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xẩy ra khi dân số và KT-XH luôn phát triển
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất đai
Trang 21Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ Cùng với mật độ dân số của các khu vực khác nhau, tỷ lệ cơ cấu và lượng đầu tư sẽ có sự khác biệt rất rõ rệt Tài nguyên đất đai có hạn, lại giới hạn về không gian, đây là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng đất ở nước ta Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả kết hợp bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và giá trị kinh tế rất cao
1.1.4 Các xu thế phát triển sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất
Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;
Trang 22- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
Hiện nay, xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:
1.1.4.1 Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Khi con người còn sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, chủ yếu dựa vào sự ban phát của tự nhiên và thích ứng với tự nhiên
để tồn tại, vấn đề sử dụng đất hầu như không tồn tại Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng và ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng
Tuy nhiên trình độ sử dụng đất vẫn còn rất thấp, phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, mang tính kinh doanh thô, đất khai phá nhiều nhưng thu nhập rất thấp Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển của kinh tế, kỹ thuật, văn hoá và khoa học, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất càng mở rộng (từ cục bộ một vùng đã phát triển trên phạm vi cả thế giới, thậm chí cả ở những vùng đất trước đây không thể sử dụng được)
Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
Tuy nhiên, thời kỳ quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài Để nâng
Trang 23cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia, có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật cũng như các điều kiện đặc thù, do đó phải áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức sử dụng đất tuỳ từng thời điểm khác nhau
1.1.4.2 Sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá
Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử dụng đất
Thực tế cho thấy, khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với đất đai ở thời kỳ mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở Khi đời sống đã nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất phải thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao và môi trường trong sạch đã làm cho cơ cấu sử dụng đất trở nên phức tạp hơn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các loại nhu cầu của xã hội Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế do kinh tế và khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai, nông nghiệp thì độc canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu là chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng,
Trang 24ruộng nước phát triển đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ lợi ích con người
Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hóa Do đất đai
có đặc tính khu vực rất mạnh, sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau Để
sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần
có sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nẩy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô
1.1.4.3 Sử dụng đất phát triển theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hóa sản xuất Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã hội hoá sản xuất, cũng như xã hội hốa việc sử dụng đất đai
Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu xã hội hóa sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng dụng cộng đồng như: nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, hải cảng, danh lam thắng cảnh, động thực vật quý hiếm vẫn cần có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội
Trang 25Xã hội hóa sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hóa sản xuất Vì vậy, xã hội hóa sử dụng đất và công hữu hóa là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hóa sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hóa và công hữu hóa sử dụng đất
1.1.5 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường
Trong thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn
vị diện tích đất nhất định (xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy mô lớn ) Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người (xây dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể dục thể thao, văn hoá xã hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn )
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nẩy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm hoạ sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi
Để thoả mãn nhu cầu của con người cả về 3 lợi ích kinh tế- xã hội- môi trường nhất thiết phải giải quyết những xung đột này để sử dụng đất có hiệu quả Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và nâng cao môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
Trang 26- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị và phát triển công nghiệp
- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn
1.1.5.1 Sử dụng đất và mục tiêu kinh tế
Sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau
Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ
có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc bán đất sét cho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làm khu vui chơi giải trí cho khách du lịch
Trong khi đó cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất, trước hết đó là đảm bảo các mục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực; Có đất để mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu cụm công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí v.v
Như vậy các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng
Trang 27Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế được xem là hợp lý không có nghĩa
là thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất và toàn thể cộng đồng, mà là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể Trong vấn đề này bao giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài và mối quan tâm chung của toàn thể cộng đồng
1.1.5.2 Sử dụng đất và mục tiêu xã hội
Sử dụng đất trước tiên liên quan đến những người sống trên mảnh đất
đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu (xã hội, kinh tế và môi trường) Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập, ngoài ra còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tương lai của họ
Công bằng xã hội là rất cần thiết cho mọi người Trong sử dụng đất các Chính phủ thường có những dự án ưu đãi cho nhóm người nghèo trong xã hội
Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa những nhóm dân số cũng là một mục tiêu xã hội của Chính phủ (mâu thuẫn giữa dân bản địa, dân di cư )
Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ
về việc sử dụng đất Đó là việc sử dụng đất của các thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu Do đó đã có khuyến cáo: “Đất không thể
là đối tượng của từng cá thể! Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta! Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau”
Trang 281.1.5.3 Sử dụng đất và mục tiêu môi trường
Đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường
Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học Đất nước, phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu KT-XH
1.2 Khái quát chung về quy hoạch sử dụng đất
1.2.1 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai
Kinh nghiệm thực tiễn cùng với đổi mới tư duy và nhận thức đã trả lại cho đất đai giá trị đích thực và vốn có của nó (là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được) Việc sử dụng hợp
lý đất đai liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả Quốc gia Do đó Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề rất bức xúc, cần được quan tâm hàng đầu
Ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được thể hiện trong
hệ thống các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật những văn bản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, giúp giải quyết về mặt nguyên tắc những vấn đề đặt ra:
- Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất?
- Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất?
- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?
Trang 291.2.1.1 Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất
- Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương II, điều 18 Hiến pháp 1992);
- Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi, bổ sung cũng nêu rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”;
- Điều 13 Luật Đất đai xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất”;
- Điều 19 Luật Đất đai khẳng định ”Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất là Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt”; [18]
- Nghị quyết số 01/1997/QH9 Quốc hội khoá 9, kỳ họp thứ 11 (tháng 4/1997) về kế hoạch sử dụng đất cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước
- Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua gồm 10 điều quy định các nội dung về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai (mục 2 - từ điều 21 đến điều 30)
- Nghị Định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai 2003
Như vậy, để sử dụng và quản lý đất đai (thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt) một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch
1.2.1.2 Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất
Điều 25 Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ trách nhiệm lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính [18]
1 Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
Trang 302 Uỷ ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong địa phương mình (quy hoạch theo lãnh thổ hành chính - trừ trường hợp các đơn vị hành chính cấp dưới thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị) Trình Hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1.3 Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
1.2.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Trang 31Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (điều 25) quy định: quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính
1 Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cả nước;
2 Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
3 Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
4 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích
tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm: Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của ngành và địa phương mình; Làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); Phục
vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Riêng quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định cụ thể tại điều 30:
Trang 32- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh trình Chính phủ xét duyệt
- Chính phủ quy định cụ thể việc lập, xét duyệt, điều chỉnh, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh
Tuy nhiên có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch
sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí nghiệp Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai QHSDĐ của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức, kinh
tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: QH ranh giới địa lý; QH khu trung tâm; QH đất trồng trọt; QH thuỷ lợi;
QH giao thông QH sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng
Trang 33Việc hình thành đồng bộ thị trường bất động sản cùng với các thị trường hàng hoá - dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường vốn đã trở thành một yêu cầu cấp bách, cần thể hiện trong công tác kế hoạch hoá việc sử dụng đất Trong thời gian gần đây, thị trường bất động sản (đặc biệt là đất đai
và nhà ở) rất sôi động, lại mang tính tự phát đã làm nẩy sinh nhiều tiêu cực (mua, bán, đầu cơ, trục lợi đất đai) Để khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong quản lý và sử dụng đất cần phải lập lại trật tự, kỷ cương, tổ chức và quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản: Xác định đúng giá trị của từng loại đất, để sử dụng có hiệu quả, duy trì và phát triển quỹ đất, bảo đảm lợi ích của toàn dân; Chăm lo giải quyết nhà ở cho nhân dân, nhất là ở vùng đô thị, phát triển các doanh nghiệp Nhà nước xây dựng và kinh doanh nhà ở, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và kinh doanh nhà theo sự hướng dẫn và quản lý của Nhà nước
Kế hoạch sử dụng đất phải gắn với kế hoạch phát triển KT-XH, dựa trên mục đích chung vì lợi ích lâu dài phát triển KT-XH nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật chất Tuy nhiên, cần lưu ý điểm khác biệt: Kế hoạch sử dụng đất chú trọng phát triển hình thức không gian; kế hoạch phát triển KT-XH chú trọng phát triển hình thức thời gian, nhưng nội dung lại được triển khai với hình thức không gian nhất định Kế hoạch phát triển KT-XH là tiền đề của kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất là sự tiếp tục của kế hoạch phát triển KT-XH nhằm bố trí không gian thống nhất đối với các hạng mục liên quan đến đất đai (xây dựng, khai hoang, chuyển mục đích sử dụng đất ) trong thời kỳ kế hoạch
Thời hạn lập kế hoạch sử dụng đất thường thống nhất với thời hạn lập
kế hoạch phát triển KT-XH của các ngành, các cấp lãnh thổ hành chính và được thực hiện trong thời gian 5 năm
Trang 341.2.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước, nhiệm vụ
và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau là rất khác nhau
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
1 Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;
2 Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản
về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch;
3 Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh;
4 Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;
5 Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo
vệ môi trường;
6 Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển KT-XH; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước
Trang 35Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô
1.3 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong nước và nước ngoài
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong nước
1.3.1.1 Kết quả lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
1.3.1.1.1 Công tác lập quy hoạch sử dụng đất
a Quy hoạch sử dụng đất cả nước
Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm
2010 (Nghị quyết số 01/1997/QH9 về kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước
5 năm, từ năm 1996 - 2000) và giao trách nhiệm cho các ngành, các tỉnh, thành phố lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của ngành mình, địa phương mình trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Năm 2000 Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của
cả nước trình Quốc hội khoá XI Đến nay, Báo cáo này đã hoàn chỉnh để phù hợp với Luật Đất đai năm 2003 và đã được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 tại kỳ họp thứ 5, khoá XI [1]
Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TN và MT phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước
Trang 36b Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
Đến nay đã có 60/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 [5]
c Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Cả nước hiện có 411/668 đơn vị hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2010 (chiếm 62%), có 119 đơn vị đang triển khai việc lập quy hoạch sử dụng đất (chiếm 18%); còn lại 138 đơn vị cấp huyện chưa triển khai công tác lập quy hoạch sử dụng đất (chiếm 20%) Đánh giá chung, công tác quy hoạch sử dụng đất cấp huyện còn chậm, chưa có sự chuyển biến tích cực (80% số đơn vị cấp huyện đã và đang lập quy hoạch sử dụng đất), trong đó chủ yếu mới lập quy hoạch sử dụng đất của các huyện, còn quy hoạch sử dụng đất đô thị của hầu hết các tỉnh, thành phố chưa được lập.[12]
d Quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Cả nước hiện có 5.878/10.761 xã, phường, thị trấn đã hoàn thành lập quy hoạch sử dụng đất (chiếm 55% tổng số đơn vị cấp xã), 1.204 đơn vị đang triển khai (chiếm 11% tổng số đơn vị cấp xã), còn 3.679 đơn vị cấp xã chưa triển khai (chiếm 34%) Tính chung mới có 66% số đơn vị cấp xã đã và đang lập quy hoạch sử dụng đất Như vậy, có thể thấy rằng tiến độ lập quy hoạch
sử dụng đất cấp xã vẫn còn rất chậm, số đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai còn nhiều.[12]
1.3.1.1.2 Công tác lập kế hoạch sử dụng đất
a Cấp tỉnh
Thực hiện Luật Đất đai và hướng dẫn của Tổng cục Địa chính (nay là
Bộ Tài nguyên và Môi trường), UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và kế hoạch sử dụng đất 5 năm trình Chính phủ xét duyệt làm căn cứ cho việc giao đất, cho
Trang 37thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất ở địa phương Kết quả lập kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thực hiện từ năm 1995 đến nay đã đi vào nề nếp: Năm 1995
có 30/53 tỉnh; Năm 1996 có 51/53 tỉnh, thành phố; Năm 1997 đã có 57/61 tỉnh, thành phố; Năm 1998 có 60/61 tỉnh, thành phố; Năm 1999 có 61/61 tỉnh, thành phố lập kế hoạch sử dụng đất; Từ năm 2000 đến năm 2006 việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã đi vào ổn định với 64/64 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch sử dụng đất được Chính phủ phê duyệt [12]
b Cấp huyện, xã
Trước năm 2001, UBND các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương
đã chỉ đạo việc lập kế hoạch sử dụng đất ở cấp huyện và cấp xã, tuy nhiên đa
số tại các địa phương lập kế hoạch sử dụng đất chỉ mới được thực hiện ở cấp huyện Từ năm 2004, các địa phương đã nghiêm túc thực hiện Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Thông tư 30/2004/TT-BTNMT Cấp huyện và cấp xã đều đã và đang lập kế hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định
1.3.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật đất đai
Trong những năm gần đây công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện Việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai của các cấp đã dần đi vào nề nếp, quản lý nhà nước
về đất đai được tăng cường, bảo đảm tính thống nhất, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, hạn chế được chuyển đất lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác
Kết quả thực hiện QHSDĐ ở nước ta trong giai đoạn từ 1994 đến nay
đã cơ bản hoàn thành QHSDĐ cả nước, QHSDĐ cấp tỉnh, đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, phục vụ phát triển kinh
tế xã hội, quốc phòng an ninh trong quá trình công nghiệp hoá hiện, đại hoá đất nước
Trang 38QHSDĐ theo cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, phân công lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, hiện đại hoá nông thôn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đồng thời đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo và nông sản khác như: Cà phê, Cao su, Điều, Tiêu…và thuỷ sản như Tôm, Cá; diện tích đất rừng tự nhiên được khôi phục cùng diện tích trồng mới tăng đã nâng độ che phủ đất từ 28% năm 1990 lên 32% năm 1995, 35% năm
2000 và 44% năm 2005 [10]
QHSDĐ đã góp phần tạo lập quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển Giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không), các ngành Công nghiệp, Xây dựng, Dịch vụ, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật, Giáo dục, Y tế, Thể dục thể thao…
QHSDĐ đã góp phần tạo lập quỹ đất để thu hút đầu tư góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Tuy nhiên công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp hiện còn một số tồn tại:
- Tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp, nhất là cấp huyện, cấp xã còn chậm, đến nay vẫn còn 16% số đơn vị hành chính cấp huyện và 30% số đơn vị hành chính cấp xã chưa lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với chiến lược phát triển của các ngành nên ảnh hưởng nhiều đến quản lý đất đai
- QHSDĐ ở nước ta mới thực hiện chủ yếu ở mức độ khái quát, mang tính định hướng (QHSDĐ cả nước, QHSDĐ cấp tỉnh và gần 60% QHSDĐ cấp huyện); còn thiếu quy hoạch chi tiết (QHSDĐ cấp xã mới đạt 55%); [10]
- Chất lượng và tính hiệu quả QHSDĐ được đánh giá thấp thể hiện ở một số vấn đề chủ yếu sau: Tính định hướng của quy hoạch còn hạn chế, dự
Trang 39báo không sát với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội; tính đồng bộ của quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị, công nghiệp, giao thông vận tải…yếu, dẫn đến tình trạng chồng lấn, dư thừa hoặc thiếu hụt quỹ đất dẫn đến phá vỡ quy hoạch; tính khả thi của QHSDĐ là hạn chế do những khó khăn về tài chính, đền bù, giải toả, tái định cư dẫn đến tình trạng quy hoạch treo, dự án treo
- QHSDĐ chưa kiểm soát được quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đặc biệt đối với đất trồng lúa, không xác định rõ phạm vi diện tích đất lúa nước cần được bảo vệ nghiêm ngặt, bất khả xâm phạm; trong giai đoạn 2000-2005 bình quân mỗi năm cả nước giảm 60.000 ha đất lúa [10]
- QHSDĐ chưa gắn chặt chẽ với quy hoạch bảo vệ môi trường (ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học), không đảm bảo quỹ đất dự trữ phát triển đô thị, công nghiệp, hành lang giao thông, các vùng đệm giữa đô thị và nông thôn, giữa khu công nghiệp với khu dân cư, thương mại, dịch vụ, du lịch; không bố trí đày đủ quỹ đất cho hệ thống thu gom, xử lý chất thải (rác thả, đặc biệt rác thải độc hại), nước thải (công nghiệp, bệnh viện, sinh hoạt)…Ô nhiễm môi trường đang trở thành vẫn
đề bức xúc trên phạm vi cả nước đến từng địa phương
- Hệ thống QHSDĐ còn thiên về sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản
lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và môi trường trong SDĐ, chưa có khả năng bảo vệ và cải thiện môi trường sống, chưa đảm bảo phát huy cao nhất sức sản xuất của đất đai, phương án bảo đảm an ninh lương thực chưa được thể hiện rõ nét Một số bản đồ quy hoạch được duyệt mới chỉ được thể hiện trên nền địa hình nên tính khả thi không cao, các tính toán chưa đầy đủ chi tiết
Trang 40- Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc lập, thẩm định QHSDĐ chưa chặt chẽ Việc quản lý thực hiện quy hoạch sử dụng đất chưa được các địa phương chú trọng và còn bị buông lỏng Việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa rõ ràng, còn chồng chéo giữa các ngành, hoặc chồng chéo trong quản lý quy hoạch đô thị giữa ngành Địa chính, Xây dựng và Văn phòng Kiến trúc sư trưởng; chưa có các biện pháp, chế tài để kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thời gian xem xét, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào thời điểm họp Hội đồng nhân dân các cấp, do vậy cũng tác động làm chậm tiến độ triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.3.2 Th ực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên
th ế giới
1.3.2.1 Công tác quy hoạch sử dụng đất của Đài Loan
Trong vài thập kỷ trở lại đây, cũng như bất kỳ thành phố nào khác, quá trình đô thị hoá và bùng nổ kinh tế đang diễn ra hết sức sôi động như thành phố Cao Hùng (thành phố phía Nam của Đài Loan) đã phải đối mặt với áp lực tăng dân số đô thị nhanh chóng, làm thay đổi mạnh mẽ cả về quy mô lẫn diện mạo của thành phố [28]
Trong tiến trình đô thị hoá nhanh chóng, chính quyền thành phố đã dựa trên kế hoạch, thực thi một cách tích cực dự án tổng thể nâng cấp đất đô thị với tên gọi là : “Củng cố đất đô thị”, theo đó, trước khi xây dựng ổn định, vững chắc, những mảnh đất nhỏ nào có hình dạng không đều và không có giá trị kinh tế sẽ được chuyển sang dạng vuông vắn, có đường giao thông thuận tiện cho việc sử dụng tối ưu và cho các mục đích xây dựng thông qua việc điều chỉnh lại ranh giới cũ bằng cách hợp nhất, chuyển đổi và phân chia lại các mảnh đất